1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Skkn tích hợp kiến thức địa lý trong dạy học 1 số văn bản thơ lớp 12

44 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Skkn Tích hợp kiến thức địa lý trong dạy học một số văn bản thơ lớp 12
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục và Ngữ Văn
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Cơ sở lí luận của vấn đềa. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợpb. Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 2. Cơ sở thực tiễna. Thực tế giảng dạy Ngữ văn và Địa lí ở trường THPT những năm gần đâyb. Những khó khăn khi giảng dạy một số tác phẩm văn học Việt Nam 1945 – 1975, chương trình ngữ văn 12, tập 13. Tổng quan hướng đề xuất giảng dạy một số tác phẩm văn học Việt Nam 1945 – 1975, chương trình Ngữ văn 12, tập 1

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận của vấn đề

a Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp

b Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

2 Cơ sở thực tiễn

a Thực tế giảng dạy Ngữ văn và Địa lí ở trường THPT những năm gần đây

b Những khó khăn khi giảng dạy một số tác phẩm văn học Việt Nam 1945 – 1975,chương trình ngữ văn 12, tập 1

3 Tổng quan hướng đề xuất giảng dạy một số tác phẩm văn học Việt Nam 1945 –

1975, chương trình Ngữ văn 12, tập 1

II TÍCH HỢP KIẾN THỨC ĐỊA LÍ TRONG GIẢNG DẠY MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM 1945 – 1975, CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 TẬP 1

1 Bài “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh

2 Bài thơ “Tây Tiến” – Quang Dũng

3 Bài thơ “Việt Bắc” – Tố Hữu

4 Bài “Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm

5.Bài “Sóng” – Xuân Quỳnh

6 Bài “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân

KẾT LUẬN

MỞ ĐẦU

M Gorki đã từng nói: Văn học là nhân học Học văn là để hiểu sâu hơn tâm hồn

con người, và đồng thời cũng là để học cách làm người, học về cái tốt, cái đẹp và cái thật;

Trang 2

dạy cho con người biết yêu cái Đẹp và dám đấu tranh chống lại cái Ác, cái xấu Văn họccao quý là thế, song, trong những năm gần đây, học sinh các cấp, đặc biệt là học sinhtrung học phổ thông đang có thái độ lơ là, chưa quý trọng môn Văn, học hành còn chểnhmảng, lười nhác, chưa thật sự giành nhiều thời gian để học văn Cơ chế thị trường, và nhucầu việc làm của xã hội cũng tác động nhiều đến tâm lý các em, vì thế môn Văn ngàycàng ít được quan tâm, đầu tư hơn so với các môn học khác Điều này đòi hỏi người dạycần phải có sự đổi mới, cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống để văn học tạođược sự cuốn hút, hấp dẫn các em học sinh Mà muốn tạo được sư hấp dẫn, văn họcmuốn tô vẽ cho hay, cho đẹp thì cần có sự hỗ trợ của những kiến thức khác Ngoài kiếnthức về lịch sử, về kiến trúc, hội họa còn có những kiến thức về địa lí, văn hóa cũng gópphần khiến cho tác phẩm sâu hơn, đa dạng hơn

Thấm nhuần tư tưởng, quan điểm của Đảng, một trong các phương pháp đổi mới

là cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống, dạy học tích hợp liên môn nhằm pháttriển năng lực của học sinh, trang bị cho học sinh hành trang kiến thức đa chiều, đangành, nâng cao vốn sống, kĩ năng sống cho học sinh Do đó, mỗi giáo viên cần có sựmạnh dạn đổi mới phương pháp Không chỉ có lịch sử mà văn học còn có mối tương quanchặt chẽ với những kiến thức của nhiều ngành khác như địa lí, văn hóa, du lịch Có thểnói bên cạnh lịch sử và ngoài lịch sử thì địa lí là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn, chuẩn xác,phong phú cho văn học Theo đó, việc sử dụng những kiến thức về địa lí trong văn học làbiện pháp cần thiết để góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp liênmôn Để giảng dạy tốt các tác phẩm văn học hiện đại 1945 – 1975 giáo viên cần có sự đổimới theo hướng tích hợp kiến thức địa lí vào các tiết dạy một cách hợp lí tạo nên giờ dạysinh động, lôi cuốn Song, qua thực tế giảng dạy cho thấy cả giáo viên và học sinh đôi lúccòn thiếu sót, chủ quan trong việc khai thác các kiến thức về địa lí nên ít nhiều khiến chobài dạy chưa được hoàn chỉnh về mặt nội dung cũng như nghệ thuật

Từ nhu cầu đổi mới giáo dục và thực tế giảng dạy , chúng tôi nhận thấy sự cần thiết của

việc thực hiện đề tài: “Tích hợp kiến thức địa lí trong giảng dạy một số tác phẩm văn học Việt Nam 1945 – 1975 chương trình Ngữ văn lớp 12 – tập 1”.

NỘI DUNG

I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI

2 Cơ sở lí luận của vấn đề

a Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp

Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dungtừ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từ trước tớinay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nộidung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung văn học và lịch sử (để tìm hiểu vềhoàn cảnh xã hội của tác giả, tác phẩm) lồng ghép văn học với kiến thức về địa lí (để khaithác đa diện hình tượng nghệ thuật về vị trí địa lí, hướng chảy, dòng chảy của dòng sông,nét đẹp về văn hóa, ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật đối với đời sống và con người);

Trang 3

lồng ghép dạy học môn lịch sử với kiến thức về địa lí (để thấy được tầm quan trọng củađịa hình, lãnh thổ trong việc bố trí phòng ngự, chiến tuyến) từ đó định hướng xây dựngmôn học tích hợp từ các môn học truyền thống

Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác địnhnội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ởnhiều nước trên thế giới Nó còn là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại tronggiáo dục Hiểu đúng và làm đúng quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thểđối với từng phân môn trong một thể thống nhất của các môn học ở tiểu học

Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống Mọi tình huống xảy ratrong cuộc sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp Không thể giải quyết mộtvấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp và phốihợp kinh nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau Tích hợp trong nhàtrường sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng vàphương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tìnhhuống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại

Khi soạn giảng và thiết kế giờ dạy giáo viên cần xác định rõ:

- Mục tiêu bài dạy

- Những nội dung cần tích hợp

- Phương pháp tích hợp và các phương tiên dạy học cần thiết

- Thiết kế hệ thống câu hỏi theo trình tự hợp lý (định hướng phát triển năng lực học sinh)Trong quá trình lên lớp giáo viên có thể dạy học tích hợp theo nhiều cách khác nhau.Việc lưa chọn cách thức nào là tùy thuộc vào nội dung cụ thể của từng phân môn và từngbài học Chẳng hạn:

+ Tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ

+ Tích hợp thông qua việc giới thiệu bài mới

+ Tích hợp thông qua câu hỏi tìm hiểu bài

+ Tích hợp thông qua phương tiện dạy học như bảng phụ, tranh ảnh, thiết bị công nghệthông tin

+ Tích hợp thông qua nội dung từng phần hay tổng kết giờ học

+ Tích hợp thông qua hệ thống bài tập ( ở lớp cũng như ở nhà )

+ Tích hợp thông qua hình thức kiểm tra

+ Tích hợp gắn với đời sống xã hội, rèn kỹ năng sống cho học sinh

Tóm lại, để việc dạy học theo hướng tích hợp trong môn Ngữ văn đạt hiệu quả tốt,cần có giải pháp đồng bộ Trước hết, về phía cơ quan chủ quản, Bộ Giáo dục Đào tạo cầntriển khai nhanh chóng việc tập huấn dạy học tích hợp liên môn cho giáo viên Ngữ văn.Các cơ quan quản lý dưới Bộ nên tạo điều kiện cho giáo viên ở các cơ sở tổ chức xâydựng chuyên đề, trao đổi rút kinh nghiệm trong việc dạy học theo hướng tích hợp Cácthầy cô giáo trực tiếp đứng lớp phải nắm vững nguyên tắc tích hợp: bám sát chuẩn kiếnthức - kỹ năng, đảm bảo phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với đặc điểm, điều kiệncụ thể của đơn vị và đối tượng học sinh Việc tích hợp làm cho bài học sinh động, gắn vớithực tế hơn và không làm quá tải nội dung bài học

b Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

Trang 4

So với văn học trước và sau đó, văn học 1945-1975 có diện mạo riêng, với những đặcđiểm và quy luật vận động riêng Dưới sự lãnh đạo của Đảng và đường lối văn nghệ củaĐảng là nhân tố có tính chất quyết định tạo nên nền văn học thống nhất về khuynh hướng

tư tưởng, về tổ chức và quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ

Về mặt thi pháp, từ góc độ thi pháp, có thể hình dung diện mạo của văn học 1945-1975qua hệ thống thể loại của nó Bởi vì thể loại văn học vừa là hiện tượng lịch sử, vừa là

Văn học Việt Nam 1945-1975 rất đa dạng và phong phú về thể loại Ngay từ thời kì đầucuộc kháng chiến chống Pháp, thơ đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể Qua sáng táccủa những cây bút tiêu biểu như Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi,Hoàng Trung Thông, Thôi Hữu, Hữu Loan…, thơ cách mạng đã tạo ra được một nộidung và hình thức thể loại khác xa với thơ trữ tình của những năm ba mươi Diện mạocủa nền văn xuôi kiểu mới cũng được hình thành qua những trang bút kí, kí sự, truyệnngắn của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân, Hồ Phương.Nhưng phải sau hoà bình lập lại, nhất là từ những năm sáu mươi, các thể loại văn họcmới phát triển rực rỡ Có được sự phát triển rực rỡ ấy là nhờ công sức của nhiều thế hệcầm bút Giai đoạn từ năm 1958 đến 1964 được gọi là thời kì hồi sinh của hàng loạt nhàthơ “tiền chiến” như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh… Văn xuôi phát triểnmạnh mẽ với nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, BùiHiển, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Thế Phương, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, NguyễnKhải, Lê Khâm, Hữu Mai, Nguyễn Kiên, Đào Vũ, Vũ Thị Thường… Từ 1965 đến 1975,một cao trào sáng tác phục vụ cuộc kháng chiến chống Mĩ được phát động Đây là thời kìxuất hiện hàng loạt nhà thơ trẻ có giọng điệu riêng của một thế hệ mới: Lê Anh Xuân,Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Bùi Minh Quốc, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy,Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, PhanThị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ… Về văn xuôi, bên cạnh Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải,

Lê Khâm (Phan Tứ), nổi lên Nguyễn Minh Châu, Chu Văn, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng(ngoài Bắc) và Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức (trong Nam)

Có thể nói, ở giai đoạn 1945-1975, nền văn học Việt Nam không thiếu một thể loại nào:truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại kí, bao gồm kí sự, bút kí, tuỳ bút, truyện kí,các thể thơ: thơ trữ tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca… Chính cái phong phú, đadạng về mặt thể loại của nền văn học 1945 – 1975 đã làm văn học Việt Nam thay đổi đachiều, đa diện, đa sắc màu và là mảnh đất màu mỡ cho những ai muốn khám phá vànghiên cứu

2 Cơ sở thực tiễn

a Thực tế giảng dạy Ngữ văn và Địa lí ở trường THPT những năm gần đây

Thực tế cho thấy, cứ mỗi kì thi ở trường THPT thầy, cô giáo lại được nhiều phen cười ranước mắt bởi nhiều học sinh thể hiện khả năng “phi thường” đến mức khiến giáo viêngiật mình vì sự tiếp thu của các em với những kiến thức mà mình đã truyền thụ Ví dụ cụ

thể trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, học sinh Thái Long Vĩ (học sinh lớp 12/5 trường THPT Phạm Phú Thứ) viết: Tây Tiến là tên một địa danh ở vùng miền Tây Bắc xa xôi và hiểm trở, cũng là tên của đơn vị được Quang Dũng thành lập

Trang 5

Hay câu thơ tinh tế như: Mai Châu mùa em thơm nếp xôi đã được học sinh hiểu sai và tán rất thô: Các chiến sĩ Tây Tiến hành quân rất vất vả, rất đói và khát; tuy vậy, khi ngửi thấy mùi cơm nếp, các chiến sĩ vẫn dằn lòng, không hề kêu ca đói khát.(học sinh Nguyễn

Hoàng Long trường THPT Thái Phiên)

Đến Nguyễn Tuân – một cây bút tài hoa uyên bác qua “cách cảm” của học sinh với

những kiến thức chắp vá lại hóa thành “một cây bút chuyên viết về các dòng sông, một trong số đó là sông Đà Sông Đà còn có tên khác là sông Hương của xứ Huế thơ mộng, là dòng sông của thi ca Do sống, gắn bó gần cả đời với mảnh đất và con người xứ Huế nên Nguyễn Tuân đã tạc nên hình tượng con sông Đà đặc sắc với thủy trình cụ thể, rõ ràng” (học sinh Lê Khắc Tiệp trường THPT Sào Nam)

Khi thi địa lí, trình bày về gió mùa đông bắc có thí sinh viết: gọi là gió mùa đông bắc bởi loại gió này chỉ hoạt động ở vùng đông bắc nước ta Về nguồn gốc thay vì nói từ khối

khí lạnh phương bắc xuất phát từ cao áp Xi-bia thì thí sinh lại nói xuất phát từ cao áp KơNia, cao áp Cam-pu-chia thổi vào Việt Nam Phạm vi hoạt động của gió mùa đông bắcchủ yếu từ dãy Bạch Mã (vĩ tuyến 16 độ trở ra) thì thí sinh lại viết một cách rất hùng hồnrằng gió mùa đông bắc chủ yếu hoạt động ở phía bắc nước ta và về phía nam thì hầu nhưbị chặn lại ở dãy… Bạch Hổ Hẳn thí sinh chỉ nhớ Bạch (trắng), còn con gì bạch cũngkhông sao, ngựa bạch (Bạch Mã) hay hổ bạch (Bạch Hổ) cũng thế

Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng có lẽ không thể bỏ qua việc học tập tiếp thu kiến thứccủa hai phân môn Địa lí và Ngữ văn đối với các em là vừa yếu, vừa thiếu

Vậy làm sao cho học sinh học địa lí (cụ thể là địa lí Việt Nam) đỡ nhàm chán, linhhoạt, khắc sâu được kiến thức Ngược lại, khi những học sinh này học môn Ngữ văn vẫn

có sự liên hệ và nắm chắc những kiến thức của môn địa lí? Đây cả một vấn đề nan giải,đòi hỏi người giáo viên cần phải tự học, không ngừng trau dồi chuyên môn, bổ sungnhững kiến thức của bộ môn khác

b Những khó khăn khi giảng dạy một số tác phẩm văn học Việt Nam 1945 – 1975, chương trình ngữ văn 12, tập 1

Tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt - 30 năm đất nước có chiến tranh,văn học 1945 - 1975 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà lịch sử, cách mạng giao phó là:tìm hiểu, khám phá, ngợi ca những nét đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhândân trong chiến đấu và xây dựng Với nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ công cuộc khángchiến, cảm hứng chủ đạo, chi phối hầu hết các sáng tác trong giai đoạn văn học 1945 -

1975 là cảm hứng lãng mạn Đó là những trang viết khẳng định lí tưởng của cuộc sốngmới, vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vàotương lai tươi sáng của dân tộc Và chính những trang viết thấm nhuần tinh thần lạc quan

cách mạng ấy đã cổ vũ tinh thần chiến đấu cho các chiến sĩ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” Đó còn là nguồn động viên nâng đỡ con người

Việt Nam vượt qua gian lao thử thách trong máu lửa chiến tranh, tạo nên những chiếncông hiển hách, đi đến những chiến thắng lẫy lừng

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 hình thành một quan niệm mới nhà văn – chiếnsĩ Và đây là giai đoạn văn học đa dạng về mặt thể loại và thi pháp nên để tìm hiểu chocặn kẽ, hết ngóc ngách là điều không tưởng

Trang 6

Đa phần học sinh ít thuộc thơ mà hay chế thơ, không nắm được kiến thức trọng tâm, cònlan man, diễn xuôi ý thơ; ít đọc truyện ngắn mà lại hay chắp vá bài này với bài khác,không thuộc cốt truyện, không phân tích được nhân vật, không khai thác hết các tín hiệunghệ thuật Lượng kiến thức mà các em cần tiếp thu quá nhiều, không chỉ có môn Ngữvăn và thường tâm lí các em nghĩ chỉ cần “bịa ra”, “có chữ” là có điểm nên chủ quan,lười nhác, đối phó, học qua loa

Càng ngày cuộc sống càng thay đổi, cách tiếp cận đối với sự vật, hiện tượng càng ngàycàng cụ thể hơn, chính xác hơn Báo chí, sách giáo khoa, phương tiện truyền thông ngàycàng phổ biến song không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác Vì vậy đòi hỏi ngườiđọc, nhất là học sinh cần có sự khôn ngoan khi lựa chọn, chọn lọc thông tin cho chuẩnxác, cho mới mẻ Không chỉ với người học, mà với cả người dạy cũng vấp phải không ítnhững khó khăn: làm thế nào để khơi được sự hứng thú, khơi gợi sự sáng tạo và tạo được

sự say mê trong những tiết dạy lồng ghép, tích hợp cũng không phải là điều đơn giản.Bên cạnh đó, cần nắm rõ kiến thức về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa để có cái nhìn chân xáchơn về tác phẩm cũng là vấn đề khó khăn

Có thể khẳng định rằng, để giảng dạy và tiếp thu, truyền thụ những kiến thức về văn họcViệt Nam 1945 – 1975 không phải là việc dễ dàng Nó đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ cả 2phía người học và người dạy tạo nên sự nhịp nhàng để tiếp thu và truyền thụ mới có thểtạo nên những giờ học thật sự bổ ích

3 Tổng quan hướng đề xuất giảng dạy một số tác phẩm văn học Việt Nam 1945 –

1975, chương trình Ngữ văn 12, tập 1

Văn học Việt Nam 1945 – 1975 là nền văn học khá đa dạng và phong phú về mặt thểloại Trong chương trình Ngữ văn 12 tập 1 thì chủ yếu là thơ trữ tình, bút kí, tùy bút vàkhai thác hết các tín hiệu nghệ thuật không phải là điều dễ dàng nhất là đối với nhữnggiáo viên trẻ, còn ít kinh nghiệm Nhiều giáo viên chọn cách khai thác về thi pháp, về đặcđiểm cơ bản, về khuynh hướng…song, khai thác nội dung theo hướng tích hợp kiến thứcđịa lí thì hầu như không nhiều giáo viên vận dụng, phát huy hết khả năng

GV có thể tích hợp trong từng thời điểm, GV có thể vận dụng những kiến thức đãhọc hoặc sẽ học trong chương trình để dạy một đơn vị kiến thức nào đó Có khi kiến thứctích hợp thuộc về chính phân môn này, cũng có thể thuộc về các phân môn khác Điềuquan trọng là GV phải thực sự linh hoạt Đối với các đơn vị kiến thức cũ (đã dạy), giáoviên tích hợp nhằm củng cố ôn tập, so sánh đối chiếu, đồng thời rèn cho học sinh ý thức

và kỹ năng vận dụng “cái đã biết” để xử lý các vấn đề trước mắt, hình thành “cái cầnbiết” Đối với các đơn vị kiến thức sẽ hình thành (sẽ dạy), GV đưa ra để gợi mở, giúp HShình dung được mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức trong chương trình, đồng thời qua

đó khơi gợi được tinh thần ham hiểu biết, muốn được khám phá trong học sinh – tức làtăng hứng thú cho người học Hướng tích hợp này góp một phần rất lớn trong việc tăngthêm hiệu quả của quá trình dạy học Ngữ văn

Phạm vi tích hợp Văn – Địa lý là tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng kiến thứchiểu biết về các địa danh để lý giải rõ một số chi tiết hình ảnh nghệ thuật GV tích hợpthông qua câu hỏi kiểm tra bài cũ, thông qua việc giới thiệu bài mới, tích hợp thông qua

Trang 7

câu hỏi tìm hiểu bài, tích hợp thông qua phương tiện dạy học như tranh, ảnh, máychiếu tích hợp thông qua hình thức kiểm tra…

II TÍCH HỢP KIẾN THỨC ĐỊA LÍ TRONG GIẢNG DẠY MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM 1945 – 1975, CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 TẬP 1

1 Bài “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh

Bản Tuyên ngôn độc lập là 1 văn kiện lịch sử có gía trị về mọi mặt, nhất là về chính trị, tư tưởng và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc Trong hoàn cảnh ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập

có nhắc đến di tích lịch sử đó là số nhà 48 phố Hàng Ngang – nơi ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập Và quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi Bác Hồ đã đọc bản tuyên ngôn độc

lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Vì sao Bác lại chọn nơi này và điều đó

có ý nghĩa ra sao? Giáo viên có thể tích hợp kiến thức địa lí để làm rõ:

- Tích hợp kiến thức địa lí để làm rõ hoàn cảnh ra đời bản Tuyên ngôn độc lập Khi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu mục tiểu dẫn, ngoài việc hướng dẫn các

em tìm hiểu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh, về tác phẩm Tuyên ngôn độc lập thì không thể không hướng dẫn các em tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập Giáo viên có thể phát vấn hoặc giảng giải mở rộng kiến thức:

+ Giáo viên nêu câu hỏi: Các em dựa vào sách giáo khoa nêu hoàn cảnh ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập?

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên có thể giúp các em mở rộng kiến thức hơn bằng

cách gợi mở: Các em có biết vì sao Bác lại soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại nơi đây không?

Gv có thể diễn giải, mở rộng hơn: Đây là ngôi nhà của cụ Trịnh Phúc Lợi, chủ cửahàng tơ lụa Phúc Lợi nổi tiếng Hà Nội từ những năm đầu thế kỉ 20 Ban đầu, cửa hiệu tơlụa Phúc Lợi là căn nhà hai tầng nhưng sau khi cụ Trịnh Phúc Lợi trao quyền thừa kế cho

vợ chồng người con trai cả là ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Ninh Hồ, ngôi nhàđược cải tạo thành 4 tầng

Với uy tín của một cơ sở cách mạng tiền khởi nghĩa, sau khi giành chính quyền, Trung ương Đảng quyết định chọn ngôi nhà này làm nơi làm việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong thời gian từ ngày 25-8 đến 2-9-1945, căn nhà này chính là nơi Bác Hồ viết bản Tuyên ngôn độc lập, họp với Trung ương Đảng đề ra những quyết sách quan trọng như: Nội dung bản Tuyên ngôn độc lập, tổ chức Lễ Quốc khánh và thành lập chính phủ lâm thời

Hiện tại, ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang trở thành di tích cách mạng quan trọng của Hà Nội Với những người dân Hà Nội, ngôi nhà cũng trở thành niềm tự hào và chứng nhân lịch sử quan trọng Nơi đây từ lâu cũng trở thành nơi trưng bày những kỉ vật về Bác Hồ.Tầng 1 thường trưng bày theo chuyên đề để người dân hiểu hơn về những giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ và Tư tưởng Hồ Chí minh Tầng 2 của căn nhà lưu giữ toàn bộ những kỷ vật, từ chiếc bàn bác viết bản Tuyên ngôn, bàn ăn, phòng tiếp khách quốc tế…

- Tích hợp kiến thức địa lí về quảng trường Ba Đình lịch sử:

Trang 8

GV dẫn dắt: số 48 Hàng Ngang là nơi Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn để đếnngày 2-9-1945 Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dânchủ cộng hòa tại quảng trường Ba Đình lịch sử Theo em, vì sao Người lại chọn quảngtrường Ba Đình để đọc bản Tuyên ngôn mà không phải nơi khác?

Ảnh: Quảng trường Ba Đình

+ GV cho HS xem phim tư liệu, xem tranh ảnh về quảng trường Ba Đình, sau đó tích hợp, bổ sung, chốt ý: Ba Đình là tên của cuộc khởi nghĩa đầu tiên diễn ra ở Thanh Hóa -

khởi nguồn của phong trào Cần Vương chống Pháp do vua Hàm Nghi khởi xướng,đứngđầu Để tổ chức cuộc mít tinh lớn chính thức công bố tuyên cáo độc lập vào ngày2/9/1945, vấn đề là phải chọn được một địa điểm thích hợp Trong số nhiều phương ánđịa điểm được đưa ra, cuối cùng có 3 nơi được đề xuất: một là Khu Việt Nam học xá (Đạihọc Bách khoa Hà Nội ngày nay), quảng trường trước Nhà hát lớn Hà Nội và vườn hoa

Ba Đình Nhưng Khu Việt Nam học xá lại xa trung tâm trong khi quảng trường phíatrước Nhà hát lớn Hà Nội lại tỏ ra chật chội Và đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyếtđịnh chọn vườn hoa Ba Đình Điều này hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên Ngoài việcđáp ứng được các yêu cầu như phù hợp với việc tập trung đông đảo hàng chục vạn quầnchúng các giới, là nơi trung tâm phù hợp việc đi lại, vườn hoa Ba Đình cũng là nơi đặtPhủ toàn quyền, biểu tượng cho sự đô hộ của thực dân Pháp lúc bấy giờ Chọn một nơinhư thế để tuyên cáo với toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam và cũng là sựkhẳng định đanh thép nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua bảnTuyên ngôn Độc lập Như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố tại cuộc họp của Chínhphủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hai ngày sau đó khi Người trình ra cuộc

họp bản dự thảo Tuyên ngôn độc lập: “Chúng ta không phải chỉ đọc để đồng bào ta nghe mà còn cho cả Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các nước đồng minh nghe” (trích hồi ký của luật gia Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục Chính

phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa)

2 Bài thơ “Tây Tiến” – Quang Dũng

Quang Dũng là nhà thơ đa tài và bài thơ Tây Tiến thể hiện rõ được lối viết: Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc Không chỉ có chất thơ mà còn đầy chất nhạc, chất họa Giáo

viên cần làm rõ được phong cách phóng khoáng, hào hoa, lãng mạn của tác giả trong bài

Trang 9

thơ “Tây Tiến” nhắc nhiều đến địa danh, các vùng miền của Tây Bắc, bên cạnh đó cònnói nhiều đến kỉ niệm tình quân dân, tình đồng chí được tạo ra qua quá trình hành quântrong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt qua những địa hình dốc đá chênh vênh củađoàn quân Tây Tiến Cũng từ đó những cung đường Tây Bắc đã hiện ra trong sương mùche lấp, qua những mái nhà sàn ẩn hiện, qua tiếng gầm thét của dòng sông Mã oaihùng…

GV cho học sinh đọc phần tiểu dẫn, tìm hiểu về vị trí địa lí vùng Tây Bắc, cho hs xem sơ

đồ, xem phim tài liệu ngắn về Tây Bắc và địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến:Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá (Việt Nam), Sầm Nưa (Lào) là địabàn rộng lớn, hoang vu, hiểm trở, rừng thiêng nước độc, có vị trí chiến lược vô cùng quantrọng, nhiều dãy núi cao, chênh vênh, vực sâu

Ảnh: Bản đồ địa lí vùng Tây Bắc

GV phân tích, diễn giảng về một số địa danh vùng Tây Bắc được nhắc đến trong các câu thơ để khai thác sâu hơn ý thơ

Ví dụ như trong câu: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

GV tích hợp, mở rộng kiến thức: vì sao nhớ Tây Tiến là nhớ đến dòng sông Mã? Mở

đầu bài thơ sự xuất hiện của hình ảnh sông Mã – một chứng nhân gắn bó bao kỉ niệm vớiTây Tiến bởi lẽ địa bàn hoạt động của Tây Tiến cũng gắn liền với con sông này Sông Mã

là một con sông của Việt Nam và Lào có chiều dài 512 km Trong đó phần trên lãnh thổ

Việt Nam dài 410 km và phần trên lãnh thổ Lào dài 102 km Sông Mã có hai nguồn chính

là từ tỉnh Điện Biên và từ Lào Nguồn thứ nhất bắt đầu bằng hợp lưu các suối ở vùng biên

giới Việt - Lào tại xã Mường Lói, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Nguồn thứ hai bắt

đầu từ sườn phía Bambusao Hai nguồn này đều đổ vào Thanh Hóa qua địa phận tỉnh

Sầm Nưa Trong bài thơ, sông Mã không còn là con sông vô hồn của địa lí mà là dòng

chảy suốt dọc bài thơ, chở nặng nỗi niềm cảm xúc khó quên, những kỉ niệm buồn vui màTây Tiến đã đã đi qua

Trang 10

- GV yêu cầu hs đọc đoạn 1 và trả lời: Tác giả đã liệt kê hàng loạt các địa danh nào được

nhắc đến trong các câu thơ ở đoạn 1? Theo em, dựa vào đâu tác giả lại có những xúc cảmđó?

+ HS đọc và trả lời: Tác giả liệt kê hàng loạt các địa danh qua các câu thơ:

…Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

…Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

…Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

…Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

GV phân tích, diễn giảng thêm vì sao lại có những câu thơ đó dựa vào kiến thức về địa lí:

Ảnh: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

GV có thể tích hợp, diễn giảng:

Từ TP Thanh Hóa, vượt quãng đường gần 300km vượt qua nhiều con dốc cheoleo, quanh co theo triền núi, cắt rừng vượt qua nhiều núi cao, suối sâu mới có thể đếnđược bản Sài Khao Xa xa, đỉnh núi Pha Luông cao 1.507 mét so với mặt nước biển-làđỉnh núi cao nhất tỉnh Thanh Hóa hiện ra lờ mờ trong sương núi Nơi ấy, những chàngtrai trong binh đoàn Tây Tiến đã “gục trên súng mũ bỏ quên đời” để bảo vệ dải đất miềnTây Thanh Hóa

Nếu ở Sài Khao sương xuống rồi, mỏi mệt rồi mà vẫn hành quân thì ở Mường Lát, nhữngchàng lính ấy lại vui vẻ đón những sơn nữ về bản sau một ngày lao động khi màn đêmbắt đầu buông Ở miền núi sẩm tối, sương xuống bàng bạc, trong thời khắc tranh tối tranhsáng ấy, ngòi bút tài hoa của Quang Dũng thay vì viết “màn đêm buông” là “hơi đêm”,một cách thể hiện táo bạo Nhưng dùng “hơi đêm”, nghĩa là “mới vào đêm”, “đêm chưasâu” không thể lột tả hết vẻ yên tĩnh, bí ẩn bằng “đêm hơi” Thủ pháp đảo ngữ dùng để

Trang 11

nhấn mạnh ý tứ trong thơ không có gì lạ nhưng dùng thủ pháp liên hệ, gợi mở bằng đảo

trật tự từ trong câu thơ: Mường Lát hoa về trong đêm hơi là sáng tạo của Quang Dũng.

Ảnh: Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Quốc lộ 15 bắt đầu từ ngã ba Tòng Đậu, ngay dưới chân đèo Thung Khe và kết thúc ở thị trấn Cam Lộ của tỉnh Quảng Trị Đây là tuyến đường quan trọng dọc theo biên giới phía Tây, giáp với nước bạn Lào Trên cung đường huyết mạch này, những địa danh lừng

lẫy suốt chiều dài của nó gắn liền với “cung đường Tây Tiến” huyền thoại Những Mai Châu, Mường Lát, Sào Khao, Pha Luông… như lời giục giã, hối thúc những bước chân

khám phá tìm về với những dấu tích xưa một thời oai hùng Tây Tiến

Trang 12

Những nếp nhà thanh bình ở Mường Hịch

Trong số những địa danh mời gọi ấy, nếu Mai Châu đã trở nên quá quen thuộc không chỉ với dân xê dịch mà cả đối với những du khách thông thường thì Mường Hịch lại là một cái tên cũ mà vẫn nguyên sơ, mới mẻ đối với du khách Nói Mường Hịch không lạ bởi dù

là bất cứ ai, chỉ cần là người Việt thì đều biết đến địa danh này qua những dòng thơ đầy

cảm xúc của nhà thơ Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến” Mường Hịch trong thơ xưa

hoang vu, heo hút với đầy rẫy nguy hiểm:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”.

Mường Hịch chỉ cách ngã ba Tòng Đậu 15km Tuy nhiên, với những bước chân khám phá, mỗi địa danh không đơn giản là một cái tên Dân xê dịch giờ biết đến Mường Hịch bằng một tên gọi khác, Mai Hịch Mường Hịch, hay Mai Hịch của ngày hôm nay không

còn tiếng “cọp trêu người”, thác nước cũng chẳng còn “gầm thét” Thay vào đó, Mường

Hịch dù đã bớt hoang vu, nhưng vẫn giữ vẻ đẹp xưa cũ của những bản làng người Thái, Mường êm ả Khói lam chiều bảng lảng trên mái rạ lẫn vào sương núi Thung xanh vẫn nhấp nhô dáng nón lá thăm đồng Dòng suối Xia vẫn chảy đêm ngày đổ đầy dòng sông Mã Mường Hịch nằm ở phía Tây Nam của huyện Mai Châu, cách trung tâm huyện 13

km, giáp ranh với 2 xã thuộc huyện Quan Hóa tỉnh Thanh Hóa, với 96% là dân tộc Thái sinh sống rải rác dọc theo suối Xia và rừng nguyên sinh, đồi cọ Mường Hịch những năm trước là nơi hiểm yếu, rừng rậm nguyên sinh, đêm đêm vẫn có cọp ra quấy nhiễu, cả vùng chỉ có vài chục nóc nhà, nhà nào cũng phải làm thật cao, cắm chông bốn phía đề phòng bất trắc, ấy vậy mà thỉnh thoảng vẫn có người bị cọp vồ ăn thịt Đó cũng là cơ

duyên Quang Dũng sáng tác: Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Nằm cách Hà nội chừng 130 km với những đường đèo quanh co, thung lũng Mai Châuxanh mướt những cánh đồng, những ngôi nhà sàn bé li ti xếp thẳng tắp đẹp đến nao lòng

Trang 13

Cảnh sắc của Mai Châu nổi bật nhất chính là những cánh đồng lúa xanh mơn mởn ngútngàn, nhìn từ đèo Thung Chuối càng có tầm nhìn bao quát với vẻ đẹp bao la và thanhbình đến lạ Những ngày ruộng chưa lên mạ, những thửa ruộng ngập nước soi bóng trờimây, du khách đến đây dịp này chỉ thấy một niềm luyến tiếc cho hương lúa ngào ngạt,

cho một Mai Châu “mùa em thơm nếp xôi”.

Ảnh: Đến với Mai Châu – Mùa em thơm nếp xôi

3 Bài thơ “Việt Bắc” – Tố Hữu

Thơ Tố Hữu là đỉnh cao thơ trữ tình chính trị Việt Nam (Trần Ðình Sử) Có thể tìm thấy

ở đó những nét tiêu biểu của quan niệm nghệ thuật Cách mạng Văn học không chỉ là vănchương mà thực chất là cuộc đời Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của vănhọc Với Tố Hữu, thơ là Tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí ; làm cho người

ta không còn thấy giới hạn của câu chữ, khi cái tình thật mãnh liệt Màu sắc dân tộc đậm

đà cũng là yêu cầu hàng đầu đối với thơ hay, cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệthuật Dân tộc mà hiện đại, hiện đại trên cơ sở dân tộc, truyền thống Bài thơ Việt Bắc làđỉnh cao sáng tác của Tố Hữu vừa là khúc tình ca vừa là khúc hùng ca

+ GV phát vấn: Em hãy nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ Việt Bắc?

+ HS dựa vào sgk trả lời: Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 Đây là thời điểmcác cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trờ về thủ đô Hà

Trang 14

Nội, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng Điện Biênphủ và hòa bình lập lại ở miền Bắc.

+ GV phát vấn: Vậy, đã bao giờ các em từng hỏi: vì sao Việt Bắc lại được lựa chọn làmcăn cứ địa cách mạng? Việt Bắc có vai trò như thế nào trong công cuộc kháng chiếnchống Pháp?

- GV tích hợp kiến thức về địa lí để làm rõ về vị trí chiến lược của Việt Bắc: Việt Bắc

là một vùng núi hiểm trở gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, TuyênQuang, Thái Nguyên hay còn được gọi tắt là Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái

Ảnh: Bản đồ địa lí vùng Việt Bắc gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên

GV tích hợp, diễn giảng: Việt Bắc có đủ các điều kiện thuận lợi về địa lí, lịch sử, kinh tế,

nhân dân để xây dựng căn cứ địa cách mạng Về lịch sử, Việt Bắc là gốc tích tổ tiênHùng Vương ta dựng nước, là nền tảng chống ngoại xâm của ông cha ta như Lý ThườngKiệt, Trần Hưng Đạo Là căn cứ chống Pháp của tiên liệt ta như cụ Hoàng Hoa Thám, làcăn cứ địa của cuộc dân tộc giải phóng, chống Pháp, chống Nhật, là quê hương của giảiphóng quân ta, anh cả của Vệ quốc quân

Về địa thế, căn cứ địa Việt Bắc được xây dựng trên một vùng rộng lớn, chủ yếu là núirừng Rừng rậm bạt ngàn, các dãy núi trùng điệp Địa thế hiểm trở đã giúp giữ bí mậtcông tác xây dựng lực lượng cách mạng, trở thành địa bàn thuận lợi cho lực lượng vũtrang đánh du kích lâu dài, tiêu hao lực lượng địch và dễ dàng duy trì, phát triển lựclượng Phía bắc, Việt Bắc giáp Trung Quốc, có thể liên lạc với phong trào cộng sản quốc

Trang 15

tế Việt Bắc lại là cửa ngõ của miền xuôi nên vẫn tranh thủ được sự giúp đỡ của miềnxuôi Từ Thái Nguyên về Hà Nội không xa, khoảng 80-90 km Khi có thời cơ thuận lợi,lực lượng vũ trang có thể tiến nhanh phát huy thắng lợi, nếu gặp khó khăn có thể kịp thờilui về bảo toàn lực lượng Tóm lại, Việt Bắc có vị trí cơ động, theo Bác Hồ, là nơi “tiếnkhả dĩ công, thoát khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể giữ).

Ảnh: Việt Bắc

Nhân dân các dân tộc Việt Bắc có lòng nồng nàn yêu nước, đoàn kết, cần cù trong laođộng, thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945 đã sớm nghe theo lời kêu gọi của Đảng,của Bác Hồ giương cao ngọn cờ đấu tranh, nay lại có thể góp phần tích cực vào cuộckháng chiến “Đồng bào Việt Bắc gồm có Kinh, Thổ, Nùng, Thái , phong tục tập quántuy có khác nhau ít nhiều nhưng lòng nồng nàn yêu nước, lòng căm hờn thực dân thìmuôn người như một Lòng yêu nước của đồng bào nhập với hình thế hiểm trở của núisông thành một lực lượng vô địch” Trong các lý do để Bác lựa chọn Việt Bắc làm căn cứđịa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, có lẽ lý do rất quan là sự ủng hộ của lòngdân Việt Bắc Theo Người, sống giữa đồng bào tức là được bảo vệ an toàn nhất

- Tích hợp kiến thức địa lí về thời tiết để diễn giảng các câu thơ:

Mình đi có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

câu thơ đã đặc tả được cảnh thiên nhiên hoang sơ, thời tiết khắc nghiệt nơi núi rừng ViệtBắc Toàn khu Việt Bắc có lượng mưa khá cao và đồng đều tạo nên độ ẩm lớn Theo quy

luật đai cao khu có khí hậu lạnh nên khí hậu ở đây khắc nghiệt, dữ dội “mưa nguồn suối lũ”; lạnh lẽo với những “mây cùng mù” Đó không chỉ là những hình ảnh tả thực về sự

khắc nghiệt của thời tiết Việt Bắc mà đó còn là những ẩn dụ nghệ thuật nói đến những

Trang 16

tháng ngày gian nan vất vả của cán bộ và nhân dân Việt Bắc mà suốt đời họ có thể nàoquên ?

- Tích hợp kiến thức về những địa danh trong Việt Bắc:

Ta về ta nhớ Phủ Thông đèo Giàng

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao Lạng, nhớ sang Nhị Hà

Đèo Giàng nằm trên Quốc lộ 3, giáp ranh giữa hai huyện Bạch Thông và Ngân Sơn Nơi đây, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng vang dội và đã đi vào trang lịch sử hào hùng của dân tộc Đây là trận đánh có quy mô lớn nhất so với các trận phục kích đánh địch khác ở khu vực Đèo Giàng Từ trận thắng vang dội này, Đèo Giàng đã trở thành một địa danh lịch sử gắn liền với những chiến công oanhliệt của Quân và dân ta trong chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947

Có thể nói, đây là trận đánh có quy mô lớn nhất so với các trận phục kích khác ở khu vực Đèo Giàng; từ trận đánh này, bộ đội ta rút được nhiều kinh nghiệm về chiến thuật phục kích cấp tiểu đoàn Trận đánh này gắn liền với trận đánh công đồn Phủ Thông ngày 25/7/1948 đã gây tiếng vang lớn, tác động mạnh mẽ, cổ vũ, động viên lực lượng vũ trang trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần cùng nhân dân cả nước đánh bại mọi âm mưu phá hoại của Thực dân Pháp tại Chiến khu Việt Bắc;

Đèo Giàng và Phủ Thông, hai địa danh kháng chiến nổi tiếng đã đi vào thơ ca cách mạng, trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu sáng tác năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi tại Chiến trường Điện Biên phủ, hoà bình được lập lại Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội ta đã rời Việt Bắc trở về thủ

đô Hà Nội Trong không khí chia ly đầy nhớ thương, lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc vànhững người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc” tái hiện lịch sử kháng chiến và tình cảm của quân dân Việt Bắc Trong đó có 02 câu thơ nói về địa danh lịch sử nổi tiếng của Bắc Kạn:

“Mình về mình có nhớ không

Ta về ta nhớ Phủ Thông, Đèo Giàng”

Với những ý nghĩa lịch sử đặc biệt của trận đánh Đèo Giàng Năm 2001 Bộ Văn hóa, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) đã công nhận, xếp hạng di tích lịch sửĐèo Giàng là di tích lịch sử cấp Quốc gia

Trang 17

Ảnh: Đèo Giàng

Nỗi nhớ bao trùm tất cả; nhớ đèo, nhớ sông, nhớ phố, nhớ những trận đánh đẫm máu,nhớ những chiến công oai hùng một thời oanh liệt Nhớ trận phủ thông, đèo Giàng vớilưỡi mác và ngọn giáo búp đa Nhớ sông Lô là nhớ chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947:

Tàu giặc đắm sông Lô – Tha hồ mà uống nước – Máu tanh đến bây giờ (Cá nước) Nhớ

phố Ràng, nhớ trận công có pháo binh tham gia cuối năm 1949, đánh dấu bước trưởngthành trong khói lửa của quân đội ta để từ đó tiến lên đánh lớn và thắng lớn trong chiếndịch Biên giới giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn Đoạn thơ với những địa danh như nhữngtrang kí sự chiến trường nối tiếp xuất hiện khơi gợi biết bao là tự hào trong lòng ngườiđọc

4 Bài “Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơtrẻ thời chống Mỹ Xuất thân từ một gia đình trí thức cách mạng ở Huế, bản thân ôngtham gia trực tiếp vào phong trào đấu tranh sinh viên nên thơ Nguyễn Khoa Điềm rấtgiàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén mang tâm tư của người trí thức Tổ quốc là một đề tàiphong phú của thơ ca Việt Nam Trước Nguyễn Khoa Điềm đã có nhiều bài thơ hay,nhiều tác giả thành công về đề tài này Đất nước anh hùng trong kháng chiến chống Pháp,mang hồn thu Hà Nội của Nguyễn Đình Thi Đất nước cổ kính, dân gian, mang hồn quêKinh Bắc của Hoàng Cầm Đất nước hóa thân cho một dòng sông xanh, đầy ắp kỉ niệmtrong thơ Tế Hanh Đất nước hài hòa trong dáng hình quê hương và tình yêu đôi lứa trongthơ Giang Nam Nhưng, đến Nguyễn Khoa Điềm, ông đã tìm được một cách nói riêng để

Trang 18

chương thơ mới của ông mang lại cho bạn đọc những rung cảm thẫm mĩ mới về đấtnước: Đất nước của nhân dân.

GV yêu cầu HS đọc đoạn 2 sgk từ : Những người vợ nhớ chồng…núi sông ta và tìm tên

những địa danh được nhắc đến trong đoạn trích? GV yêu cầu HS trình bày một số hiểubiết về những tích xưa gắn liền với những địa danh đó?

