1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn học hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng buổi thảo luận thứ năm trách nhiệm dân sự, vi phạm hợp đồng

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách nhiệm dân sự, vi phạm hợp đồng
Người hướng dẫn Ngô Thị Anh Vân PTS
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 184,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trả lời Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Cơ sở pháp lý: Điều 360 BLDS 2015: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải b

Trang 1

MÔN HỌC: HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG – THẢO LUẬN NHÓM 2

Giáo viên: DS – Ngô Thị Anh Vân Buổi thảo luận thứ năm: Trách nhiệm dân sự, vi phạm hợp đồng

Lớp: 114 – TM45.2

Nguyễn Thị Bình Minh (Nhóm trưởng) 2053801011143

Trang 2

Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra

- Tình huống: Ông Lạc (bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ) và bà Nguyễn thỏa thuận

phẫu thuật ngực với 4 yêu cầu: lấy túi ngực ra, thâu nhỏ ngực lại, bỏ túi nhỏ vào, không được đụng đến núm vú Ba ngày sau phẫu thuật, bà Nguyễn thấy núm vú bên phải sưng lên, đau nhứt và đen như than Sau 10 ngày vết mổ hở hết phần vừa cắt chỉ, nhìn thấy cả túi ngực đặt bên trong và ông Lại tiến hành mổ may lại Được vài ngày thì vết mổ bên tay phải chữ T lại

hở một lỗ bằng ngón tay, nước dịch tuông ướt đẫm cả người Sau đó ông Lại mổ lấy túi nước

ra và may lại lỗ hồng và thực tế bà Nguyễn mất núm vú phải

- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.

Trả lời Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Cơ sở pháp lý: Điều 360 BLDS 2015: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm dân sự Trách nhiệm dân sự được hiểu là việc gánh chịu một hậu quả bất lợi mang tính chất tài sản của bên vi phạm nghĩa vụ, qua đó

để khắc phục hậu quả cho bên bị vi phạm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên Trong đó bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình đã gây ra cho phía bên kia

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng:

1 Có hành vi vi phạm hợp đồng: Hành vi không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không đúng hợp đồng

2 Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng với thiệt hại xảy ra: Hành vi vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân gây nên thiệt hại

Những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng trong BLDS 2015 trong điều kiện có thiệt hại xảy ra đã mở rộng hơn về thiệt hại về tinh thần, đó là bổ sung thêm

“xâm phạm đến các lợi ích nhân thân khác” Đây là một sự bổ sung mới, quyền nhân thân

khác bao gồm: quyền về đời sống riêng tư; quyền về hình ảnh; quyền tự do tín ngưỡng; … Ngoài ra, theo như BLDS 2015 đã bỏ đi một điều kiện đó là lỗi của bên vi phạm BLDS 2005 xếp lỗi làm điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng nhưng năm 2015 thì lỗi chỉ còn là cơ sở, không còn bắt buộc Trong Điều 360 BLDS 2015

không có từ lỗi nhưng Điều 360 vẫn đưa ra một ngoại lệ là “trừ trường hợp luật có quy định khác”.

- Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ chưa? Vì sao?

Trả lời

Trong tình huống trên, việc làm hư mất núm vú phải đã xâm phạm đến yếu tố nhân thân của

bà Nguyễn

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ

Trang 3

Vì: Bà Nguyễn và ông Lại đã làm một thỏa thuận với nhau về PHẪU THUẬT THẨM MỸ Ông lại có nghĩa vụ thực hiện đúng những yêu cầu của bà Nguyễn là “lấy túi ngực ra, thâu nhỏ túi ngực lại, bỏ túi nhỏ vào, không được đụng đến núm vú” Tuy nhiên, quá trình hậu PHẪU THUẬT, chưa phục hồi sau khi mổ thì bà Nguyễn bị 2 lần PHẪU THUẬT lại dẫn đến mất núm vú phải Thấy rõ ông Lại đã vi phạm một trong bốn yêu cầu của bà Nguyễn Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015, hành vi vi phạm của ông Lại, khoản 2 Điều 584, không có căn cứ xác định về sự việc bất khả kháng hoặc từ lỗi của bà Nguyễn là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của ông Lại đối với bà Nguyễn

- Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời?

Trả lời

Theo quy định của BLDS 2015, những thiệt hại về vật chất sau đây do vi phạm hợp đồng gây

ra được bồi thường dựa theo cơ sở pháp lý Điều 361 BLDS 2015:

Thứ nhất, thiệt hại về tài sản

Thứ hai, thiệt hại vật chất có thể là thiệt hại về chi phí phát sinh từ việc một bên vi phạm nghĩa vụ

Thứ ba, Thiệt hại có thể là khoản nợ đáng ra được hưởng nhưng không được do vi phạm hợp đồng

- BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời?

