1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kỹ thuật an toàn và môi trường (In lần thứ nhất): Phần 2

236 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật An Toàn Và Môi Trường (In Lần Thứ Nhất): Phần 2
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật An toàn và Môi trường
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 27,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kỳ một gian sản xuất nào cũng phải đáp ứng các yêu cầu sau: 1 - Kích thước, thể tích, diện tích chiều cao của gian, cấu tạo mặt bằng, diện tích làm việc, máy móc thiết bị, dụng cụ, n°uyê

Trang 1

CHƯƠNG 3

KỸ THUẬT AN TOÀN

3.1 NHỮNG YÊU CẦU ĐẢM BẢO AN TOÀN KHI THIẾT KẾ CÁC

XÍ NGHIỆP

3.1.1 Vị trí của các xí nghiệp và các toà nhà trong xí nghiệp

Khi lựa chọn địa điểm để xây dựng các xí nghiệp công nghiệp cần phải chú ý đến các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp đã quy định như: tận dụng tối

da khả năng chiếu sáng và thông gió tự nhiên, khả nãng trồng cây xanh và khả năng thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy Các khu vực để xây dựng các xí nghiệp còng nghiệp cần có mặt bằng tương đối bằng phẳng, địa chất ổn định, bền vững và có vị trí thuận lợi đối với đường giao thông (cả dường bộ và đường sắt) Giữa các toà nhà trong xí nghiệp cần được trồng cây xanh, và trồng theo từng hàng Khoảng cách từ toà nhà đến hàng cây xanh gần nhất từ 4 đến 10 mét để không che tối cửa sổ Khi chọn cây xanh cần chú ý khí hậu và điều kiện địa phương, an toàn về phòng cháy, nổ cũng như lác động của các yếu tô' độc hại sinh ra trong sản xuất như hơi, khói, bụi, Xung quanh các nhà ăn, phòng thí nghiệm, nhà y tế và các nhà phụ khác cũng cần phải trồng cây xanh để chống các tác động có hại của hơi, khí, bụi, tiếng ồn, v.v

3.1.2 An toàn phòng cháy nổ

Khi xác định các khoảng cách phòng cháy người ta coi rằng khả năng nguy hiếm nhất có thê làm bốc cháy các ngôi nhà và cổng trình bên cạnh là

Trang 2

sự tác dụng cùa năng lượng bức xạ kế cả tác dụng tiếp xúc cùa ngọn lừa,

cũng như tác dụng (không phái xuất hiện trong mọi trường hợp) cúa các

dòng đôi lưu và tia lửa Khoảng cách an toàn phòng cháy giữa các nhà máy

và công trình đã được tiêu chuẩn hoá

+ Khoảng cách an toàn phòng nổ của nơi bô trí các ngôi nhà chứa chất

nổ, hoặc các nhà trong dó tiến hành công việc nổ xác định theo các công

thức sau:

+ Khoảng cách an toàn địa chấn (m) là khoáng cách mà chấn động của

đất do kết quả nổ dưới đất không gây ra sự phá hoại hoặc sụp đố nhà:

q - khối lượng thuốc nổ, (kg)

Ks - hệ số tỷ lệ phụ thuộc vào điều kiện nổ và cường độ phá hại (đối

với mồi thuốc ớ trên mặt đất khi hoàn toàn không có sự phá hoại Ks = 50

Trang 3

+ Khoáng cách an toàn (in) dưới tác dụng của sóng xung kích không khí đôi với người trong thi công nổ mìn:

Trong đó: q - khỏi lượng thuốc nổ, (kg)

Đế xác định đúng dãn khoáng cách an loàn phái đồng thời tính đến các yêu cầu an toàn phòng cháy và nổ cũng như các chí tiêu sản xuất và kinh tế

kv thuật

Những bức thành (dê), tường đứng tự do được coi là những kết cấu bảo

vệ ngôi nhà khỏi sự cháy lan trực tiếp của ngọn lửa và tác dụng của sóng nổ

Khu vực kho trên dó dặt các bế nổi chứa chất lỏng cháy nguy hiểm sẽ dược báo vệ bằng đê hoặc tường bao quanh nhằm cán trớ sự cháy lan cúa chất lỏng cháy Đè đắp bằng đất lấy ngay tại chỗ, cao ls-2m; tường xây bằng gạch, bê tông hoặc đá có tính toán với độ bền và ổn định khi có lực và thuỷ lực của chất lỏng bị tràn ra khỏi bể khi bị phá hoại Khoảng không có đê bao quanh cần phải chứa được chất lỏng của bể to nhất và mực nước khi đó phái thấp hơn mặt trên đê hoặc tường là 0,5m

Kho chứa thuốc nổ phái đắp thành đê bao quanh để trong trường hợp

nổ nó sẽ hướng sóng nổ và manh vụn lên phía trên, như vậy sẽ bao vệ các nhà ớ gần đó khỏi bị phá huy Chiều cao cua thành đất lấy bằng chiều cao đến mái hiên nhà Tường thành đê dể theo góc mái dốc tự nhiên Chiều rộng mật đê lấy ít nhất là Im

+ Đường và dường di qua khi quy hoạch mặt bằng xí nghiệp phái tạo cho xe chữa cháy đến được bất kỳ ngôi nhà nào ở về hai phía, còn đến các nhà với diện tích xây dựng hon 10 hecta là ớ cá bốn phía

Muốn vậy có thể sứ dụng dường, dường đi qua và lối vào phục vụ cho sản xuất Lối vào cho xe chữa cháy phải rộng ít nhất 6m, trên đường cụt phải làm đường nhánh hoặc dành một diện tích rộng 12xl2m đế quay xe

Lối vào và diện tích quay xe phai có mặt đường tốt cho phép xe đi được vào bất kỳ thời gian nào trong năm Nếu lối đến các nhà bị cất bới đường sắt thì phái làm lối đến thứ hai cách lối đến thứ nhất một khoảng không ngắn hơn chiểu dài tính toán của đoàn tầu

(3-3)

Trang 4

3.1.3 Nhũtig yêu cầu đảm bảo an toàn khi thiết kê các phân

xưởng sản xuât

Thiết kế nhà công nghiệp trước hết phải xuất phát từ quá trình công nghệ, mức độ nguy hiểm về cháy và nổ, các đặc tính và kích cỡ của thiết bị công nghệ, thiết bị nâng hạ Nói chung bất kỳ một gian sản xuất nào cũng phải đáp ứng các yêu cầu sau:

1 - Kích thước, thể tích, diện tích chiều cao của gian, cấu tạo mặt bằng, diện tích làm việc, máy móc thiết bị, dụng cụ, n°uyên vật liệu phải đảm bảo an toàn

2 - Cao ráo, sạch sẽ, sáng sủa, tận dụng được nhiều độ chiếu sáng và thông gió tự nhiên

3 - Cách âm, cách rung động tốt để ngăn cách tiếng ồn từ bên ngoài vào hoặc từ gian này sang gian khác Nhũng gian đặt máy rung động phải có biện pháp cách rung phù hợp

4 - Cách nhiệt tốt để chống nóng về mùa hè và giữ nhiệt về mùa đông

5 - Các kết cấu xây dựng của phân xưởng phải bền chắc về mặt chịu lực Các phân xưởng có nhiệt độ cao như lò nung, nấu, sấy, gia công nhiệt, v.v và các phân xưởng hoá chất phải bền vững cả về mặt chịu nhiệt và chống ăn mòn

6 - Các cửa chớp lấy ánh sáng hoặc thông gió tự nhiên phải có kết cấu đóng mớ dễ dàng, thuận tiện cho công nhân đứng thao tác trên ràn của gian sản xuất

Dưới đây là những điều kiện cụ thế

3.1.3.1 Kích thuớc của gian sản xuất

Đế đảm báo đủ lượng không khí cho công nhân trong thời gian làm việc, cũng như để đi lại và tiến hành các thao tác sản xuất an toàn, thể tíchphòng sản xuất giành cho mỗi còng nhân không nhỏ hơn 14m\ diện tíchkhông nhỏ hơn 4 õ m \ Chiều cao các phòng sản xuất kể từ nền đến trần không thấp hơn 3,2m, đến phía dưới của các kết cấu như dầm, xà và máikhông thấp hơn 2,6m Các phòng ở tầng hầm, phòng kho và trên các diện

Trang 5

tích ấn định để điều khiến các thiết bị, chiều cao không thấp hơn 2,2m khi

có người làm việc thường xuyên và l,9m khi không có người làm việc thường xuyên Đối với các lối qua lại dưới hành lang, cầu nổi thì chiều cao cũng lấy là 2,2m hoặc l,9m tuỳ thuộc vào sự đi lại thường xuyên hay không

Cần lưu ý rằng những kích thước nêu trên của các phòng sản xuất chỉ

áp dụng khi lượng nhiệt, dộ ẩm hoặc lượng khí toả ra ớ trong phòng không nhiều quá Trường hợp ngược lại thì chiều cao các phòng phải tăng lên

Khi đặt các đường ỏng dẫn nước, hơi, khí, máng thông gió hoặc các thiết bị khác dưới trần nhà, chiều cao tối thiểu của đường qua lại ớ trong các phòng sản xuất này lấy là 2,2m, còn ớ trong các kho và các phòng phụ khác lấy là 2,Om

Bố trí đúng đắn máy móc thiết bị trong phân xưởng có ý nghĩa rất lớn đối với việc sử dụng hợp lý diện tích sản xuất, dây chuyền công nghệ và thuận tiện trong việc vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm, cũng như để đám bảo an toàn lao động Lắp đặt máy móc và phụ tùng mà không được tính toán trước, thiếu ranh giới rõ ràng giữa các bộ phận có quá trình sản xuất khác nhau, thiếu dấu hiệu trên biên đường qua lại có thể là nguyên nhân gây ra chấn thương, tai nạn Khoảng cách các máy và các thiết bị không nhỏ hơn lm Nếu đặt các máy và các thiết bị có các bộ phận chuyển động (động cơ, máy ly tâm, máy nén khí) hoặc thiết bị của các quá trình nhiều nsuy hiểm (lò, nồi chưng), khoảng cách giữa chúng là l,5-ỉ-2m Khoảng các giữa các hàng thiết bị phải chừa lối qua lại rộng ít nhất là 2,5m (trừ các thiết bị chuyên ngành cố quy phạm về khoảng cách riêng)

Diện tích chỗ làm việc không được kể vào khoảng các giữa các thiết

bị Nếu khi tiến hành sửa chữa định kỳ mà cần phải tháo thiết bị hoặc các bộ phận riêng ra thì cần phải bố trí thêm các diện tích phụ làm sao để trong mọi trường hợp công nhân có thể đi tới xem xét tất cả các bộ phận máy móc, thiết bị được dễ dàng

Trong các phòng sán xuất có các máy vận chuyển bên trong thì giữa các bộ phận chuyển động (toa xe, goòng, băng truyền, xe lăn, v.v ) và các

Trang 6

phần nhô ra của kết cấu công trình (tường, cột) cần phải chừa lối qua lại rộng ít nhất lm.

Phía trên các lối qua lại ấn định cho người đi lại thường xuyên không cho phép vận chuyên hàng bằng cần trục hay băng chuyền

3.1.3.2 Bô trí phòng và các thiết sản xuất

Các thiết bị nào khi làm việc thoát ra hơi và khí nặng hơn không khí nên bố trí ớ tầng một, thoát ra hơi và khí nhẹ hơn không khí nên bô trí ớ tầng cao

Để tạo điều kiện thông gió tự nhiên tốt, trục dọc nhà nên bố trí thẳng góc hoặc với góc không nhỏ hơn 45° đối với hướng gió chính

Nếu trong một ngôi nhà bố trí nhiều phòng sản xuất có yêu cầu khác nhau về kỹ thuật vệ sinh thì các phòng có mức độ độc hại và nguy hiểm về cháy giống nhau nên họp lại thành một nhóm và bố trí sao cho các phòng nguy hiểm nhất được cách ly với phòng ít nguy hiểm hơn

Các nhà sản xuất cũng không được làm tầng khoang mái (mái có trần)

để đảm báo thống gió tự nhiên và chiếu sáng tốt

Thiết bị kỹ thuật làm việc có thể thoát ra các chất độc hại đặc biệt cẩn phải bố trí đến mức tối đa có thể ở ngoài nhà sản xuất, trên các bãi và sàn lộ thiên hoặc trong các phòng cách ly ở phía đầu hồi nhà Thiết bị làm việc với tiếng ồn lớn (hơn 90dB) và rung động mạnh nên bố trí ở trong các nhà riêng hoặc trong các phòng cách ly

Các hành lang và đường hầm để cho người đi qua lại cần phải có tuyến ngắn nhất không có lối ngoặt thừa, tránh làm các bậc lên xuống và diện tích

bố trí ở các cao độ khác nhau để tránh cho người bị ngã, va vấp và mệt mỏi

vô ích

3 1.3.3.Kết cấu nhà sần xuất

Khi thiết kế nhà sản xuất và phụ trợ, ngoài yêu cầu bền vững về mặt chịu lực, cần đặc biệt chú ý đến tính chịu hoá chất, tính chịu cháy của các

Trang 7

vật liệu và kết cấu xây dựng, cũng như tính chống thấm khí và ám của chúng, ngoài ra trong các xưởng nóng, ẩm cần phải loại trừ khả năng ngưng

tụ ở các bể mặt trong của các kết cấu bao che (tường, sàn ) Cho nên khi thiết kế các tường trong, vách ngân và sàn thì tính đến độ ẩm tương đối của không khí, còn khi thiết kế các kết cáu bao che phải tính đến cả độ ám tuyệt đôi cúa không khí bên trong phòng

Khi độ ẩm tương đối của không khí cao hơn 60% thì phải có biện pháp bảo vệ bên trong cho tường và trần bằng lớp chống ấm Khi độ ẩm tuyệt đối của không khí thấp hơn 10mm cột thuv ngân, nếu tường làm bằng vật liệu có

Trong quá trình thiết kế các kết cấu chịu lực và bao che của các ngôi nhà cũng cần tránh tạo ra các khoảng không gian không thông gió, không thoáng hơi và ứ đọng bụi bán Các góc tường nếu có thể nên làm tròn

Đê bảo vệ mặt trong của các kết cấu khỏi tác dụng của các chất độc và xâm thực (thuỷ ngân, chì, acsen, axit.v.v ) có thể dùng tấm gạch men ốp, hoặc trát vữa chống axit, sơn dầu và các chất phủ khác để dễ cọ rửa, lau chùi

Nền các phòng sản xuất phái làm từ các vật liệu chống ẩm và thấm khí Nền phải bằng pháng, không trơn trượt, dỗ cọ rửa, thoả mãn các yêu cầu

sử dụng và vệ sinh Trong môi trường có các chất xâm thực và độc hại (axít, kiềm, vv ) nền nhà phải làm bằng vật liệu chịu hoá chất, không có khả năng hấp thụ các chất xâm thực Thí dụ: trong các xưởng axít thì nền nhà làm bằng atsphan chống axil, gạch men hoặc nền láng một lớp xi măng Nền cần có độ dốc và rãnh tiều thoắt nước dể trong mọi điều kiện có thể rửa thường xuyên bằng nước được, đổng thời vật liệu làm nền không bị phá huỷ

Các cửa sổ hoặc cửa trời đề chiếu sáng của phòng sản xuất luôn luôn phải để lỗ hổng hoặc cánh mớ để thông gió

Khi thiết kế các kết cấu bao che cho phòng sản xuất có nguồn ồn lớn

năng cách âm theo công thức sau:

Trang 8

Trong đó: Iyc - khả nàng cách âm yêu cầu , dB.

G„ - mức ồn thực tế ớ trong phòng thoát ra, dB

Gcp - mức ồn cho phép ớ các phòng bên cạnh, dB

Khả năng cách âm yêu cầu Iyt cần phải phù hợp với khả năng cách âm

tính toán Khả năng cách âm thanh của các kết cấu đồng chất có thể xác

định theo công thức sau:

p - khối lượng kết cấu, kg

Khi trong kết cấu có các lớp không khí dày từ 3 đến 10 cm khả nãng

cách âm của nó sẽ tãng lên tương ứng từ 1 đến 7 dB

Tiếng ồn mạnh có thể xuyên thấu qua các cửa ra vào và cửa sổ ở

tường Khả năng cách âm của các cửa ra vào và cửa sổ phụ thuộc vào kết cấu

của chúng (khuôn cửa bọc vải dạ, cánh lắp một hoặc hai lần kính) có thể

cách được âm từ 20 đến 30 dB (thấp hơn khả năng cách âm của tường) Cho

nên trên các tường cách âm cần tránh làm cửa sổ và cửa ra vào Để tăng khả

(linoléum) hay cao su, rái lên một lớp xỉ hoặc các tấm ximăng amiăng và

các loại vật liệu tấm có nhiều lỗ rỗng khác Trong phòng sản xuất, những

chỗ tiếp giáp giữa tường và sàn người ta để chừa khe hở rộng 1-rl,5cm và

nhét đầy vật liệu đàn hồi vào Các dầm tựa lên tường hoặc cột nên đặt trên

các tấm đệm đàn hồi

Sử dụng các vật liệu cách âm khác như là: dá vôi có lỗ rỗng, các tấm

sợi gỗ ép, lớp trát cách âm có lỗ rỗng (amiăng, phiến amiăng cách âm), có

thế tăng khả năng cách âm của kết cấu lên 10-rl5dB

3.1.3.4 Các phòng phụ

Ở bất kỳ xí nghiệp nào cũng phải có các nhà và phòng phụ trợ Gác

phòng phụ là các phòng gián tiếp phục vụ sản xuất như hành chính, văn thư,

Trang 9

kv thuật, thiết kế, kế hoạch, văn phòng các phân xưởng, V.V và các phòng phục vụ sinh hoạt như: nhà ăn, y xá .

Các phòng phụ thường bố trí trong cùng một nhà với điều kiện là không vi phạm những yêu cầu và tiêu chuẩn vệ sinh

Văn phòng phân xướng có thể bố trí sát với nhà sản xuất, điều này cũng hợp lý vì với chiều cao nhà sản xuất cho phép xây dựng nhà vãn phòng cao hai hoặc ba tầng Nếu không được như thế thì văn phòng phân xưởng có thể bố trí ngay trong nhà sản xuất ở trên diện tích tự do không sản xuất

Chiều cao các phòng hành chính, vãn thư và phòng thiết kế kể từ sàn đến trần lấy không thấp hơn 3m, từ sàn đến kết cấu thấp nhất không thấp hơn 2,5m Diện tích trong các phòng đó tính cho một người làm việc trong văn phòng là 3,25nr và trong phòng thiết kế là 5m2 Trong các phòng này cần đảm báo chiếu sáng và thông gió tự nhiên tốt Tỷ sô diện tích cửa sổ và diện tích sàn lấy từ 1: 6 đến 1: 9

Các phòng phục vụ sinh hoạt bao gồm phòng thay quần áo, tắm rửa, giặt rũ, nhà xí, phòng vệ sinh phụ nữ v.v

Các phòng sinh hoạt trừ nhà xí, phải làm cách biệt với phòng sản x u ất,

có thể xây sát với nhà sản xuất hoặc trong các nhà đứng riêng Chỉ cho phép xây các phòng sinh hoạt sát liền với nhà sản xuất chính trong trường hợp nếu trong nhà sản xuất không có các ngành có thể gây cháy nổ nguy hiểm và không liên quan tới việc sử dụng hoặc thu nhận các chất độc hại đặc biệt Phòng thay quần áo, nhà xí, phòng tắm rửa phải làm cho nam và nữ riêng biệt

Chiểu cao nhà sinh hoạt không thấp hơn 2,5m kế từ sàn đến trần và 2,2m từ sàn đến kết cấu thấp nhất Các phòng sinh hoạt cần phải được chiếu sáng tự nhiên, cửa sổ lấy ánh sáng phải có phần mở ở trên để thông gió

Đối với các phòng thay quần áo, nhà xí, phòng tắm rửa, vệ sinh phụ nữ thì sàn phải làm bằng vật liệu vỏ cơ, chống thấm tốt, không trơn trượt Tường và vách ngăn phải ốp vật liệu chống ẩm cao l,8m, màu sáng, nhẵn, dễ

cọ rửa

Trang 10

- Phòng thay quần áo để giữ quần áo mặc ở nhà, khi đi đường va quàn

áo lao động Quần áo có thể để trong tủ kính hoặc treo ở mắc trong các tủ

hở Tủ kín để giữ tất cả các loại quần áo, tủ hớ giữ quần áo lao động, tủ hỗn hợp để giữ quần áo ớ nhà và lao động Số lượng chỗ (tú) để giữ quần áo lấy bằng số công nhân làm việc trong tất cả các ca

- Phòng tắm cần bố trí ở gần phòng thay quần áo Kích thước mỗi ngăn tắm không nhỏ hơn 0,85x0,85m Tiêu chuẩn cứ 8 người có một ngăn đối với ngành sản xuất bẩn và 10 người cho một ngăn đối với ngành sản xuất bình thường Phòng tắm phải có hố xí phụ (1 hố cho 100 người sử dụng nhà tắm)

- Nhà xí bố trí sao cho để từ chỗ làm việc xa nhất đến đo không quá 100m Nhà xí phải có cửa ngoài ở phòng đệm, trong phòng đệm có vòi nước i;ửa tay (4 hô xí 1 vòi) nhưng tối thiểu phải có 1 vòi Trong nhà nhiều tầng, mỗi tầng phải có hố xí nam và nữ riêng Diện tích hố xí l,2x0,9m, có cửa

mở ra phía ngoài, tường ngăn giữa các hố cao l,75m kể từ sàn

Số lượng hố xí phụ thuộc số người làm việc trong một ca Tiêu chuẩn

xưởng có 5 người trở lên phải có một nhà vệ sinh

- Phòng rửa bố trí ở cạnh hoặc trong phòng thay quần áo Số lượng vòi (chậu) rửa như sau: một vòi cho 10+20 người trong ca đông nhất Khoảng cách giữa các vòi không quá 0,6m, có chỗ treo khăn mặt và đựng xà phònỉg

- Phòng hút thuốc cần phải có khi không cho phép hút trong phòng sản xuất Khoảng cách không quá lOOm đến chỗ xa nhất Tiêu chuẩn là 0,02m2 cho một người làm việc, diện tích tính với số người trong ca đông nhất, nhưng không nhỏ hơn 8nr

- Phòng cho con bú:

Khi số lượng công nhân nữ nhiều hơn 100 mà không có nhà trẻ thì phải có phòng cho con bú Diện tích phòng không nhỏ hơn 15nr, có buồng đợi và buồng cho con bú riêng Buồng đợi dùng cho ai mang theo con, diện tích 0,7m2 cho mỗi người Buồng cho con bú có chậu rửa, diện tích l,5m 2 cho một mẹ

Trang 11

- Phòng vệ sinh phụ nữ phải có khi số người làm việc trong ca đông nhất trên 50 người Phòng phái cách ly các phòng khác và bố trí cạnh phòng

y tố Lối vào phải có buồng đệm, trong buồng này phải có chỗ chờ đợi, buổna làm vệ sinh và buồng để nghỉ ngơi Buồng làm vệ sinh phải phân chia thành những ngăn riêng, mỗi ngàn có diện tích không nhỏ hơn l,5m2 và có vòi nước Sô lượng ngân xác định theo số nữ làm việc ở ca đông nhất

3.2 KỸ THUẬT AN TOÀN KHI THIẾT KỂ VÀ sử DỤNG MÁY MÓC

THIẾT BỊ

Máy móc ngày càng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và ngay cả trong sinh hoạt hàng ngày Máy móc đưa vào sử dụng sẽ giám nhẹ sức lao động, cải thiện điều kiện làm việc, làm cho năng suất lao động tăng lên và nâng cao chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, nếu thiết kế máy chưa hoàn chỉnh, chế tạo sai quy cách hoặc sử dụng máy chưa thành thạo có thế’ dẫn tới tai nạn

3.2.1 Khái niệm về vùng nguy hiểm

Vùng nguy hiểm là khoang không gian trong đó các yếu tố nguy hiểm đối với sự sống và sức khoẻ của con người xuất hiện thường xuyên chu kỳ hoặc bất ngờ

Vùng nguy hiểm có thể là nơi làm việc của các cơ cấu truyền động Những cơ cấu này như là: mâm cặp máy tiện, trục chính máy khoan, các bộ truyền bánh răng, bộ truyền đai, trục truyền trên các máy bơm, máy khuấy, máy phát động lực, máy nông nghiệp, băng tải,

Các bộ phận quay tròn với vận tốc cao lại có mặt ngoài lồi lõm như: các khớp nối trục, dồ gá trên máy tiện, và các bộ phận chuyển động tịnh liến của máy như đầu bao, chầy dập, máy búa, cũng hình thành các vùng nguy hiểm

Vùng nguy hiểm có thể là vùng gia công của các máy công cụ như vùng cắt gọt của máy tiện, máy khoan, máy phay, khoảng không gian giữa chùy và cối của máy dập, máy đột,

Vùng nguy hiểm có thể là khổng gian mà các mảnh dụng cụ hoặc vật liệu gia công văng ra

Trang 12

Khi gia công chi tiết trên máy cắt kim loại, máy gia công gỗ, khi làm

sạch vật đúc, khi đập các vật liệu giòn và trong một số trường hợp khác của

quy trình côn? nghệ, từ vùng làm việc bắn ra các mẩu vật liệu to, nhỏ, các

mảnh dụng cụ và thậm chí cả chi tiết gia công nữa Các mảnh vật liệu và

dụng cụ văng ra đôi khi có động năng lớn, bay đi khá xa và có khả nãng gây

ra chấn thương trầm trọng Ớ các máy đập gang, vụn gang văng ra có thể

làm bị thương thậm chí có thể làm chết người Khi phay hoặc tiện cao tốc,

phoi kim loại bắn ra vừa có động năng lớn, vừa có nhiệt độ cao (từ

300-í-500oC) lại càng nguy hiểm hơn Khi tiện vật liệu dẻo, phoi dây có cạnh

sắc, có tốc độ hàng trăm m/phút rất dễ làm đứt tay chân công nhấn

Các mảnh vỡ đá mài, răng cưa đĩa, mảnh dao phay răng chắp, đều

có thể gây ra tai nạn Lực ly tâm của các vật đang quay tròn văng ra có thế

tính theo công thức sau:

m v

RoTrong đó: m - khối lượng vật nặng (kg)

V - vận tốc tiếp tuyến của vật nặng (m/s)R„ - bán kính trọng tâm của vật nặng (m)

ớ các máy đúc, máy rèn, lò nung, người vận hành máy còn chịu tác

hiểm Kim loại đang nóng chảy, khi tiếp xúc nhanh với nước, khí ẩm, các

vật lạnh có thể gây nổ làm bắn tung kim loại đi rất xa

Khi rót hoặc sau khi rót kim loại vào khuôn, nếu không theo đúng

công nghệ làn khuôn hoặc lắp khuôn như: độ thoát khí của đất không điíy

Trang 13

tiết diện thoát hơi không đu, hệ thống rót có thiếu sót hoặc khuôn quá ẩm, cũng có thể gùy nổ.

H ìn h 3.1 v ù n g n g tn hiểm c ủ a các m á y ( c h ỉ h ằ n g m ũ i tên đ ậ m )

1- Truyền động bằng xích và đĩa xích 2- Truyền động bằng dây đai

3- Truyền động bằng bánh ràng thanh răng 4- Trục cán

5- Truyền động báng ràng 6" Vùng cuối của băng tải 7- Tiện; 8- Khoan; 9 - Mài; 10- Cưa đĩa ; 11- Cưa vòng;

12- Phay ngang ; 13- Bào ngang; 14- Dập; 15- cắt; 16-Uốn.

Trang 14

máy mài các công tắc đầu đường của cần trục, nếu tháo ra mà không lắp lại đúng sẽ mất tác dụng Nhiều khi chỉ vì xao nhãng những việc bôi trơn làm cho các ổ trục bị cháy, phát nhiệt sẽ là nguyên nhân gây nổ, cháy và tai nạn ơ các van nước dập lửa của bình điều chế khí axêtilen, nếu đổ nước thiếu sẽ không c'ó tác dụng báo vệ (xem hình 3-6) Các van an toàn ớ các nồi hơi nếu điều chỉnh không đúng hoặc để han gỉ sẽ có thể dãn tới nguy hiểm Các cơ câu an toàn bị hỏng, trang bị bảo hộ bị hư hỏng, không thích hợp cũng là nguyên nhân gây ra tai nạn.

3.2.3 Những biện pháp an toàn chủ yếu

3.2.3.1 Yêu cẩu chung

Thiết kế cơ cấu và máy hợp lý phải thoả mãn hàng loạt yêu cầu, trước tiên là phái làm việc an toàn, tạo điều kiện lao động tốt, điều khiên thuận lợi

và nhẹ nhàng

Mọi thiết bị thiết kế ra cần phái phù hợp với thể lực, thần kinh và đặc điểm của các bộ phận của cơ thể người Bởi vậy trong quá trình thiết kế máy mới, cần phải tính đến khả năng của người điều khiển có thể nhận biết và sử dựng những tin tức do các cơ cấu tín hiệu phát ra hay không Không nên đòi hỏi người sử dụng máy phái chú ý quá mức và phản ứng quá nhanh Cần phải đám bảo kha năng phân biệt rõ ràng, nhanh chóng những chỉ số của thiết bị trong quá trình theo dõi máy và tạo điều kiện để rèn luyện thói quen thao tác máy mà không đòi hỏi mất nhiều công sức

Cần phái đặc biệt đề phòng thao tác nhầm lẫn Thao tác nhầm lẫn của nhân viên phục vụ có thế do nhiều nguyên nhân như: khó nhớ được hệ thống điều khiển quá phức tạp, phái tập trung sự chú ý quá mức vào nhiều thiết bị làm việc sắp xếp lộn xộn, không thể xác định đúng hoặc nhận biết được giữa nhiều chỉ số dê có thể điều chỉnh nhanh chóng và chính xác sự làm việc của máy, nhìn nhầm do vòng chia hoặc thước khắc độ không rõ Điều khiển các

cơ cấu điều khiên không phù hợp với chuyển dộng cần thiết của nó

Một thiết bị được thiết kế khỏng đảm báo an toàn thì không những là nguyên nhân gây ra tai nạn mà còn làih thiệt hại về mặt kinh tế

Trang 15

Khi thiết kế máy, các cơ cấu điều khiển phải phù hợp với tầm vóc người sử dụng, tầm tay, chiều dài chân, phạm vi nhìn

Trong trường hợp cần làm công việc nặng nhọc thì tốt hơn cả là bố trí làm việc ớ tư thế đứng Song làm việc ở tư thế đứng chóng mệt hơn ở tư thế ngồi Tư thế làm việc cố định, kéo dài cũng gây ra mệt mỏi Cần phải đảm bảo khả năng thay đổi tư thế của người điểu khiển trong quá trình làm việc, không bắt buộc phải thường xuyên làm việc trong một tư thế gò bó nhất định Khi làm việc ngồi mà tay cần phải chịu lực thì nên có chỗ tỳ tay Cần tận lượng các hoạt động điểu khiển của người thợ, tránh các động tác thừa,

có tính đến yêu cầu về sinh lý học

Việc xác định hợp lý nhịp làm việc là biện pháp quan trọng để giảm mệt nhọc và đỡ tốn sức Các công việc đơn điệu, lập lại nhiều lần với nhịp ngắn sẽ làm người lao động chóng mệt, cả về thể lực và tinh thần Vì vậy không nên phân tán nguyên công đến mức quá đơn giản, nhịp sản xuất quá ngắn, làm cho công nhân biến thành một bộ phận của máy và hoàn toàn bị lệ thuộc vào máy Làm việc lâu dài trong một điều kiện như thế sẽ làm cho cơ thể mất cân đối, dễ mắc các bệnh thần kinh

Đế chống lại tính đơn điệu, cần phải phát huy sáng tạo, tính hoạt động, xác định nhịp làm việc hợp lý, giáo dục lòng yêu nghề, sử dụng các yếu tố thẩm mỹ,

Để khôi phục và nâng cao khả năng làm việc và năng suất lao động, nên bố trí nghỉ ngắn giữa giờ

Khi thiết kế máy còn cần xuất phát từ những số liệu nhân chủng của

cơ thể con người

Trường hoạt động của tay càng rộng thì tiêu hao năng lượng và thời gian càng lớn Khi tay (hoặc chân) đã duỗi tới vị trí tới hạn thì rất khó hoạt động nhịp nhàng khi cần co theo chiều ngược lại Khi cầrr hoạt động tuỳ ý : nằm ngang, thẳng đứng, quay tròn thì không nên yêu cầu thao tác ra toàn

“vùng tối đa” mà chí nên ở trong “vùng thuận lợi”

Hình dáng bề ngoài của máy cũng có ý nghĩa về an toàn và giảm nhẹ sức lao động Bề ngoài máy đẹp, gọn có thể làm giảm bớt căng thẳng về thể

Trang 16

lực, giám mệl mỏi và nâng cao khá năng lao động Bề ngoài của máy cần phái làm nhẩn, không có cạnh sắc và gồ ghề đế dễ lau sạch bụi bán và tránh gáy ra chấn thương Cấn phái dật kín các bộ phận truyền động trong thân máy trong các hộp để cho mắt dược yên tĩnh và thoải mái Khi cần quan sát bên trong thì đặt các cửa kính dế theo dõi Nếu không thể đật kín được thì phái che chắn các bộ phận truyển dộng.

Máv cấn dược'trang bị những cơ cấu phòng ngừa quá tải, phòng ngừa nguồn cung cấp sụt điện áp, mất năng lượng, Khi sử dụng các đồ gá khí nén, thuỷ lực cần có biện pháp an toàn khi bất ngờ mất hắn hoặc giảm áp lực của hệ thống khí nén Khi hai bộ phận của thiết bị cùng hoạt dộng sẽ dẫn tới

sự cố thì phải có bộ phận khoá hãm lẫn nhau Cơ cấu đó phủi bảo đảm khi cho bộ phận này làm việc thì không cho phép bộ phận kia làm việc nữa

Khi chọn kết cấu máy mới, phái chú ý chọn sao cho người sử dụng dễ quan sát sự hoạt động của máy, dễ bôi trơn, tháo lắp và điều chỉnh

Khi bố trí chỗ nâng máy để di chuyển, phải tính đến vị trí trọng tâm của nó, bảo đảm khi di chuyển, máy được ổn định

Máv nên sơn màu sáng dịu, vì màu sắc quá sặc sỡ sẽ làm mỏi mắt và phân tán tư tưởng Nên sơn các màu khác nhau đê phân biệt các bộ phận sau đày: các bộ phận truyền động, các bộ phận nguy hiểm, các nút bấm và cơ cấu điểu khiển Chọn các màu sơn nên phù hợp với nhau và phù hợp với màu sác chung của toàn gian sản xuất

Mục đích của cơ cấu che chắn như sau:

- Cách ly người lao động với vùng nguy hiểm

- Ngăn ngừa tai nạn lao động như rơi, ngã hoặc bị vật rắn bắn vào người.Hình dáng và cấu tạo của cơ cấu che chắn rất khác nhau, phụ thuộc vào công dung và điều kiên làm viêc cúa nó Nó có thể chế tạo từ các loại vật liệu khác nhau, miễn là thoả mãn các yèu cầu cơ bản sau:

Trang 17

- Ngãn ngừa được tác động xấu do bộ phận của thiết bị sản xuất gây ra.

- Không gây trỏ' ngại cho thao tác của người lao động

- Không ảnh hưởng đến năng suất người lao động và công suất của thiết bị

Phân loại cơ cấu che chắn

Có thể phân loại cơ cấu che chắn như sau:

- Che chắn các bộ phận, cơ cấu chuyển động

- Che chắn vùng văng bắn các mảnh dụng cụ, vật liệu gia công

- Che chắn bộ phận dẫn điện

- Che chắn nguồn bức xạ có hại

- Rào chắn vùng làn việc trên cao, hào hố

- Che chắn tạm thời để có thể di chuyển được hay che chắn cố định không di chuyển được

Tất cả các cơ cấu truyền động đai, xích, bánh răng, trục vít, bánh vít, trục truyền không cần tháo lắp thường xuyên đều cần trang bị những cơ cấu che chắn cố định nếu không làm kín trong hộp hoặc thân máy được

Trang 18

Khi thiết kế máy, các cơ cấu điều khiển phải phù hợp với tầm vóc người sử dụng, tầm tay, chiều dài chân, phạm vi nhìn

Trong trường hợp cần làm công việc nặng nhọc thì tốt hơn cả là bố trí làm việc ớ tư thế đứng Song làm việc ở tư thế đứng chóng mệt hơn ở tư thế ngồi Tư thế làm việc cố định, kéo dài cũng gây ra mệt mỏi Cần phải đảm bảo khả năng thay đổi tư thế của người điểu khiển trong quá trình làm việc, không bắt buộc phải thường xuyên làm việc trong một tư thế gò bó nhất định Khi làm việc ngồi mà tay cần phải chịu lực thì nên có chỗ tỳ tay Cần tận lượng các hoạt động điểu khiển của người thợ, tránh các động tác thừa,

có tính đến yêu cầu về sinh lý học

Việc xác định hợp lý nhịp làm việc là biện pháp quan trọng để giảm mệt nhọc và đỡ tốn sức Các công việc đơn điệu, lập lại nhiều lần với nhịp ngắn sẽ làm người lao động chóng mệt, cả về thể lực và tinh thần Vì vậy không nên phân tán nguyên công đến mức quá đơn giản, nhịp sản xuất quá ngắn, làm cho công nhân biến thành một bộ phận của máy và hoàn toàn bị lệ thuộc vào máy Làm việc lâu dài trong một điều kiện như thế sẽ làm cho cơ thể mất cân đối, dễ mắc các bệnh thần kinh

Đế chống lại tính đơn điệu, cần phải phát huy sáng tạo, tính hoạt động, xác định nhịp làm việc hợp lý, giáo dục lòng yêu nghề, sử dụng các yếu tố thẩm mỹ,

Để khôi phục và nâng cao khả năng làm việc và năng suất lao động, nên bố trí nghỉ ngắn giữa giờ

Khi thiết kế máy còn cần xuất phát từ những số liệu nhân chủng của

cơ thể con người

Trường hoạt động của tay càng rộng thì tiêu hao năng lượng và thời gian càng lớn Khi tay (hoặc chân) đã duỗi tới vị trí tới hạn thì rất khó hoạt động nhịp nhàng khi cần co theo chiều ngược lại Khi cầrr hoạt động tuỳ ý : nằm ngang, thẳng đứng, quay tròn thì không nên yêu cầu thao tác ra toàn

“vùng tối đa” mà chí nên ở trong “vùng thuận lợi”

Hình dáng bề ngoài của máy cũng có ý nghĩa về an toàn và giảm nhẹ sức lao động Bề ngoài máy đẹp, gọn có thể làm giảm bớt căng thẳng về thể

Trang 19

lực, giám mệl mỏi và nâng cao khá năng lao động Bề ngoài của máy cần phái làm nhẩn, không có cạnh sắc và gồ ghề đế dễ lau sạch bụi bán và tránh gáy ra chấn thương Cấn phái dật kín các bộ phận truyền động trong thân máy trong các hộp để cho mắt dược yên tĩnh và thoải mái Khi cần quan sát bên trong thì đặt các cửa kính dế theo dõi Nếu không thể đật kín được thì phái che chắn các bộ phận truyển dộng.

Máv cấn dược'trang bị những cơ cấu phòng ngừa quá tải, phòng ngừa nguồn cung cấp sụt điện áp, mất năng lượng, Khi sử dụng các đồ gá khí nén, thuỷ lực cần có biện pháp an toàn khi bất ngờ mất hắn hoặc giảm áp lực của hệ thống khí nén Khi hai bộ phận của thiết bị cùng hoạt dộng sẽ dẫn tới

sự cố thì phải có bộ phận khoá hãm lẫn nhau Cơ cấu đó phủi bảo đảm khi cho bộ phận này làm việc thì không cho phép bộ phận kia làm việc nữa

Khi chọn kết cấu máy mới, phái chú ý chọn sao cho người sử dụng dễ quan sát sự hoạt động của máy, dễ bôi trơn, tháo lắp và điều chỉnh

Khi bố trí chỗ nâng máy để di chuyển, phải tính đến vị trí trọng tâm của nó, bảo đảm khi di chuyển, máy được ổn định

Máv nên sơn màu sáng dịu, vì màu sắc quá sặc sỡ sẽ làm mỏi mắt và phân tán tư tưởng Nên sơn các màu khác nhau đê phân biệt các bộ phận sau đày: các bộ phận truyền động, các bộ phận nguy hiểm, các nút bấm và cơ cấu điểu khiển Chọn các màu sơn nên phù hợp với nhau và phù hợp với màu sác chung của toàn gian sản xuất

Mục đích của cơ cấu che chắn như sau:

- Cách ly người lao động với vùng nguy hiểm

- Ngăn ngừa tai nạn lao động như rơi, ngã hoặc bị vật rắn bắn vào người.Hình dáng và cấu tạo của cơ cấu che chắn rất khác nhau, phụ thuộc vào công dung và điều kiên làm viêc cúa nó Nó có thể chế tạo từ các loại vật liệu khác nhau, miễn là thoả mãn các yèu cầu cơ bản sau:

Trang 20

- Ngãn ngừa được tác động xấu do bộ phận của thiết bị sản xuất gây ra.

- Không gây trỏ' ngại cho thao tác của người lao động

- Không ảnh hưởng đến năng suất người lao động và công suất của thiết bị

Phân loại cơ cấu che chắn

Có thể phân loại cơ cấu che chắn như sau:

- Che chắn các bộ phận, cơ cấu chuyển động

- Che chắn vùng văng bắn các mảnh dụng cụ, vật liệu gia công

- Che chắn bộ phận dẫn điện

- Che chắn nguồn bức xạ có hại

- Rào chắn vùng làn việc trên cao, hào hố

- Che chắn tạm thời để có thể di chuyển được hay che chắn cố định không di chuyển được

Tất cả các cơ cấu truyền động đai, xích, bánh răng, trục vít, bánh vít, trục truyền không cần tháo lắp thường xuyên đều cần trang bị những cơ cấu che chắn cố định nếu không làm kín trong hộp hoặc thân máy được

Trang 21

b) Cơ cấu bảo vệ

Khi không thể che chắn hoàn toàn khu vực nguy hiểm, người ta thiết

kế cơ cấu bảo vệ nhàm tạo ra một khu vực an toàn đủ bảo vệ cho công nhân phục vụ

Thí dụ: đê để phòng chi tiết gia công và phoi văng ra, để tránh sự bắn toé dung dịch trơn nguội và các dung dịch khác được sử dụng trong các quá trình công nghệ, người ta trang bị cơ cấu bảo vệ bằng vật liệu trong suốt (nhu kính hữu cơ, kính stalinít, ), lưới thép hoặc bố trí các cửa quan sát ở những nơi cần thiết

Trên hình 3- 3 trình bầy cơ cấu bảo vệ trên máy tiện nhờ trục trượt 2

và bạc 3

H ì n h 3 -3 C ơ c ấ u báo vệ d ộ n g trê n m á y

1- giá đỡ; 2- trục trượt; 3- bạc; 4- khung; 5- kính hữu cơ.

Khi bàn dao di chuyển để gia công, kính hữu cơ trong suốt 5 cũng dịch chuyển theo Kính bảo vệ ngăn không cho phoi vụn và phoi dây bắn vào vùng công nhân đứng thao tác và theo dõi vật gia công Khi cần gá hoặc tháo chi tiết, chí cần lật toàn bộ kính bảo vệ quanh trục 2

Trang 22

3 2 3 3 C ơ c ấ u p h ò n g ngừa

Cơ cấu phòng ngừa là cơ cấu đề phòng sự cố của thiết bị có liên quan

đến điều kiện an toàn của công nhân

Sự cố và sự hỏng hóc của thiết bị có thể là do các nguyên nhân kỹ thuật khác nhau Nó có thê do quá tải; do bộ phận chuyển động đặ di chuyển quá vị trí giới hạn; do nhiệt độ, vận tốc chuyển động, cường độ dòng điện vượt quá các trị số giới hạn cho phép Tai nạn còn có thể do nổ hoặc cháy các vật liệu khác nhau

Nhiệm vụ của cơ cấu phòng ngừa là tự động ngắt máy, thiết bị hoặc bộ phận của máy khi có một thông số nào đó vượt quá trị số giới hạn cho phép

Theo khả năng phục hồi sự làm việc của thiết bị, cơ cấu phòng ngừa được chia ra ba loại sau:

+ Các hệ thống có thể tự động phục hồi khả năng làm việc khi thông

số kiểm tra đã giảm đến mức quy định như li hợp ma sát, li hợp vấu - lò xo, van an toàn kiểu tải trọng hoặc lò xo, rơ le nhiệt,

+ Các hệ thống phục hồi khả năng làm việc bằng tay như trục vít rơi trên máy tiện Các hệ thống phục hồi khả năng làm việc bằng cách thay thếnhư cầu chì, chốt cắt Các bộ phận này là các bộ phận yếu nhất của hệthống

+ Trong quá trình thiết kế máy, phải tính toán các bộ phận này thật chính xác để đảm bảo cho thiết bị làm việc an toàn Không một máy móc thiết bị nào được coi là hoàn thiện và có thể đưa vào hoạt động nếu không có

cơ cáu phòng ngừa thích hợp Nhiệm vụ của cơ cấu phòng ngừa rất khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc trưng của thiết bị và quy trình công nghệ

Để bảo vệ thiết bị điện khi cường độ dòng điện tăng lên quá cao hoặc ngắn mạch người ta dùng cầu chì, các cơ cấu ngắt điện tự động, rơ le nhiệt

Để phòng ngừa tai nạn do nổ các bình và thiết bị chịu áp lực có áp suất cao hon áp suất khí trời, người ta trang bị các van an toàn kiểu tải trọng, lò

xo, màng an toàn

Trang 23

Đê đề phòng máy móc bị quá tải

người ta dùng chốt cắt, li hợp ma sát,

li hợp vấu- lò xo

Trên hình 3-4 trình bầy nguyên

lý làm việc của cơ cấu an toàn có chốt

cắt Bánh răng 3 lắp trên trục 1, truyền

M - mô men cần truyền giới hạn

(3.6)

o - đường kính trục

X - ứng suất cắt của vật liệu làm chốt

Ly họp vấu - lò xo và ly hợp ma sát là những cơ cấu phòng ngừa khá hoàn thiện vì chúng có thể điều chỉnh trị số tải trọng cho phép và tự động phục hồi khả nâng làm việc khi tình trạng quá tải đã chấm dứt

Trên hình 3-5 trình bầy ly hợp vấu - lò xo

Nguyên lý làm việc của ly hợp này như sau: mômen làm việc được truyền từ trục 1 qua then 2 truyền đến thân trong 3 Nhờ lực ép của lò xo và lực ma sát, các chốt 6 ép chặt vào các rãnh của vỏ ngoài 4, chuyên động và mômen được truyền đến vó ngoài và dẫn đến các cơ cấu chấp hành Nếu vỏ ngoài 4 quá tải, nghĩa là mômen được truyền vượt quá trị số giới hạn, lực

Trang 24

vòng p tác dụng vào các chốt 6, thành phần lực hướng tâm T thắng cả lực ma sát và lực ép của lò xo Q làm cho các chốt thụt vào thân trong 3 và tải trọng không truyền qua ly hợp được nữa, trục 1 dù vẫn quay cũng không làm hỏng thiết bị, khi đó sẽ nghe thấy tiếng kêu lách tách mạnh.

Mômen giới hạn của ly hợp nay được tính toán như sau:

H ì n h 3 L y h ợ p x o

1- trục; 2- then; 3- thân trong; 4- vỏ ngoài; 5- lò xo; 6- chốt.

Trong đó: p* - lực vòng giới hạn truyền cho một chốt

z - số chốt

Dp - đường kính tính toán

Ta có lực hướng tâm T bằng:

Trang 25

T = P;jl tgaTrong đó: a- góc nghiêng của rãnh

Q = T - F, - F, - Fcosa

Trong đó: F, - lực ma sát do phản lực R, gây ra, F| = R|.f

F, - lực ma sát do phản lực R, gây ra, F2 = R2.f

F -lực ma sát do phản lực N gây ra trên mặt nghiêng, F = N r

Với f — hệ số ma sát giữa chốt 6 và thân 3

f - hệ số ma sát giữa chốt 6 và rãnh vát của vỏ ngoài 4

Trên hình 3-5 tính được các phản lực R, và R2 như sau:

Để để phòng tai nạn và hỏng hóc từng bộ phận của máy, xảy ra do các

bộ phận chuyển động vượt quá các trị số giới hạn quy định, cần phải có các

cơ cấu hạn chế hành trình về một phía hoặc cả hai phía Trong các máy, người ta thường dùng chốt cứng, chốt điều chỉnh nhiều vị trí, các loại vấu để hạn chế hành trình

Cơ cấu phòng ngừa còn được dùng cho các thiết bị có nguy cơ nổ Chẳng hạn, khi hàn hơi có thê xáy ra tình trạng cháy ngược

Nếu ngọn lửa vào đến bình điểu chế khí axêtilen thì sẽ gây nổ Đê’ đề phòng trường hợp này, người ta dùng van nước Phụ thuộc vào áp suất, người

ta phân van nước ra các nhóm sau đây: van nước có áp suất thấp, trung bình

và cao

Đé phòng nổ cho các bình điều chế khí axêtilen áp suất thấp và trung bình, người ta dùng van nước tác dụng theo sơ đồ được trình bầy trên hình3-6 Van nước gồm bình 1, được đổ nước đến mức quy định (lúc đổ nước

v à o miệng phễu 3, mở vòi 8 ra, khi nào thấy nước chảy ra ớ vòi đó là đủ

Trang 26

nước, hình 3-6a), ống dẫn khí 5 và ống thoát khí 2 ố n g 5 được ngâm xuống nước sâu hơn ống 2 Trong trường hợp bình thường, khí axêtilen từ bình điểu chế qua ống 5 van 6 đẩy nước ra khỏi ống rồi tạo thành các bong bóng qua nước đi lên, vào van 7 rồi đi ra mỏ hàn (xem hình 3-6b) Nếu có lửa đánh ngược (trường hợp khí axêtilen có áp suất quá thấp) hước trong ống 5 dâng lên cách ly bình điều chế với van.

Khi ngọn lửa vào van gây nổ, khí nổ bắn tung số nước trong ống 2 để thoát ra ngoài (xem hình 3-6c) Sau khi nổ, van nước lại tự động khôi phục lại vị trí làm việc bình thường (xem hình 3-6d)

H ì n h 3 -6 V a n n ư ớ c đẻ d ậ p lử a c h á y n g ư ợ c c ủ a b ìn h đ iê u c h ế k h í a x ẻ tile n

a) đổ nước; b) làm việc binh thường; c) tác dụng chặn cửa van khi lửa cháy ngược;

d) phục hổi lại vị trí làm việc bình thường.

3 2 3 4 C ơ c ấ u điểu k h iể n và p h a n h h ã m

Các cơ cấu điều khiển gồm có các nút mở máy, đóng máy, hệ thống tay gạt, các vô lãng điều khiển, cần-phải làm việc tin cậy, dễ với tay tới, dễ phân biệt, dễ điều khiển, xa vùng nguy hiểm, dễ nhớ,

Các cơ cấu điều khiến phải bố trí sao cho không làm cho thần kinh quá căng thẳng, không phải cúi gập người và mất thăng bằng,

Khi tliiết kế họặc chọn cơ cấu điều khiển, cần chú trọng đến hai điểu kiện chính sau:

Trang 27

1- Sự phù hợp giữa chuyển dộng và vị trí của cơ cấu điều khiển và cơ cấu chấp hành.

2- Hiệu quá khi sử dụng cơ cấu và bảng chỉ dẫn của cơ cấu

Các bộ phận điều khiến phải thích ứng với thói quen và phản xạ bình thường của con người:

- Những cơ cấu điều khiển phải sử dụng thường xuyên nên bố trí ở độ cao từ khuỷu tay đến bá vai và nên gần chỗ công nhân đứng Các cơ cấu điều khiển nên tập trung và nên đặt trong một diện tích gọn nhất

- Hướng của cơ cấu điều khiển, nếu có thể, bô trí sao cho song song với hướng chuyển động của cơ cấu chấp hành mà nó tác động (Thí dụ: tay gạt sang phải thì cơ cấu chấp hành cũng chuyển động về bên phải) Tay quay khi quay theo chiều kim đồng hồ thì cơ cấu chấp hành tiến về phía trước hoặc thực hiện hành trình làm

việc Quay ngược chiều kim đồng

hổ thì cơ cấu lùi về phía sau hoặc

là thực hiện hành trình chạy

không

Khi tay quay cấn làm việc

với lực mạnh thì nên bố trí trục

quay song song với đường chính

diện (hình 3-7a) Khi tay quay cần

quay nhanh thì nên bô trí trục

quay nằm trong giới hạn từ đường

vuông góc và đường tạo ra góc

60" so với đường chính diện của

người điều khiển (hình 3-7b)

Đối với những núm quay,

đường kính nhỏ hơn 20mm,

mômen lớn nhất không nên quá

l,5Nm Các tay quay cần quay

nhanh, tải trọng đặt không nên

quá 20 N

Hình 3-7 Bô' trí tay quay trên máy

a) khi cần quay với lực lớn b) khi cần quay nhanh

Trang 28

Tay gạt phải có kết cấu có thể chí rõ vị trí của nó và không cho phép

Những xe vận chuyển, những máy móc có yêu cầu dừng máy nhanh chóng phải thiết kế các phanh hãm Phanh hãm phải đảm bảo thuận tiện, tin cậy và phải dừng được máy sau một thời gian quy định Hiện nay trên các máy công cụ, các máy công tác, người ta trang bị những phanh hãm điện từ Những phanh hãm này có ưu điểm cơ bản là khi ngắt máy, phanh hãm tức khắc phanh máy lại

tiếp xúc; 6- cẩu dao điện từ;

7- Puli hãm của trục động cơ;

8- má phanh; 9- nam châm điện

của phanh; 10- lõi thép hút của

nam châm điện.

Trên hình 3-8 trình bầy sơ đồ phanh hãm sự cố bằng điện từ - cơ khí kết hợp Khi một tay công nhân ớ trong vùng nguy hiểm của máy thì tay kia hoặc thân người tác dụng vào tay gạt 4 có dây bảo hiểm đặt gần đó, chỉ cần

I - V " 1

Trang 29

tv khẽ vào tay gạt 4, nguồn điện cung cấp chơ động cơ lập tức bị cắt, đồng thời phanh hãm dừng máy lại.

Độ tin cậy làm việc của phanh hãm sự cố được đánh giá theo độ quay quán tính cúa trục sau khi đã hãm máy sự cỏ trong trường hợp không tải Theo tiêu chuẩn không quá 1/4 vòng đối với phanh điện động và không quá 1/3 vòng đôi với phanh điện từ

Khoá liên động là cơ cấu tự động loại trừ khả năng gây ra nguy hiểm cho thiết bị sán xuất và công nhân trong khi sử dụng máy nếu vì một lý do nào đó công nhân thao tác không đúng nguyên tắc an toàn Trên máy tiện, máy phay, người ta dùng khoá liên động đế đám báo rằng, nếu chưa đóng che chắn an toàn lại thì sẽ không mớ được máy Cũng theo nguyên tắc đó, cửa buồng có điện áp cao, cửa buồng lái của thợ cần trục.v.v., có lắp khoá liên độn« đế khi đã đón« cứa lại mới có thế điều khiển được cần trục hoặc thiết bị điện, để bàn từ của máy mài có điện làm việc, nghĩa là đã có lực hút vật mài, thì máy mới cho đá mài quay khoá hãm cơ cấu trục trơn và vít me của máy tiện

Khoá liên động có thế dùng điện, dùng cơ khí, dùng thuỷ lực hay điện

cơ khí kết hợp Trên máy dập, máy ép, máy cưa và nhiều loại máy khác người ta còn thiết kế khoá liên động bằng tế bào quang điện

Tín hiệu ản toàn là các tín hiệu báo hiệu tình trạng làm việc của máy (an toàn hay sắp sảy ra sự cố)

Các loại tín hiệu an toàn có thể dùng:

- Tín hiệu ánh sáng là một biện pháp an toàn được sử dụng rộng rãi trong các xí nghiệp, trong hệ thống giao thông, đường sắt, đường bộ

Tiêu chuẩn quốc tế về tín hiệu ánh sáng được quy định như sau:

Ánh sáng đỏ: tín hiệu cấm, biểu hiện sự nguy hiểm trực tiếp, thí dụ, tín hiệu “dừng lại”, “máy hỏng”, “hết dầu”,

Trang 30

Ánh sáng vàng: tín hiệu đề phòng, biểu hiện sự cần thiết phải chú ý.Ánh sáng xanh: tín hiệu cho phép, biểu biện sự an toàn.

- Tín hiệu màu sắc để giúp công nhân xác định nhanh chóng và không nhầm lẫn điều kiện an toàn khi thực hiện các công việc sản xuất khác nhau,

đế lưu ý công nhân đến những yêu cầu về kỹ thuật an toàn

Tín hiệu màu sắc được phân ra hai nhóm lớn: chính và phụ

Tín hiệu màu sắc chính gồm: đỏ, vàng và xanh lá cây Chọn ba màu sắc đúng là xuất phát từ các đặc tính sinh lý học của con người khi cảm thụ chúng: một là nó có khả năng gây phản ứng xác định, hai là nó có tốc độ kích thích khác nhau đối với các phản ứng này

Màu đỏ theo sinh lý học làm tăng huyết áp và kích thích sự hoạt động của con người, làm cho ta nhớ tới máu và lửa, gây ra phản ứng có điều kiện, hướng con người tự bảo vệ và như vậy nó được dùng để đề phòng các nguy hiểm trực tiếp, yêu cầu có phản ứng tức thời

Màu vàng kích thích thị giác nhưng không có tác dụng kích thích mạnh như màu đỏ, có khá năng tập trung chú ý, vì vậy dùng để báo hiệu sự

sự nguy hiểm hoặc an toàn

Thí dụ: các dày dẫn điện, các đường ống mang hơi nước nóng thường dược sơn màu đỏ

Tín hiệu màu sắc có ý nghĩa rất quan trọng đê làm việc an toàn, chẳng hạn các nút bấm điện đê điều khiên máy (“mớ máy”, “dừng máy”, “chạy ngược”, ) nếu sơn cùng màu thì khi bất thình lình cần dừng máy ngay tức khác, cõng nhân rất có thê nhầm lẫn không bấm nút dừng mà bấm nút mớ máy do dó có thê dẫn đến tai nạn

Trang 31

- Tín hiệu âm thanh: âm t h a n h có thể được phát ra bằng các cơ cấu khác nhau như còi, chuông, kéng,

Đế công nhân dễ nhận biết thì các tín hiệu của âm thanh phát ra phải khác biệt với các tiếng ồn của sán xuất

Cần trục, xe vận chuyển thường dược trang bị các tín hiệu âm thanh để

đề phòng có người đang đứng trong khu vực nguy hiếm

Tín hiệu âm thanh cũng cần được trang bị cho các máy liên hợp lớn, khi có một nhóm công nhân cùng làm việc Trước khi cho máy chạy nhất thiết phải báo hiệu bàng tín hiệu âm thanh đế đề phòng có người nào đó đang chăm chú điều chỉnh trên máy không biết là máy sắp chạy Tín hiệu

âm thanh cũng có thể báo hiệu rằng thiết bị đã làm việc đến mức giới hạn cho phép, quá giới hạn đó sẽ dẫn tới sự cố Thí dụ: mức nước trong bình đã cao hoặc thấp quá mức quy định, nhiệt độ và áp suất đã vượt quá giới hạn,

Tín hiệu an toàn được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các cơ cấu pliòns ngừa khác, cơ cấu tín hiệu an toàn phải đặt ớ chỗ dề quan sát hoặc đặt

hiếm, đang làm việc,

Các dấu hiệu đặt bên đường báo hiệu về quy định tốc độ của các phương tiện vận chuyển, quy định tải trọng cho phép của các cầu,

3.2.3.7 T h ử m á y tru ú c k h i s ử dụng

Dò khuyết tật đôi với các chi tiết máy hoặc thiết bị quan trọng

Nếu tồn tại các khuyết tật bèn trong như nứt, rỗ, có lẫn tạp chất, có thê dẫn tới sự cố Vì vậy, ngoài việc kiếm tra kích thước, hình dáng, độ

Trang 32

nhám bề mặt, còn phải dò khuyết tật để đánh giá chất lượng sản phẩm Hiện nay người ta đã dùng siêu âm, tia rơnghen, các chất đồng vị phóng xạ, để dò khuyết tật bên trong các vật bằng kim loại.

Dùng siêu âm đế xác định những vết nứt, rỗ bên trong bề mặt bàng cách cho các tia siêu âm xuyên qua vật, khi sóng âm gặp vết nứt, nó sẽ phản

xạ trở lại và báo hiệu trên thiết bị thu tín hiệu

Các máy dò khuyết tật bằng siêu âm có các tần số khác nhau, từ vài trăm kilỏhéc (lO'Hz) đến 5 hay 6 megahec (l(fH z) Dao động siêu âm có khả năng phản xạ lại từ các mặt biên của hai môi trường không đồng nhất (khuyết tật) Trên hình 3-9 trình bầy một kiếu máy dò khuyết tật bằng siêu

âm dạng xung Nãng lượng phát ra từ máy phát tần số cao 1, đi vào vật cần kiêm tra Các tia phản xạ từ bề mặt khuyết tật và mặt đối diện được thu vào tấm thu tín hiệu 4 Điện áp biến đổi được tạo thành trên bề mặt các tấm thu dưới dạng xung phán xạ được khuếch đại lên nhờ bộ khuếch đại 5 và sau đó được truyền tới mặt huỳnh quang của dao động ký

H ì n h 3 -9 S ư đ ổ máy d ò k h u y ế t tậ t

h ằ n g s iê u â m d ạ n g xung.

1- máy phát dao động tần sô cao;

2 - tấm áp điện; 3- vật đem kiểm tra;

4-tấm thu tín hiệu; 5- bộ khuếch đại;

6- mặt huỳnh quang của dao động ký;

7- xung ban đầu;

8 - xung phản xạ lại từ mặt đối diện

của vật được kiểm tra.

Trên màn huỳnh quang, xuất hiện xung ban đầu 7, xung phản xạ lạii từ mặt đối diện của vật được kiểm tra 8 Giữa hai xung đó, có thể có xung phản

xạ từ bề mặt khuyết tật Kích thước và độ sâu của khuyết tật có thể suy rai từ khoảng các giữa các xung với nhau

Trang 33

Nhờ biết áp dụng các thành tựu của khoa học và kỹ thuật hiện đại để phát hiện các khuyết tật bên trong của thiết bị sản xuất, con người có khả năng đảm báo an toàn trong sản xuất và phòng ngừa được chấn thương công nghiệp một cách chắc chắn, Đó là nhũng biện pháp rất quan trọng và không thử thiếu được khi sử dụng các thiết bị đòi hỏi có chất lượng cao.

Thử quá tải:

Muốn đảm bảo cho bộ phận của máy móc không bị phá hỏng với mức

độ an toàn nhất định thì thường cho phép ứng suất phát sinh trong chi tiết máy đạt tới một giá trị nhất định, chỉ bằng một phần của ứng suất ở trạng thái biến dạng dư (giới hạn chảy đối với vật liệu dẻo) hoặc ở trạng thái phá hóng (giới hạn bển đối với vật liệu giòn), ứng suất đó gọi là ứng suất cho phép

Hệ số an toàn là tỷ số giữa giới hạn bền hoặc giới hạn chảy với ứng suất cho phép

[ơ] - ứng suất cho phép

Hệ số an toàn phụ thuộc vào tính chất của lực tác động (lực tĩnh hay dộng), điều kiện làm việc của máy móc, chất lượng của vật liệu, tầm quan trọng của máy móc, mức độ chính xác của phương pháp tính có thể lấy n = 1.7*10

Chọn hệ số an toàn là một vấn đề phức tạp vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố Chọn đúng hệ số an toàn theo các tiêu chuẩn quy định sẽ tiết kiệm dược vật liệu và tránh nsuy hiểm khi sử dụng máy

Trước khi đưa vào sản xuất, các máy mới, các máy sửa chữa lại đều phải được kiểm tra Một trong những phương pháp kiểm tra là thử quá tải

Có thử như vậy mới có thể đảm bảo an toàn khi thiết bị làm việc với tải trọng định mức

Trang 34

Thử quá tải thường áp dụng với cần trục, các thiết bị chịu áp lực và các phụ tùng của nó, các loại đá mài, Tuỳ theo yêu cầu kỹ thuật của thiết bị

mà mỗi loại có một tiêu chuẩn thử riêng

Thí dụ: tăng tải trọng của cần trục để kiểm tra biến dạng, tăng áp lực của bình đề kiểm tra độ kín, tãng vận tốc đá mài để kiểm tra độ bển,

Ngoài việc thử khi mới sản xuất, sau khi sửa chữa, trong quá trình sử dụng còn cần phải kiểm tra định kỳ chất lượng của thiết bị để sớm phát hiện

ra những bộ phận của máy móc có thể bị hư hỏng

3.2.3.8 Khoáng cách và kích thước an toàn

Khoảng cách an toàn là khoảng không gian tối thiểu giữa người lao động và các phương tiện, thiết bị, hoặc khoảng cách nhỏ nhất giữa chúng với nhau để không bị tác động xấu của các yếu tô' sản xuất Thí dụ: khoảng cách cho phép giữa đường dây điện trần đến người làm việc, khoảng cách an toàn khi nổ mìn,

Tuỳ thuộc vào quá trình công nghệ, đặc điểm của từng loại thiết bị mà quy định các khoảng cách an toàn khác nhau:

- Khoảng cách an toàn giữa các phương tiện vận chuyển với nhau hoặc với người lao động như: khoảng cách giữa đường ô tô và bức tường, khoảng cách đường ô tô, tàu hoả với thành cầu, khoảng cách từ mép gòong với các vách đường lò

- Khoảng cách an toàn về vệ sinh lao động: tuỳ theo cơ sở và tính chất sản xuất mà phải đảm bảo khoảng cách an toàn giữa cơ sở sản xuất và khu dân cư xung quanh

- Khoảng cách an toàn trong một số ngành nghề riêng biệt như:

+ Lâm nghiệp: khoảng cách trong chặt cây, kéo gỗ

+ Xây dựng: khoảng cách trong đào đất, khai thác đá

+ Cơ khí: khoảng cách giữa các máy, giữa các bộ phận nhô ra cúa máy giữa các bộ phận chuyển động của máy với các bộ phận cỏ định của máy, của nhà xưởng, công trình

Trang 35

+ Điện: chiều cao của dây điện tới mặt đất, mặt sàn ứng với từng loại diện áp, khoảng cách giữa chúng với các công trình, v.v.

- Khoáng cách an toàn về cháy nổ dược phân ra như sau:

+ Khoáng cách an toàn đám bảo không gây ra cháy hoặc nổ (như khoảng cách an toàn về truyền nổ)

+ Khoảng cách an toàn đám bảo quá trình cháy nổ không gây tác hại cúa sóng va đập, của không khí, chấn động, đá văng,.v.v

3.2.3.9 Cơ khí hoá, tự động hoá và điểu khiển từ xa

Để tàng năng suất lao động và đảm bảo an toàn trong sản xuất, nhiều quá trình công nghệ cần phải mau chóng tiến tới cơ khí hoá và tự động hoá

Tuỳ theo điều kiện thực tế mà có thể cơ khí hoá một phần hoặc tự động hoá toàn bộ quá trình công nghệ bao gồm việc cấp phôi, kẹp chặt, gia công, kiêm tra và lấy sản phẩm ra Các cơ cấu cơ khí hoá và tự động hoá có nhiều loại rất khác nhau và đã được trình bầy trong các giáo trình chuyên môn

+ Cư khí hoá một mặt tạo ra năng suất lao động cao mà xưa nay bằng lao động thú công không thể tạo ra được, mặt khác nó còn là biện pháp an toàn khá triệt để vì nhờ cơ khí hoá, con người có thể được giải phóng ra khỏi những công việc nguy hiểm và lao động nặng nhọc

+ Tự động hoá là biện pháp hiện đại nhất, hoàn thiện nhất nhàm nâng cao năng suất lao động và đảm bảo điều kiện làm việc tuyệt đối an toàn trong quá trình sản xuất

Trong các dây chuyền tự động các công việc nặng nhọc của quá trình công nghệ đã được máy thực hiện, con người chỉ còn phải theo dõi sự làm việc cua máy và tiến hành các nguyên công điều chỉnh nhẹ nhàng

Trang 36

Khi thiết kế, sử dụng các dây truyền tự động, cần phải thực hiện các yêu cầu vệ sinh kỹ thuật và an toàn sau đây:

- Các bộ phận truyền động đều phải che kín

- Phải có cơ cấu phòng ngừa và khoá liên động thích hợp

- Phái có hệ thống tín hiệu để báo tất cả các trường hợp có thể xảy ra

- Có thể diều khiển độc lập từng máy, từng bộ phận Khi cần có thể ngừng máy ngay tức khắc

- Phải thoả mãn các quy phạm an toàn điện

- Phải trang bị các cơ cấu kiểm tra tự động

- Không sửa chữa, cho dầu vào máy, kiểm tra chi tiết khi máy đang chạy

- Không thu dọn phoi bằng tay

+ Điều khiển từ xa:

Các thiết bị máy móc có trang bị cơ cấu điều khiển từ xa cho phép đưa con người ra khỏi vùng nguy hiểm và giảm nhẹ sức lao động Ớ một số quá trình sán xuất, điều khiển từ xa có ý nghĩa trọng yếu về kỹ thuật an toàn, chẳng hạn trong sản xuất có liên quan đến các chất dễ nổ, dễ cháy, chất độc, các chất phóng xạ, Ớ những nơi nguy hiểm như vậy, không cho phép bố trí các nhân viên phục vụ trực tiếp làm việc tại đó thì việc trang bị những bộ phận điều khiển từ xa đê đóng mở, điều chỉnh thiết bị là không thê tránh khỏi

Trong điều kiện sản xuất, đôi khi cần phải đóng, mở hoặc điều chính chính xác và nhanh chóng thiết bị để tránh sự cố Nhiệm vụ này cũng có thể giải quyết bằng cách sử dụng các cơ cấu tự động và điều khiển từ xa

Trong công nghiệp, hiện nay người ta đã sử dụng các hệ thống điềukhiển từ xa như: cơ khí, khí nén, thuỷ lực, điện từ, điện và tổ hợp

3.2.3.10 Các trang bị phòng hộ cá nhân

Các trang bị phòng hộ cá nhân là các trang bị cho cá nhân dùng trong thời gian làm việc đê’ bảo vệ từng bộ phận của cơ thể khỏi tác dụng huỷ hoại trực tiếp của môi trường bên ngoài

Trang 37

Trang bị phòng hộ cá nhân thường đóng vai trò là biện pháp phụ để chông tai nạn Tuy vậy trong một số trường hợp, nó là phương tiện duy nhất

để đám báo an toàn Thí dụ: khi hàn, để bảo vệ mắt cần đeo kính đúng số quy định

Khi làm việc, phải mặc quần áo bảo hộ lao động thích hợp Khi phục

vụ ở các máy có các bộ phận quay nhanh, để đề phòng vướng vào các bộ phận đó, quần áo phải gọn gàng, ống tay áo hẹp, áo phải cho vào trong quần, khống để khăn quàng, tóc dài loà xoà

Khi làm việc trong các phân xưởng nóng, ở đó có các tia lửa hoặc các kim loại bắn ra, có nguy cơ bỏng thì trái lại áo không được cho vào trong quần, quần không được cho vào trong ủng, để đề phòng khi nổ, kim loại nóng chảy không luồn được vào trong giầy hoặc trong người

3.2.4 An toàn trên một sô máy thuờng gặp

3.2.4.1 An toàn trên máy tiện

Trong các nhà máy cơ khí và các phân xướng sửa chữa, máy tiện được

sử dụng khá nhiều chiếm, khoảng 30% tổng số các máy Trên máy tiện có nhiều bộ phận chuyển động như trục trơn, trục vít me, các bánh rãng, mâm cặp, Những bộ phận này có thể bất ngờ cuốn tóc, quần áo công nhân vào máy Nguy hiểm nhất là các bộ phận có cấu tạo lồi lõm, quay nhanh như đồ

gá, chi tiết, Để khắc phục tai nạn do nguyên nhân này gây ra, các bộ phận chuyến động phải được che kín, dồ gá quay phải thiết kế sao cho bề ngoài tròn, nhẩn, cân bằng, lực kẹp ổn định và đú (có tính đến lực ly tâm) đảm bảo không bị nới lỏng trong quá trình làm việc

Phôi cắt trên máy tiện cũng dễ gây tai nạn khi tiện vật liệu dẻo, phoi

ra dạng dây dài, sắc dễ làm đút chân tay Nó có thể cuốn vào chi tiết gia còng làm giảm độ nhẵn bóng bề mặt và gây khó khăn cho việc quan sát vật tiện và dao cắt Đê chống lại phoi này, người ta thiết kế các loại dao bẻ phoi (xem hình 3-10) hoặc chọn các thông số hình học của dao hợp lý để bẻ hoặc cuốn phoi (chủ yếu là chọn các góc nghiêng chính (p, góc nâng Ầ, góc trước y), cắt úp dao để đưa phoi dây hướng xuống phía thân máy, làm các tấm kính báo vệ đê chặn phoi bắn vào phía công nhân

Trang 38

Theo tài liệu của

viện nghiên cứu khoa

học bao hộ lao động

Maxcôva, có thẻ bẻ

phoi dây ổn định khi cắt thép 15, 45, 20X với tốc độ cắt từ 1 OO-^OOm/ph khi

dùng dao có các thông số hình học sau đây: (p = 45"; X = -10"; y = -5".

Khi tiện vật liệu giòn, phoi có dạng vụn bắn lung tung, dễ gây bỏng và gây tai nạn ó' mắt (khi tiện với tốc độ cao, phoi có thể nóng tới 700"-ỉ-800"C ở lưỡi cắt và đến người còn có thê tới 400'T 500''C) Dùng kính bảo vệ và cơ cấu bảo vệ (hình 3-3) có tác dụng tốt để chống loại phoi này

Khi gia công các chi tiết dài và yếu, dưới tác dụng của lực ly tâm, phôi

có thể văng ra hoặc bị uốn cong Vì vậy khi gia công các chi tiết dài, chiều dài lớn hơn hoặc bằng 10 lần đường kính thì phải dùng luynet đỡ Phôi thanh dùng trên máy rơvônve hoặc máy tiện tự động có chiều dài tới 3m thì nhất thiết phải có ống che phôi

Trên máy tiện thường, không có ống che phôi thì chiều dài phôi thanh cho phép thò ra khỏi trục chính phía sau không được quá 0,5m

Dao cắt quá dài, gá phôi không tròn đều hoặc kém cứng vững, thường gây ra rung động, trường hợp này dao dễ bị gẫy, mảnh dao bắn ra gây nguy hiểm cho công nhân

' ị • * * *

3.2.4.2 An toàn trên máy mài

Đá mài gồm các hạt mài kết dính lại bằng các chất dính kết (như bakêlít, gốm, ) Đá mài chịu kéo rất yếu và thường làm việc với tốc độ rất

H ì n h 3 -1 0 C á c lo ạ i d a o b ẻ p h o i

a) Dao bẻ phoi có mật trước cong b) Dao bẻ phoi có gờ chặn

Trang 39

cao ( V = 35-r300m/giây), vì vậy khi đá quay với tốc độ cao, lực ly tâm lớn, nêu đá mài không đám bảo liên kết tốt sẽ gây vỡ đá rất nguy hiểm.

Khi bảo quản dá không tốt (như để ẩm, làm rạn vỡ khi xếp chồng hoặc vận chuyến, ) lắp đá mài không cân bằng, lực mài tác dụng khỏiig đều,

có thể làm vỡ đá gây ra chấn thương trầm trọng Ngoài ra trong quá trình mài, bụi mài bay ra có thể làm tổn thương mắt và các cơ quan hô hấp (nguy hiếm nhất là đá mài dùng vật liệu thiên nhiên chứa nhiều Si02)

Đá mài cần phải báo quản ớ nơi khô ráo, phải có ngăn, giá, tránh xếp chồng hoặc dế lẫn với kim loại Khi vận chuyển phải tìm mọi cách chống va đập

Tất cả các đá mài, trước khi đem sử dụng đều phải được kiểm tra Đối với đá có đường kính từ 30mm đến 90mm phải kiểm tra với tốc độ cao hơn tốc dộ định mức 50% trong 3 phút, đường kính 150-ỉ-475mm trong 5 phút, đường kính trên 500mm trong 7 phút

Láp đá mài lên trục chính đòi hỏi phải cân bằng tĩnh và động, nếu có

dư trang thiết bị thì cân bằng động tốt hơn cân bằng tĩnh Khe hở giữa trục

và lỏ đá phải đảm bảo trong khoảng từ 2 đến 5% đường kính lỗ để đề phòng trục giãn nở nhiệt trong quá trình làm việc

Hình 3 -1 1 Lắp đ á trê n

t r ụ c c h ín h

D- đường kính đá mài còn mới

Dr đường kính bích kẹp

H- chiều dày đá mài

C- chiểu rộng hình vành khăn của

bích kẹp

h - chiều dày bích kẹp.

Trên hình 3-11 trình bầy cách lắp đá mài trên trục chính Đá mài trước khi láp dược đổ vào lỗ một vành kim loại mềm 4 Nhừ bích 5 đá mài được láp tròn trục chính 3 dược xiết chật bằng êcu 6, kích thước hai bích kẹp 5 phái gióng nhau dô tránh gây ra ứng suất uốn không cán thiết và nguy hiểm

Trang 40

D, của bích kẹp không được nhỏ hơn 1/2 D Giữa bích kẹp và đá mài phải đệm một lớp giấy cactônç hoặc da 2 để tránh gây ra ứng suất cục bộ quá lớn nếu hai mặt đá không song song với nhau Ecu 6 phải chọn chiều ren sao cho trong quá trình làm việc, nó không tháo lỏng được (chiều vặn ren ngược với chiều quay của đá mài).

Khi lắp đá phải đảm bao mômen ma sát giữa bích kẹp và đá mài lớn hơn mômen cắt, nghĩa là:

Tron« đó: ơ k - ứng suất kéo cho phép (ơk = 300+400 kG/cm2)

Bệ tỳ cần phải lắp ngang tâm hoặc cao hơn tâm Nếu lắp thấp hơn tâm thì giữa đá và bệ tỳ sẽ tạo thành một khe chêm nguy hiểm Nó có thể làm kẹt chi tiết mài và gây vỡ đá Giữa bệ tỳ và đá phải có một khe hở không được lớn hơn 3mm

Vỏ che chắn của đá mài phải thiết kế sao cho nó có thể ngãn chặn không cho đá mài vỡ bắn ra ngoài Khe hở giữa đá và mặt bên phải đảm bảo

Ngày đăng: 23/06/2023, 09:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm