1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)

8 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Pháp Luật
Tác giả Lê Hữu Trung
Người hướng dẫn P.TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật đại cương
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 359,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chương 4 hk1 21 22 (NLU)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Môn học: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chương 4 QUAN HỆ PHÁP LUẬT

Giảng viên phụ trách: LÊ HỮU TRUNG

Giảng viên chính, Thạc sỹ Quản lý nhà nước, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

4.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI QUAN HỆ PHÁP LUẬT

4.1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật

[2]

Như vậy, chỉ có những quan hệ xã hội, mà sự phát sinh (hình thành), tồn tại, thay đổi

và chấm dứt của nó do tác động điều chỉnh của các quy phạm pháp luật mới có thể trở

thành quan hệ pháp luật [3]

4.1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT

1 Quan hệ pháp luật là loại quan hệ mang tính ý chí, tư tưởng

Thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Quan hệ pháp luật được hình thành, thay đổi hay chấm dứt dựa trên cơ sở quy phạm

pháp luật mà nội dung quy phạm pháp luật là phản ánh ý chí của Nhà nước [4]

- Những chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thể hiện ý chí của mình khi thực hiện quyền

chủ thể và nghĩa vụ pháp lý trong khuôn khổ ý chí của Nhà nước

- Mặt khác, quan hệ pháp luật lại phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt do có sự kiện pháp

lý với tư cách là hành vi có ý chí của con người [5]

2 Quan hệ pháp luật được hình thành do tác động điều chỉnh của quy phạm pháp

luật

Quy phạm pháp luật xác định trước:

- Các điều kiện làm xuất hiện quan hệ pháp luật; [6]

- Định rõ các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đó bị ràng buộc với nhau bởi những

quyền và nghĩa vụ pháp lý;

- Và những biện pháp bảo vệ những quyền và nghĩa vụ ấy khi có sự vi phạm [7]

3 Quan hệ pháp luật thể hiện mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các

chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đó

Các bên tham gia quan hệ pháp luật có những quyền và nghĩa vụ pháp lý

Các quyền và nghĩa vụ pháp lý này có mối quan hệ mật thiết với nhau [8]

Các quyền và nghĩa vụ pháp lý này phải tương xứng với nhau

Và chúng chỉ xuất hiện ở những chủ thể khi họ tham gia quan hệ pháp luật [trở thành

các bên tham gia quan hệ pháp luật] [9]

Đời sống

cộng đồng

xã hội

Quan hệ

xã hội

Quan hệ pháp luật

Quy phạm pháp luật điều chỉnh

Trang 2

4 Quan hệ pháp luật có tính xác định, cụ thể

Vì nó chỉ xuất hiện trên cơ sở:

- Quy phạm pháp luật cụ thể;

- Có sự kiện pháp lý nhất định;

- Có chủ thể quan hệ pháp luật cụ thể tham gia

- Tính xác định cũng được thể hiện trong khách thể của quan hệ pháp luật [10]

5 Quan hệ pháp luật được Nhà nước đảm bảo và bảo vệ

Nội dung của quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý của

các chủ thể mà việc thực hiện được đảm bảo và bảo vệ bằng sự cưỡng chế của Nhà

nước

Mặt khác, quy phạm pháp luật xác định rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể khi vi

phạm nghĩa vụ pháp lý hoặc ngăn cản sự thực hiện quyền chủ thể [11]

trường hợp sau:

+ Nhà nước thấy không cần thiết cho tiếp tục duy trì quan hệ ấy nữa

+ Khi có hành vi vi phạm pháp luật

+ Một bên trốn tránh trách nhiệm về những hậu quả đã gây ra cho đối tác [12]

4.1.3 Phân loại các quan hệ pháp luật

Có thể phân loại quan hệ pháp luật theo những căn cứ khác nhau

- Phân loại các quan hệ pháp luật tương ứng với các ngành luật: có các Quan hệ pháp

luật nhà nước, Quan hệ pháp luật hành chính, Quan hệ pháp luật hình sự, Quan hệ

pháp luật đất đai, Quan hệ pháp luật dân sự, [13]

- Căn cứ vào cách xác định quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia thì quan hệ pháp

luật được chia ra:

• Quan hệ pháp luật phức tạp: mỗi bên tham gia có cả quyền và nghĩa vụ

• Quan hệ pháp luật đơn giãn: một bên thuần túy có quyền và bên kia thuần túy có nghĩa

vụ [14]

4.2 THÀNH PHẦN CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT

4.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật

4.2.2 Khách thể của quan hệ pháp luật

4.2.3 Nội dung của quan hệ pháp luật [15]

4.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật

Là các bên tham gia quan hệ pháp luật nhằm thỏa mãn quyền lợi của mình trên cơ sở

chấp thuận thực hiện những nghĩa vụ do pháp luật quy định

Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật thì trước hết phải là chủ thể pháp luật

[16]

Chủ thể pháp luật có thuộc tính đặc biệt do Nhà nước trao cho, đó là NĂNG LỰC CHỦ

THỂ, tức là khả năng trở thành chủ thể quan hệ pháp luật NĂNG LỰC CHỦ THỂ bao gồm 2 yếu tố:

- Năng lực pháp luật

Trang 3

- Năng lực hành vi [17]

- Năng lực pháp luật của chủ thể pháp luật

Là những khả năng của chủ thể pháp luật được hưởng các quyền và phải gánh vác các

nghĩa vụ mà Nhà nước quy định cho các chủ thể pháp luật trước khi tham gia vào các

quan hệ pháp luật

Đó là toàn bộ những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà chủ thể pháp luật có thể có được

theo quy định của pháp luật [18]

- Năng lực hành vi của chủ thể pháp luật

Là khả năng của chủ thể pháp luật được Nhà nước thừa nhận, bằng chính các hành vi

của mình tham gia vào các quan hệ pháp luật và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp

lý của mình một cách độc lập, đồng thời phải tự mình gánh chịu những hậu quả pháp lý

do những hành vi đó mang lại [19]

Năng lực pháp luật và Năng lực hành vi là những thuộc tính pháp lý có quan hệ mật

thiết với nhau Trong đó, Năng lực pháp luật chỉ là tiền đề cho Năng lực hành vi

Muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật thì chủ thể pháp luật phải có đầy đủ Năng

lực pháp luật và Năng lực hành vi theo quy định của pháp luật [20] Năng lực pháp luật và Năng lực hành vi của chủ thể pháp luật không phải là thuộc tính

tự nhiên của con người hay của tổ chức, mà chúng xuất hiện trên cơ sở pháp luật của

mỗi Nhà nước, phụ thuộc vào ý chí của mỗi Nhà nước

Trên thực tế, mỗi Nhà nước quy định năng lực chủ thể cho các cá nhân, tổ chức không

giống nhau [21]

Phân loại chủ thể của quan hệ pháp luật:

Chủ thể của quan hệ pháp luật chỉ có thể là cá nhân hoặc tổ chức có khả năng trở thành

các bên tham gia quan hệ pháp luật, gồm có: [22]

4.2.1.1 Cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật

Theo pháp luật Việt Nam, chủ thể của quan hệ pháp luật có thể là những công dân Việt

Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam

Họ nhân danh cá nhân mình tham gia quan hệ pháp luật để thực hiện các quyền và

nghĩa vụ phát sinh cho bản thân mình [23]

- Năng lực chủ thể của công dân xuất hiện từ lúc được sinh ra, vì thời điểm đó họ được

công nhận là chủ thể pháp luật (nhưng chưa đầy đủ)

Cuộc sống, sức khoẻ, sự phát triển bình thường của họ được pháp luật đảm bảo [24]

Năng lực chủ thể đó phát triển tăng dần về khối lượng cùng với độ tuổi và đến một độ

tuổi nhất định thì được Nhà nước công nhận phát triển đầy đủ (tùy thuộc vào mỗi loại

quan hệ pháp luật do quy phạm pháp luật quy định) [25]

Trong nhiều lĩnh vực quan hệ pháp luật, năng lực pháp luật của công dân xuất hiện từ

lúc sinh ra (như lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự),

còn năng lực hành vi của công dân bắt đầu xuất hiện dần từ khi công dân đủ 6 tuổi [26]

Từ lúc này đến khi công dân bước sang tuổi thành niên, họ chỉ được tham gia quan hệ

pháp luật trong một số trường hợp do pháp luật quy định, còn lại mọi quan hệ pháp luật

khác họ phải thực hiện dưới sự giám hộ của người có đủ năng lực hành vi [27]

Trang 4

Bởi vì trẻ em chưa nhận thức được hành vi của mình (chưa có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật) nên chưa thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý một cách độc lập [28] Chỉ khi công dân đủ tuổi thành niên và đảm bảo một số điều kiện khác theo quy định của pháp luật, thì công dân mới được công nhận có đầy đủ năng lực hành vi để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật [29]

Ví dụ: Phần lớn pháp luật của các nước đều lấy độ tuổi đủ 18 và tiêu chuẩn lý trí (khả

năng nhận thức được hậu quả của việc mình làm) làm điều kiện công nhận năng lực hành vi cho chủ thể của đa số các nhóm quan hệ pháp luật [30]

Năng lực hành vi của các chủ thể ở mỗi loại quan hệ pháp luật khác nhau, xuất hiện ở những độ tuổi khác nhau, phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật điều chỉnh [31]

Ví dụ:

+ Năng lực hành vi trong quan hệ pháp luật lao động xuất hiện khi công dân đủ 15 tuổi trở lên;

+ Năng lực hành vi trong quan hệ pháp luật hình sự xuất hiện ở công dân từ đủ 16 tuổi trở lên, trong một số trường hợp từ đủ 14 tuổi trở lên [32]

Do đặc trưng của các quan hệ pháp luật được các quy phạm pháp luật của nhiều ngành luật quy định Năng lực pháp luật và Năng lực hành vi của công dân chỉ xuất hiện cùng một thời điểm [33]

Ví dụ:

+ Trong quan hệ pháp luật nhà nước, năng lực bầu cử được quy định là đủ 18 tuổi và ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước là đủ 21 tuổi

+ Trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình, năng lực kết hôn được quy định là đủ 18 tuổi đối với Nữ và đủ 20 tuổi đối với Nam [34] Bởi vì các quyền và nghĩa vụ pháp lý xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật này chỉ có thể được thực hiện bằng chính bản thân của các chủ thể được hưởng quyền và mang nghĩa vụ mà không thể bằng đại diện của họ [35] Không phải khi có đầy đủ Năng lực hành vi thì công dân đã có thể tham gia vào bất cứ quan hệ pháp luật nào,

mà trong từng quan hệ pháp luật cụ thể, công dân còn phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện khác theo quy định của pháp luật (như sức khoẻ, trình độ văn hoá, chuyên môn, ) thì mới được pháp luật công nhận tư cách chủ thể [36] Có trường hợp, năng lực hành vi của công dân còn bị hạn chế theo quy định của PL và

cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như người điên, tâm thần, người mắc bệnh truyền

nhiễm, người phạm tội, người mang án tích, ) [37] Người nước ngoài, người không có quốc tịch có thể trở thành chủ thể quan hệ pháp luật theo các điều kiện áp dụng cho công dân Việt Nam

Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực, năng lực chủ thể của người nước ngoài và người không có quốc tịch bị hạn chế [38]

4.2.1.2 Pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các loại pháp nhân sau:

Trang 5

1 Pháp nhân thương mại [Điều 75]

2 Pháp nhân phi thương mại [Điều 76] [39]

1 Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi

nhuận được chia cho các thành viên Gồm có:

- Doanh nghiệp; - Các tổ chức kinh tế khác [40]

2 Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi

nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên

Gồm có: - Cơ quan nhà nước; - Đơn vị sự nghiệp công lập; [41]

- Đơn vị vũ trang nhân dân; - Tổ chức chính trị; - Tổ chức chính trị - xã hội;

- Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp; - Tổ chức xã hội;

- Tổ chức xã hội - nghề nghiệp; [42]

- Quỹ xã hội; - Quỹ từ thiện; - Doanh nghiệp xã hội;

- Các tổ chức phi thương mại khác [43] Mỗi ngành luật xác định các tổ chức cụ thể có khả năng trở thành chủ thể quan hệ pháp luật tương ứng với ngành luật đó

Với tư cách là một chủ thể quan hệ pháp luật, pháp nhân phải hội đủ những điều kiện

do pháp luật quy định [44] Điều 74 - Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015, quy định: Một tổ chức được công nhận

là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:

 Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập; cho phép thành lập; đăng ký hoặc

 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, thống nhất (Điều 83: Phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành) được quy định trong quy chế, điều lệ hoặc các văn bản do Nhà nước ban hành

 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó [46]

 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Tòa án

 Hoạt động của các tổ chức được gắn với những lĩnh vực nhất định của đời sống nhà nước và xã hội [47]

Pháp nhân phải có năng lực chủ thể:

- Năng lực chủ thể của pháp nhân được Nhà nước quy định là phát sinh đồng thời từ

thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức thành lập, hoặc cho phép thành lập tổ chức ấy [48]

- Nếu pháp luật quy định phải đăng ký hoạt động thì năng lực chủ thể của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký [Khoản 2 Điều 86] [49] Không phải được công nhận là pháp nhân là có đủ tư cách làm chủ thể trong tất cả các quan hệ pháp luật

1 Tư cách ấy phải luôn gắn liền với tính hợp pháp trong hoạt động của pháp nhân, phải phù hợp với mục đích hoạt động của pháp nhân [50]

Trang 6

2 Căn cứ vào tính chất, đặc điểm và nội dung của mình, mỗi nhóm quan hệ pháp luật

chỉ thừa nhận một số chủ thể nhất định

Ví dụ:

Pháp nhân không thể là chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình [51]

- Năng lực pháp luật của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm bị xóa tên trong Sổ đăng

ký pháp nhân (thời điểm chấm dứt pháp nhân) [Khoản 3 Điều 86] [52]

- Năng lực hành vi của pháp nhân được thực hiện thông qua cơ quan hoặc người đại

diện (theo ủy quyền – theo pháp luật) (theo quy định từ Điều 134 đến Điều 143 - Bộ

luật Dân sự 2015)

Ví dụ:

Thủ trưởng cơ quan; Tổng Giám đốc; Giám đốc; Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã [53] Pháp luật Việt Nam còn thừa nhận tư cách pháp lý của một số chủ thể như: Hộ gia đình,

Tổ hợp tác

Họ được phép tham gia các quan hệ pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất nông,

lâm, ngư nghiệp và những lĩnh vực khác (theo quy định từ điều 101 - 104 của Bộ luật

Dân sự 2015) [54]

4.2.1.3 Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật

- Nhà nước là chủ thể của quan hệ Luật Quốc tế; chủ thể của ngành Luật Nhà nước

khách thể khác [55]

- Trong nhiều quan hệ pháp luật, Nhà nước trực tiếp tham gia (như: phát hành công trái

quốc gia, thừa kế, công nợ, ) Trong các quan hệ pháp luật ấy, Nhà nước là chủ thể

đặc biệt và không thể là bên bị và tài sản nhà nước không thể bị tịch thu [56]

4.2.2 Khách thể của quan hệ pháp luật

Là những mục tiêu mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được, nhằm thỏa mãn

những nhu cầu của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật và thực hiện quyền và

nghĩa vụ pháp lý của chủ thể [57]

Những nhu cầu ấy có thể là vật chất, hay lợi ích phi vật chất hoặc nhu cầu hoạt động

chính trị - xã hội hoặc là hành vi hay bất tắc vi

Những nhu cầu trên luôn gắn chặt với quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể [58]

4.2.3 Nội dung của quan hệ pháp luật

Là những cách xử sự do pháp luật quy định trong một quan hệ pháp luật cụ thể

Những cách xử sự này được thể hiện trong phần “quy định” và “chế tài” của các quy

phạm pháp luật [59]

Nói cách khác:

“Nội dung của quan hệ pháp luật chính là những quyền mà chủ thể pháp luật được

hưởng, được làm và những nghĩa vụ mà chủ thể pháp luật phải gánh vác, phải thực

hiện [60]

Những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật chỉ xuất hiện trong thực tế khi

chủ thể đó tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể nào đó (tức là khi chủ thể đó trở thành

chủ thể của quan hệ pháp luật cụ thể nào đó) [61]

Trang 7

- Quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật

Là khả năng xử sự của các chủ thể pháp luật theo những cách thức nhất định được

pháp luật cho phép trước khi tham gia quan hệ pháp luật đó và được bảo đảm bằng sự

cưỡng chế của Nhà nước [62]

Khả năng xử sự này có tính lựa chọn và được thể hiện qua:

1 Khả năng tự mình thực hiện các hành vi mà pháp luật cho phép; [63]

2 Khả năng yêu cầu các chủ thể khác phải thực hiện các hành vi đáp ứng quyền của

mình;

3 Khả năng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích chính

đáng, hợp pháp của mình [64]

- Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể

Là cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà chủ thể phải tiến

hành nhằm đáp ứng quyền của các chủ thể khác

Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể cũng tồn tại dưới dạng khả năng [65]

Các biểu hiện của nghĩa vụ pháp lý của chủ thể:

1 Là sự bắt buộc chủ thể phải thực hiện hành vi nhất định do pháp luật quy định;

2 Hành vi đó có thể là cách xử sự chủ động (hành động) hoặc là cách xử sự thụ động

(không làm - không được hành động) nhằm đáp ứng quyền của các chủ thể khác; [66]

3 Phải chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện các hành vi nhất định nêu trên

Trong trường hợp cần thiết, nghĩa vụ pháp lý sẽ bị bắt buộc thực hiện bằng sự cưỡng

chế của Nhà nước [67]

4.3 SỰ KIỆN PHÁP LÝ

4.3.1 Khái niệm sự kiện pháp lý

“Sự kiện pháp lý là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống, sự kiện, hành vi cụ thể, có

thể xảy ra trong thực tiễn của đời sống xã hội, được Nhà nước ghi nhận trong phần giả

định và quy định của quy phạm pháp luật, mà sự xuất hiện hay mất đi của nó gắn liền

với việc hình thành, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật.” [68]

Việc thừa nhận là sự kiện pháp lý do Nhà nước thực hiện

Nhưng cần thấy rằng: sự kiện pháp lý tồn tại trong đời sống xã hội một cách khách quan,

không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Nhà nước

Sự kiện pháp lý thường rất đa dạng và một sự kiện pháp lý có thể dẫn đến nhiều hậu

quả pháp lý [69]

Với tư cách là điều kiện, là cơ sở pháp lý cho sự xuất hiện, hay thay đổi, hoặc chấm dứt

một quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong điều chỉnh pháp

luật [70]

Sự thừa nhận hoặc không thừa nhận ở chủ thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất

định cũng phụ thuộc vào vấn đề có tồn tại hay không tồn tại những sự kiện pháp lý

tương ứng [71]

Ví dụ:

Hành vi đăng ký kết hôn theo đúng pháp luật của hai bên nam, nữ làm xuất hiện quan

hệ pháp luật Hôn nhân và gia đình (vợ chồng) [72]

Trang 8

4.3.2 Phân loại sự kiện pháp lý

Căn cứ vào yếu tố dấu hiệu ý chí của chủ thể pháp luật, sự kiện pháp lý được chia ra:

SỰ BIẾN và HÀNH VI [73] 4.3.2.1 Sự biến

Là những sự kiện pháp lý xuất hiện không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể pháp luật, nhưng trong những trường hợp nhất định, sự hiện diện của chúng đem đến cho chủ thể pháp luật những hậu quả pháp lý nhất định [74]

- Đôi khi sự biến cũng có thể do con người gây ra nhưng người này lại không lường trước được hậu quả pháp lý

- Sự biến cũng có thể phát sinh từ một văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [75] 4.3.2.2 Hành vi

Hành vi (hành động hay không hành động) là loại sự kiện pháp lý xuất hiện phụ thuộc vào ý chí của chủ thể pháp luật và sự hiện diện của chúng đưa đến cho chủ thể pháp luật những hậu quả pháp lý nhất định [76] Căn cứ vào quan hệ của chúng với trật tự pháp luật, hành vi được chia làm 2 loại:

- Hành vi hợp pháp

- Hành vi vi phạm pháp luật [77]

[1]- Hành vi hợp pháp

Là những sự kiện pháp lý phù hợp với trật tự pháp luật, mà sự xuất hiện của chúng dẫn đến sự hình thành, thay đổi hay chấm dứt ở chủ thể pháp luật những quyền và nghĩa

vụ pháp lý nhất định

Hậu quả pháp lý từ những hành vi hợp pháp sẽ được pháp luật bảo vệ [78]

[2]- Hành vi vi phạm pháp luật

Là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do các chủ thể pháp luật có đầy đủ năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại cho xã hội hoặc gây xâm hại các quan hệ xã hội đã được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ.” [79] Hậu quả pháp lý từ những hành vi vi phạm pháp luật trước hết thuộc trách nhiệm của chủ thể gây ra và thông thường sẽ bị pháp luật xử lý./ [90]

HẾT CHƯƠNG 4

Ngày đăng: 23/06/2023, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm