Đó là vấn đề thực hiện dân chủ xãhội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng cộng sản cầm quyền; vấn đề đảm bảo quyềnlực của nhân dân, thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội, xây dựng con ngườ
NỘI DUNG
1.1.1 Quan niệm về dân chủ
Từ xã hội nguyên thủy, con người đã nhận thức được quyền lực thuộc về nhân dân, thể hiện qua việc “cử ra và phế bỏ người đứng đầu” Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII-VI trước Công nguyên tại Hy Lạp cổ đại, với cụm từ “demoskratos”, trong đó “demos” nghĩa là nhân dân và “kratos” là cai trị Dân chủ được hiểu là nhân dân cai trị, hay quyền lực thuộc về nhân dân Khái niệm này vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay, nhưng khác biệt cơ bản giữa cách hiểu dân chủ cổ đại và hiện nay nằm ở tính chất trực tiếp của quyền lực công cộng và nội hàm của khái niệm nhân dân.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng dân chủ là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp vì những giá trị tiến bộ của nhân loại Nó không chỉ là sản phẩm của lịch sử mà còn là hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, đồng thời là một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội.
Vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Leenin thì dân chủ gồm một số nội dung cơ bản sau đây:
Dân chủ thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân, với nhân dân là chủ nhân của đất nước Quyền lợi cơ bản nhất của nhân dân là quyền lực nhà nước thuộc sở hữu của họ và xã hội Bộ máy nhà nước cần phục vụ vì lợi ích của nhân dân và xã hội.
DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Dân chủ và sự ra đời, phát triển của dân chủ
1.1.1 Quan niệm về dân chủ
Từ xã hội nguyên thủy, con người đã nhận thức được quyền lực thuộc về nhân dân, thể hiện qua việc “cử ra và phế bỏ người đứng đầu” Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII-VI trước Công nguyên tại Hy Lạp cổ đại, với cụm từ “demoskratos”, trong đó “demos” nghĩa là nhân dân và “kratos” là cai trị Dân chủ được hiểu là nhân dân cai trị, hay quyền lực thuộc về nhân dân Khái niệm này vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay, nhưng khác biệt cơ bản giữa cách hiểu dân chủ cổ đại và hiện nay nằm ở tính chất trực tiếp của quyền lực công cộng và nội hàm của khái niệm nhân dân.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng dân chủ là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp vì những giá trị tiến bộ của nhân loại Nó không chỉ là sản phẩm của lịch sử mà còn là hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, đồng thời là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội.
Vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Leenin thì dân chủ gồm một số nội dung cơ bản sau đây:
Dân chủ thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân, với nhân dân là chủ nhân của đất nước Quyền lợi cơ bản nhất của nhân dân là quyền lực nhà nước thuộc về họ và xã hội Bộ máy nhà nước cần phục vụ vì lợi ích của nhân dân và xã hội.
Dân chủ, trên phương diện chế độ xã hội và chính trị, được coi là một hình thức nhà nước, thể hiện qua chính thể dân chủ hoặc chế độ dân chủ.
Thứ ba, trên phương diện tổ chức và quản lý xã hội, dân chủ là một nguyên tắc – nguyên tắc dân chủ
Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển dân chủ theo hướng:
Dân chủ là một giá trị nhân loại chung, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân Theo quan điểm này, "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ."
Dân chủ là một thể chế chính trị và chế độ xã hội, trong đó nhân dân là người chủ và Chính phủ là đầy tớ trung thành của nhân dân Chính quyền dân chủ có nghĩa là do người dân làm chủ, và khi nước ta trở thành một nước dân chủ, thì dân chủ đồng nghĩa với việc "dân làm chủ" Trong hệ thống này, các vị trí như Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, và ủy viên đều phải làm đầy tớ cho nhân dân, không phải là quan cách mạng.
Dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, với dân là chủ thể của xã hội, làm chủ nhà nước, xã hội và bản thân Dân chủ cần bao quát mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa - tinh thần Hai lĩnh vực quan trọng nhất là dân chủ trong kinh tế và văn hóa - tinh thần, thể hiện quyền con người và quyền công dân Khi dân thực sự là chủ thể, họ sẽ làm chủ xã hội một cách đích thực.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.7, tr.434.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.382.
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.572.
Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân Trong công cuộc đổi mới, Đảng khẳng định “lấy dân làm gốc” và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Nhận thức về dân chủ của Đảng đã có những bước phát triển mới, với mục tiêu xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ phải gắn liền với công bằng xã hội và được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và các hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ cần đi đôi với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật.
Dân chủ được hiểu là một giá trị xã hội thể hiện quyền cơ bản của con người, đồng thời là hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, phản ánh quá trình ra đời và phát triển trong lịch sử xã hội nhân loại.
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của dân chủ
Trong chế độ cộng sản nguyên thủy, đã xuất hiện hình thức dân chủ mà Ph Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên thủy” hay “dân chủ quân sự” Hình thức dân chủ này đặc trưng bởi việc nhân dân bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “Đại hội nhân dân”, nơi mọi người đều có quyền phát biểu và tham gia quyết định Tại “Đại hội nhân dân”, nhân dân thực sự nắm quyền lực, thể hiện tính dân chủ, mặc dù trình độ sản xuất còn hạn chế.
Nền dân chủ chủ nô xuất hiện khi lực lượng sản xuất phát triển, dẫn đến chế độ tư hữu và sự tan rã của “dân chủ nguyên thủy.” Nền dân chủ này được tổ chức thành nhà nước, với đặc trưng là sự tham gia của dân trong việc bầu ra nhà nước Tuy nhiên, câu hỏi “Dân là ai?” lại phụ thuộc vào quy định của giai cấp cầm quyền.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr.362.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.51, tr.145
Trong giáo trình "Chủ nghĩa xã hội khoa học" của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), quyền lực chủ yếu thuộc về giai cấp chủ nô và một phần nhỏ dành cho các công dân tự do như tăng lữ, thương gia và một số trí thức Đáng chú ý, phần lớn dân số không được xem là "dân" mà chỉ là "nô lệ".
Dưới sự thống trị của nhà nước chuyên chế phong kiến, chế độ dân chủ chủ nô đã bị xóa bỏ, thay thế bằng chế độ độc tài chuyên chế phong kiến Giai cấp thống trị trong thời kỳ này đã khoác lên mình chiếc áo thần bí của thế lực siêu nhiên, khiến người dân xem việc tuân theo ý chí của họ là bổn phận trước sức mạnh của đấng tối cao Kết quả là, ý thức về dân chủ và cuộc đấu tranh để thực hiện quyền làm chủ của người dân không có bước tiến đáng kể nào.
Cuối thế kỷ XIV - đầu XV, nền dân chủ tư sản ra đời, đánh dấu một bước tiến lớn của nhân loại với các giá trị nổi bật về quyền tự do, bình đẳng và dân chủ Tuy nhiên, theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, nền dân chủ này được xây dựng trên nền tảng kinh tế của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, dẫn đến việc nó thực chất chỉ phục vụ cho thiểu số những người sở hữu tư liệu sản xuất, trong khi đại đa số nhân dân lao động vẫn bị bỏ lại phía sau.
Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917, một thời đại mới đã bắt đầu, đánh dấu sự chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội Thời kỳ này thiết lập Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ vô sản, nhằm thực hiện quyền lực của đại đa số nhân dân Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nhà nước thực sự do nhân dân làm chủ, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.1 Qúa trình ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp và Công xã Pari năm 1871, nhưng chỉ chính thức được xác lập sau thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, khi nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời.
Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa diễn ra từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, kế thừa có chọn lọc giá trị từ các nền dân chủ trước đó, đặc biệt là nền dân chủ tư sản Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho người lao động, và khuyến khích họ tham gia tích cực vào công tác quản lý nhà nước và xã hội.
Chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh rằng quá trình phát triển xã hội là lâu dài và chỉ đạt đến mức độ hoàn thiện khi không còn sự phân chia giai cấp Khi xã hội tiến tới giai đoạn cộng sản chủ nghĩa hoàn hảo, dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ không còn tồn tại như một chế độ nhà nước.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hình thức dân chủ vượt trội hơn so với dân chủ tư sản, nơi mọi quyền lực thuộc về nhân dân Trong nền dân chủ này, nhân dân vừa là chủ thể vừa là người thực thi quyền lực Sự thống nhất giữa dân chủ và pháp luật được thể hiện qua nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa còn mới mẻ và gặp nhiều hạn chế, đặc biệt ở những quốc gia có xuất phát điểm kinh tế và xã hội thấp, thường xuyên bị tấn công và chiến tranh Trong khi đó, nền dân chủ tư sản đã phát triển qua hàng trăm năm ở các nước phát triển, nhờ vào những điều kiện khách quan và chủ quan Chủ nghĩa tư bản, mặc dù đã có nhiều điều chỉnh để tồn tại và thích nghi, vẫn giữ nguyên bản chất của nó, và quyền con người chỉ được quan tâm ở mức độ nhất định Mặc dù nền dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn bị giới hạn bởi bản chất của chủ nghĩa tư bản Để nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự thuộc về nhân dân, cần có sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản, cùng với nhiều yếu tố khác như trình độ dân trí, xã hội công dân, và cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) trong giáo trình "Chủ nghĩa xã hội khoa học" nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền cá nhân và quyền làm chủ nhà nước Điều này bao gồm quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước và các điều kiện vật chất cần thiết để thực thi dân chủ.
1.2.2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đảng của họ, nhằm thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân, bao gồm cả giai cấp công nhân Trong hệ thống này, nhân dân lao động nắm giữ quyền làm chủ các quan hệ chính trị, có quyền giới thiệu đại biểu vào bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật, và quản lý nhà nước.
Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa thực chất là của, do và vì nhân dân Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa khác biệt với các cuộc cách mạng xã hội trước đây ở chỗ nó là cuộc cách mạng của số đông, nhằm mang lại lợi ích cho đại đa số nhân dân.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, do đó, nó khác biệt về chất so với dân chủ tư sản Sự khác biệt này thể hiện ở bản chất giai cấp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, cơ chế nhất nguyên so với đa nguyên, sự tồn tại của một đảng hoặc nhiều đảng, và bản chất của nhà nước, giữa nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu, nhằm đáp ứng sự phát triển của lực lượng sản xuất Điều này dựa vào khoa học - công nghệ hiện đại, với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của toàn thể nhân dân lao động.
Bản chất kinh tế được thể hiện qua quyền sở hữu của nhân dân đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu Quyền này không chỉ liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh, quản lý và phân phối, mà còn nhấn mạnh rằng lợi ích kinh tế của người lao động là động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện qua việc áp dụng chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện phân phối lợi ích chủ yếu dựa trên kết quả lao động.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên hệ tư tưởng Mác - Lênin, là nền tảng chủ đạo cho mọi hình thái ý thức xã hội trong xã hội mới Nó không chỉ kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mà còn tiếp thu các giá trị tư tưởng, văn hóa và văn minh tiến bộ từ nhân loại Trong bối cảnh này, nhân dân được làm chủ các giá trị văn hóa tinh thần, nâng cao trình độ văn hóa và có điều kiện phát triển cá nhân Do đó, dân chủ không chỉ là một thành tựu văn hóa mà còn là một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng tự do và phát triển của con người.
Trong nền dân chủ xã hội bội chủ nghĩa, lợi ích của cá nhân, tập thể và toàn xã hội được kết hợp hài hòa, nhằm khuyến khích và thu hút mọi tiềm năng sáng tạo cũng như tính tích cực xã hội của nhân dân trong việc xây dựng xã hội mới.
Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, với bộ máy nhà nước phục vụ lợi ích của xã hội Dân chủ thể hiện qua quá trình lịch sử phát triển của nhân loại, bao gồm ba hình thức chính: dân chủ chủ nô gắn với chế độ nô lệ, dân chủ tư sản liên quan đến chủ nghĩa tư bản, và dân chủ xã hội chủ nghĩa kết hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa.