Pháp luật đại cương chương 1 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 1 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 1 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 1 hk1 21 22 (NLU) Pháp luật đại cương chương 1 hk1 21 22 (NLU)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Môn học: PHÁP LUẬT ÐẠI CƯƠNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ÐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NUỚC
Giảng viên phụ trách: LÊ HỮU TRUNG, Giảng viên chính, Thạc sỹ Quản lý nhà nước
a NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC
Nhà nước là một hiện tượng chính trị - xã hội đa dạng và phức tạp, có liên quan đến lợi ích của các tầng lớp, giai cấp, các dân tộc, các quốc gia và tác động trực tiếp đến cuộc sống của tất cả mọi người trong xã hội
Vì vậy, Nhà nước luôn là trung tâm của các cuộc tranh chấp
Các đảng phái chính trị luôn coi trọng mục tiêu giành lấy chính quyền (thực chất là Nhà nước) để thực hiện quyền lực của mình
Cho nên, nguồn gốc hình thành và nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước luôn là những vấn đề trung tâm của những tranh luận và thể hiện quan điểm
Quan điểm của các Nhà thần học và Lý thuyết gia tư sản (Phi Mác Xít)
Một số quan điểm, học thuyết tiêu biểu:
- Thuyết Thần học, cho rằng:
“Thượng đế” là nguời sắp đặt mọi trật tự xã hội, “Thượng đế” đã sáng tạo ra Nhà nước để bảo vệ trật tự chung Nhà nước còn hay mất tùy thuộc vào ý chí của “Thượng đế”
Quyền lực nhà nước là vĩnh cửu, tuân theo quyền lực nhà nước là tuân theo ý “Thượng đế”
Trang 2- Thuyết gia trưởng, cho rằng:
Nhà nước ra đời từ gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của đời sống con người Và quyền lực nhà nước, về thực chất cũng giống như quyền lực của người gia trưởng, nó chỉ là sự kế tiếp quyền lực người gia trưởng trong gia đình
Thuyết khế uớc xã hội theo quan điểm của Jean Jacques Rousseau, cho rằng:
“Nhà nước là kết quả của sự phát triển xã hội từ trạng thái tự nhiên sang xã hội công dân, gắn liền với chế độ sở hữu tư nhân
Chế độ tư hữu xuất hiện đã làm biến dạng các quan hệ tự nhiên của con người, đẩy xã hội vào tình trạng áp bức, bất công
Cho nên, Nhà nước xuất hiện trên cơ sở khế uớc xã hội là do nhân dân lập ra, nhằm bảo vệ quyền bình đẳng giữa họ và xóa bỏ tình trạng áp bức, bất công.”
Như vậy, theo J.J.Rousseau:
-Nhà nước là sản phẩm của ý chí chung của nhân dân, do nhân dân lập ra, do nhân dân kiểm soát
-Quyền lực nhà nước không tách rời nhân dân
-Mọi hoạt động của Nhà nước là vì lợi ích và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
Về mặt lịch sử, Thuyết khế ước xã hội chứa đựng yếu tố tiến bộ xã hội, nó phủ nhận Thuyết thần học về sự ra đời của Nhà nước, đồng thời coi quyền lực nhà nước là sản phẩm hoạt động của con người
Trang 3Vì vậy, Thuyết khế ước xã hội đã trở thành cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến Với ý nghĩa đó, nó có tính cách mạng và giá trị lịch sử nhất định
Hạn chế lớn nhất của thuyết này là giải thích nguồn gốc Nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm, coi Nhà nước ra đời do ý muốn, nguyện vọng chủ quan của các bên tham gia hợp đồng, không giải thích được cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của Nhà nước
Học thuyết Mác – Lênin về nguồn gốc Nhà nước
Học thuyết Mác - Lênin đã giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, cho rằng:
Chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch sử xã hội của nhân loại
Ðó là một xã hội không có giai cấp, chưa thể và chưa cần sự xuất hiện của Nhà nước
Nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước lại nẩy sinh chính trong xã hội chưa có giai cấp đó
• Nhà nước không phải là hiện tượng tất yếu của mọi xã hội
• Nhà nước xuất hiện một cách khách quan
• Nhà nước chỉ ra đời khi nền sản xuất của xã hội phát triển đạt đến một trình độ nhất định
• Cùng với sự phát triển đó, là sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp, mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được
Đó là những nguyên nhân cơ bản làm xuất hiện Nhà nước
Trang 4• Nhà nước xuất hiện không phải để điều hòa mâu thuẫn giữa các giai cấp, mà để giải quyết mâu thuẫn về phía có lợi cho giai cấp thống trị
Thực chất, Nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị để trấn áp các giai cấp khác
•Do vậy, sự ra đời của Nhà nước là một hiện tượng thuộc về bản chất của xã hội có giai cấp đối kháng
• Nhà nước sẽ tự nó tiêu vong khi không còn những mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hòa
b BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC
1.2.1.Khái niệm về Nhà nước
“Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, là bộ máy chuyên trách do giai cấp thống trị lập ra,để làm nhiệm vụ cưỡng chế, nhằm bảo vệ quyền lực thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, và thực hiện các chức năng quản lý xã hội theo những mục tiêu và ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng.”
1.2.2 Tính giai cấp của Nhà nước
Nhà nước xuất hiện và tồn tại trong một xã hội có giai cấp, cho nên Nhà nước luôn thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc
Bản chất giai cấp của Nhà nước biểu hiện truớc hết là bộ máy cuỡng chế đặc biệt của giai cấp thống trị,là công cụ để giai cấp thống trị trấn
áp các thế lực chống đối, bảo vệ quyền lực thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị
1.2.3 Tính xã hội (Vai trò và giá trị xã hội) của Nhà nước
Thực tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng:
Trang 5Nhà nước sẽ không thể tồn tại, nếu Nhà nước chỉ phục vụ lợi ích giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích của các tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội
Bởi vì các tầng lớp, giai cấp này thuờng xuyên đấu tranh vì quyền lợi của họ và luôn mâu thuẫn với giai cấp thống trị
Để bảo đảm sự ổn định xã hội, bảo đảm sự phát triển bình thường của
xã hội, duy trì được quan hệ sản xuất và trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, thì Nhà nước phải tổ chức thực hiện các hoạt động để duy trì trật tự của cả cộng đồng, bảo đảm xã hội an toàn, ổn định và phát triển
Thông qua đó, Nhà nước cũng đảm bảo lợi ích nhất định của các tầng lớp, giai cấp khác trong chừng mực lợi ích đó không đối lập gay gắt với lợi ích của giai cấp cầm quyền
Mặt khác, Nhà nước còn phải tổ chức thực hiện những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, giải quyết các yêu cầu của đời sống cộng đồng xã hội (mà cá nhân công dân không thể giải quyết đuợc)
Vai trò và giá trị xã hội của Nhà nước tùy thuộc vào bản chất giai cấp của mỗi Nhà nước
1.2.4 Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của Nhà nước
Nhà nước có 5 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau:
(1) Nhà nước phân chia và quản lý dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ
Lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước
Nhà nước tổ chức và thực hiện quyền lực của Nhà nước Quyền lực nhà nước có hiệu lực tác động đến toàn bộ dân cư trên lãnh
thổ thuộc chủ quyền quốc gia
Trang 6(2) Nhà nước thiết lập một bộ máy quyền lực công cộng đặc biệt để quản lý tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội
Bộ máy quyền lực này mang tính chính trị, tính giai cấp sâu sắc và chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị
(3) Nhà nước là một tổ chức quyền lực duy nhất có chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia là thuộc tính gắn liền với Nhà nước, thể hiện sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia trên cơ sở luật pháp quốc tế
Đó là quyền lực tối cao và độc lập của Nhà nước trong việc tự quyết định mọi chính sách đối nội và đối ngoại của quốc gia mà không phụ thuộc vào bất kỳ thế lực nào từ bên ngoài
(4) Nhà nước là một tổ chức duy nhất trong xã hội được quyền ban hành pháp luật
Pháp luật do Nhà nước ban hành, có hiệu lực bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
Nhà nước tổ chức quản lý và điều hành xã hội trên cơ sở hệ thống pháp luật đó
(5) Nhà nước là một tổ chức duy nhất trong xã hội được quyền: -Xác định các loại thuế
-Quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc với số lượng và thời hạn ấn định trước
c CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC
Khái niệm chức năng của Nhà nước
Trang 7Là những phương diện hoạt động cơ bản, chủ yếu diễn ra bên ngoài của Nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ chung của Nhà nước
Chức năng của Nhà nước là vai trò của Nhà nước, được xác định xuất phát từ bản chất của Nhà nước, và được quy định một cách khách quan bởi cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp trong xã hội
Chức năng của Nhà nước bao trùm lên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, có tính lâu dài, gắn liền với sự ra đời và sự mất đi của Nhà nước
Chức năng của Nhà nước luôn được bổ sung và phát triển bằng những nội dung mới, phù hợp với nhiệm vụ, tình hình mới của đất nước và
xu hướng thời đại trong mỗi giai đoạn phát triển xã hội
Chức năng đối nội của Nhà nước
Là những mặt hoạt động diễn ra bên trong nội bộ của quốc gia
Thông qua việc thực hiện chức năng này, Nhà nước thể hiện quyền lực thống trị của giai cấp thống trị trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.,
Nội dung cơ bản của các chức năng đối nội của Nhà nước:
1 Giữ gìn an ninh chính trị, trấn áp các thế lực chống đối và phản kháng của các giai cấp đối kháng
2 Bảo vệ trật tự pháp luật, an toàn xã hội, quyền lợi ích của giai cấp cầm quyền
3 Tổ chức, quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia
Trang 84 Thông tin, tuyên truyền nhằm chiếm lĩnh và nhất quán hoạt động theo định huớng tư tưởng của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội
1.3.3 Chức năng đối ngọai của Nhà nước
Là những hoạt động thể hiện ra trong mối quan hệ của Nhà nước với các Nhà nước, các dân tộc, các tổ chức quốc tế khác
Nội dung cơ bản của các chức năng đối ngoại của Nhà nước:
1 Tổ chức phòng thủ đất nước chống lại sự xâm lược của các thế lực bên ngoài
2 Tổ chức, thực hiện các quan hệ hợp tác song phương, đa phương trên nhiều lĩnh vực
Cả 2 chức năng đối nội và đối ngoại luôn có mối liên hệ hỗ tương, bổ sung ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó chức năng đối nội giữ vai trò chi phối và chủ yếu, vì chúng động chạm đến những điều kiện tồn tại của bản thân chế độ, xã hội trong một quốc gia
Nội dung những hình thức và phương thức thực hiện các chức năng của Nhà nước bắt nguồn và trực tiếp thể hiện bản chất cũng như mục tiêu hoạt động của Nhà nước
1.3.4 Hình thức và phương thức thực hiện Chức năng của Nhà nước
Trang 9Bảo vệ pháp luật => TƯ PHÁP
1.4.1 Khái niệm Kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước là tổng thể những đặc điểm cơ bản, đặc thù của một Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện tồn tại, phát triển của Nhà nước trong một hình thái kinh tế –xã hội có giai cấp nhất định
1.4.2 Các kiểu nhà nước
Học thuyết Mác – Lênin về hình thái Kinh tế – Xã hội là cơ sở lý luận khoa học để phân chia các Nhà nước trong lịch sử thành các Kiểu Nhà nước khác nhau
Cơ sở để xác định Kiểu nhà nước là dựa vào những đặc trưng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội cơ bản quy định bản chất giai cấp của Nhà nước
đó
Chế độ sở hữu đối với tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
Lịch sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế – xã hội, trong đó có 4 hình thái kinh tế – xã hội có giai cấp
Mỗi hình thái kinh tế – xã hội có giai cấp xuất hiện thì tương ứng với chúng là một Kiểu nhà nước được hình thành (đó là 4 Kiểu nhà nước):
1.4.2.1 Kiểu Nhà nước chủ nô (chiếm hữu nô lệ)
Trang 10Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, nó ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ thị tộc, sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành hai giai cấp chủ yếu: chủ
nô và nô lệ
Ngoài ra, còn có tầng lớp thợ thủ công, những người lao động khác, tuy có địa vị khác với nô lệ, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào giai cấp chủ nô về kinh tế, chính trị và tư tưởng
Nhà nước chủ nô hình thành trên cơ sở của hình thái kinh tế – xã hội
nô lệ với một phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ mà đặc trưng là
sự thống trị toàn diện, tuyệt đối của thiểu số chủ nô đối với nô lệ
Trong phương thức đó, chủ nô không chỉ chiếm hữu tư hữu về tư liệu sản xuất, về sản phẩm lao động do nô lệ tạo ra mà còn chiếm hữu cả những người nô lệ
Giai cấp nô lệ tuy chiếm đa số trong dân cư, nhưng không có tư liệu sản xuất, phải phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nô cả thể xác và tinh thần,
và chỉ được coi như một thứ tài sản, công cụ sản xuất biết nói của chủ
nô và có thể bị chủ nô đem bán, trao đổi như hàng hóa hoặc cho tặng hay giết đi mà không hề bị lên án
Về đối nội, Nhà nước chủ nô bảo vệ và củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ; đàn áp những cuộc đấu tranh của nô lệ và các tầng lớp bị bóc lột khác bằng nhiều biện pháp, trong
áp bức, bóc lột nô lệ
Trang 11Về đối ngoại, Nhà nước chủ nô tiến hành chiến tranh xâm lược để bắt
tù binh về làm nô lệ, mở rộng đất đai, bờ cõi
Có thể nói chiến tranh xâm lược là biện pháp chủ yếu để bổ sung và làm tăng thêm sức lao động cần thiết cho chủ nô
1.4.2.2 Kiểu nhà nước phong kiến
Cơ sở kinh tế của Nhà nước phong kiến là chế độ sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất và
sự chiếm đoạt kết quả lao động của nông dân và cưỡng bức nông dân phải làm tròn một số nghĩa vụ bao gồm hiện vật, địa tô lao dịch
Nhà nước phong kiến gắn liền với phương thức sản xuất phong kiến
Trong phương thức này, quan hệ sản xuất phong kiến phản ánh chế độ
sở hữu tư nhân về đất đai và quyền phát canh thu tô của tầng lớp địa chủ quý tộc
Người nô lệ đã được giải phóng và trở thành nông nô.Tuy họ không còn bị xem là một công cụ lao động sống như dưới thời kỳ nô lệ, song
họ vẫn bị trói chặt vào ruộng đất của địa chủ và quý tộc và họ vẫn tiếp tục bị bóc lột nặng nề không kém gì dưới thời nô lệ
Xét về bản chất, Nhà nước phong kiến là công cụ của giai cấp địa chủ phong kiến để thực hiện nền chuyên chính đối với nông dân, những người thợ thủ công và các tầng lớp lao động khác, là phương tiện để giai cấp địa chủ, phong kiến duy trì địa vị kinh tế, bảo vệ lợi ích và thực hiện sự thống trị của mình đối với toàn xã hội
Về đối nội, nhà nước phong kiến bảo vệ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, duy trì các hình thức bóc lột đối với nông dân
và nhân dân lao động, đàn áp bằng quân sự những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nhân dân lao động
Trang 12Nhà nước phong kiến còn câu kết với những người có chức sắc trong tôn giáo, lợi dụng tôn giáo để đàn áp, khống chế và chi phối đời sống
tư tưởng của quần chúng nhân dân
Về đối ngoại, nhà nước phong kiến tiến hành những cuộc chiến tranh liên miên để chiếm đất, mở rộng vương triều, mở rộng lãnh thổ để mưu lợi ích cho triều đại của mình, cho giai cấp địa chủ phong kiến
Nhà nước phong kiến trở thành bộ máy đắc lực của bọn địa chủ và quý tộc và được sử dụng để bảo vệ những đặc quyền của giai cấp địa chủ quý tộc cũng như đàn áp lại sự phản kháng của nông dân
Nhà phong kiến, đặc biệt là phong kiến phương Đông được xây dựng
và tổ chức một cách phức tạp với một hệ thống các nguyên tắc vừa mang tính chất pháp lý vừa mang màu sắc đạo đức, lẫn lộn giữa pháp luật và đạo đức với những hình phạt hết sức tàn nhẫn đối với con
người như tru di tam tộc, cho voi xé xác, cho hỗ phanh thây,
1.4.2.3 Kiểu nhà nước tư sản
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và sự hình thành quan
hệ tư bản trong lòng xã hội phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, đẩy chế
độ phong kiến rơi vào tình trạng khủng hoảng toàn diện
Đến lượt giai cấp tư sản có cơ hội để nêu chiêu bài mỵ dân, giải
phóng nông nô khỏi sự bóc lột của phong kiến, làm cuộc cách mạng
tư sản lật đổ Nhà nước phong kiến và thành lập Nhà nước tư sản
Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước bóc lột cuối cùng trong lịch sử, và
là kiểu nhà nước bóc lột hoàn thiện nhất, phát triển nhất trong các kiểu nhà nước bóc lột
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời của Nhà nước tư sản với những thể chế dân chủ tư sản, là một tiến bộ trong lịch sử, là một bước ngoặc mới trong xã hội loài người, là động lực thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp
Trang 13Nhà nước tư sản được xây dựng trên cơ sở kinh tế là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
Vì vậy, xét về bản chất, đó vẫn là Kiểu nhà nước bóc lột và bao giờ cũng là công cụ bạo lực chủ yếu và trực tiếp của nền chuyên chính tư sản, duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản
Ngày nay, trước những biến đổi mới của tình hình thời đại, Nhà nước
tư sản đang có những biến đổi để thích nghi với điều kiện mới
Bản chất giai cấp của Nhà nước tư sản được che dấu sau những quan niệm mỵ dân và xu nịnh như Nhà nước toàn dân, Nhà nước phúc lợi chung
Với những chiêu bài giả tạo đó, giai cấp tư sản đã ve vãn và làm cho không ít người ngộ nhận rằng giai cấp tư sản nhân ái, đạo đức
Bằng Học thuyết về “Giá trị thặng dư”, C.Mác đã vạch trần bản chất bóc lột của giai cấp tư sản
Từ việc sử dụng bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản, đã thai nghén
để đến giai đoạn tột cùng đã sinh ra một quái thai – Chủ nghĩa đế quốc
Gắn liền với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì cho dù cố gắng đến đâu, dù có biến đổi như thế nào thì bản chất của Nhà nước
tư sản vẫn không thay đổi, vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản đối với quảng đại quần chúng nhân dân lao động, là công cụ trấn áp của thiểu số người bóc lột đối với đa số quần chúng bị bóc lột
1.4.2.4 Kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang tính tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hội
Trang 14Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những tiền đề kinh tế, xã hội và chính trị phát sinh trong lòng xã hội
Nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất hoàn toàn khác hẳn với các kiểu nhà nước bóc lột, nó luôn luôn là bộ máy chuyên chính của giai cấp vô sản, là công cụ quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác, là lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội
Nhà nước xã hội chủ nghĩa được giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng để phục vụ cho đông đảo quần chúng nhân dân lao động
Bởi vì, đó là kiểu nhà nước của nhân dân, do nhân dân lập ra và mục tiêu tồn tại của nó là vì quyền lợi của nhân dân
Chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở từng giai đoạn có sự khác nhau, nhưng nó luôn luôn là bộ máy chuyên chính của giai cấp vô sản, được giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng để nhằm thực hiện mục tiêu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là:
- Cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới với nền kinh tế mới, văn hóa mới và con người mới
- Đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội, trên nguyên tắc tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của mọi thành viên
- Đồng thời giữ vững nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Trang 15Chức năng cơ bản của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là:
- Củng cố và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân và các hình thức sở hữu hợp pháp khác về tư liệu sản xuất cũng như sản phẩm do xã hội tạo ra
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa quan tâm trong việc kết hợp lợi ích chung của toàn xã hội với lợi ích của mỗi thành viên, trong đó lấy lợi ích tập thể làm nền tảng, tổ chức quản lý các mặt đời sống xã hội, xây dựng
xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa công bằng, văn minh đáp ứng lợi ích của nhân dân lao động và cả cộng đồng, đồng thời trấn áp các thế lực chống đối, phá hoại lợi ích của Nhà nước và nhân dân
Chính chức năng tổ chức xây dựng xã hội mới đã thể hiện đậm nét bản chất giai cấp và tính xã hội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đó là sự khác biệt về chất cơ bản nhất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa với các kiểu nhà nước khác
Chức năng đối ngoại của Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn ưu việt hơn so với các nhà nước trước đó
Nhà nước xã hội chủ nghĩa không những bảo vệ đất nước, chống lại
sự xâm lược của nước ngoài mà còn luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác
Nhà nước xã hội chủ nghĩa còn luôn ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc vì hòa bình, thống nhất và độc lập dân tộc cũng như tiến bộ xã hội;
Thực hiện chính sách và đường lối quốc tế vô sản cũng như chính sách nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Tóm lại, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một tổ chức đặc biệt của
quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và thực
Trang 16hiện các chức năng quản lý xã hội nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong xã hội xã hội chủ nghĩa
1.5 HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC
1.5.1 Khái niệm Hình thức nhà nước
Hính thức nhà nước là cách thức tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước
và những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước của giai cấp thống trị
Hình thức nhà nước do bản chất giai cấp của Nhà nước quyết định
Ngoài ra, Hình thức nhà nước còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như:
-Tương quan lực lượng giữa các giai cấp, kể cả sự ảnh hưởng của các thế lực chính trị bên ngoài
-Điều kiện kinh tế của xã hội
-Các đặc điểm lịch sử, truyền thống dân tộc, quan điểm pháp lý và bối cảnh quốc tế
1.5.2 Các khía cạnh của hình thức nhà nước
Trang 17Là cách thức tổ chức, cơ cấu, trình tự thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước tối cao; sự phân chia thẩm quyền và mối quan hệ giữa các
cơ quan đó với nhau và với nhân dân; cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào sự hình thành các cơ quan này
Hình thức chính thể có 2 dạng:
2 Chính thể Quân chủ:
Quyền lực tối cao của Nhà nước tập trung toàn bộ (Quân chủ tuyệt đối) hay một phần (Quân chủ hạn chế) vào tay một người đứng đầu Nhà nước (Vua, Hoàng đế), theo nguyên tắc thừa kế
3 Chính thể Cộng hòa:
Quyền lực tối cao của Nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại diện được bầu ra, hoạt động mang tính tập thể và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật
Có 2 hình thức cấu trúc nhà nước điển hình:
(1)- Nhà nước đơn nhất
Có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất, trong đó hệ thống quyền lực nhà nước được đảm bảo tập trung, thống nhất bằng cách tổ chức một hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương