Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)Pháp luật đại cương chuong 3 hk1 21 22 (NLU)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Môn học: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Chương 3 QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Giảng viên phụ trách: LÊ HỮU TRUNG
Giảng viên chính, Thạc sỹ Quản lý nhà nước, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
3.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUY PHẠM PHÁP LUẬT
3.1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật
[2]
Các loại quy phạm xã hội:
- Quy phạm tập quán - Quy phạm đạo đức - Quy phạm tôn giáo
– Quy phạm của các tổ chức chính trị, xã hội - Quy phạm kỹ thuật - Quy phạm pháp
luật [3]
Trong những quy phạm xã hội đó, thì quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng nhất
Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2020 [sau đây gọi là Luật Ban hành VBQPPL 2015] định nghĩa quy phạm
pháp luật như sau: [4]
“Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng
lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc
đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong
Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện” [5]
3.1.2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật mang những tính chất vốn có của một quy phạm xã hội đó là:tính
quy phạm, là quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người
Ngoài ra, quy phạm pháp luật còn có những đặc tính riêng khác với các quy phạm xã
hội, đó là: [6]
1 Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung đối với mọi
chủ thể pháp luật [cơ quan, tổ chức, cá nhân] khi họ ở vào những điều kiện, hoàn cảnh,
tình huống nhất định của đời sống xã hội mà quy phạm pháp luật đó quy định [7]
2 Quy phạm pháp luật là tế bào, là thành tố nhỏ nhất cấu thành nên hệ thống pháp luật
của quốc gia, là khuôn mẫu để mọi người đối chiếu xử sự trong những điều kiện, hoàn
cảnh, tình huống nhất định của đời sống xã hội [8]
3 Quy phạm pháp luật được áp dụng lập đi lập lại nhiều lần trong cuộc sống từ thời
điểm phát sinh hiệu lực cho đến khi hết hiệu lực hoặc bị sửa đổi, thay thế hoặc bãi bỏ [8]
Đời sống
cộng đồng
xã hội
Quan hệ
xã hội
Quy phạm
xã hội
Quy tắc xử
sự chung
Được sử dụng nhiều lần
Trang 24 Quy phạm pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định
và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế (Chủ thể pháp luật nào vi phạm quy phạm pháp luật đều phải bị truy cứu trách nhiệm pháp lý) [10]
5 Nội dung của mỗi quy phạm pháp luật thể hiện hai mặt: cho phép và bắt buộc
Có nghĩa là quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, trong đó chỉ ra quyền và nghĩa
vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh [11]
6 Quy phạm pháp luật vừa mang tính giai cấp (thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai
cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động) vừa mang tính xã hội (duy trì, bảo vệ đời sống cộng đồng xã hội nói chung) [12]
7 Quy phạm pháp luật được thể hiện dưới những hình thức xác định, đó là quy phạm
thành văn (văn bản quy phạm pháp luật) [13]
8 Quy phạm pháp luật có tính hệ thống
Giữa các quy phạm pháp luật có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, không mâu thuẫn nhau, tạo nên một hệ thống quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp xây dựng Chù nghĩa xã hội [14]
3.2 CƠ CẤU CỦA QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Bao gồm 3 bộ phận: 3.2.1 Giả định 3.2.2 Quy định 3.2.3 Chế tài [15]
3.2.1 Giả định
Giả định là phần mô tả những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể, có thể xảy ra trong thực tế cuộc sống mà con người có thể gặp phải và khi đó, con người cần phải xử sự theo đúng những quy định của quy phạm pháp luật [16] Trong giả định còn nêu cả về địa điểm, thời gian, các chủ thể ở vào những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống đó
Giả định chính là phần xác định môi trường chịu sự tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật [17]
Ví dụ: Tại Khoản 1 Điều 132 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không
cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị ”
Bộ phận giả định là: “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm
Giả định được chia ra 2 loại:
1 Giả định xác định
Là sự liệt kê một cách chính xác, rõ ràng các chủ thể, điều kiện, hoàn cảnh, tình huống
cụ thể mà trong đó các mệnh lệnh của quy phạm pháp luật đòi hỏi phải được thực hiện [19]
Ví dụ: Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi ly hôn, nếu bên khó
khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng ….” đây là giả định xác
định [20]
2 Giả định xác định tương đối
Trang 3Cũng đề ra điều kiện môi trường chịu sự tác động của quy phạm pháp luật, nhưng chỉ hướng cho chủ thể áp dụng pháp luật khả năng giải quyết vấn đề trong mỗi trường hợp
cụ thể có thể có mặt hoặc vắng mặt điều kiện đó [21]
Ví dụ: Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Mức cấp dưỡng do
người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người
đó thỏa thuận ; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết.” là giả
định xác định tương đối [22]
Về nguyên tắc, giả định xác định tương đối không tồn tại trong quy phạm pháp luật một cách độc lập, mà chỉ là một phần bổ sung thêm cho giả định xác định, khi phần này hạn chế phạm vi áp dụng nó [23]
Để nhận thức và áp dụng các quy phạm pháp luật được chính xác, nhất quán, những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống, chủ thể nêu trong phần giả định phải rõ ràng, chính xác và sát hợp với tình hình thực tế
Do đó, tính xác định là tiêu chuẩn hàng đầu của một giả định [24]
3.2.2 Quy định
Là phần nêu ra các quy tắc xử sự chung, bắt buộc mọi chủ thể phải tuân theo khi ở vào
những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống đã nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật [25]
Ví dụ: Tại Khoản 1 Điều 132 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người nào thấy người
khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị ”
“ tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết ” là bộ phận
quy định [26]
Phần quy định thường nêu ở dạng: phải làm; được làm; cấm hoặc không được làm;
Quy định chính là những mệnh lệnh của Nhà nước, nó trực tiếp thể hiện ý chí và lợi ích
hội
Thông qua bộ phận quy định, Nhà nước xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật điều chỉnh [28] Tính chính xác, chặt chẽ, rõ ràng của bộ phận quy định là một trong những điều kiện đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong hoạt động của các chủ thể pháp luật (thực hiện đúng đắn quy phạm pháp luật) [29]
Phân loại Quy định:
- Quy định xác định: Trong đó, có thể Nhà nước đưa ra một mệnh lệnh dứt khoát mà khi gặp điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể đó, chủ thể pháp luật không có sự lựa chọn nào khác
Ví dụ: Người điều khiển xe cơ giới phải dừng xe trước vạch giới hạn khi đèn tín hiệu giao thông màu đỏ bật sáng [30]
- Quy định tùy nghi: là loại quy định cho phép chủ thể pháp luật được lựa chọn một
cách xử sự này hoặc cách xử sự khác để thực hiện
- Quy định mẫu: Là loại quy định có tính hướng dẫn để mọi người căn cứ vào đó mà
thực hiện [31]
Trang 43.2.3 Chế tài
Là phần nêu lên những biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể pháp luật không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật
Chế tài là những hậu quả bất lợi, là hình phạt do Nhà nước quy định nhằm áp dụng để xử lý các chủ thể pháp luật vi phạm các quy định của quy phạm pháp luật [32]
Ví dụ: Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”
Bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật này là “bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”
[33]
Việc quy định và áp dụng các chế tài pháp luật là một trong những phương tiện và điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện chính xác, triệt để, thống nhất [34] Chế tài pháp luật chỉ được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách
có thẩm quyền theo những trình tự và thủ tục do pháp luật quy định hoặc có thể bởi bên
bị vi phạm trong một quan hệ pháp luật nhất định [35]
Phân loại chế tài pháp luật:
Căn cứ vào tính chất của những biện pháp chế tài và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chúng để tác động tới các chủ thể pháp luật vi phạm pháp luật, có thể chia chế tài pháp luật thành 4 loại: [36]
1 Chế tài hình sự
Do Tòa án hình sự ra quyết định áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân thương mại vi
phạm pháp luật hình sự
Gồm có các hình phạt chính như: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, cải tạo tại chỗ, tù treo, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình
Chế tài hình sự còn cho phép sử dụng hình phạt bổ sung [37]
2 Chế tài hành chính
Do Ủy ban Nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn được Nhà nước trao cho thẩm quyền ra quyết định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật xử phạt
hành chính
Gồm có: cảnh cáo, phạt tiền, tạm giam hành chính, tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm [38]
3 Chế tài kỷ luật
Do thủ trưởng các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, ra quyết định áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học tập thuộc quyền của mình khi họ vi phạm kỷ luật
Gồm có: khiển trách, cảnh cáo, hạ tầng công tác, hạ lương, chuyển công tác khác, cách
4 Chế tài dân sự
Do Toà án dân sự ra quyết định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật dân sự
Trang 5Gồm có: trách nhiệm vật chất, buộc thực hiện, bồi thường thiệt hại, không công nhận
3.2.4 Phương thức và đặc điểm thể hiện quy phạm pháp luật trong các điều luật của văn bản quy phạm pháp luật
Các quy phạm pháp luật là nội dung, còn các điều luật là hình thức thể hiện của quy phạm pháp luật đó [41] Các phương thức thể hiện:
- Có thể trình bày một quy phạm pháp luật trong một điều của văn bản quy phạm pháp luật (Điều)
- Có thể trình bày nhiều quy phạm pháp luật trong một điều của văn bản quy phạm pháp luật (Khoản)
- Có thể trình bày nhiều quy phạm pháp luật trong một khoản của một điều của văn bản quy phạm pháp luật (Điểm) [42] Trật tự của giả định, quy định và chế tài không nhất thiết phải trình bày theo thứ tự nào
Có thể phân ra các phương thức thể hiện sau đây: [43]
1 Phương thức thể hiện trực tiếp
Là tất cả các bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật đều được thể hiện một cách trực tiếp trong một điều luật của văn bản quy phạm pháp luật
Phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật được diễn đạt bằng phương pháp này [44]
2 Phương thức thể hiện viện dẫn
Là phương thức không trình bày toàn bộ các bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật trong một điều luật, mà có một bộ phận được viện dẫn từ các điều luật khác trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật
Ví dụ: Chế tài thường được quy định cho một số điều luật trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật [45]
3 Phương thức thể hiện mẫu
Có đặc điểm chung như phương thức viện dẫn, nhưng khác ở chỗ có một số điều luật thể hiện một số bộ phận của quy phạm chung cho nhiều điều luật ở trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau [46]
3.3 PHÂN LOẠI CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Căn cứ vào vai trò khác nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, có thể chia ra thành 3 loại quy phạm pháp luật: [47]
1 Quy phạm điều chỉnh là các quy phạm quy định nội dung trực tiếp điều chỉnh hành
vi của con người và hoạt động của các tổ chức tham gia các quan hệ xã hội
Các quy phạm này hướng đến các hành vi hợp pháp Đây là dạng quy phạm pháp luật khá phổ biến trong pháp luật [48]
Dựa vào tính chất của các quy tắc hành vi, quy phạm điều chỉnh có thể phân ra thành 3
loại:
a) Quy phạm bắt buộc là quy phạm quy định cho các chủ thể có nghĩa vụ phải thực
hiện những hành vi tích cực nhất định
Trang 6b) Quy phạm cấm đoán là quy phạm quy định cho các chủ thể có nghĩa vụ không được
thực hiện các hành vi bị pháp luật cấm đoán [49]
c) Quy phạm giao quyền (cho phép) là quy phạm quy định cho chủ thể tham gia các
quan hệ xã hội có quyền thực hiện những hành vi tích cực nhất định [50]
2 Quy phạm bảo vệ là quy phạm xác định trước các biện pháp tác động cưỡng chế
Đây là quy phạm chống lại các hành vi vi phạm pháp luật và luôn chứa đựng chế tài
3 Quy phạm chuyên môn là những quy phạm chứa đựng nội dung là những quy định
nhằm đảm bảo hiệu lực của các quy phạm điều chỉnh và quy phạm bảo vệ [51]
3.4 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
3.4.1 Khái niệm Văn bản quy phạm pháp luật
Tại Điều 2 - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: [52]
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp
ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, trong đó
có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện
để điều chỉnh các quan hệ xã hội.” [53]
3.4.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật
1 Văn bản quy phạm pháp luật phải do các cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp
ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [54]
2 Văn bản quy phạm pháp luật đề ra những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc
mọi người phải tuân theo, và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp
theo quy định của pháp luật
3 Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một
nhóm đối tượng và có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương khi có
sự kiện pháp lý liên quan xảy ra [55]
4 Sự thực hiện văn bản quy phạm pháp luật không làm chấm dứt hiệu lực của nó
5 Văn bản quy phạm pháp luật có tên gọi, hình thức và nội dung theo quy định trong
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
6 Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải được thể hiện bằng tiếng
Việt, chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu [Theo Khoản 1 Điều 8]
[56]
7 Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy
định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy
phạm pháp luật khác [Theo Khoản 2 Điều 8]
8 Văn bản quy phạm pháp luật phải được trình bày theo đúng quy định về thể thức và
kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật do pháp luật quy định [Theo Khoản 4
Điều 8] [57]
9 Đối với thuật ngữ chuyên môn cần phải xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa
10 Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng các dân tộc thiểu số, tiếng
nước ngoài theo quy định của Chính phủ Bản dịch có giá trị tham khảo [Theo Điều 9]
[58]
Trang 7Như vậy, nếu một văn bản do một cơ quan nhà nước ban hành mà không thỏa mãn
những yêu cầu và đặc điểm trên sẽ không được coi là văn bản quy phạm pháp luật
[Theo Khoản 2 – Điều 2] [59]
3.5 HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Căn cứ vào giá trị pháp lý (hiệu lực pháp lý) và thẩm quyền ban hành, các văn bản quy
phạm pháp luật được chia ra làm 2 loại:
Văn bản luật; và Văn bản dưới luật [60]
3.5.1 Văn bản luật
Là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc Hội ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục
được quy định trong Hiến pháp năm 2013 [các Điều 69, 70, 85 và 120] và Luật Ban
hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 [Điều 15] Văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất, là cơ sở pháp lý cho việc ban hành các văn bản
dưới luật [61]
Có nghĩa là: Khi ban hành các văn bản dưới luật, phải dựa trên cơ sở văn bản luật và
không được trái với các nội dung trong văn bản luật Văn bản luật gồm có:
Hiến pháp; Luật, bộ luật; và Nghị quyết của Quốc hội [62]
3.5.2 Văn bản dưới luật
Được ban hành nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện các quy định trong các văn
bản luật
Có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, và phải phù hợp với những quy định trong
Hiến pháp và các văn bản luật Tùy thuộc vào thẩm quyền của cơ quan ban hành, từng loại văn bản dưới luật có giá trị
pháp lý khác nhau [63]
Hiến pháp 2013 và Điều 8 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định
“Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật” như sau:
Lưu ý: Sinh viên cần tự nghiên cứu thêm các quy định nói trên về “Hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật” [64]
SƠ ĐỒ
HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
- VĂN BẢN LUẬT: do QUỐC HỘI ban hành, gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết
- VĂN BẢN DƯỚI LUẬT, gồm:
- PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
- LỆNH; QUYẾT ĐỊNH của Chủ tịch nước
- NGHỊ ĐỊNH của Chính phủ
- QUYẾT ĐỊNH của Thủ tướng Chính phủ
- THÔNG TƯ của Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân
dân tối cao, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ
- NGHỊ QUYẾT của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao
- QUYẾT ĐỊNH của Tổng kiểm toán Nhà nước
Trang 8- VĂN BẢN LIÊN TỊCH, gồm:
+ NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với Đoàn
Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ THÔNG TƯ LIÊN TỊCH giữa Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện
Kiểm sát Nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ với Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao
- NGHỊ QUYẾT của Hội đồng Nhân dân các cấp
- QUYẾT ĐỊNH của Ủy ban Nhân dân các cấp
[65]
3.6 HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG,
CÔNG KHAI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật thường có giới hạn và mức độ khác nhau,
và được thể hiện trên 3 mặt: + Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật;
+ Hiệu lực theo không gian của văn bản quy phạm pháp luật; Và
+ Hiệu lực theo đối tượng mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh [66]
3.6.1 Hiệu lực theo thời gian
[1] Thời điểm phát sinh hiệu lực và việc đăng công báo văn bản quy phạm pháp
luật
Tại Khoản 1 Điều 151 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định
như sau: [67]
65
của UB Thường vụ Quốc hội của UB Thường vụ Quốc hội với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
của Chính phủ của Chính phủ với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
của Chủ tịch nước
Chánh án
TAND tối cao với Viện trưởng Viện KSND tối cao của Chánh án TAND tối cao hoặc Viện trưởng Viện KSND tối cao với Bộ trưởng, thủ
trưởng cơ quan ngang bộ
Trang 91 Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong bản thân
văn bản nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối
với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; [68]
Không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh;
Không sớm hơn 7 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân cấp huyện và cấp xã [69]
2 Đối với văn bản quy phạm pháp luật ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn, hoặc quy
định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, dịch bệnh
thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành [70]
Đồng thời phải được đăng ngay trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và
phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; và gửi đăng Công báo chậm
nhất sau ba ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành [Theo Khoản 2 Điều 151] [71]
3 Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương phải đăng
công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì mới có hiệu lực thi hành, trừ
trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước [Theo Khoản 1 Điều 150] [72]
4 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh,
chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được đăng Công
báo cấp tỉnh [Theo Khoản 2 Điều 150] [73]
5 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân cấp huyện,
cấp xã phải được niêm yết công khai và phải được đưa tin trên các phương tiện thông
tin đại chúng ở địa phương
Thời gian và địa điểm niêm yết công khai do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cùng cấp quyết
định [Theo Khoản 3 Điều 150] [74]
6 Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn
bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo hoặc niêm yết công khai trong thời hạn
ba ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành [Đoạn 1 Khoản 4 Điều 150] [75]
7 Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên
Công báo chậm nhất là 15 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan
trung ương ban hành, 07 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng Nhân
dân, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế
đặc biệt ban hành kể từ ngày nhận được văn bản [Đoạn 2 Khoản 4 Điều 150] [76]
8 Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo in và Công báo điện tử là văn bản
chính thức và có giá trị như văn bản gốc [Theo Khoản 5 Điều 150] [77]
9 Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải được đăng tải toàn văn trên cơ sở
dữ liệu quốc gia về pháp luật chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban
hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí
Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có giá trị
sử dụng chính thức [Theo Điều 157] [78]
[2] Thời điểm hết hiệu lực
-Thời hạn hiệu lực của một văn bản quy phạm pháp luật được xác định là từ thời điểm
bắt đầu có hiệu lực tới thời điểm hết hiệu lực của nó [79]
Trang 10Thời hạn hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được kết
thúc theo quy định tại Điều 154 như sau:
1 Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản đó
2 Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước
đã ban hành văn bản đó
3 Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [80]
4 Văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản quy phạm pháp luật hết
hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực cùng với văn bản quy phạm pháp luật đó
Trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù hợp với các quy định
của văn bản quy phạm pháp luật mới [81]
[3] Hiệu lực trở về trước
Là văn bản quy phạm pháp luật cho phép giải quyết một sự việc đã phát sinh trước khi
văn bản đó được ban hành theo quy định trong bản thân văn bản đó (còn gọi là văn bản
có giá trị hồi tố) [82]
Pháp luật Việt Nam không áp dụng hiệu lực trở về trước (Luật pháp bất hồi tố hay bất
hồi hiệu)
Pháp luật Việt Nam chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh sau khi văn bản đó
bắt đầu có hiệu lực Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 152 như
sau: [83]
1 Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được
quy định hiệu lực trở về trước
2 Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:
a Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi
đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;
b Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn [84]
3 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp,
chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định
hiệu lực trở về trước [85]
[4] Thời điểm ngưng hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Những trường hợp ngưng hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại
Khoản 1 Điều 153 như sau: [86]
- Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ thi hành, thì ngưng hiệu lực cho đến khi có
quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc:
• Văn bản không bị hủy bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực;
• Văn bản bị hủy bỏ thì văn bản hết hiệu lực [87]
- Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực hoặc hết hiệu lực của văn bản phải
được quy định rõ tại Quyết định đình chỉ việc thi hành, hoặc Quyết định xử lý của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền [Theo Khoản 2 Điều 153]
- Các quyết định này phải được đăng trên Công báo và đưa tin trên các phương tiện
thông tin đại chúng [Theo Khoản 3 Điều 153] [88]