Trong thực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI:
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LỚP: L04 - NHÓM: 5 - HK212
GVHD: THS ĐỖ ĐÌNH NGHĨA SINH VIÊN THỰC HIỆN
% ĐIỂM BTL
ĐIỂM BTL
GHI CHÚ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
STT Mã số SV Họ Nhiệm vụ được phân
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Đối tượng nghiên cứu:
3 Phạm vi nghiên cứu
4 Mục tiêu nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
CHƯƠNG 1: HÀNG HÓA
1.1 Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa
1.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
1.3 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa NỘI DUNG:
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.Thực trạng hoạt động và nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của hệ thống siêu thị Việt Nam từ năm 2020 đến nay
2.1.1.Thực trạng của hệ thống siêu thị Việt Nam từ năm 2020 đến nay
2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của hệ thống siêu thị Việt Nam từ năm 2020 đến nay
2.2 giải pháp phát triển có hiệu quả hệ thống siêu thị việt nam
2.2.1 Nhóm giải pháp từ phía Chính phủ
2.2.2.Nhóm giải pháp từ phía các doanh nghiệp bán lẻ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Cho đến nay, cơ cấu ngành kinh tế đất nước đã có nhiều thay đổi, tỷ trọng các ngành dịch vụ ngày càng tăng lên Trong
số đó, ngành thương mại cũng đang cố gắng hết sức để tiếp thu những tri thức tiên tiến trên thế giới nhằm bắt kịp với các nước phát triển Và vì thế, sự xuất hiện các Siêu thị tại Việt Nam vào đầu thập kỷ 90 cũng là một xu thế tất yếu, một bước đột phá trong sự phát triển thương mại theo hướng văn minh hiện đại Ngày nay, việc mua sắm hàng hóa ở siêu thị đã dần trở thành một thói quen mới văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam
2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh
3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian: 2020 đến nay
4 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, Tìm hiểu những cơ hội, thách thức của hệ thống siêu thị Việt Nam Thứ hai, Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các siêu thị này trong
những năm gần đây,
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu như trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:
2
Trang 5- Chương 1: Hàng hóa
- Chương 2: Sự phát triển của siêu thị ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 1: HÀNG HÓA
1.1 Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa
Khái niệm hàng hóa
Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua việc trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình như lương thực, qquần áo, tư liệu sản xuất… hay ở dạng vô hình như sức lao động Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có:
- Tính ích dụng đối với người dùng
- Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động
- Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm
Hàng hóa có hai thuộc tính bao gồm:
- Giá trị sử dụng: là công cụ của hàng hóa nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của người mua như tiêu dùng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng cá nhân
- Giá trị trao đổi của hàng hóa: là một quan hệ về số lượng, thể hiện tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa này và hàng hóa khác
1.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa bao gồm lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Lao động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những ngành nghề chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có thao tác riêng, đối tượng riêng, mục đích riêng và kết quả riêng
3
Trang 6Lao động trừu tượng: là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác, đó là sự tiêu hao sức lao động của người sản xuất hàng hóa nói chung
1.3 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Lượng giá trị hàng hóa là số lượng lao động để sản xuất ra hàng hóa đó Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động, ngày, tháng, năm…
Thước đo lượng giá trị của hàng hóa
Lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định Trong thực
tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cả biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra Vậy phải chăng lao động cá biệt nào càng lười biếng, vụng
về, phải dùng nhiều thời gian hơn để làm ra hàng hóa, thì hàng hóa đó càng có nhiều giá trị?
C.Mác viết: "Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy"
Như vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động
xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định
Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động
cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần
4
Trang 7thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trên thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố:
1 Năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phấm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết đế sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động
xã hội Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt
mà là giá trị xã hội Vì vậy, năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Ngược lại, năng suất lao dộng xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động lại tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên
5 Downloaded by ng?c trâm (ngoctram201217@gmail.com)
Trang 8Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng giá trị hàng hóa Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là sự căng thẳng mệt nhọc của người lao động Vì vậy, khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian cũng tăng lên và lượng sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương đương, còn lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm thì không đổi Xét về bản chất, tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động
2 Mức độ phức tạp của lao động
Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hóa Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể tiến hành được
C.Mác chỉ rõ: trong một giờ lao động, người thợ sửa chữa đồng hồ tạo ra nhiều giá trị hơn người rửa bát Bởi vì, lao động của người rửa bát là lao động giản đơn, có nghĩa là bất kỳ một người bình thường nào, không phải trải qua đào tạo, không cần có sự phát triển đặc biệt, cũng có thể làm được Còn lao động của người thợ sửa chữa đồng hồ là lao động phức tạp đòi hỏi phải có sự đào tạo, phải có thời gian huấn luyện tay nghề Vì vậy, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân gấp bội lên
Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình
C.Mác viết: "Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy thừa, hay nói cho đúng hơn là lao động giản đơn được nhân lên ”
6 Downloaded by ng?c trâm (ngoctram201217@gmail.com)
Trang 9Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình
7 Downloaded by ng?c trâm (ngoctram201217@gmail.com)
Trang 10CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Một số vấn đề chung về hệ thống siêu thị tại Việt Nam
2.1.1 Khái niệm siêu thị
Siêu thị là loại hình của hàng hiện đại, kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh;
có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng các tiêu chân về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý,
tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng
2.1.2 Siêu thị trong mạng lưới phân phối bán lẻ hiện đại
Trong hệ thống các cửa hàng bán lẻ hiện đại, siêu thị được xếp ở vị trí cao hơn các cửa hàng tự phục vụ nhỏ, cửa hàng tiện dụng và thấp hơn so với đại siêu thị, cửa hàng đại hạ giá(hard discounter), cửa hàng bách hoá, trung tâm thương mại xét về mặt quy mô, diện tích và phương thức kinh doanh Những cửa hàng bán
lẻ này đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, có suy thoái và có diệt vong tùy theo từng thời kỳ Chính phương thức bán hàng tự phục vụ và nghệ thuật trưng bày hàng hoá của siêu thị đã mở ra kỷ nguyên thương mại bán lẻ văn minh hiện đại
2.2.Thực trạng hoạt động và nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của hệ thống siêu thị Việt Nam từ năm 2000 đến nay
2.2.1.Thực trạng của hệ thống siêu thị Việt Nam từ năm 2020 đến nay
Việt Nam có quy mô dân số lớn với trên 96,2 triệu dân, cơ cấu dân số trẻ (58,5% dân số từ 15-54 tuổi theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2019), chi tiêu hộ gia đình theo dự báo của WorldBank tăng trung bình 10,5%/năm kèm tốc độ gia tăng mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu Điều đó đã góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại bán lẻ Việt Nam với tốc
độ tăng trưởng kép (CAGR) đạt trên 10% (theo Vietnam Report), đồng thời cho thấy tiềm năng cơ hội cho ngành bán lẻ tại Việt Nam trên con đường phía
8 Downloaded by ng?c trâm (ngoctram201217@gmail.com)
Trang 11trước còn rất lớn.
Theo báo cáo từ khảo sát của QandMe được thực hiện từ tháng 3/2020 để
so với thời điểm tháng 4/2019, thị trường bán lẻ Việt Nam thời gian qua đã mở cửa đón sự xuất hiện của một số thương hiệu bán lẻ đình đám từ nước ngoài với nhiều chuỗi cửa hàng như Uniqlo, GG25… Tuy nhiên có một vài thương hiệu lớn của Việt Nam phải tái cấu trúc hoặc rút lui khỏi thị trường Điển hình
là thương vụ mua bán và sáp nhập của Massan với chuỗi VinEco và VinCommerce, ngay sau đó Massan đã đóng của hàng trăm cửa hàng Vinmart+ và mở thêm khoảng vài chục siêu thị Vinmart mới
Cũng theo QandMe đến thời điểm khảo sát, số siêu thị của năm 2020 đã giảm khoảng 20% từ 336 siêu thị xuống còn 330 siêu thị Trái với siêu thị, số lượng cửa hàng tiện lợi lại có mức tăng đáng kể với 60% từ 2.495 cửa hàng lên 5.228 cửa hàng; trung tâm thương mại tăng 11% từ 96-107 trung tâm; cửa hàng nhỏ tăng 163- 170 cửa hàng; drug store (thuốc, mỹ phẩm…) tăng 30% từ 340-679 cửa hàng; siêu thị điện máy tăng 11% với 3.141 cửa hàng… Dẫn đầu
về quy mô cửa hàng mỗi lĩnh vực phải kể đến những cái tên quen thuộc như: Vincom, Miniso, Phamacity, Thế giới di động, Điện máy xanh, Việt Tiến, Blue Exchange, Biti’s, Highland, The Coffee House… Trong đó, có sự tăng trưởng mạnh mẽ của các thương hiệu: Thế giới di động, Điện máy xanh, Bách hóa xanh… khi các doanh nghiệp này đồng loạt mở rộng quy mô, số lượng cửa hàng cho các thương hiệu con Trong khoảng 1 năm, Thế giới di động đã tăng
từ 1.817 cửa hàng lên 1.929 cửa hàng, Điện máy xanh từ 798 cửa hàng lên 1.026 cửa hàng, đặc biệt Bách hóa xanh là thương hiệu mở rộng mạnh nhất khi số lượng cửa hàng tăng gấp 2 lần từ 512 cửa hàng lên 1024 cửa hàng
Nhờ sự hoạt động năng nổ của hệ thống bán lẻ, năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Việt Nam đạt 4.940,4 nghìn tỷ đồng, trong đó tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa của đạt 3.751,3 nghìn
tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức, tăng 11,8% so với năm trước, mức tăng cao
9 Downloaded by ng?c trâm (ngoctram201217@gmail.com)
Trang 12nhất của giai đoạn 2016-2019 9 tháng đầu năm 2020, dù chịu ít nhiều ảnh hưởng của dịch bệnh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng vẫn đạt 3.673,5 nghìn tỷ đồng, trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 2.907,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước Các mặt hàng bán lẻ thiết yếu thường có mức tăng cao gồm có: Lương thực, thực phẩm; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, may mặc…
So với năm 2019 và 2020, giải pháp được các nhà bán lẻ 2021 ưu tiên lựa chọn là đẩy mạnh bán hàng trên các trang thương mại điện tử và nền tảng trực tuyến Biện pháp ứng phó với giãn cách xã hội phổ biến nhất năm 2021 là chuyển đổi kinh doanh từ offline lên online (chiếm 72,8%), tăng 9% so với năm 2020 (63,8%) Tỷ lệ nhà bán hàng chỉ chú trọng kinh doanh offline, không kinh doanh online giảm từ 36,2% (năm 2020) xuống 20,9% (năm 2021)
Sau 2 năm chống chọi với Covid-19, các nhà bán hàng đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm và biện pháp ứng phó hiệu quả trong ngành bán lẻ Trong đó, biện pháp ứng phó với tình huống tương tự giãn cách xã hội được các nhà bán hàng ưu tiên lựa chọn là: Áp dụng quy trình vận hành mới, tương ứng với trạng thái phòng chống Covid-19 (chiếm 29,7%); triển khai kênh bán hàng thay thế, bán hàng đa kênh (chiếm 27,2%)
Tính từ đầu tháng 10/2021, Nghị quyết 128 cho phép chuyển từ chiến lược
"Zero Covid-19" sang "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19" đã tạo tiền đề để các địa phương mở cửa trở lại, tình hình kinh doanh của các nhà bán hàng có sự khởi sắc, 46,7% chủ cửa hàng đã có sự tăng trưởng doanh thu trở lại
Biện pháp khác được các chủ nhà hàng, chủ shop, doanh nghiệp bán lẻ áp dụng nhằm đối phó với dịch bệnh và giãn cách xã hội bao gồm: Cắt giảm chi phí cửa hàng và mặt bằng; chuyển đổi mặt hàng cung ứng để phù hợp với tình hình thực tế; phát triển hoặc kinh doanh dòng sản phẩm mới; phân bổ nguồn
10 Downloaded by ng?c trâm (ngoctram201217@gmail.com)