Trả lời

Bộ luật Dân sự 2015 có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi

phạm hợp đồng quy định tại cơ sở pháp lý khoản 3 Điều 419 BLDS 2015: “3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.”

- Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không?

Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời?

Trả lời

Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn được bồi thường tổn thất về tinh thần Bởi vì theo BLDS 2015:

Điều 360 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ

“Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

Khoản 1, khoản 3 Điều 361 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ

“1 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần .

3 Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.”

Khoản 1, khoản 3 Điều 419 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng

Trang 4

“1 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.

3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.”

Mà theo tình huống trên, rõ ràng ông Lại đã vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã đặt ra Cụ thể, sau khi phẫu thuật thì núm vú bà Nguyễn bị sưng lên, đau nhức, đen như than, vết mổ bị hở,

và thực tế bà bị mất núm vú phải Những điều đó đã ảnh hưởng đến sức khỏe, thân thể của bà Nguyễn Mà theo điều 360, khi vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; theo điều

361, thiệt hại khi vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần; theo khoản 3 điều 419, người có quyền có thể yêu cầu và Tòa án có thể buộc người có nghĩa

vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền

Vậy, bà Nguyễn có thể yêu cầu, và Tòa án sẽ căn cứ vào đó buộc ông Lại bồi thường tổn thất tinh thần cho bà

Vấn đề 2: Phạt vi phạm hợp đồng

- Tóm tắt bản án 121/2011/KDTM ngày 26/12/2011 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Trả lời

Vụ việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán

Nguyên đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Tân Việt

Bị đơn: Công ty TNHH Tường Long

Nội dung vụ việc: Công ty Tân Việt và công ty Tường Long đã ký với nhau hợp đồng số

01-10/TL-TV mua bán vải thành phẩm ngày 01/10/2010 với trị giá tổng hợp đồng là 1.356.400.000 đồng và kỳ hạn giao được quy định rõ trong hợp đồng Sau khi ký hợp đồng, công ty Tân Việt thanh toán 30% giá trị hợp đồng (406.920.000 đồng) cho công ty Tường Long; ngày 12/11/2010, công ty Tường Long giao lô hàng đầu tiên Tuy nhiên, sau đó, công

ty Tường Long yêu cầu tăng giá thành sản phẩm lên 62.500 đồng/m và công ty Tân Việt hoàn toàn không chấp nhận yêu cầu đó

Còn về phía công ty Tường Long, vì một vài lý do khách quan nên không thể thực hiện hợp đồng với công ty Tân Việt Dù đã có yêu cầu công ty Tân Việt hỗ trợ nhưng không được sự chấp nhận

Trang 5

Quyết định Tòa sơ thẩm: Chấp nhận việc công ty Tường Long thanh toán số tiền phạt

102.849.604 đồng do hủy hợp đồng với công ty Tân Việt Không chấp nhận đòi tiền phạt cọc của công ty Tân Việt đòi công ty Tương Long với số tiền là 406.920.000 đồng

- Tóm tắt Quyết định số 10/2020/KDTM-GĐT ngày 14/8/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Trả lời Nguyên đơn: Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn

Bị đơn: Công ty Cổ Phần Yến Việt.

Lí do tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng phân phối độc quyền, yêu cầu thanh toán tiền mua

hàng

Nội dung vụ việc: Tháng 10/2010, Công ty Yến Việt và Công ty Yến Sào ký Hợp đồng

nguyên tắc số 02/HĐQT về việc “phân phối độc quyền phía Bắc”, công ty Yến Việt đồng ý cho công ty Yến Sào là nhà phân phối độc quyền trong thời hạn 10 năm Nội dung thoả thuận thể hiện đây là hợp đồng mua bán hàng hoá có điều kiện Công ty Yến Sào cho rằng Công ty Yến Việt đã thành lập chi nhánh tại Hà Nội mà không trao đổi với Công ty Yến Sào, điều này gây thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Yến Sào Vì thế, hai bên đã xảy ra tranh chấp

Quyết định: Chấp nhận Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm số 11/2020/KNKDTM, huỷ

Quyết định Giám đốc thẩm số 12/2009/KDTM- GĐT, huỷ Bán án số 01/2017/DSPT và D6/KDTM-ST, giao hồ sơ cho Tòa án nhà dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm

- Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng.

Trả lời

Về mức phạt vi phạm, tại Khoản 2, Điều 422, BLDS 2005 quy định:

“2 Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận”

Và tại Khoản 2, Điều 418, BLDS 2015 quy định:

“2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”

BLDS 2015 có bổ sung quy định về mức phạt vi phạm trong trường hợp “luật liên quan có quy định” ngoài trường hợp các bên thoả thuận so với BLDS 2005 BLDS 2015 bổ sung quy định trên bởi lẽ hiện nay vẫn có luật quy định khác về mức phạt như Luật xây dựng (12%), Luật thương mại (8%) có quy định về mức phạt tối đa (các bên không được hoàn toàn tự do thoả thuận)

Tại Khoản 3, Điều 422, BLDS 2005:

"3 Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vị phạm

mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường

Trang 6

thiệt hại, nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn

bộ thiệt hại.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm”

Và Khoản 3, Điều 418, BLDS 2015:

“3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.

BLDS 2015 đã bỏ đi quy định nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại” của BLDS 2005, quy định này được bỏ đi vì đây là vấn đề bồi thường thiệt hại và đã có quy định khác điều chỉnh (Điều 13 và Điều 360, BLDS 2015)

Về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, BLDS 2015 vẫn theo hướng nếu không có thoả thuận cụ thể về việc kết hợp hai chế tài này thì thoả thuận phạt vi phạm loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại (có thoả thuận về phạt vi phạm mà không có thoả thuận

về sự kết hợp thì chỉ áp dụng phạt vi phạm)

- Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng

Trả lời

Đối tượng thực hiện: đối với đặt cọc thì là số tiền mà bên đặt cọc nộp cho bên nhận đặt cọc; đối với phạt vi phạm hợp đồng thì là số tiền và có thể kèm theo biện pháp bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận mà bên vi phạm phải thực hiện đối với bên bị vi phạm

Hình thức: đều được lập thành văn bản Cả đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng đều xuất phát

từ việc thỏa thuận giữa đôi bên, tránh những tình trạng không đáng có xảy ra như việc đặt cọc không có giấy xác nhận đã thực hiện việc đặt cọc sẽ gây khó khăn trong việc xác nhận là đã tiến hành đặt cọc; hay là việc một người vi phạm hợp đồng nhưng không có ghi chép lại việc

vi phạm của người đó dẫn đến việc gây khó khăn xác định lỗi sai của họ để bồi thường và bị phạt

(Ngày nay, BLDS 2015 đã thoáng hơn khi không quy định hình thức đặt cọc vì Luật cho rằng không cần thiết phải gắt gao trong việc hình thức đặt cọc bởi có rất nhiều trường hợp tiến hành đặt cọc với người thân của mình hay đặt cọc thông qua bạn bè Lúc đấy việc lập đặt cọc

sẽ không cần phải thành lập văn bản mà chỉ thỏa thuận qua bằng miệng Chỉ trừ những trường hợp pháp luật bắt buộc phải lập thành văn bản khi thực hiện đặt cọc.)

Trang 7

Hậu quả pháp lý: Với đặt cọc thì bên đặt cọc sẽ mất đi một khoản tiền của mình, và bên nhận đặt cọc nhận được phần tiền đó Phạt vi phạm hợp đồng thì bên vi phạm nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm hoặc kèm theo bồi thường thiệt hại (nếu 2 bên có thỏa thuận) và bên bị vi phạm được nhận khoản tiền phạt cũng như phần bồi thường nếu có từ bên vi phạm

- Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?

Trả lời

Khoản tiền 30% đó được Tòa án xác định là tiền đặt cọc

Đoạn trong bản án cho ta thấy điều đó: “Xét thấy, khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế số

01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thỏa thuận: Ngay sau khi ký hợp đồng, bên mua (công

ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên Công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do vậy số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được

xác định là tiền đặt cọc Việc đặt cọc này là phù hợp khoản 7 Điều 292 Luật Thương mại và Điều 358 BLDS Việc đặt cọc này là việc đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng.”

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%.

Trả lời

Theo nhóm em, hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30% là hợp

lý Vì theo quy định tại khoản 2 Điều 328 BLDS 2015: “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Trong bản án trên, bên nhận đặt cọc (công

ty Tường Long) không từ chối thực hiện hợp đồng, mà tranh chấp phát sinh khi các bên đã đi vào giai đoạn thực hiện hợp đồng Do đó, số tiền đặt cọc 30% được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền, đồng nghĩa 406.920.000 đồng được coi là tiền bên đặt cọc (công ty Tân Việt) thanh toán đợt I cho bên nhận đặt cọc (công ty Tường Long)

- Cho biết điểm giống và khác nhau giữa thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng và thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.

Trả lời Điểm giống nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng: căn cứ Điều 418 BLDS 2015 và Điều 419 BLDS 2015

Trang 8

Thứ nhất, Là biện pháp chế tài mà Luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng

Thứ hai, Cơ sở để áp dụng 2 biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế

và phải có lỗi của bên vi phạm

Thứ ba, Mục đích chung của việc quy định cũng như áp dụng biện pháp này là nhằm ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng

Điểm khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng:

Thỏa thuận phạt vi phạm hợp

đồng

Thỏa thuận về mức về bồi thường thiệt

hại do vi phạm hợp đồng

Cơ sở pháp

Điều kiện

áp dụng

Áp dụng khi các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm – khoản 1 Điều 418 BLDS 2015

Khoản 2 Điều 419 BLDS 2015, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng

do hợp đồng mang lại

Khoản 3 Điều 427 BLDS 2015, bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường

Khoản 4 Điều 428, bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường

Trang 9

Mức phạt

Mức phạt do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác – khoản 2 Điều 418 BLDS 2015

Điều 301 Luật Thương mại sđ năm 2019 – Mức phạt được thỏa thuận trong hợp đồng và không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm

Theo Điều 13, Điều 360 BLDS 2015, thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỉa thuận khác hoặc luật có quy định khác

Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần thì theo yêu cầu của người có quyền và do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung

vụ việc – khoản 3 Điều 419 BLDS 2015 Điều 302 Luật Thương mại sđ năm 2019 – Giá trị bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng

lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm

Ý nghĩa

Tác động vào ý thức của chủ thể

để hạn chế việc vi phạm hợp đồng (được thỏa thuận trong khi giao kết hợp đồng)

Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của bên vi phạm (được thỏa thuận sau khi hợp đồng đã được giao kết, có hiệu lực

và có hành vi vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại)

Phạm vi Áp dụng phổ biến đối với các vi

phạm hợp đồng

Chỉ áp dụng khi khả năng thiệt hại có thể xảy ra

- Theo Toà án cấp phúc thẩm, thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà

án trong Quyết định số 10 là thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng hay thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng? Vì sao?

Trả lời

Theo Toà án cấp phúc thẩm, thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Vì Điều 11

Trang 10

Hợp đồng nguyên tắc số 02, hai bên thỏa thuận: “…nếu trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bên nào vi phạm các điều kiện đã cam kết trong Hợp đồng thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên kia số tiền là 10.000.000 đồng” Tòa án cấp phúc thẩm lại không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn có nội dung: yêu cầu Công ty cổ phần Yến Việt bồi thường khoản tiền 10.000.000 đồng do vi phạm hợp đồng nguyên tắc số 02/HĐNT về việc phân phối độc quyền phía Bắc, ký tháng 10/2010 giữa Công

ty TNHH Yến Sào Sài Gòn và Công ty cổ phần Yến Việt

- Theo Toà giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng hay thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng? Vì sao?

Trả lời

Theo Toà giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng Vì Tòa án nhận định: “Theo các Điều 300, 301, 302, 303, 304 Luật Thương mại năm 2005 thì phạt vi phạm là việc các bên thỏa thuận bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt được xác định trước nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; còn bồi thường thiệt hại là việc các bên thỏa thuận bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm, nhưng những tổn thất này chưa xác định được tại thời điểm thỏa thuận Các bên thỏa thuận vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên bị vi phạm 10.000.000 đồng, tức là các bên thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng”

- Cho biết suy nghĩ của anh chị về hướng xác định nêu trên của Hội đồng thẩm phán?

Trả lời

Nhóm em đồng ý với hướng xác định nêu trên của Tòa án Mặc dù trong phần nguyên đơn trình bày có đề cập: “Công ty Yến Viêt đã thành lập chi nhánh tại Hà Nội và thành lập các cửa hàng để phân phối sản phẩm trên thị trường phía Bắc mà không trao đổi với Công ty Yến Sào, vi phạm hợp đồng số 02 và gây thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Yến Sào” Xét theo khoản 1 Điều 302 Luật Thương mại 2005: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm” thì số tiền 10.000.000 đồng được xem là mức bồi thường thiệt hại

do vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, Điều 1 của Hợp đồng nguyên tắc số 02/HĐNT không có tỏa thuận hạn chế quyền của Công ty Yến Việt được bán sản phẩm trực tiếp cho khách hàng, trước khi ký Hợp đồng với Công ty Yến Sào thì Công ty Yến Việt đã mở chi nhánh của mình

và các cửa hàng tại Hà Nội Vì vậy, việc xác định Công ty Yến Việt vi phạm Điều 1 của Hợp đồng và phải bồi thường mức phạt 10.000.000 đồng là không có căn cứ Ngoài ra, nếu xác

Ngày đăng: 23/06/2023, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w