1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn học hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng buổi thảo luận thứ hai vấn đề chung của hợp đồng

11 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề chung của hợp đồng
Người hướng dẫn Ngô Thị Anh Vân PTS
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thể loại Thảo luận nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 158,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho dù trường hợp C thừa nhận là đã nhận được chấp nhận giao kết thì cũng không được tính là đã giao kết vì khi gửi giao kết hợp đồng bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời và cũng k

Trang 1

MÔN HỌC: HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG – THẢO LUẬN NHÓM 2

Giáo viên: DS – Ngô Thị Anh Vân Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của hợp đồng

Lớp: 114 – TM45.2

Nhóm: 08

Nguyễn Thị Bình Minh 2053801011143

Trang 2

Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 400 BLDS 2015 thì “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên

đề nghị nhận được chấp nhận giao kết” nhưng trong trường hợp này A và B nhận

được nhưng C thì không, D cũng không chứng minh được là đã gửi chấp nhận cho C nên không được tính là đã giao kết

Cho dù trường hợp C thừa nhận là đã nhận được chấp nhận giao kết thì cũng không được tính là đã giao kết vì khi gửi giao kết hợp đồng bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời và cũng không có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn (khoản 2 Điều 400 BLDS 2015) nên theo khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 thì thời điểm gửi chấp nhận giao kết hợp đồng của D tức 2 năm sau khi được đề nghị là không hợp lý

Suy ra vì yêu cầu giao kết hợp đồng của A, B, C đã hết thời hạn trả lời giao kết hợp đồng và lời đề nghị đó không còn hiệu lực nên chấp nhận trên của D, theo khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 được tính là lời đề nghị giao kết mới

Vấn đề 2: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng.

- Khái quát nội dung Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trả lời:

Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất

Trang 3

- Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 so với khoản 2 Điều 404 BLDS 2005, có thể thấy

rõ thay đổi về vai trò của “im lặng” trong giao kết hợp đồng

Đối với BLDS 2005 khi hết hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng thì hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết, nhưng đối với BLDS 2015 thì sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Đây là điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng

- Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

“Tình huống: Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không

ai có ý kiến gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên

bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ và Tòa án đã áp dụng Án Lệ số 04/2016/AL”

Trả lời:

Theo nhóm em việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là chưa thuyết phục

Trường hợp Án lệ số 04 “ người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối ” do sự im lặng trong Án lệ số 04 được kết hợp với hai điều kiện (điều kiện có trong thực tiễn xét xử) sau:

Thứ nhất, người giữ im lặng khi giao kết tiếp nhận việc thực hiện hợp đồng.

Thứ hai, người giữ im lặng biết rõ việc thực hiện hợp đồng nhưng không phản đối.

Nên im lặng trong Án lệ được xem là đồng ý trong giao kết Nhưng im lặng trong phần

Trang 4

tình huống “ gia đình bà Chu và ông Bùi không ai có ý kiến gì ” ở đây vẫn chưa đủ

cơ sở để khẳng định là đồng ý trong giao kết bởi “không có ý kiến” không hẳn đồng nghĩa với “biết nhưng không phản đối” Vì vậy Tòa án áp dụng Án lệ số 04 là chưa thuyết phục

Trong tình huống có ghi rõ đây là quyền sử dụng đất của hộ và căn cứ theo khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, tức các con của bà Chu và ông Bùi cũng có quyền đối với mảnh đất trên và căn cứ theo khoản 5 Điều 14 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT thì hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất phải được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật Thì giao dịch đáng lẽ vô hiệu do vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức, do chưa có sự đồng ý bằng văn bản của các con bà Chu và ông Bùi Tuy nhiên, theo tình huống bà Chu và ông Bùi đã thực hiện được nghĩa vụ trong giao dịch: bà Chu và ông Bùi đã giao đất và làm thủ tục chuyển nhượng đất để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì thế theo nhóm em nghĩ nên áp dụng khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 để quyết định công nhận hiệu lực cho giao dịch

Vấn đề 3: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được

- Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.

Trả lời:

Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng không có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng nay vô hiệu.”

Đối tượng của hợp đồng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành hợp đồng, nếu đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được thì hợp đồng đó cũng không thể thực hiện, do đó BLDS 2015 đã xác định một trong những căn cứ để hợp đồng vô hiệu

Trang 5

là khi hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được: có thể do nguyên nhân khách quan như thiên tai, lũ lụt, v.v… hay nguyên nhân chủ quan do ý chí chủ quan, do lỗi của một bên

So với khoản 1 Điều 114 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này

bị vô hiệu”.

BLDS 2015 có 2 điểm mới về quy định này, theo đó:

 Điều luật đã thay từ “ký kết” bằng “giao kết” Quy định này phù hợp hơn ở chỗ

“giao kết” được hiểu rộng hơn, bao quát cả những hợp đồng được hình thành bằng lời nói, văn bản thường, còn từ “ký kết” chỉ được áp dụng với những

trường hợp giao kết bằng văn bản có chữ ký

 Điều luật đã bỏ cụm từ “vì lý do khách quan” Quy định mới là phù hợp bởi dù

là nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì một hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được đều không thể hình thành, lý do chủ quan hay khách quan chỉ ảnh hưởng đến trách nhiệm phát sinh khi hợp đồng vô hiệu chứ không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng

Bên cạnh đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên, tránh việc lạm dụng việc giao

kết hợp đồng để trục lợi, khoản 2 Điều 408 BLDS 2015 quy định “Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được”

- Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Trả lời:

Trang 6

Về việc thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được thì hiện nay chưa có điều khoản nào quy định cả Bởi vì, đối với hợp đồng mà đối tượng không thể thực hiện được thì việc thực hiện hợp đồng đó được thực hiện là điều không thể xảy ra, cho nên thời hiệu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được là vô hạn

- Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?

Trả lời:

Theo em, tuyên bố trên của Tòa án là thuyết phục Bởi vì, theo khoản 2 Điều 408

BLDS 2015: “Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.” Trong trường hợp này, ông A đã biết rằng miếng đất ông mang đi thế

chấp ngân hàng đã được đứng tên và thuộc sở hữu của người khác, nhưng ông A lại không báo trước cho ngân hàng biết về việc này Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, phía Ngân hàng tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được là thuyết phục

Vấn đề 4: Xác lập hợp đồng có giả tạo tẩu tán tài sản

- Tóm tắt Bản án 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Tòa án nhân dân TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương:

Chủ thể: Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệp Thủy.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh Trang

Nội dung: Lúc đầu nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất đã được ký kết với bà Trang ngày 23/11/2013 và yêu cầu bà Trang giao quyền sử dụng đất AP 154638 Ngày 15/11/2016, nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện yêu cầu bà Trang trả lại cho số tiền vay của nguyên đơn là 100.000.000đ Hai bên đã thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo cho việc

Trang 7

vay mượn Nhưng đến hạn bị đơn chỉ trả cho nguyên đơn 5.000.000đ Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo và bắt bà Trang trả 95.000.000đ không cần lãi suất

Quyết định của Tòa án: Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Thủy tuyên bố hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu bà Trang có nghĩa vụ trả tiền cho bà Thủy 95.000.000đ

- Tóm tắt Quyết định Giám đốc thẩm số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa án nhân dân tối cao.

Trả lời:

Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồn chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu, bị đơn: Bà Đặng Thị Kim Anh Năm 2009 bà Thu cho bà Anh vay tiền nhiều lần tổng cộng 3,7 tỷ đồng, lãi suất 3%, ghi giấy tay, thỏa thuận miệng thời hạn trả 15 ngày Đến ngày 11/02/2010, bà Anh trả 600 triệu đồng tiền gốc

Bà Thu khởi kiện đòi trả 3,1 tỷ tiền gốc còn lại và lãi Bà Anh chấp nhận trả và cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) Tuy nhiên vợ chồng bà Anh sau đó lại chuyển nhượng quyền sử dụng đất giá thực tế gần 5,6 tỷ cho vợ chồng ông Vượng với giá 680 triệu nhằm tạo giao dịch giả trốn tránh nghĩa vụ trả nợ Quyết định của Tòa án: chấp nhận kháng nghị 78/2014/KN-DS đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 56/2012/DS-PT, hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 56/2012/DS-PT, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật

 Đối với vụ việc thứ nhất.

- Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

Trả lời:

Mặc dù trong Bộ luật Dân sự 2015 không quy định giả tạo là gì nhưng theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 về việc giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:

“1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu

Trang 8

vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

2 Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”

Ta có thể hiểu đối với giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo, chủ thể hoàn toàn mong muốn sự thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định mặc dù ý chí

đó không phải là ý chí đích thực Do đó, có thể hiểu giao dịch dân sự dược xác lập do

sự giả tạo là giao dịch được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịch khác:

Ví dụ: A bán cho B căn nhà giá 3 tỷ nhưng trên hợp đồng chỉ thể hiện giá chuyển nhượng có 1 tỷ nhằm để trốn thuế Như vậy hợp đồng này là hợp đồng giả tạo

Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa

vụ với người thứ ba:

Thứ nhất, giao kết hợp đồng giả tạo để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ khi bản thân

chủ thể tham gia hợp đồng đã tồn tại một nghĩa vụ với một chủ thể khác

Ví dụ: A nợ B 500.000.000 đồng và để trốn nghĩa vụ trả nợ A đã ký kết hợp đồng giả tạo bán nhà cho C là người thân để tránh ngôi nhà phải lấy đi trả nợ

Thứ hai, giao kết hợp đồng giả tạo để không phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định

đối với Nhà nước

Ví dụ: A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho B nhưng nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, A và B đã kí hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

- Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?

Trả lời:

Đoạn mà Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng: “Nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập hợp

Trang 9

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nội dung giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/07/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng Hai bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che dấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng.”

Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích để che giấu cho việc bà Thủy cho bà Trang vay số tiền 100.000.000 đồng

- Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu?

Trả lời:

Hợp đồng giả tạo bị tuyên bố vô hiệu Đoạn 6 phần xét thấy của bản án số 06/2017/DSST ngày 17/01/2017 của Tòa án nhân dân TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ( Đối chiếu quy định trên với trường hợp của nguyên đơn với bà Trang thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu do giả tạo )

Hợp đồng bị che giấu thì vẫn có hiệu lực Đoạn 6 phần Xét thấy của Bản án “ giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực”

Do đó, áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 131 BLDS năm 2015 các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì mình đã nhận

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu?

Trả lời:

Theo quan điểm của nhóm thì hướng giải quyết của Tòa án là hoàn toàn hợp lý Vì Tòa

án đã căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 124 BLDS năm 2015 “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan” Ở đây, để nhằm che giấu cho giao dịch vay tài sản (cụ thể là vay 100.000.000

đồng của bà Trang đối với nguyên đơn- giao dịch này hoản toàn hợp pháp nó không vi phạm điều cấm của luật cũng như không trái đạo đức xã hội) mà giữa hai bên nguyên

Trang 10

đơn và bị đơn đã che giấu chúng bằng một hợp đồng giả tạo đó là “chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá trị là 200.000.000 đồng” Nên giao dịch này bị Tòa án tuyên

bố vô hiệu là phù hợp

Về hợp đồng bị che giấu, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 thì việc bà Trang phải hoàn trả lại số tiền đã vay cho nguyên đơn là hợp lệ Vì cả 2 bên đều thừa nhận việc có thực hiện giao dịch này, giao dịch này thì hoàn toàn hợp pháp Mặc dù bà Trang có đưa ra quan điểm là đã trả đủ theo hình thức góp mỗi ngày 1.000.000 đồng trong vòng 6 tháng tổng sống tiền là 180.000.000 đồng nhưng khômg có cơ sở nào để chứng minh Để đảm bảo cho lợi ích các bên nên việc Tòa án tuyên bố bà Trang phải hoàn tiền vay là hợp lý (tức trả lại cho nhau những gì mình đã nhận)

Do cả 2 đều ý thức về việc xác lập hợp đồng giả tạo, Tòa xét thấy lỗi ngang nhau nên không có buộc họ phải bồi thường cho nhau cũng rất hợp lý

 Đối với vụ việc thứ hai.

- Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng

là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?

Trả lời:

Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu vì: quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng bà Anh thừa nhận còn nợ của bà Thu 3,1 tỷ đồng, đồng thời vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả nợ cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng trên cho anh là vợ chồng ông Vượng Thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế nhà đất là gần 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680 triệu đồng nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bà Thu và thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?

Ngày đăng: 23/06/2023, 09:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w