Pháp luật đại cương chương 5 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 5 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 5 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 5 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 5 hk1 21 22 (NLU)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Môn học: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Chương 5 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, VI PHẠM PHÁP LUẬT
VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ Giảng viên phụ trách: LÊ HỮU TRUNG
Giảng viên chính, Thạc sỹ Quản lý nhà nước, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
5.1 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
Thực hiện pháp luật là yêu cầu và là quá trình hoạt động có mục đích của Nhà nước, nhằm đảm bảo cho pháp luật đi vào cuộc sống của con người và đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn khách quan trong đời sống xã hội đặt ra [2] Những hoạt động diễn ra trong đời sống xã hội được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của pháp luật đều được coi là sự thực hiện pháp luật một cách thực tế của các chủ thể pháp luật [3]
Do các quy phạm pháp luật rất phong phú, đa dạng, cho nên hình thức, phương pháp
và biện pháp thực hiện pháp luật cũng rất khác nhau
Khoa học pháp lý đã phân chia thành 4 hình thức thực hiện pháp luật sau: [4]
5.1.1 Tuân thủ pháp luật
Là yêu cầu đòi hỏi các chủ thể pháp luật phải tự kiềm chế để không thực hiện những hành vi hoặc không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm
Ví dụ: Một công dân kiềm chế không thực hiện những hành vi mà Bộ luật Hình sự ngăn cấm, tức là anh ta đã tuân thủ các quy định của bộ luật đó [5]
5.1.2 Thi hành pháp luật
Là yêu cầu đòi hỏi các chủ thể pháp luật phải luôn quan tâm đến việc thực hiện nghĩa
vụ của mình bằng những hành động tích cực, có ý thức và tự giác [6]
Ví dụ: Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 quy định: “Công dân từ đủ 18 đến hết 25 tuổi phải thi hành nghĩa vụ quân sự” (Công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ là đến hết 27 tuổi)
Một nam thanh niên trong độ tuổi trên bằng hành vi lên đường nhập ngũ, phục vụ trong quân đội đúng thời gian quy định, tức là thanh niên đó đã thi hành pháp luật [7]
5.1.3 Sử dụng pháp luật
Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó, các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình trong việc thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép [8]
Ví dụ: Pháp luật quy định công dân có quyền khiếu nại và tố cáo
Một công dân gửi đơn khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, tức là công dân đó đã sử dụng pháp luật [9] Trong những tình huống, hoàn cảnh hoặc điều kiện cụ thể, chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền chủ thể mà pháp luật cho phép theo ý chí của mình thì không bị coi là vi phạm pháp luật
Tuy nhiên, không được thực hiện vượt thẩm quyền mà pháp luât cho phép [10]
Trang 25.1.4 Áp dụng pháp luật
5.1.4.1 Khái niệm áp dụng pháp luật
“Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, thông
qua những cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc các tổ chức xã hội
khi được Nhà nước trao quyền theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, để nhằm cá
biệt hóa các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ
chức cụ thể.” [11]
Trong đó, các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền, căn cứ theo quy định
của pháp luật để quyết định những việc mà chủ thể pháp luật phải làm hoặc không
được làm
Đây là trường hợp các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà
nước [12]
Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho những quy phạm pháp luật
được thực hiện một cách triệt để và phát huy được hiệu lực và hiệu quả cao nhất trong
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội [13]
Áp dụng pháp luật được thực hiện trong các trường hợp sau:
1 Khi cần thiết phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế do các chế tài của pháp luật quy
định để xử lý đối với những chủ thể pháp luật có hành vi vi phạm pháp luật [14]
2 Khi quan hệ pháp luật cũng như quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của chủ thể pháp
luật không thể tự nó phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà
nước [15]
Ví dụ: Hiếp pháp 2013 quy định: Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân
Nhưng quan hệ pháp luật lao động cụ thể giữa một công dân với một cơ quan nhà nước
chỉ có thể phát sinh khi có quyết định tuyển dụng công dân đó của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền [16]
3 Khi quan hệ pháp luật đã phát sinh, nhưng quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên
tham gia quan hệ pháp luật không được phân định do xảy ra tranh chấp, mà các bên
không thể tự giải quyết được Nên cần có sự can thiệp của Nhà nước
Ví dụ: Xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia trong quan hệ hợp đồng kinh tế, hợp
đồng dân sự [17]
4 Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm
tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặc để xác nhận sự tồn tại
hay không tồn tại một sự việc, sự kiện thực tế nào đó
Ví dụ: Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; Xác nhận di chúc; Chứng thực thế chấp,
hợp đồng, v.v [18]
5.1.4.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật
1 Áp dụng pháp luật là một hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước,
theo đó:
Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có
thẩm quyền tiến hành theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức
trách có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật [19]
• Áp dụng pháp luật có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên
quan
Trang 3• Khi cần thiết, quyết định áp dụng pháp luật có thể được đảm bảo thực hiện bằng sự
cưỡng chế của Nhà nước [20]
2 Áp dụng pháp luật là hoạt động tuân thủ theo những hình thức, thủ tục, trình tự và
thẩm quyền do pháp luật quy định
Ví dụ: Việc giải quyết một vụ án hình sự được điều chỉnh bởi Luật Tố tụng hình sự [21]
3 Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội
xác định, cụ thể
Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt
hóa, cụ thể hóa đối với những cá nhân, tổ chức cụ thể bị áp dụng pháp luật [22]
4 Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo
Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ
vụ việc cụ thể, làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành pháp lý của nó (điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể cũng như nguyên nhân làm cho vụ việc phát sinh) [23]
Từ đó lựa chọn quy phạm pháp luật và đưa ra những quyết định áp dụng pháp luật (ban
hành văn bản áp dụng pháp luật) một cách khách quan, phù hợp, đúng pháp luật và tổ
chức thi hành
Tuyệt đối tránh chủ quan, áp đặt, cửa quyền và vụ lợi trong khi áp dụng pháp luật [24]
5.1.4.3 Văn bản áp dụng pháp luật
Khái niệm Văn bản áp dụng pháp luật
“Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, có đặc trưng quyền lực, do những
cơ quan nhà nước, hay nhà chức trách có thẩm quyền ban hành trên cơ sở những quy
phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể
hoặc những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật.” [25]
Đặc điểm của Văn bản áp dụng pháp luật:
1 Văn bản áp dụng pháp luật là hình thức thể hiện chính thức của hoạt động áp dụng
pháp luật
2 Văn bản áp dụng pháp luật là một yếu tố của sự kiện pháp lý phức tạp
Thiếu văn bản áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật cụ thể không thể thực hiện
được [26]
3 Văn bản áp dụng pháp luật do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm
quyền ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế
4 Văn bản áp dụng pháp luật có tính cá biệt, áp dụng một lần đối với các cá nhân, tổ
chức cụ thể trong những trường hợp xác định [27]
5 Văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp với thực tế
+ Nếu không hợp pháp thì sẽ bị đình chỉ hoặc hủy bỏ
+ Nếu không phù hợp thực tế thì sẽ không thi hành được hoặc được thi hành mà kém
6 Văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác định
như: Bản án, Quyết định,
Căn cứ vào nội dung và nhiệm vụ của văn bản áp dụng pháp luật,
có thể chia chúng thành 2 loại: [29]
Trang 4- Văn bản áp dụng pháp luật tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý: là văn bản trong đó xác
định cụ thể ai mang quyền chủ thể, ai mang nghĩa vụ pháp lý bằng con đường cá biệt
hóa phần quy định của quy phạm pháp luật [Áp dụng giải quyết các tranh chấp về mặt
dân sự] [30]
- Văn bản áp dụng pháp luật mang tính bảo vệ pháp luật: là văn bản chứa đựng những
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật
[31]
5.1.4.4 Những giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật
Nhằm đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật chính xác và có hiệu quả, trước khi đưa ra
quyết định áp dụng pháp luật cần tiến hành theo 5 giai đoạn sau: [32]
[33]
5.1.5 Áp dụng pháp luật tương tự
5.1.5.1 Khái niệm áp dụng pháp luật tương tự
Trong quá trình xây dựng pháp luật, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà trong pháp
luật tồn tại những lỗ hổng, tức là có những quan hệ xã hội cần phải được điều chỉnh
bằng pháp luật song chưa có pháp luật để điều chỉnh [34]
Để bảo vệ pháp luật, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
khoa học pháp lý đã đưa ra biện pháp áp dụng pháp luật tương tự
Áp dụng pháp luật tương tự là biện pháp mang tính tạm thời nhằm khắc phục những lỗ
Áp dụng pháp luật tương tự được chia làm 2 loại:
2 Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để
áp dụng đối với từng trường hợp
cụ thể
1 Phân tích đánh
giá khách quan,
toàn diện, đầy đủ
và chính xác mọi
tình tiết của vụ
việc; làm sáng tỏ
những sự kiện có
liên quan; và xác
định các đặc trưng
pháp lý của chúng
3 Làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật được lựa chọn
5 Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật
4 Ban hành
văn bản áp dụng pháp luật
Trang 5a) Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật
b) Áp dụng tương tự pháp luật [36]
a) Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật
Là sự giải quyết một vụ việc pháp lý cụ thể trên cơ sở quy phạm pháp luật không phải
được tính cho trường hợp này mà cho một trường hợp tương tự (do chưa có quy phạm
pháp luật trực tiếp điều chỉnh) [37]
b) Áp dụng tương tự pháp luật
Là sự giải quyết một vụ việc pháp lý cụ thể dựa trên nguyên tắc chung của pháp luật và
ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa (do chưa có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh
đồng thời không có cả quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc tương tự với nó) [38]
Sự áp dụng tương tự quy phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật cần phải được
tiến hành trong sự tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Khoa học và thực tiễn pháp lý đã xác định những điều kiện chung và điều kiện riêng để
nhằm đảm bảo tính đúng đắn khi áp dụng pháp luật tương tự [39]
5.1.5.2 Các điều kiện chung khi áp dụng pháp luật tương tự
1) Cần xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc được xem xét
Nếu vụ việc không có đặc trưng pháp lý thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền
từ chối không xem xét [40]
2) Cần phân tích kỷ lưỡng luật lệ
Sự phân tích này cho phép lựa chọn được quy phạm pháp luật điều chỉnh trường hợp
gần giống với vụ việc được xem xét (nếu là áp dụng tương tự quy phạm pháp luật),
hoặc tìm ra những nguyên tắc pháp luật nhất định hay quan điểm pháp lý nào được sử
dụng để giải quyết vụ việc cụ thể đó và lý giải lý do lựa chọn đó (nếu là áp dụng tương
tự pháp luật)
Ý thức pháp luật, kiến thức pháp lý đóng vai trò to lớn trong áp dụng tương tự pháp luật [41]
3) Cần giải thích tại sao đối với trường hợp này lại áp dụng tương tự quy phạm pháp
luật hoặc áp dụng tương tự pháp luật [42]
5.1.5.3 Các điều kiện riêng cho mỗi loại áp dụng pháp luật tương tự
1) Đối với áp dụng tương tự quy phạm pháp luật, cần xác định chính xác rằng không có
quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc này
Trong trường hợp ngược lại, nó không thể được xem xét theo nguyên tắc tương tự.[43]
Khi này, cần phải tìm quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp tương tự với vụ
việc được xem xét
Quy phạm pháp luật đó sẽ là cơ sở cho việc giải quyết vụ việc [44]
2) Đối với áp dụng tương tự pháp luật, cần chứng minh một cách chắc chắn rằng không
có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc này, đồng thời không có cả quy
phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc tương tự với nó
Nếu có thể giải quyết bằng áp dụng tương tự quy phạm pháp luật thì không giải quyết
bằng áp dụng tương tự pháp luật [45]
5.2 VI PHẠM PHÁP LUẬT
Trang 65.2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật
Trong đời sống xã hội, mọi hành vi của con người là những hoạt động có ý thức, có định hướng và có mục đích nhằm tác động vào tự nhiên, xã hội
Mọi hành vi của chủ thể pháp luật đều được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, vì vậy nó mang tính pháp lý [46] Tuy nhiên, xuất phát từ những mục đích khác nhau mà những hành vi được thực hiện bởi chủ thể pháp luật sẽ tạo ra những hậu quả pháp lý khác nhau, có thể mang tính tích cực (hành vi hợp pháp) hoặc tiêu cực (hành vi vi phạm pháp luật)
Những hành vi này là bộ phận quan trọng tạo thành sự kiện pháp lý [47] Định nghĩa “Vi phạm pháp luật”
“Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do các chủ thể pháp luật có đầy đủ năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại cho xã hội hoặc xâm hại tới các quan hệ xã hội đã được pháp luật điều chỉnh
và bảo vệ.” [48] Hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện dưới dạng hành động hay không hành động Hành vi vi phạm pháp luật là sự kiện pháp lý, là chứng cứ pháp lý, gây nên những hậu quả pháp lý nhất định [49]
Vi phạm pháp luật là cơ sở duy nhất làm nẩy sinh trách nhiệm pháp lý và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật [50]
5.2.2 Những dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật
Các dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm 4 dấu hiệu: [51]
1 Mặt khách quan của hành vi vi phạm pháp luật
Là mặt biểu hiện ra bên ngoài của hành vi vi phạm pháp luật
Bao gồm: [52]
Có hành vi vi phạm pháp luật
Hành vi vi phạm pháp luật luôn luôn là hành vi xác định của con người, được thể hiện
bằng hành động hoặc không hành động thông qua hành vi có ý thức (cố ý) hoặc không
có ý thức (vô ý) của con người
Hậu quả gây ra thiệt hại hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần
mà xã hội gánh chịu [53]
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xã hội, nghĩa là
sự thiệt hại đó phải do chính hành vi trái pháp luật trực tiếp gây ra
Phương tiện, công cụ,
thủ đoạn,
hoàn cảnh,
địa điểm,
thời gian vi phạm pháp luật [54]
2 Khách thể của hành vi vi phạm pháp luật
Là những quan hệ xã hội đã được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ, nhưng bị hành vi của con người xâm hại tới đó là hành vi trái pháp luật [55]
Trang 7Hành vi trái pháp luật thể hiện ở việc:
Không thực hiện đúng những quy định của pháp luật (hoặc sử dụng quyền vượt quá phạm vi cho phép của pháp luật);
Xâm hại tới các quan hệ xã hội đã được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ;
Gây ra những những thiệt hại nhất định về vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội [56]
3 Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật
Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật, nhưng không phải mọi hành
vi trái pháp luật đều là hành vi vi phạm pháp luật ➔ Dấu hiệu trái pháp luật mới chỉ là biểu hiện bên ngoài của hành vi vi phạm pháp luật [57] Khi nói tới hành vi vi phạm pháp luật thì phải thấy rằng đó là một hành vi có ý chí của người thực hiện hành vi đó
Vì vậy, để xác định hành vi vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủ quan của hành
Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật chỉ ra:
- Ai là người vi phạm pháp luật,
- Khuynh hướng ý chí và trạng thái tâm lý của người vi phạm pháp luật đối với hành vi
vi phạm pháp luật của mình tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật,
- và Thái độ của người ấy đối với hậu quả của hành vi [59] Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật bao gồm:
Lỗi,
Động cơ,
và Mục đích vi phạm pháp luật [60]
LỖI của chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật
LỖI là trạng thái tâm lý, phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật đối với hành vi trái pháp luật của mình tại thời điểm thực hiện hành vi và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra [61] Lỗi là yếu tố và là căn cứ không thể thiếu để xác định hành vi vi phạm pháp luật
Chủ thể pháp luật trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể, thể hiện ý chí của mình bằng cách lựa chọn phương án này hay phương án khác của hành vi [62]
Vì vậy, một người nào đó thực hiện hành vi trái pháp luật trong những điều kiện, hoàn cảnh khách quan đã tước đoạt khả năng lựa chọn phương án hành vi của người đó theo yêu cầu của pháp luật thì họ không thể bị coi là có lỗi và do đó không thể kết luận hành vi trái pháp luật của người đó là vi phạm pháp luật [63]
Xét về mặt tâm lý, có 2 hình thức lỗi:
1 Lỗi cố ý, thể hiện dưới 2 dạng:
+ Lỗi cố ý trực tiếp
+ Lỗi cố ý gián tiếp
2 Lỗi vô ý, thể hiện dưới 2 dạng:
+ Lỗi vô ý do quá tự tin
+ Lỗi vô ý do cẩu thả [64]
Trang 8+ Lỗi cố ý trực tiếp
Là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình
là gây nguy hại (nguy hiểm) cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong
muốn hậu quả xảy ra [65]
+ Lỗi cố ý gián tiếp
Là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình
là gây nguy hại cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không
mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [66]
+ Ví dụ Lỗi cố ý gián tiếp:
Một người bán quán lẩu, sử dụng bếp gas để bàn cho khách sử dụng Do để tiết kiệm
chi phí, người chủ quán đã sử dụng bình gas mini không đảm bảo an toàn Hậu quả là
bình gas phát nổ, gây bỏng nặng cho thực khách [67]
+ Lỗi vô ý do quá tự tin
Là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật tuy thấy trước hành vi của mình
có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra
hoặc mình có thể ngăn ngừa được hậu quả đó [68]
+ Ví dụ Lỗi vô ý do quá tự tin:
Bác sĩ sau khi khám bệnh cho bệnh nhân, vì quá chủ quan và tự tin về chuyên môn nên
đã kê toa và bốc nhầm thuốc nhưng không hề hay biết Sau khi uống thuốc nói trên,
bệnh nhân đã tử vong do uống thuốc nói trên [69]
+ Lỗi vô ý do cẩu thả
Là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật do khinh suất, cẩu thả mà không
thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù người
đó phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó [70]
+ Ví dụ Lỗi vô ý do cẩu thả:
Người say rượu lái xe gây ra tai nạn giao thông làm chết người [71]
+ Động cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật
+ Mục đích là kết quả mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp
luật [72]
Việc xác định động cơ, mục đích có ý nghĩa quan trọng để: tìm hiểu nguyên nhân, điều
kiện vi phạm pháp luật, nhân thân chủ thể vi phạm pháp luật
Từ đó, cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp
trách nhiệm pháp lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, cải tạo người
vi phạm pháp luật [73]
4 Chủ thể của hành vi vi phạm pháp luật
Là cá nhân hoặc tổ chức khi thực hiện hành vi trái pháp luật, họ có năng lực trách nhiệm
pháp lý trong việc gánh chịu trách nhiệm pháp lý về những hậu quả của hành vi trái
pháp luật do mình gây ra [74]
Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng nhận thức, điều khiển được những hành vi
của chủ thể pháp luật tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Tùy theo từng loại trách nhiệm pháp lý mà năng lực đó được pháp luật quy định cụ thể [75]
Trang 9Như vậy, chủ thể vi phạm pháp luật chỉ có thể là những người khi thực hiện hành vi trái
pháp luật, họ đã đạt đến một độ tuổi nhất định do pháp luật quy định và có năng lực
trách nhiệm pháp lý, (không bị bệnh tâm thần hay những bệnh thần kinh khác làm mất
hoặc hạn chế khả năng nhận thức về hành vi của mình; tình trạng sức khỏe) [76]
Kết luận: Chỉ khi nào có sự hiện diện đầy đủ 4 dấu hiệu trên thì mới có thể xác định
hành vi trái pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật [77]
5.2.3 Phân loại hành vi vi phạm pháp luật
Tùy theo tính chất và mức độ nguy hại cho xã hội, hành vi vi phạm pháp luật được phân
thành 4 loại cơ bản: [78]
1 Hành vi vi phạm hình sự
Là những hành vi có lỗi, do cá nhân, hoặc pháp nhân thương mại thực hiện (vi phạm
Điều 76 - BLHS), gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới những quan hệ xã hội được
quy định trong Bộ luật Hình sự [79]
2 Hành vi vi phạm hành chính
Là những hành vi có lỗi, do cá nhân, hoặc tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp
luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải
bị xử phạt hành chính (Theo Khoản 1 Điều 2 – Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012) [80]
3 Hành vi vi phạm pháp luật dân sự
Là những hành vi có lỗi, do cá nhân, hoặc tổ chức thực hiện, gây nguy hại cho xã hội,
xâm hại tới các quan hệ xã hội được quy định trong pháp luật về dân sự [81]
4 Hành vi vi phạm nội quy, kỷ luật, chế độ công vụ
Là những hành vi có lỗi, xâm hại tới các chế độ công vụ, quy tắc tổ chức, nội quy, quy
chế, quy định, kỷ luật lao động, kỷ luật học tập, kỷ luật quân sự xảy ra trong nội bộ các
cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức kinh
tế, và những tổ chức công lập khác [82]
Chủ thể vi phạm kỷ luật chỉ có thể là tập thể hoặc cán bộ, công chức, viên chức, người
lao động, phục vụ, học tập trong các cơ quan, tổ chức, đơn v, gây thiệt hại cho hoạt
động bình thường của các cơ quan, tổ chức, đơn vị này [83]
5.3 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
5.3.1 Khái niệm “Trách nhiệm pháp lý”
“Trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ của chủ thể pháp luật có đầy đủ năng lực chủ thể phải
chấp hành một hình phạt hay phải thực hiện một hành vi nào đó tương ứng với hành vi
vi phạm pháp luật đã gây ra, phù hợp với chế tài của quy phạm pháp luật.” [84]
Trách nhiệm pháp lý chỉ do các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền
ra quyết định áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật [85]
Trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định, trao cho các tổ chức xã hội,
tập thể lao động có thể áp dụng các biện pháp tác động về mặt xã hội (biện pháp tư
pháp) để giáo dục người vi phạm pháp luật thay cho việc áp dụng những biện pháp
trách nhiệm pháp lý (áp dụng hình phạt) [86]
Như vậy, “ Trách nhiệm pháp lý có cơ sở là vi phạm pháp luật, là quan hệ pháp luật đặc
thù giữa Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hoặc
Trang 10những tổ chức xã hội, tập thể lao động được Nhà nước trao quyền với chủ thể vi phạm pháp luât [87] Trong đó, chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu sự tác động của các biện pháp cưỡng chế đã được Nhà nước quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật, tức là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và sự tước đoạt tương ứng do đã thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật.” [88]
5.3.2 Cơ sở xác định và truy cứu trách nhiệm pháp lý
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là áp dụng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đã được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật đối với chủ thể có hành
vi vi phạm pháp luật [89]
Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền xác định một cách chính thức hành
vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và ra quyết định áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật [90]
5.3.3 Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Là nhằm bảo vệ chế độ, tăng cường, củng cố trật tự đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ xã hội phát triển, pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [91] Truy cứu trách nhiệm pháp lý không chỉ trừng trị, cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật, phòng ngừa họ không vi phạm pháp luật nữa, mà còn có tác dụng phòng ngừa chung, giáo dục các công dân khác có ý thức và tinh thần tự giác tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật [92]
5.3.4 Các loại trách nhiệm pháp lý
Căn cứ vào mối quan hệ trách nhiệm pháp lý với các ngành luật, có 5 loại trách nhiệm
pháp lý như sau: [93]
(1) Trách nhiệm hình sự
Là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất và chỉ do Tòa án hình sự quyết định áp dụng đối với những cá nhân, hoặc pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự [94]
(2) Trách nhiệm hành chính
Là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan quản lý nhà nước, hay nhà chức trách có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với những cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật hành chính [95]
(3) Trách nhiệm dân sự
Là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án dân sự quyết định áp dụng đối với những cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật dân sự [96]
(4) Trách nhiệm kỷ luật
Là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức kinh tế, và những tổ chức công khác quyết định áp dụng đối với các cá nhân hay tập thể là thành viên trực thuộc cơ quan, tổ chức mình, khi họ vi phạm chế độ công vụ, quy tắc tổ chức, nội quy, quy chế, quy định, kỷ