HS trình bày, sau đó GV diễn giảng, mở rộng, chốt ý:

- GV tích hợp kiến thức về địa lí để làm rõ tư tưởng đất nước của nhân dân – tư tưởng cốt lõi bằng cách liệt kê hàng loạt các địa danh và cùng tích xưa:

Nếu như phần đầu khúc ca, tác giả nói về lịch sử cùng với định nghĩa đất nước bằng thơtheo cách riêng của mình thì bốn mươi bảy dòng thơ tiếp theo nhà thơ đi sâu vào tư tưởngđất nước của nhân dân bằng cách nhìn toàn diện không gian địa lí và thời gian lịch sử

Tích hợp kiến thức địa lí về tên các địa danh:

“Những người vợ nhớ chồng…Bà Đen, Bà Điểm”

Tư tưởng đất nước của nhân dân dẫn nhà thơ đến một cách nhìn mới mẻ, có chiều sâu vềđịa lý Bằng thủ pháp liệt kê độc đáo, người đọc được tiếp nhận một phát hiện mới rất thúvị: những danh lam thắng cảnh trên đất nước ta như Vịnh Hạ Long, những di tích văn hóanhư Hòn Vọng Phu, Núi Bút, Non Nghiên, những di tích lịch sử như Làng Gióng, Đất Tổtrải dài trên khắp đất nước ta Tất cả không chỉ là địa hình núi sông thuần túy mà tạo hóađã ban tặng, mà còn được cảm nhận như một sự đóng góp của nhân dân, sự hóa thân củanhững cảnh ngộ, số phận của nhân dân và thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân: thủychung, yêu nước, hiếu học

Nằm cách Trung tâm thành phố Tây Ninh 11 km, di tích núi Bà Ðen trải rộng trên diện tích hơn 24 km2 gồm ba ngọn: Núi Bà, núi Phụng và núi Heo, trong đó núi Bà cao nhất với độ cao 986 mét so với mặt biển

Trang 19

Ảnh: Toàn cảnh Linh Sơn Thiên Thạch động (Ðiện Bà) Núi Bà Đen

Khu vực núi Bà Đen có suối chảy róc rách từ trên đỉnh núi xuống chân núi và hàng trăm hang, động, chùa chiền, đền miếu Các hang động trong khu vực núi Bà Ðen qua hàng trăm năm đã được xây dựng, cải biến thành những nơi linh thiêng thờ thần, thờ Phậtnhư: Hang Gió, chùa Hang, động Thanh Long, động Ông Hổ, Ông Tà, Ba Cô, Thiên Thai

Hòn Vọng Phu thuộc xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố

Thanh Hoá 3km về phía Tây Nam, hình tượng này gắn với truyền thuyết người đàn bàchung thủy chờ chồng đến hoá đá Trước kia núi này gọi là núi Khế - Nhuệ Sơn (thônNhuệ), chu vi khoảng 4.000m, là một ngọn núi đá vôi được thiên nhiên tạo nên hình mộtngười phụ nữ đang quay mặt về phía biển Đông

Theo truyền thuyết kể rằng: ngày xưa có một “chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt” yêu

một cô gái nết na, xinh đẹp nhất vùng Họ kết duyên với nhau và sống quấn quít bên nhaurất hạnh phúc, nàng dệt cửi quay tơ, chàng dùi mài kinh sử chờ ngày ra kinh đô ứng thí.Khi nàng sanh được 1 đứa con gái xinh xắn thì quân giặc tràn đến xâm lấn cõi bờ Chàngtrai đành xếp bút nghiên, từ tạ người vợ trẻ lên đường ra biên ải rồi hy sinh ngoài chiếnđịa Ở quê nhà nàng chinh phụ ôm con đợi chờ rồi hóa đá thành núi Vọng Phu, nhữnggiọt lệ của nàng rơi xuống hóa thành sông, có tên là sông Cái chảy vào sông Dinh để rabiển

Trang 20

Ảnh: Núi Vọng Phu – như hình người phụ nữ ôm con

- Hòn Trống Mái nằm trên núi Trường Lệ thuộc địa phận thị xã Sầm Sơn Nơi đây gắn

với truyền thuyết về một mối tình thủy chung, sống chết bên nhau của cặp vợ chồng trẻsau đại nạn hồng thuỷ, đã khiến các nàng Tiên du ngoạn nơi trần gian phải động lòngcảm phục cho hoá thành đôi chim ngày ngày quấn quýt bên nhau trên núi cao Hết thờigian du ngoạn các nàng Tiên phải về trời và muốn đưa đôi chim về cùng Nhưng vì yêumến xóm làng, cặp vợ chồng chim đã ở lại cùng bà con xây dựng lại quê hương sau nạnhồng thuỷ Các nàng Tiên cảm động và đồng ý Thế là cặp vợ chồng chim đã được hoá đáthành Trống - Mái, trường tồn vĩnh hằng với thời gian

Trang 21

Ảnh: Hòn Trống Mái nằm kề sát bên nhau

- Ngắm núi Bút non Nghiên, Nguyễn Khoa Điềm không nghĩ về địa linh nhân kiệt mà

nghĩ về người học trò nghèo về truyền thống hiếu học về tấm lòng tôn sư trọng đạo củanhân dân ta

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên.

“nghèo” mà vẫn góp cho Đất Nước ta núi Bút non Nghiên, làm rạng rỡ nền ăn hiến Đại

Việt nghèo vật chất mà giàu trí tuệ tài năng

Núi Bút là ngọn núi nằm sát con đường này, biểu tượng cho nền văn học Quảng Ngãi Trên ngọn núi hiện còn dấu tích của một tháp Chăm Dưới chân núi có chùa Thiên Bút vànghĩa trang liệt sĩ tỉnh

Trang 22

Ảnh: Tháp Bút năm tầng đứng sừng sững giữa trời xanh

Vịnh Hạ Long (vịnh nơi rồng đáp xuống) là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ tây vịnh Bắc

Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố HạLong, thành phố Cẩm Phả và một phần huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh

Ảnh: Vịnh Hạ Long

Ngày đăng: 23/06/2023, 09:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn 12. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, H.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
2. Phan Trọng Luận, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2006
3. Nguyễn Văn Đường, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, SP.2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12
Tác giả: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
4. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 12, Tập một + Tập hai, SGK, NXB Giáo dục, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12, Tập một + Tập hai
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2017
5. Nguyễn Bảo Ngọc (1996). Phát triển tính tích cực, tính tự lực cho học sinh trong quá trình dạy học. Vụ Giáo viên, Bộ GD – ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực cho học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Bảo Ngọc
Nhà XB: Vụ Giáo viên, Bộ GD – ĐT
Năm: 1996
6. Tài liệu tập huấn xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Bộ GD và ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w