Làng xã từ lâu đã giành được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà sử học, dân tộc học, văn hóa, xã hội học,… trong và ngoài nước với những góc độc khác nhau về đời sống kinh tế, văn hóa, x
Trang 1VI ỆN HÀN LÂM KHOA H ỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình khoa học nghiên cứu của riêng tôi Tôi xin cam đoan những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa có một công trình nào khác công bố
Tác gi ả
Nguy ễn Văn Bảo
Trang 31.3 N ội dung đƣợc luận án kế thừa và những vấn đề cần tiếp tục
nghiên c ứu, giải quyết
2.2 Quá trình l ập làng và những thay đổi về địa danh, địa giới hành chính 35
Trang 43.2.3 Th ợ thủ công và người buôn bán 79
Trang 5DANH M ỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
10 742 mẫu 2 sào 2 thước 1 tấc 742.2.2.1
Trang 6DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 So sánh diện tích công tư điền thổ của xã Cổ Định với một số
Bảng 2.3 Chất lượng tư điền được phân theo các hạng 45
Bảng 2.5 Quy mô sở hữu ruộng tư của các chủ hộ xã Cổ Định 46
Bảng 2.7 Thống kê những người phụ canh ruộng đất ở xã Cổ Định 48 Bảng 2.8 Thống kê tên các xứ đồng được ghi chép trong gia phả các
dòng họ
50
Bảng 2.9 Tên các xứ đồng, tình hình cấy lúa (theo vụ) và trồng màu 50 Bảng 3.1 Thống kê số vợ trong các gia đình qua gia phả 87 Bảng 3.2 Thống kê số con trong các gia đình qua gia phả 87 Bảng 3.3 Thống kê các dòng họ làng Cổ Định qua địa bạ 91 Bảng 3.4 Thống kê tên thôn, tên đình và sinh hoạt của các dòng họ ở
các đình
93
Bảng 4.1 Thống kê số người đỗ đại khoa của làng Cổ Định 120
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam kể từ thời dựng nước cho đến nay, làng xã luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Làng vừa là cộng đồng kinh tế vừa là cộng đồng văn hóa, chứa đựng những giá trị quá khứ của con người, nơi củng cố, tái hiện những giá trị xã hội
và văn hóa Việt Nam Làng còn là nơi sinh thành, giáo dưỡng chúng ta từ lúc cất
tiếng khóc chào đời, chứng kiến và ghi nhận sự thành đạt của mỗi cá nhân Chính vì vậy, làng là một biểu tượng vô cùng thiêng liêng, luôn được nhắc đến với những từ
thân thương như “quê hương”, hay “quê cha, đất tổ” Bởi vậy, dù ở đâu mỗi người
cũng luôn nhớ về làng, ở đó có những người thân, với những hình ảnh về cây đa, giếng nước, mái đình được khắc sâu vào tâm trí Những người xa quê lúc nào cũng hướng về cội nguồn và luôn ý thức phấn đấu thành đạt để làm rạng danh quê hương, không quản đóng góp công, của để xây dựng làng
Làng xã từ lâu đã giành được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà sử học, dân tộc học, văn hóa, xã hội học,… trong và ngoài nước với những góc độc khác nhau
về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về làng
xã Việt Nam nói chung hay một làng xã cụ thể đã được công bố, cung cấp nhiều tư liệu mới, đồng thời đưa ra những nhận định khoa học góp phần nâng cao nhận thức
về thực thể làng xã trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,…
Làng Cổ Định (xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) là một trong những làng cổ ở Việt Nam và nổi tiếng cho đến tận ngày nay Những phát hiện về
khảo cổ học cho thấy cách đây 2500 - 2000 năm vùng đất này đã là địa bàn cư trú của người Việt cổ Các tên gọi Chạ Kẻ Nứa, Giáp Cá Na, Cổ Ninh, Cổ Định đã gợi
về một một ngôi làng cổ cách đây hàng nghìn năm Vào thế kỷ thứ III, vùng đất Cổ Định với Núi Nưa hiểm trở đã được Bà Triệu chọn làm căn cứ trong cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô năm 248; Đây cũng là căn cứ của cuộc khởi nghĩa chống quân Minh do Nguyễn Chích lãnh đạo (đầu thế kỷ XV) Là một làng nằm ở khu vực đồng bằng trung du của Thanh Hóa nhưng từ thời Lý, Trần, Lê đến triều Nguyễn làng Cổ Định đều xuất hiện nhiều nhân tài, các nhà khoa bảng, có đóng góp quan trọng cho đất nước trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao Cho đến nay, làng Cổ Định còn bảo lưu, gìn giữ được nhiều giá trị văn hóa vật thể, phi
Trang 8đến đầu thế kỷ XX làm Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm rõ những nét đặc trưng về kinh tế, xã hội và văn hóa làng Cổ Định đến đầu thế kỷ XX Khẳng định đây là một làng cổ truyền thống của người Việt, có những nét đặc trưng riêng so với các vùng quê khác
ở xứ Thanh, tiêu biểu là truyền thống văn hiến, khoa bảng, bang giao và đấu tranh chống giặc ngoại xâm
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án hướng tới giải quyết các nội dung sau:
- Luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài, phân tích những nội dung tác giả được kế thừa và những vấn đề cần phải
tiếp tục nghiên nghiên cứu Đề tài làm rõ những đặc điểm về mặt tự nhiên và quá trình hình thành làng Cổ Định đến đầu thế kỷ XIX
- Về hoạt động kinh tế: Phân tích, làm rõ đặc trưng kinh tế của làng Cổ Định trên các lĩnh vực, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Qua đó thấy được kinh tế của làng Cổ Định có sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp
Trang 93
- Về tổ chức xã hội: Nghiên cứu để thấy được tổ chức quản lý làng xã, kết cấu và các hình thức tập hợp dân cư làng Cổ Định, những đặc điểm chung và nét riêng biệt so với làng xã ở vùng đồng bằng sông Mã
- Về đời sống văn hóa: Bao gồm các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo qua sự hiện diện của các kiến trúc đình, đền, chùa,…; giáo dục, khoa cử; văn tự Hán
- Nôm và sáng tác dân gian
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa làng Cổ Định (Thanh Hóa) đến đầu thế kỷ XX Nội dung trình bày đối tượng nghiên cứu được tác giả tập trung ở các chương 2, chương 3 và chương 4
Luận án được nghiên cứu ở làng Cổ Định - một làng có đặc trưng “nhất xã nhất thôn” đến đầu thế kỷ XX, do vậy làng có đặc điểm diên cách hành chính tương đương với một đơn vị cấp xã ngày nay Tuy nhiên, trải qua nhiều thế kỷ, địa danh, địa giới hành chính mỗi thời kỳ đều có sự biến đổi nên trong quá trình thực hiện đề tài tác giả sẽ có đối chiếu các nguồn tư liệu để thấy được những thay đổi của làng
Luận án nghiên cứu từ những phát hiện đầu tiên về địa bàn cư trú của con người ở làng Cổ Định đến đầu thế kỷ XX, mà cụ thể hơn là từ phát hiện khảo cổ học về thanh kiếm Núi Nưa tại làng Cổ Định có niên đại 2500 - 2000 năm cách này nay đến trước khi thành lập tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930 Tuy nhiên, lịch sử là một dòng chảy liên tục và xuyên suốt, các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa của làng xã luôn có sự biến đổi theo diễn trình, thời gian Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, để giải quyết những vấn đề đặt ra của luận án ở những nội dung cụ thể, nếu cần thiết tác giả sẽ trình bày đến cả những thời gian sau đó để có một cái nhìn tổng quan nhất về làng xã trong diễn trình lịch sử
Trang 10Về tổ chức xã hội, trình bày nội dung về tổ chức quản lý làng xã, kết cấu dân
cư, các hình thức tập hợp dân cư, tổ chức gia đình và dòng họ
Về đời sống văn hóa, làm rõ các đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục khoa cử, kiến trúc, văn học
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ
sở phương pháp luận nghiên cứu Nghiên cứu về: Kinh tế, xã hội và văn hóa làng
do tính chất thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn Do đó, phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận quan trọng giúp tác giả nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện, khách quan và làm rõ được những nét đặc trưng riêng của làng Cổ Định so với những làng quê khác ở khu vực đồng bằng sông Mã, đồng bằng sông Hồng
Phương pháp chủ đạo được tác giả vận dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logíc để tái hiện lịch sử, thông qua các tư liệu, từ đó có những đánh giá, phân tích, tổng hợp một cách khách quan và rút ra kết luận
Phương pháp hệ thống - cấu trúc được coi như một hệ thống gồm nhiều yếu tố tạo thành: kinh tế (gồm có nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp); xã hội (bao gồm thiết chế quản lý làng xã, các hình thức tổ chức tập hợp dân cư, tổ chức gia đình và dòng họ, ); văn hóa (bao gồm các thành tố tôn giáo, tín ngưỡng, giáo
dục, khoa cử, văn học, ) Vận dụng phương pháp hệ thống - cấu trúc từ đó rút ra được mối liên hệ giữa các thành tố trong hệ thống Bên cạnh đó tác giả còn đặt làng
Cổ Định trong tổng thể làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
để so sánh đối chiếu, làm nổi bật đối tượng nghiên cứu
Phương pháp liên ngành, chuyên ngành được tác giả sử dụng đồng thời để
nhận thức về sự vật, hiện tượng Cụ thể trong quá trình điền dã, khảo sát tại làng xã
Trang 11Phương pháp điền dã tại làng Cổ Định và các làng xã, khu vực lân cận để thu thập nguồn tư liệu, văn bia, gia phả, thần tích, thần sắc, sắc phong…; kết hợp với phương pháp hồi cố, phỏng vấn các cụ cao niên có hiểu biết về lịch sử và văn hóa của làng nhằm cung cấp thêm nguồn tài liệu cho luận án
4.3 Ngu ồn tài liệu
Tài liệu tham khảo
Để thực hiện luận án, trước hết tác giả dựa vào các bộ chính sử, các tài liệu thư tịch có thể kể đến như: các bộ sách địa lí và lịch sử, Đại Việt sử lược tác giả khuyết danh thời Trần; Dư địa chí (1435) của Nguyễn Trãi; Đại Việt sử ký toàn thư của
Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê; Đại Việt sử ký tục biên của Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Vũ Miên; Đại Việt thông sử (1759) và Kiến văn tiểu lục (1777) của Lê Quý Đôn; Đại Việt sử ký tiền biên (1800) và Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ; Lịch
đầu thời Minh Mệnh (1820-1841); Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại
Phan Thúc Trực; Quốc triều chính biên toát yếu (đầu thế kỷ XX) của Cao Xuân Dục, Để tìm hiểu về địa lý, cương vực và những thay đổi về địa giới hành chính của làng Cổ Định tác giả tham khảo các bộ địa lý học lịch sử như: Hoàng Việt nhất
Khánh địa dư chí (1886-1888) của Quốc sử quán triều Nguyễn; Sử học bị khảo của
Đặng Xuân Bảng; Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu; Bắc Thành địa
dư chí lược của Lê Chất Ngoài ra, tác giả còn tham khảo hệ thống bản đồ cổ như:
Nguyễn (triều Minh Mệnh, Tự Đức), Đây là nguồn sử liệu quan trọng ghi chép về làng Cổ Định dưới dạng các nhân vật, sự kiện lịch sử, địa danh, theo trình tự thời gian, đan xen trong các sự kiện lịch sử khác của các triều đại quân chủ Việt Nam
Trang 126
Vì vậy, trong quá trình thực hiện luận án tác giả chắt lọc, lựa chọn những tài liệu trực tiếp, hoặc gián tiếp liên quan để phục vụ các nội dung nghiên cứu của luận án
Tài liệu lưu trữ
Sách Đăng khoa lục Thanh Hóa (nguyên văn chữ Hán là 秋 比 題 名 記 Thu tỉ
đề danh ký), kí hiệu 78/ĐC lưu tại phòng Địa chí thư viện tỉnh Thanh Hóa Công trình
được biên soạn vào khoảng cuối năm 1875 đầu năm 1876, thống kê chi tiết và công phu về những người đỗ Tiến sĩ, Hương cống, Cử nhân của Thanh Hóa từ thế kỷ XI đến năm 1875 Đây là nguồn tài liệu quý để tác giả tìm hiểu về thành tựu khoa cử ở làng Cổ
Định thời kỳ trung đại Tập sách trên cùng với bộ sách Quốc triều hương khoa lục 國
朝 鄉 科 籙 của tác giả Cao Xuân Dục ghi chép về những người đỗ Hương cống, Cử nhân dưới triều Nguyễn từ năm 1807 đến kỳ thi cuối cùng năm 1919, đã thống kê tương đối đầy đủ, chi tiết về những người đỗ đạt ở làng Cổ Định
Cuốn Thanh Hóa tỉnh địa dư chí 清 化 省 地 輿 志, lưu tại phòng Địa chí Thư viện tỉnh Thanh Hóa ghi chép khá cụ thể về địa lí, lịch sử, khí hậu, điều kiện tự nhiên, phong tục, thổ sản, thành trì, đền miếu, và các đơn vị hành chính của Thanh Hóa Trong đó, có nhắc đến địa danh, sự kiện của làng Cổ Định, huyện Nông Cống (nay là huyện Triệu Sơn) Ngoài ra, các cuốn Thanh Hóa quan phong 清 化 觀 風,
động sản xuất, phong tục tập quán, địa danh núi, sông, tiêu biểu của xứ Thanh trong đó có địa danh Núi Nưa, Am Tiên làng Cổ Định
Tại trung tâm lưu trữ Quốc gia I, hiện lưu giữ cuốn Địa bạ xã Cổ Định 地 簿
社 古 定, thuộc tổng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, lập năm Minh
Mệnh thứ 15 (1834), với 62 trang, ký hiệu số 13965 Đây là nguồn tư liệu quan trọng được tác giả sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra của đề tài về sở hữu ruộng đất, cảnh quan làng xã như: ruộng đất nông nghiệp, đất đình, đất chùa, đất chợ, Ngoài ra, tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I tác giả đã sưu tầm được một số địa
bạ thuộc tổng Cổ Định, huyện Nông Cống dưới thời Nguyễn Đây là nguồn tài liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu tác giả so sánh, đối chiếu về tình hình sở hữu ruộng đất ở làng Cổ Định với một số làng xã trong khu vực
Tài liệu điền dã
Trang 137
Tư liệu thư tịch: làng Cổ Định có lịch sử hình thành sớm, là địa điển diễn ra nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử Trong tiến trình lịch sử ở thời kỳ nào làng cũng có người đỗ đạt, nhiều người ra làm quan và giữ các chức vụ quan trọng Do vậy, làng Cổ Định hiện còn nhiều các công trình lịch sử, văn hóa gồm: đình, đền, miếu, các nhà thờ họ, Trong đó, có 2 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia và 5 di tích được xếp hạng cấp Tỉnh Các di tích là nơi lưu giữ được nhiều tài liệu Hán Nôm như: văn bia, thần tích, sắc phong, các hoành phi, câu đối đây là nguồn tư liệu quan trọng có giá trị, phản ánh về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của làng
Gia phả của các dòng họ Lê Đình, Lê Bật, họ Doãn, Lê Sĩ, là nguồn tư liệu quan trọng được tác giả sưu tầm và sử dụng trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra của
đề tài về kết cấu gia đình, dòng họ và các nhân vật tiêu biểu ở làng Cổ Định
Lý lịch, hồ sơ di tích lịch sử - văn hóa gồm: Hồ sơ di tích quốc gia đền thờ
cung cấp những thông tin về quá trình hình thành, kiến trúc, giá trị nghệ thuật của các đình, đền, chùa, nghè, miếu ở làng Cổ Định, từ đó góp phần tìm hiểu về lịch sử và sinh
hoạt đời sống văn hóa của làng thông qua các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng
Tư liệu thư tịch Hán Nôm như: Địa bạ xã Cổ Định, văn bia tại đền thờ Lê Bật
Tứ, đền thờ Lê Thân, đền thờ họ Lê Sĩ, thần tích, sắc phong của dòng họ Doãn, họ
Lê Đình, Lê Đăng, các hoành phi, câu đối, hương ước,
Về tư liệu vật chất: Các di tích lịch sử, văn hóa như: đình, đền, chùa, miếu, từ đường của các dòng họ, các ngôi nhà cổ, giếng làng, được hình thành ở nhiều thời
kỳ lịch sử khác nhau, do vậy ở một khía cạnh nào đó phản ánh về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của làng quê Cổ Định trong tiến trình lịch sử
Làng Cổ Định còn là nơi lưu giữ nhiều truyền thuyết dân gian, ca dao, tục ngữ, vè, phản ánh về quá trình thành lập làng, địa danh sông núi và sinh hoạt đời sống văn hóa của nhân dân Tuy nhiên, nguồn tư liệu truyền thuyết dân gian, có nhiều dị bản,
do vậy trong quá trình sử dụng khi đưa vào nội dung của luận án, chúng tôi đã sẽ tiến hành kiểm chứng, so sánh đối chiếu với các nguồn tư liệu khác để đảm bảo độ chính xác và có giá trị tin cậy
Trang 148
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án sẽ góp thêm một công trình nghiên cứu về một làng xã cụ thể, tiêu biểu của người Việt ở Thanh Hóa nói riêng và làng xã Việt Nam nói chung Cổ Định là một trong những ngôi làng Việt cổ ở khu vực đồng bằng sông Mã cũng như trên cả nước,
do vậy kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần làm rõ hơn những đặc điểm chung
và như tính đa dạng, đặc thù của làng xã Việt Nam cổ truyền
Luận án cung cấp thêm một số tư liệu địa phương, góp phần bổ sung cho chính sử khi nghiên cứu về nhân vật, sự kiện lịch sử, giáo dục khoa cử, tôn giáo
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về làng xã Thanh Hóa trong lịch sử Công trình còn góp phần bổ sung tư liệu, làm rõ về địa danh tên chùa, tên nghè, những nhân vật lịch sử vốn vẫn còn tồn nghi,
từ đó phục vụ cho việc biên soạn lịch sử làng xã, giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho địa phương
Từ kết quả nghiên cứu của luận án, nhân dân làng Cổ Định thêm hiểu biết và
tự hào về lịch sử, các giá trị văn hóa của quê hương mình Từ đó, có những việc làm thiết thực góp phần vào việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương, đồng thời nhận ra những hạn chế tiêu cực để khắc phục trong công cuộc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận:
Nghiên cứu về làng xã Việt Nam đến nay không còn là chủ đề mới, nhưng không bao giờ cũ, bởi ngoài những đặc điểm chung thì mỗi làng xã đều có những đặc trưng kinh tế, xã hội và văn hóa riêng Vì vậy, luận án được hoàn thành sẽ góp phần củng cố thêm về mặt lý luận, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận khi nghiên cứu
về một làng xã cụ thể ở Việt Nam nói chung và làng xã xứ Thanh nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn:
Làng xã Việt Nam nói chung, làng Cổ Định nói riêng hiện nay đang có những
sự biến đổi, nhiều ngôi làng thuần nông, hay làng thủ công đến nay không còn được duy trì nữa Sự thay thế những cánh đồng lúa vốn là sinh kế nhiều đời của người nông dân, bằng những khu công nghiệp, khu chế xuất Nhiều ngôi đình, ngôi chùa vốn tồn tại đến hàng trăm năm, là nơi sinh họat văn hóa của cộng đồng làng xã, gắn bó với biết bao thế hệ, nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử, nhưng do thiếu nhận thức về các giá
trị lịch sử, văn hóa đã được nhân dân dễ dàng hạ giải và thay vào đó là một công trình
Trang 159
bê tông cốt thép, khang trang Kinh tế làng xã phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, các giá trị văn hóa vật chất, tinh thần ngày càng đầy đủ hơn, tuy nhiên bên cạnh đó làng xã cũng phát sinh nhiều vấn đề mới, sự thay đổi lối sống, nhiều giá trị thuần phong, mỹ tục không còn được coi trọng Vì vậy, luận án của tác giả góp phần quan trọng để người dân Cổ Định, chính quyền địa phương thêm hiểu biết về đặc trưng kinh tế, xã hội và văn hóa cổ truyền của làng xã mình, từ đó có những định hướng để bảo tồn và các giá trị truyền thống của làng xã, cũng như phát huy nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội của địa phương trong giai đoạn hiện nay
7 C ấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của Luận
án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án
Chương 2: Quá trình thành lập làng và hoạt động kinh tế
Chương 3: Tổ chức xã hội
Chương 4: Đời sống văn hóa
Trang 1610
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu về làng xã Việt Nam
Đến nay, các công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam của các tác giả nước
ngoài đã được công bố có thể kể đến như: Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài (1994)
của Alecxandre de Rhodes, Tập du ký mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài (2005) của Jean Baptiste Tavernier, Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 (Nxb Thế giới, tái bản, 2011) của tác giả Dampier William, Một chuyến du hành đến đến xứ Nam Hà (1792 - 1793), của J Barrow,… Đây là những công trình chủ yếu ghi chép theo dạng ký sự của các học giả nước ngoài về vùng đất Đàng Ngoài vào thế kỷ XVII, trên các lĩnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đương thời Do vậy, các công trình trên mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của làng xã Việt Nam và chưa phản ánh được những nét đặc trưng cụ thể hay nghiên cứu về một làng xã cụ thể
Từ nửa cuối thế kỷ XIX đến thập niên 40 của thế kỷ XX, Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp Để phục vụ cho công cuộc thực dân hóa, chính quyền đô
hộ đã cho triển khai nghiên cứu về các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), trong đó có một số công trình của các học giả Pháp đã được xuất bản
như: Tiểu luận về người Bắc Kỳ (1908) của Domautier Trong công trình này tác giả
cho biết đến năm 1724 hầu hết các nghề thủ công đã xuất hiện ở Việt Nam, cùng với đó tác giả đi sâu vào khảo tả về đời sống, phong tục, tập quán của người nông dân Bắc Kỳ Công trình Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ (1894) của P.Ory, Thành bang
nghiệp Đông Dương, Hà Nội 1832) của Y.Henry, Le problème escomomique
nghiên cứu chủ yếu về lĩnh vực nông nhiệp như: sở hữu ruộng đất, cây trồng và vấn
đề lao động phục vụ trong ngành nông nghiệp
Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu của người Pháp về đời sống kinh tế của người nông dân đầu thế kỷ XX là, Les Payns du Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, Paris, 1936) tác giả Pierre Gourou (Nguyễn Khắc Đạm, Đào Hùng, Nguyễn Hoàng Oanh dịch, xuất bản năm 2007), nghiên cứu một cách toàn diện về đời sống kinh tế - xã hội của người nông dân vùng đồng bằng châu thổ sông
Trang 1711
Hồng Các vấn đề được tác giả đặt ra cụ thể khi nghiên cứu về làng xã và đời sống nhân dân như: điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành làng xã, nhà cửa, dân số, hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Đây có thể xem
là công trình tiêu biểu của người Pháp nghiên cứu về đời sống người nông dân Với phương pháp, cách tiếp cận mới, tác giả giúp cho người đọc hiểu sâu hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân châu thổ Bắc Kỳ
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làng xã Việt Nam ít được các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu, nhưng vẫn có một số công trình tiêu biểu như: Hickey Gerld C: Village in Vietnam (Làng ở Việt Nam), Newhaven Yale University Press, 1964 Từ sau khi đất nước thống nhất năm 1975 đến năm 1986, một số công trình về làng xã của nước ngoài có thể kể đến như:
James C.Cott: The Moral Economy of Peasant (N ền kinh tế đạo đức của nông dân),
Newhaven Yale University Press, 1976; Samuel L.Popkin: The Rational Peasan
of California, Press, 1978; Neil Jamieson: The tradition Village in Vietnam (Làng
Từ sau năm 1986 nhiều công trình nghiên cứu và chương trình hợp tác nghiên cứu
giữa người Việt và các học giả nước ngoài về làng xã Việt Nam có thể kể đến như:
Công trình Lu ật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII (1994) của Insun Yu,
nghiên cứu về cấu trúc làng xã truyền thống của người Việt, trong đó tác giả tập trung giải quyết các mối quan hệ trong làng xã như: quan hệ gia đình, dòng họ và làng xã Một vấn đề được tác giả quan tâm là mối quan hệ giữa “phép nước” với “lệ làng”, từ đó lý giải tại sao trong làng xã luôn coi trọng lệ làng mà dân gian vẫn thường gọi “phép vua thua lệ làng” Công trình đã khai thác được nhiều nguồn tư liệu phong phú từ hương ước, văn bia, do vậy có giá trị tham khảo khi nghiên cứu
về làng xã Việt Nam
Công trình Làng Vi ệt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ (2007) của John
Kleinen, trước khi thực hiện nghiên cứu này tác giả đã nhiều lần đến tìm hiểu những ngôi làng ở Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến năm 1991, cuối cùng ông chọn làng Tơ một ngôi làng thuần nông nghiệp ở Bắc Bộ để nghiên cứu Bằng phương pháp khảo tả nhân học trên thực địa, tác giả đã nhận diện rõ những yếu tố khả biến và những yếu tố bất biến trong đời sống làng xã Những yếu tố bất biến đó
có những lúc chìm đi nhưng không bao giờ mất hẳn, mà luôn chờ cơ hội để nổi lên
Trang 1812
chiếm giữ vai trò chủ đạo, J Kleinen đã hướng nghiên cứu của mình vào mối quan
hệ thân tộc và vai trò của các dòng họ đối với sự thành đạt cá nhân, đời sống tinh thần và nghi lễ, tính tự trị và tính cố kết của làng,… Từ nghiên cứu trên, tác giả đặt làng xã Việt Nam trong bối cảnh hiện tại trước những thách thức mới về sự biến đổi trong tương lai, qua đó có những gợi ý cho việc xây dựng các chính sách phù hợp với đời sống làng xã trong giai đoạn hiện nay
Chương trình hợp tác nghiên cứu của người Việt với các học giả - tổ chức
nước ngoài có thể kể đến như: Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ
tác nghiên cứu giữa Pháp và Việt Nam về Nghiên cứu làng xã Việt Nam vùng
đồng bằng sông Hồng được tiến hành trong thời gian từ năm 1996 đến năm
1999 Công trình được nhóm tác giả lựa chọn 4 làng gồm: Tả Thanh Oai, Ninh Hiệp (thuộc Hà Nội), Mộ Trạch (Hải Dương) và làng Hay (Phú Thọ), nghiên cứu làng xã trên các phương diện như: cảnh quan, tình hình quản lý và sở hữu ruộng đất, cơ cấu kinh tế, kết cấu gia đình, dòng họ, các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng,… từ đó giúp cho người đọc có một cái nhìn đối sánh về những đặc trưng kinh tế, xã hội, văn hóa với các làng xã khác, đồng thời gợi mở thêm cho hướng nghiên cứu mới về làng xã Việt Nam
Chương trình nghiên cứu Việt - Nhật giữa Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa của Đại học Quốc gia Hà Nội với các học giả Nhật Bản, theo sáng kiến của GS.Yumio Sakurai (Đại học Tokyo, Nhật Bản), đã chọn làng Bách Cốc1 ở vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng Nội dung nghiên cứu một cách tổng thể các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của làng để từ đó đưa ra một cấu trúc mô hình làng, đơn vị hành chính nhỏ nhất nhưng lại có vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt Dự án kéo dài suốt 14 năm (từ 1994 đến 2008), thu hút 176 nhà khoa học từ 17 trường đại học của Nhật Bản cùng nhiều nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam trên các lĩnh vực Sử học, Dân tộc học, Văn hóa học, Tâm
lý học, Xã hội học, Khảo cổ học, Địa lý, Môi trường, Trong quá trình khảo sát, các nhà khoa học đã phát hiện nhiều tài liệu, dấu vết của các giai đoạn lịch sử từ thời Hùng Vương đến các triều đại phong kiến Việt Nam cùng hệ thống các di vật phong phú, các loại hình di sản văn hoá độc đáo như: Lăng mộ, văn bia, trống đồng,
1 Làng Bách Cốc, nay thuộc xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Trang 1913
đồ đá, các đạo sắc phong, thần tích, thần sắc, gia phả Kết quả nghiên cứu được thể hiện bằng 10 tập tư liệu dày dặn và đăng công bố bằng tiếng Nhật Đây là một xu thế nghiên cứu mới với cách tiếp cận liên ngành, đa ngành, qua đó nhận thức đầy đủ hơn về làng Việt cổ truyền
Đây là mảng đề tài đã và đang nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, qua các thời kỳ nhiều công trình đã được xuất bản như: Trước năm 1945 công trình
Việt Nam phong tục (1915) của Phan Kế Bính đã có những nghiên cứu chung nhất
về làng xã, sinh hoạt đời sống văn hóa, phong tục, tập quán của làng Việt; công trình Vấn đề dân cày (1937) của Qua Ninh, Vân Đình, lại trình bày một cách khái
quát về sở hữu ruộng đất, thuế khóa và đời sống của nhân dân trong các làng xã
Giai đoạn này còn có các công trình: Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào
Duy Anh; Sở hữu công ở Bắc Kỳ, góp phần nghiên cứu lịch sử pháp luật và kinh tế công điền công thổ nước An Nam (1939) của Vũ Văn Hiền, làng xã bắt đầu trở
thành đề tài nghiên cứu sôi nổi, trên nhiều lĩnh vực khác nhau về đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội
Sau năm 1945, có nhiều công trình nhiên cứu về làng xã Việt Nam tiếp tục
được công bố như: Xã thôn Việt Nam (1959) của Nguyễn Hồng Phong, Chế độ
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (1959) của Phan Huy Lê, Kinh tế Việt
trình của Viện kinh tế học Bộ công trình của tác giả Toan Ánh viết vào những
năm 60 của thế kỷ XX gồm 6 cuốn: Nếp cũ: Tín ngưỡng Việt Nam (hai quyển thượng, hạ), Hội hè đình đám (hai quyển thượng, hạ), Con người Việt Nam, Làng
xóm Việt Nam và Phong tục Việt Nam (tục thờ cúng tổ tiên) Tiếp đến là các công
trình Phong tục làng xóm Việt Nam (đất lề quê thói) (1968), của Nhất Thanh, Phong tục làng xóm Việt Nam (tái bản 2005), của Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu,
Bên cạnh làng xã Bắc Kỳ và Trung Kỳ, làng xã ở Miền Nam cũng đã được quan tâm nghiên cứu, các công trình ở thời kỳ này tập trung vào quá trình khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long, sự thành lập và phát triển của các thôn, ấp có thể
kể đến như: Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777 (1970) của Phan Khoang, Thoại
Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang (1972) của Nguyễn Văn Hầu, Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973) của Sơn Nam Đây có thể được xem là
những công trình được các nhà nghiên cứu về làng xã cổ truyền Việt Nam tham
Trang 2014
khảo nhiều Nội dung trình bày một cách đa dạng về đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa ở làng Việt trên các lĩnh vực cụ thể như: sở hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, đồng thời phản ánh về thiết chế quản lý làng xã, sinh hoặt văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của làng xã
Từ sau năm 1975, đất nước được thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng nền kinh tế và tiến lên chủ nghĩa xã hội, mảng đề tài về nông nghiệp, nông thôn và nông
dân càng được quan tâm nhiều hơn Trước hết phải kể đến hai tập Nông thôn Việt
Nam trong lịch sử do Viện Sử học chủ trì biên soạn (tập 1, 1977; tập 2, 1978) Công
trình có sự tham gia của nhiều chuyên gia nghiên cứu về làng xã, phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về làng xã từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đến các vấn đề
cụ thể như sở hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp hay vai trò của làng xã đối với công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân
tộc, Công trình: Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (1984) của Trần Từ;
Đình Hoa (cb); Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
(1994) của Phan Đại Doãn, Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (1996) của
Nguyễn Hải Kế, Hương ước và quản lý làng xã (1998) của Bùi Xuân Đính, Tìm về
cội nguồn, tập 1 (1998), tập 2 (1999) của Phan Huy Lê, Làng Việt Nam - một số vấn
đề kinh tế - xã hội (2001), Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử
(2004) đây là cụm công trình của Phan Đại Doãn, Tục lệ cổ truyền làng xã người
Việt (2006) do Đinh Khắc Thuân (cb); Hành trình tìm về làng Việt cổ truyền tập 1 (Các làng quê xứ Đoài) (2008) của Bùi Xuân Đính, Đây là những công trình
nghiên cứu một cách toàn diện nhất về làng xã Việt Nam, nội dung đã phản ánh những đặc trưng về kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Việt cổ truyền
Bên cạnh các nghiên cứu chung về làng xã Việt Nam còn có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể ở từng lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa như: Tìm hiểu chế độ
- XVIII (1983)) của Trương Hữu Quýnh, Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế
thư tịch Hán Nôm (1994) của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thủy lợi và mối quan hệ
Trang 2115
đồng (1998) của Diệp Đình Hoa, Về hương ước lệ làng (1998) của Lê Đức Tiết, Văn hóa làng dân gian vùng ven biển (2000) của Ngô Đức Thịnh, Chợ quê trong
(2001) của Vũ Ngọc Khánh, Hương ước làng xã Bắc Bộ Việt Nam với luật KanTo
(cb), Mông Ph ụ một làng ở đồng bằng sông Hồng (2003) do Nguyễn Tùng (cb),
Trần Thị Yến, Làng nghề truyền thống Việt Nam (2004) của Phạm Côn Sơn, Tìm lại
(cb), Làng ngh ề và những nghề thủ công truyền thống ở Bắc Giang (2010) của
Nguyễn Thu Minh và Trần Văn Lạng, Hương ước cổ làng xã Bắc Bộ (2010) của Vũ Duy Mền, Các công trình nghiên cứu trên đã tiến thêm một bước, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về làng xã trên các lĩnh vực cụ thể về đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa Trong lĩnh vực kinh tế với các nghề nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã được các tác giả đánh giá nhìn nhận ở mỗi làng xã có sự hiện diện khác nhau với những nét đặc trưng kinh tế riêng Trong làng xã hương ước giữ vai trò quan trọng, là cơ sở để cấu kết các thành phần dân cư trong cộng đồng, đồng thời là những quy chế, quy định của làng xã mà buộc các thành viên phải chấp hành, do vậy đây cũng là chủ đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu về làng xã bài viết Làng, liên
Hà Văn Tấn, bài viết đã hướng cho các nhà nghiên cứu một cách tiếp cận mới về phương pháp khi tìm hiểu về làng xã Bởi ở mỗi làng xã bên cạnh tính độc lập tương đối còn có mối quan hệ với các làng xã khác trong khu vực để tạo thành một
sợi dây kết nối các làng xã với nhau Tác giả Nguyễn Quang Ngọc với bài Đổi mới
cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu lịch sử làng xã Việt Nam, in trong Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, Nxb Thế giới, 2012, đã giúp các
Trang 2216
nhà nghiên cứu về làng xã nhận thức một cách đầy đủ hơn về đối tượng nghiên cứu của làng xã trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa Trong đó, đổi mới cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu về lịch sử làng xã Việt Nam là một vấn đề được đặt ra
để hướng các nhà nghiên cứu nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện và đa chiều
về làng xã Việt Nam
Ngoài sách chuyên khảo viết về làng xã còn phải kể đến các bài viết được
đăng trên tạp chí chuyên ngành, hội thảo quốc gia, quốc tế như: Về tài sản ruộng
đất của một số chức dịch trong làng xã thuộc huyện Từ Liêm vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 165/1975); Mấy nét phác thảo về
2 (194), 1980) của Nguyễn Đức Nghinh; Về tính chất sở hữu ruộng đất công làng
xã, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 4/1981) của Phan Đại Doãn; Về quy mô làng xã
người Việt ở Đồng bằng Bắc bộ vào cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, Tạp chí
Nghiên cứu Lịch sử (số 1 (202), 1982) của Nguyễn Đức Nghinh; Hương ước -
khoán ước trong làng xã, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (205), 1982) của Vũ
Duy Mền; Chợ làng trước cách mạng tháng Tám năm 1945 (1991), Tạp chí Dân tộc học (số 2/1991) của Nguyễn Đức Nghinh, Nguyễn Thị Hòa; Nguồn gốc và điều kiện
Lịch sử (số 1 (266), 1993) của Vũ Duy Mền; Thử phân tích yếu tố dòng họ trong
tộc học ( số 3/1994) của Vũ Văn Quân; Qua tư liệu địa phương bổ sung thêm chính
sử, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 1 (302), 1999) của Nguyễn Đức Nhuệ; Vài nét
địa bạ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 322 (2002) của Phan Phương Thảo; Làng
của Trần Quốc Vượng v.v Sự phong phú về hệ đề tài trên cho thấy nghiên cứu về làng xã trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa không chỉ được giới sử học quan tâm mà còn là mảng đề tài hay, cuốn hút được các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực: dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, với số lượng các công trình công bố chiếm một tỷ lệ khá lớn được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành đã góp phần làm sáng
tỏ hơn về các đặc trưng kinh tế, xã hội và văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử Làng xã còn là hệ đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, Luận án Tiến sĩ đã
được công bố như: Nguyễn Hồng Dương với Làng công giáo Lưu Phương (Ninh
Trang 2317
án Phó Tiến sĩ lịch sử; Bùi Thị Tân với Tình hình ruộng đất và phương thức sử
án Tiến sĩ Lịch sử; Vũ Văn Quân với Làng xã huyện Thanh Trì (ngoại thành Hà
QX 97.04, Hà Nội; Nguyễn Thế Hoàn với Cấu trúc văn hóa làng xã người Việt ở
với Làng nghề Cúc Bồ trong cảnh quan văn hóa xứ Đông (2004), Luận án Tiến sĩ Lịch sử; Phan Chí Thành với Dòng họ và đời sống làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ
qua tư liệu ở một số xã thuộc huyện Thạch Thất - Hà Tây (2006), Luận án Tiến sĩ
Lịch sử; Ngô Văn Cường với Kinh tế, xã hội và văn hóa làng Vân (xã Vân Hà,
Đinh Văn Viễn với Làng Côi Trì (Yên Mô, Ninh Bình) từ thành lập đến giữa thế kỷ
XIX (2019), Luận án Tiến sĩ Lịch sử, đây là những công trình nghiên cứu về một
số làng xã cụ thể ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, giúp tác giả có cái nhìn bao quát các nội dung cần triển khai liên quan đến luận án Bên cạnh đó tác giả còn so sánh làng Cổ Định với một số làng xã lân cận và một số làng xã tiêu biểu thuộc đồng bằng sông Mã, sông Hồng để làm nổi bật đối tượng nghiên cứu
Trên đây, tác giả mới chỉ dẫn ra một số công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam tiêu biểu qua các giai đoạn lịch sử Có thể thấy làng xã là một đề tài hấp dẫn thu hút được nhiều học giả nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Các công trình trên giúp chúng tôi có thêm những hiểu biết chung nhất về làng xã Việt Nam truyền thống, khi tiến hành thực hiện nghiên cứu ở một làng xã cụ thể
1.2 Tình hình nghiên cứu về Thanh Hóa và làng Cổ Định
1.1.2 Các công trình của tác giả nước ngoài
Nghiên cứu của các học giả nước ngoài về làng xã Thanh Hóa đến nay không nhiều, trong đó có thể kể đến như: cuốn L’ Annam (1906) do Hội đồng tư vấn hỗn
hợp thương mại và canh nông Trung Kỳ biên soạn, Tập san Buleetin des Amis du
1931) Hai công trình trên đã tập hợp được nhiều bài viết về lĩnh vực kinh tế đồn điền, thương mại, canh nông ở khu vực Bắc Trung Kỳ Ngoài ra, còn có một số bài viết về kinh tế nông nghiệp và các lĩnh vực hoạt động sản xuất nông nghiệp ở
Thanh Hóa được đăng tải như: Trồng lúa ở Thanh Hóa (1910), Cây bông ở Thanh
Trang 2418
Hóa (1910) của M.H Gilbert (được đăng tải trên Tập san Kinh tế Đông Dương),
Cuộc khủng hoảng của các đồn điền cà phê ở Thanh Hóa (1932) của
Cucherousset, D ẫn thủy nhập điền ở Thanh Hóa của Petavin, Đây là những công
trình nghiên cứu về ruộng đất, sản xuất nông nghiệp và các loại cây trồng cụ thể như lúa, bông, cà phê ở địa phương
Công trình được cho là nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống về Thanh Hóa
được công bố đó là: La Province de Thanh Hoa (tỉnh Thanh Hóa, 1918), của H.Le Breton, Le Thanh Hoa (tỉnh Thanh Hóa, 1929) của Ch.Robequain Đây là những công
trình nghiên cứu công phu, toàn diện về điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu, các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa như: đặc điểm dân cư, kinh tế nông nghiệp
và các nghề thủ công trong làng xã, hoạt động giao thương buôn bán, đặc điểm cư trú
và các cuộc di dân,v.v Công trình nghiên cứu trên có giá trị tham khảo tốt cho tác giả khi trình bày các vấn đề về đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa ở làng xã
Các công trình đã được xuất bản về lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa ở
Thanh Hóa nói chung như: Khởi nghĩa Lam Sơn và phong trào đấu tranh giải
phóng đất nước vào đầu thế kỷ XV (1969) của Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn; Tín ngưỡng làng xã (1994) của Lê Huy Trâm; Văn hoá làng Thanh Hóa (1996), Văn hoá làng và làng văn hoá xứ Thanh (1996) của Hoàng Anh Nhân; Hoằng Lộc - đất hiếu học (1996) của Bùi Khắc Việt, Nguyễn Đức Nhuệ; Những thắng cảnh xứ
(1999) do Ban Nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa biên soạn; Di tích và danh thắng
văn hóa dân gian Thanh Hóa (2001) của Lê Huy Trâm; Đất và người xứ Thanh
(2002) do Ban nghiên cứu biên soạn lịch sử Thanh Hoá biên soạn; Sông đào ở
kinh tế Thanh Hóa (2004) của Phạm Văn Đấu; Khảo sát văn hóa truyền thống làng
Cổ Bôn (2005) của Trần Thị Liên, Phạm Minh Trị; Lễ tục cổ truyền xứ Thanh
(2006), tập 1, 2 của Hoàng Anh Nhân; Làng nghề thủ công và làng khoa bảng thời
phong kiến ở đồng bằng sông Mã (2006) của Hà Mạnh Khoa; Danh nhân họ Lê tỉnh
sắc Thanh Hóa (2015) của Nguyễn Văn Hải (cb), Đây là những công trình nghiên
cứu ở các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa của làng xã Thanh Hóa Nguồn tư liệu
Trang 25đất và kinh tế nông nghiệp huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) nửa đầu thế kỷ XIX
(2002), Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Trịnh Thị Thủy; Truyền thống hiếu học ở làng
học của Vũ Đình Mạnh; Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc (Thanh Hóa), từ cuối
thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX (2008), Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị
Thúy; Cơ cấu tổ chức làng xã truyền thống của làng Việt ven biển huyện Hậu Lộc,
(2014), Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Mai Phương Ngọc.v.v Các công trình trên đã tiến thêm một bước về nghiên cứu làng xã ở Thanh Hóa, các vấn đề nghiên cứu khá
đa dạng gồm các vấn đề như: ruộng đất, giáo dục khoa cử, cơ cấu kinh tế, xã hội, văn hóa, qua đó giúp cho tác giả tiếp cận về phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu khi triển khai đề tài
Các công trình viết về Thanh Hóa có liên quan đến làng Cổ Định như: Thanh
Bố chính, Tổng đốc Thanh Hóa, (Bản phiên diễn của Nguyễn Duy Tiếu), Tủ sách cổ văn - Ủy ban dịch thuật, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên Đây là công trình nghiên cứu về tỉnh Thanh Hóa một cách tương đối đầy đủ về dân - phong - sĩ - khí cũng như thủy tú sơn kỳ của từng phủ, huyện và châu thuộc tỉnh Thanh Hóa, trong đó huyện Nông Cống được trình bày từ trang 63 đến trang 82 (thời kỳ này làng Cổ Định,
xã Tân Ninh chưa được tách về huyện Triệu Sơn) Công trình đã khái lược những nét
cơ bản nhất về huyện Nông Cống từ điều kiện tự nhiên, khí hậu, sông ngòi, núi, đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp
Bộ sách Lịch sử Thanh Hóa (gồm 5 tập) do Ban Nghiên cứu và Biên soạn
Lịch sử Thanh Hóa chủ trì biên soạn: tập 1 (1990), tập 2 (1994), tập 5 (1996), tập 3 (2002), tập 4 (2008) Đây là bộ sách lịch sử chuyên khảo, do tập thể các nhà nghiên cứu ở trung ương và địa phương biên soạn, nội dung trình bày theo lịch đại thời gian từ khởi thủy đến năm 1945 Công trình giúp tác giả có cái nhìn chung nhất về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Thanh Hóa từ thời Tiền sử, Sơ sử, trải qua
Trang 2620
các triều đại quân chủ Việt Nam đến năm 1945 Với bề dày lịch sử trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Thanh Hóa đã có nhiều đóng góp quan trọng trên các lĩnh kinh tế, xã hội và văn hóa, đặc biệt là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm làng Cổ Định nhiều người tham gia và có những đóng góp quan trọng, các địa danh như Núi Nưa, Đền Nưa, Am Tiên gắn với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm 248 chống giặc Ngô, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Chích chống giặc Minh đầu thế kỷ XV Làng Cổ Định còn là nơi sinh thành của nhiều hiền tài cho đất nước được ghi chép trong các bộ chính sử như: Doãn Tử Tư, Doãn Bang Hài, Doãn Bang Hiến, Doãn
Nỗ, Lê Lôi, Lê Bật Tứ, Lê Nhân Kiệt
Công trình Địa chí Thanh Hóa (gồm 5 tập, đã xuất bản được 4 tập) do Tỉnh ủy
HĐND - UBND tỉnh Thanh Hóa chủ trì biên soạn gồm: Tập I: Địa lí và lịch sử
(2000), tập III: Kinh tế (2000), tập II: Văn hóa và xã hội (2004), tập IV: Nhân vật
chí (2014) Đây là bộ công trình được nghiên cứu công phu trên tất cả các lĩnh vực lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Thanh Hóa Ở mỗi tập nội dung đều trình bày những nét đặc trưng tiêu biểu của từng huyện, xã, trong đó làng Cổ Định, xã Tân Ninh được ghi chép với những dẫn chứng như: địa danh Núi Nưa với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu như Am Tiên, Đền Nưa, Nghè Giáp, Đặc biệt, trọng bộ Địa chí Thanh Hóa, làng Cổ Định có 11 nhân vật được
ghi chép trong tập IV: Nhân vật chí là những người tiêu biểu có nhiều đóng góp đối
với lịch sử dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao như: lĩnh vực quân sự có Khai quốc công thần Lê Lôi, Doãn Nỗ, Lê Mạnh, Lê Tuấn Kiệt; lĩnh vực chính trị có Lê Thân, Lê Quát, Lê Giốc, Doãn Hy, Lê Bật Tứ; lĩnh vực ngoại giao có Doãn Tử Tư, Doãn Bang Hài, Doãn Bang Hiến
Công trình Hương ước Thanh Hóa (2000), do Viện nghiên cứu Văn hóa chủ trì
biên soạn, tập hợp những bản hương ước tiêu biểu trong các làng xã ở tỉnh Thanh Hóa dưới thời trung đại để giới thiệu Tuy nhiên, công trình có tính chất chọn mẫu do vậy
mỗi huyện thường có 1 đến 2 bản hương ước được giới thiệu và các bản hương ước này phần lớn được soạn dưới thời Nguyễn Hương ước làng Cổ Định chưa được giới thiệu ở công trình này, nhưng đây là nguồn tài liệu quý giúp tác giả có cái nhìn bao quát và đối sánh về lịch sử hình thành và diễn biến tên làng xã trong lịch sử
Năm 2000, Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hoá xuất bản công
trình Tên làng xã Thanh Hoá, được các tác giả khảo cứu và trình bày những nét
Trang 2721
khái lược về quá trình hình thành, sự thay đổi tên gọi, địa giới hành chính của làng
xã Trong đó làng Cổ Định đã được khảo cứu tên gọi qua các thời kỳ lịch sử, từ thời Nguyễn đến nay, còn các giai đoạn trước đó vẫn chưa được khảo cứu một cách đầy
đủ Tuy nhiên, đây là công trình có giá trị tham khảo tốt, giúp tác giả tra cứu trong quá trình triển khai thực hiện đề tài
Công trình Thanh Hóa di tích và thắng cảnh (2002) do Bảo tàng tỉnh Thanh
Hóa biên soạn, đã lựa chọn giới thiệu được những di tích lịch sử, văn hóa tiêu biển trên địa bàn tỉnh Trong đó, di tích và danh thắng Na Sơn - Động phủ, được trình bày là một thắng cảnh nổi bật của tỉnh Thanh Hóa, nơi đây còn gắn liền với nhiều
sự tích, câu chuyện huyền thoại của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu đầu thế kỷ thứ III Công trình Chùa xứ Thanh tập 2 (2016) do Giáo hội Phật giáo Việt Nam -
Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa biên soạn, đã xuất bản được 4 tập Trong đó, tập 2 giới thiệu về chùa Hoài Cảm (còn gọi là chùa Hoa Cải), một ngôi chùa cổ có lịch sử lâu đời, qua những hiện vật như: bát hương, chân đèn, khánh đá, cho biết niên đại chùa vào thế kỷ XVII Trong các thế kỷ XIX-XX ngôi chùa Hoài Cảm còn là nơi nuôi giấu nhiều người yêu nước tham gia phong trào Cần Vương và trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ của dân tộc
Các công trình nghiên cứu về huyện Triệu Sơn có nội dung liên quan đến làng
Cổ Định có thể kể đến như: Tư liệu Địa lý Nông Cống (1949), bản chép tay lưu tại Thư viện Viện Sử học, của Nguyễn Trinh Vực Nội dung chính tác giả khảo tả về điều kiện tự nhiên, các địa danh, sự kiện lịch sử của huyện Nông Cống thời kỳ làng
Cổ Định chưa được tách ra để nhập vào huyện Triệu Sơn
Công trình Danh nhân Tri ệu Sơn tập 2 (1993) do Ban Nghiên cứu và Biên
soạn lịch sử Thanh Hóa biên soạn, nội dung trình bày về thân thế sự nghiệp của các nhân vật lịch sử sinh ra và gắn bó với huyện Triệu Sơn Làng Cổ Định có nhiều nhân vật tiêu biểu trên các lĩnh vực khác nhau đã được nhóm tác giả lựa chọn trình bày ở công trình này như: Lê Lôi, Lê (Doãn) Nỗ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ buổi đầu, Khai quốc công thần của triều Lê sơ Trong suốt cuộc kháng chiến, hai ông lập được nhiều công lớn nên được vua Lê ban quốc tính Trên lĩnh vực văn hóa, ngoại giao dưới thời Lý, Trần và Lê Trung hưng làng Cổ Định có Doãn Tử Tư, Doãn Anh Khái, Doãn Bang Hiến, Lê Bật Tứ tham gia triều chính giữ những chức vụ quan trọng, được triều đình cử đi sứ phương Bắc
Trang 2822
Công trình Địa chí Nông Cống (1998) do Hoàng Anh Nhân, Lê Huy Trâm
biên soạn, tìm hiểu về huyện Nông Cống từ khởi thủy đến năm 1995 Làng Cổ Định trước năm 1964 thuộc về địa phận huyện Nông Cống, do vậy cuộc khởi nghĩa Bà Triệu ở vùng Núi Nưa, chùa Am Tiên đã được tác giả trình bày trong một không gian văn hóa - lịch sử huyện Nông Cống Nhiều phát hiện mới về khảo cổ học ở làng Cổ Định như thanh kiếm Núi Nưa, thạp đồng, chuông đồng, bát đĩa và nhiều
đồ dùng trong sinh hoặt khác cũng được nhóm tác giả trình bày, từ đó đã góp phần khẳng định về dấu tích địa bàn cư trú của con người Việt cổ ở vùng Núi Nưa và mối liên hệ với các làng xã khác trong khu vực huyện Nông Cống
Công trình Địa chí huyện Triệu Sơn (2010) do Huyện uỷ - HĐND - UBND
huyện Triệu Sơn chủ trì biên soạn, nội dung đã trình bày tất cả các lĩnh vực địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa và xã hội của huyện Triệu Sơn Đây là công trình địa chí của một huyện, chính vì vậy các nhân vật, sự kiện, địa danh, tiêu biểu ở các làng xã được nhóm tác giả trình bày khá cụ thể, chi tiết Trong đó, làng Cổ Định và vùng Núi Nưa được xác định là một trung tâm tụ cư sớm của con người Qua những dấu tích, hiện vật khảo cổ học được tìm thấy, hay thông qua các tên gọi của làng, các nhà nghiên cứu đều nhận định, từ thời Hùng Vương làng Cổ Định đã là địa bàn cư trú của con người, đây là một trong số ít những ngôi làng cổ có niên đại hàng nghìn năm trên cả nước Làng Cổ Định còn là địa bàn diễn ra cuộc khởi nghĩa Bà Triệu ở vùng Núi Nưa vào thế kỷ thứ III chống lại giặc Ngô Đến nay ở vùng Núi Nưa vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết, địa danh liên quan đến cuộc khởi nghĩa Bà Triệu và những đóng góp của nhân dân làng Cổ Định với cuộc khởi nghĩa Bước vào thời kỳ đất nước giành được quyền tự chủ, từ thời Lý, Trần đến triều Nguyễn làng Cổ Định đều có người đỗ đạt ra làm quan giữ những chức vụ quan trọng trong
triều đình, có nhiều đóng góp cho đất nước Công trình Địa chí huyện Triệu Sơn còn
giới thiệu một cách khái lược về các nhân vật tiêu biểu của làng Cổ Định trên các lĩnh vực như: Kháng chiến chống ngoại xâm có Lê Lôi, Doãn Nỗ (Khai quốc công thần của triều Lê sơ); các nhà khoa bảng như: Lê Thân, Lê Bật Tứ, Lê Nhân Kiệt, ; truyền thống bang giao như: Doãn Tử Tư, Doãn Anh Khái, Doãn Bang Hiến, Lê Bật Tứ, Những đóng góp của vùng đất, con người Cổ Định đã góp phần làm dày thêm truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống giáo dục khoa cử của huyện Triệu Sơn
Trang 2923
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về làng Cổ Định đã được xuất bản, các luận văn, bài tạp chí chuyên ngành có thể kể đến như: Danh nhân Thanh Hóa Lê
Bật Tứ (1562 - 1627), Kỷ yếu tọa đàm do UBND xã Tân Ninh tổ chức, xuất bản
năm 1997, tập hợp những bài viết của các nhà nghiên cứu ở địa phương am hiểu về làng Cổ Định và sự tham gia của các sở, ngành của tỉnh Thanh Hóa Tọa đàm đã góp phần làm rõ hơn về thân thế, sự nghiệp, và những đóng góp của danh nhân Lê Bật Tứ đối với đất nước và làng Cổ Định trong thời gian ông làm quan dưới triều Lê Trung hưng Tọa đàm còn là cơ sở để chính quyền địa phương, nhân dân làng Cổ Định có biện pháp để tôn vinh và bảo tồn những di sản liên quan đến danh nhân Lê Bật Tứ trong giai đoạn hiện nay
Công trình C ổ Định đất và người của tác giả Lê Bật Xuân, được biên soạn và
xuất bản năm 2008, đã bước đầu khái quát lịch sử hình thành làng xã, nguồn gốc dân cư, những nhân vật tiêu biểu và các nhà khoa bảng có nhiều đóng góp đối với làng Cổ Định Nội dung công trình chủ yếu trình bày các di tích lịch sử, văn hóa nhưng còn tản mạn, về phần nhân vật có sự đề cao vai trò, đóng góp của dòng họ Lê Bật, còn các nội dung như kết cấu xã hội, kinh tế của làng xã vẫn chưa được đề cập đến Đây được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu về làng Cổ Định, mặc dù các nguồn tư liệu được tác giả sử dụng còn hạn chế và cần phải kiểm chứng, nhưng nhiều nội dung được trình bày một cách công phu, do vậy có giá trị tham khảo tốt
Cuốn Thắng cảnh Ngàn Nưa với Đền Nưa và Am Tiên cổ tích được xuất bản
năm 2011, tái bản năm 2017 của Phạm Tấn, Phạm Tuấn, đã khảo cứu được các nguồn
tư liệu về lịch sử của di tích, đặc biệt là những dấu tích của cuộc khởi Bà Triệu và
những câu chuyện truyền thuyết liên quan đến Núi Nưa, đền Nưa và Am Tiên Hiện nay, cụm di tích trên xếp đã được hạng cấp quốc gia năm 2009 và UBND tỉnh Thanh Hóa quy hoạch để đầu tư, phát triển thành một khu du lịch tâm linh quốc gia Do vậy, nguồn tư liệu còn phục vụ cho công tác quảng bá, giới thiệu về di tích để du khách thập phương có thêm hiểu biết về lịch sử hình thành, các địa danh liên quan đến di tích
Đảng ủy - HĐND - UBND - MTTQ xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn tổ chức biên soạn và xuất bản năm 2017, công trình viết về quá trình hình thành và phát triển của Đảng bộ xã Tân Ninh từ năm 1930 đến năm 2015 với 316 trang Tuy nhiên, nhóm tác giả đã dành chương I với dung lượng 45 trang trình bày về lịch sử Cổ Định thời
kỳ trung đại, đến trước khi thành lập chi bộ đảng, nội dung giới thiệu khái quát về
Trang 3024
các đặc trưng của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của làng và nêu lên những truyền thống quý báu của địa phương đó là: truyền thống lao động cần cù sáng tạo, truyền thống hiếu học và truyền thống chống ngoại xâm
Công trình C ổ Định - Tân Ninh làng quê văn hiến (2017) do Lê Đình Cảnh (cb),
là tập hợp bài viết và thơ của nhiều tác giả viết về các lĩnh vực văn hóa, xã hội làng Cổ Định, xã Tân Ninh qua các giai đoạn lịch sử từ thời trung đại đến năm 2017 Trong đó, nhiều bài viết có giá trị tham khảo về lịch sử hình thành, kết cấu tổ chức làng xã và một
số nét đặc trưng văn hóa của làng Cổ Định trong tiến trình lịch sử như: Tác giả Lê Ngọc Thụ với bài Những ngôi đình xưa ở làng Cổ Định; tác giả Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Quốc Ninh với bài Nghè Giáp, Đền Nưa và lễ hội văn hóa tâm linh; tác giả Lê Hải với bài Một làng bốn người làm Chánh sứ Đây là những bài viết của các tác giả sinh ra và lớn lên ở Cổ Định, xuất thân từ nhà báo, nhà giáo, do vậy nguồn tư liệu có giá trị tin cậy, được tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thiện luận án
Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Thị Thu, Lịch sử văn hóa Cổ Định - Kẻ Nưa (xã Tân
Ninh, Triệu Sơn, Thanh Hóa từ khi thành lập đến năm 2009 (2009) Công trình
nghiên cứu của tác giả đã bước đầu khái quát về lịch sử hình thành làng xã, hệ thống di tích lịch sử, văn hóa đền, chùa, miếu, nghè đã được xếp hạng các cấp Trong khuôn khổ một luận văn nên nhiều vấn đề cụ thể của làng xã vẫn chưa được tác giả chuyên sâu nghiên cứu, đặc biệt vấn đề hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội do không nằm trong phạm vi của đề tài nên tác giả không đề cập tới Các nguồn tư liệu
mà tác giả tiếp cận chủ yếu là từ các nguồn sử liệu, nguồn tư liệu đã được công bố, chưa có nhiều tư liệu điền dã, các bản gia phả, sắc phong, địa bạ chưa được khai thác Trong các di tích được tác giả trình bày thì đền thờ Trần Khát Chân không có
sự phê phán nguồn tư liệu, dẫn đến nhầm lẫn nhân vật thờ, về tên Chùa Hoài Cảm (Chùa Hoa Cải) còn có nhiều các lý giải khác nhau, tác giả cần phải đưa ra tư liệu
để có sức thuyết phục Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thì đây là công trình chất lượng tốt, có giá trị tham khảo trong quá trình tác giả thực hiện luận án
Năm 2012, tác giả Đinh Xuân Lâm đã có bài Kẻ Nưa - Nông Cống (Thanh
Nghiên cứu Lịch sử, số 3 Bài viết đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học để chứng minh làng Cổ Định là một vùng đất cổ, có lịch sử hình thành lâu đời, với nhiều dòng họ khoa bảng, có truyền thống nhiều người được triều đình cử đi sứ Đặc biệt, qua gia phả dòng họ Doãn, ghi chép ở các bộ chính sử tác giả đã cung cấp thêm cứ liệu để
Trang 31Núi Nưa, Thanh Hóa,in trong sách Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2013;
Năm 2014, Hoàng Thị Vân, Trần Thị Xuân (Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa) có bài viết
Sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn, phát hiện tại vùng Núi Nưa, tỉnh Thanh Hóa, in
trong sách, Nh ững phát hiện mới về khảo cổ học năm 2014 Thông qua các hiện vật
khảo cổ được tìm thấy ở vùng Núi Nưa, làng Cổ Định gồm đồ đá và đồ đồng với tổng số có 30 tiêu bản, được các nhà khảo cổ học phân loại theo chức năng sử dụng bao gồm: công cụ sản xuất 15 tiêu bản (2 lưỡi cày, 6 rìu xéo, 6 rìu xòe, 1 đục), vũ khí 15 tiêu bản (2 giáo lớn, 3 giáo bé, 2 dao găm, 2 mũi lao), đồ dùng sinh hoạt 2 tiêu bản (1 thạp đồng, 1 bát đồng), nhạc khí 2 tiêu bản chuông loại nhỏ, đồ trang sức
2 tiêu bản (1 vòng tay và 1 trâm cài đầu) Các hiện vật được xác định thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn có niên đại từ 2500 - 2000 năm cách ngày nay Những phát hiện khảo cổ học trên đã góp phần củng cố thêm nguồn tư liệu để khẳng định làng Cổ Định từ thời Hùng Vương đã có dấu tích cư trú của con người và là địa bàn diễn ra
cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống giặc Ngô vào năm 248
1.3 N ội dung đƣợc luận án kế thừa và những vấn đề cần tiếp tục nghiên
c ứu, giải quyết
Những nội dung được luận án kế thừa
Nghiên cứu về làng xã Việt Nam là một mảng đề tài hấp dẫn dành được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Các nghiên cứu về làng xã khá
đa dạng gồm nhiều lĩnh vực khác nhau từ sử học, khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, đã tiếp cận ở các góc độ khác nhau Về kinh tế bao gồm: nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Trên lĩnh vực văn hóa gồm các nội dung như: Lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, hương ước, văn học, nghệ thuật, Về tổ chức xã hội bao gồm: Bộ máy quản lý làng xã, kết cấu dân cư, tổ chức gia đình và dòng họ, đã góp phần làm sáng tỏ hơn về đặc trưng kinh tế, tổ chức xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trong tiến trình lịch sử Các nghiên cứu về làng xã nói trên đã góp phần giúp tác giả củng cố thêm về phương pháp luận, cách tiếp cận khi triển khai nghiên cứu một đề tài cụ thể
Trang 32Cổ Định là một ngôi làng Việt cổ tiêu biểu ở khu vực đồng bằng sông Mã Do vậy, có những địa danh gắn với sự kiện lịch sử của dân tộc như Núi Nưa, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa Bà Triệu thế kỷ thứ III, trung tâm tu luyện của Đạo giáo ở vùng đồng bằng sông Mã Vùng đất Cổ Định còn là nơi sinh thành của nhiều nhân vật lịch sử, nhà ngoại giao, tiêu biểu như: Doãn Bang Hiến, Doãn Anh Khải, Doãn Tử
Tư, Lê Bật Tứ, Chính vì vậy, nhiều địa danh, nhân vật lịch sử ở làng Cổ Định được ghi chép ở các bộ chính sử, là nguồn sử liệu quan trọng được tác giả luận án tham khảo Từ những phát hiện khảo cổ học đầu tiên về thanh kiếm Núi Nưa và các hiện vật dùng trong sinh hoạt đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, thì trong những thập kỷ gần đây, nhiều nhà nghiên cứu giành sự quan tâm hơn đến làng Cổ Định Tiêu biểu như công trình Địa chí Thanh Hóa (Phần Nhân vật chí), trong đó đã giới thiệu một cách
khái lược về 11 nhân vật tiêu ở làng Cổ Định trong lịch sử Công trình Địa chí
và các nhân vật tiêu biểu làng Cổ Định Công trình Cổ Định đất và người của tác giả Lê Bật Xuân được xem nghiên cứu đầu tiên về làng Cổ Định, trong quá trình triển khai đề tài tác giả đã được kế thừa một số nội dung về quá trình thành lập làng, các nhân vật tiểu biểu, hệ thống di tích lịch sử đình, đền, chùa, miếu Luận văn Thạc
sỹ của tác giả Đỗ Thị Thu về lịch sử văn hóa của làng Cổ Định đã được tác giả luận
án kế thừa nội dung về quá trình lập làng và những nghiên cứu bước đầu về các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của làng xã Ngoài ra, còn phải kể đến các bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Thông báo Khảo cổ học, đã cung cấp cho tác giả nguồn tư liệu có giá trị tin cậy, để làm sáng tỏa hơn về thời điểm
Trang 33về làng xã Việt Nam trên tất cả các phương diện từ kinh tế, xã hội và văn hóa
Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Bên cạnh những thuận lợi về lý luận, phương pháp nghiên cứu và sự kế thừa các công trình của tác giả đi trước, luận án đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu Cụ thể khi nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa làng
Cổ Định đến đầu thế kỷ XX, tác giả nhận thấy cần phải tập trung giải quyết những
vấn đề cụ thể sau:
Về hoạt động kinh tế: Đây là vấn đề hoàn toàn mới và chưa được đặt ra ở bất
kỳ một công trình nghiên cứu nào Do vậy, thông qua nguồn tư liệu địa bạ tác giả sẽ dựng lại một bước tranh về tình hình ruộng đất, sản xuất nông nghiệp ở làng Cổ Định, từ đó so sánh với một số làng xã khác để thấy được vai trò của kinh tế nông nghiệp trong đời sống kinh tế của làng xã Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp với nghề đan lát và các nghề phụ tiêu biểu như nghề sơn tràng, nghề làm thuốc, nghề nấu rượu, tráng bánh đa, đã góp phần tạo ra việc làm tăng thêm thu nhập cho nhân dân Tuy nhiên, nguồn tư liệu thành văn viết về các nghề thủ công và nghề phụ ở làng Cổ Định là rất hạn chế, do vậy tác giả chủ yếu dựa vào tư liệu điền
dã, thực địa để giải quyết những vấn đề đặt ra của luận án Về thương nghiệp, nhiệm vụ của đề tài là làm rõ được quá trình hình thành chợ Nưa, chợ Đình làng Đài và hoạt động giao thương hàng hóa của làng Cổ Định với các làng xã trong vùng, từ đó thấy được vai trò của thương nghiệp đối với đời sống kinh tế nhân dân
Về tổ chức xã hội: Đây là nội dung chưa được một công trình nghiên cứu nào
đề cập đến một cách cụ thể Thông qua nguồn tư liệu gia phả của các dòng họ, địa
bạ làng Cổ Định, nhiệm vụ của đề tài là phác dựng được bộ máy quản lý làng xã qua các thời kỳ lịch sử Trong làng xã ngoài tổ chức bộ máy các quan viên, làng Cổ Định còn có các làng (hay còn gọi là các hội) làng Lão, làng Lý, làng Văn, làng Hộ, đây là các tổ chức xã hội chỉ có ở các làng Việt cổ truyền, nhưng nguồn tư liệu lại rất hạn chế Do vậy, tác giả chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu khảo sát, phỏng vấn hồi cố các cụ cao niên để giải quyết vấn đề đặt ra Ngoài ra, các nội dung như:
Trang 34Cụ thể luận án sẽ làm rõ hơn về các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở làng làng Cổ Định, trong đó tập trung khảo tả kỹ lưỡng về đạo tu tiên ở Núi Nưa được chép trong các bộ chính sử và dấu tích trên thực địa, để minh chứng cho một trung tâm tu luyện về Đạo giáo khu vực đồng bằng sông Mã ở vùng đất Cổ Định dưới thời trung đại Trong lĩnh vực giáo dục khoa cử ngoài những người đỗ đạt được chép trong các công trình khoa cử, tác giả luận án còn tham khảo nguồn tư liệu văn bia, câu đối, gia phả của các dòng họ để hệ thống một cách đầy đủ nhất những người đỗ đạt của làng Cổ Định dưới thời trung đại Về các di tích lịch sử văn hóa, đền, chùa đến nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về tên gọi, nhân vật thờ như: Nghè Giáp, Chùa Hoài Cảm, ở luận án này tác giả sẽ khai thác nguồn tư liệu chính
sử, kết hợp với nguồn tư liệu địa phương để làm rõ các vấn đề đặt ra
Làng xã là chủ đề hấp dẫn thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước ở các lĩnh vực khác nhau quan tâm Nhiều công trình đã được công bố là nguồn tài liệu quý cho các nhà nghiên cứu về làng xã, những người làm công tác
hoạch định chính sách trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của làng xã trong giai đoạn hiện nay
Trong những thập niên vừa qua nghiên cứu về làng xã nói chung là phong phú, đa dạng, phản ảnh được nhiều mặt về đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của nông thôn Việt Nam truyền thống Nhiều công trình nghiên cứu về làng xã cụ thể trên cả nước, bước đầu đáp ứng được đòi hỏi của công cuộc xây dựng nông thôn mới “truyền thống
và hiện đại” trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu về những làng xã cụ thể là vấn đề rất cần thiết của nhiều ngành khoa học trong đó có Sử học Làng Cổ Định là một ngôi làng Việt cổ ở khu vực đồng bằng sông Mã, nhiều địa danh, nhân vật, sự kiện lịch sử của làng được các bộ chính sử ghi chép Bên
cạnh đó, nhiều địa danh, nhân vật, di tích tiêu biểu của làng xã làng Cổ Định đã
Trang 3529
được trình bày trong các công trình lịch sử, địa chí, danh thắng của huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Các công trình sách, luận văn, bài tạp chí đã được công bố đã góp phần làm sáng tỏ hơn về một số vấn đề kinh tế, xã hội và văn hóa làng làng Cổ Định Tuy nhiên, những nghiên cứu trên vẫn mang tính chất đơn lẻ, không có tính
hệ thống, nhiều nguồn tư liệu văn bia, thần tích, thần sắc, gia phả ở các di tích, trong các dòng họ, nguồn tư liệu địa bạ ở trung tâm lưu trữ vẫn chưa được khai thác, bởi vậy một số vấn đề đã được đặt ra nhưng vẫn chưa được giải quyết Do vậy, việc nghiên cứu cách toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa làng Cổ Định đến đầu thế kỷ XX là một việc làm cần thiết không chỉ có giá trị về khoa học
mà còn có giá trị thực tiễn
Trang 3630
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
2.1 V ị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Làng Cổ Định nằm ở vị trí thuộc vĩ tuyến 19o 40” vĩ độ bắc và 105o kinh độ đông thuộc địa hình trung du tây nam Thanh Hoá3 Phía đông nam dựa lưng vào Núi Nưa hùng vĩ, trên đỉnh núi là di tích Am Tiên được mệnh danh là trong 3 huyệt đạo của đất nước4 Từ đỉnh núi nhìn về phía đông nam làng Cổ Định là huyện Nông
Cống và nhìn qua phía tây là huyện Như Thanh Nằm ở vị trí giao điểm giữa 3 huyện Triệu Sơn, Nông Cống và Như Thanh nên người dân trong vùng thường ví von câu “một tiếng gà gáy 3 huyện cùng nghe” là ở đây Làng Cổ Định thuộc về
phía cực nam của huyện Triệu Sơn, phía bắc giáp xã Thái Hoà, phía đông giáp xã Đồng Lợi, cùng huyện Triệu Sơn; Phía tây giáp xã Xuân Du và Mậu Lâm, huyện Như Thanh; phía nam giáp xã Tân Thọ, huyện Nông Cống
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đất đai, địa hình: Triệu Sơn là một huyện có dạng địa hình đồng bằng bán sơn
địa thuộc phía tây nam của châu thổ sông Mã, sông Chu của tỉnh Thanh Hóa, nằm
3 Theo bản đồ địa giới hành chính xã Tân Ninh
4 Tương truyền Việt Nam có 3 huyệt đạo thiêng gồm: Huyệt đạo ở núi Đá Chông (Ba Vì, Hà Nội),
ở núi Bà Đen (Tây Ninh) và huyệt đạo trên đỉnh Núi Nưa, làng Cổ Định (Triệu Sơn, Thanh Hóa)
Trang 3731
tiếp giáp với các huyện Đông Sơn, Như Thanh, Nông Cống, Thọ Xuân tạo thành 2 dạng địa hình cơ bản là: Địa hình trung du - miền núi (chiếm 30,3%) và đồng bằng (chiếm 69,7%) Căn cứ vào dạng địa hình trên làng Cổ Định, xã Tân Ninh được các nhà khoa học xếp vào dạng địa hình trung du - miền núi, nơi có vị trí cao nhất ở đồng bằng xứ Thanh là đỉnh Núi Nưa với độ cao 538m so với mực nước biển [105]
Địa bạ xã Cổ Định đầu thế kỷ XIX cho biết về diện tích các loại ruộng đất công
tư điền thổ của xã Cổ Định như sau: Ruộng công tư [công tư điền thổ] các hạng tổng cộng 742.2.2.1 (742 mẫu 2 sào 2 thước 1 tấc), (ngoài ra đất các hạng đưa vào khoản khác tổng cộng 45.6.6.5) Trong đó ruộng tư [tư điền] 599.1.2.1; Đất tư xứ Sang Na 143.1; Đất thổ trạch viên cư5 của bản xã, đất xứ Sang Na 30.9; Đất Thần từ Phật tự6
2.3.1.5; Đất thổ mộ địa xứ Đồng Núi một khoảnh 3.8.8.5; Gò đất bỏ hoang xứ Đồng Tràng một khoảnh 7.6.6.5; Chợ nhỏ xứ Đồng Tràng một khoảnh 9.5 [48]
Thống kê diện tích tự nhiên của làng Cổ Định, xã Tân Ninh năm 2015 là 2.109,19 ha trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 568,02 ha, đất lâm nghiệp (đồi núi) 782,4 ha, đất nuôi trồng thủy sản 110,06 ha, đất ở 141,71 ha, đất chuyên dùng 282,67 ha, còn lại là các loại đất khác [13, tr 11] Con số thống kê trên cho thấy về diện tích tự nhiên của làng Cổ Định đến năm 2015, so với đầu thế kỷ XIX tăng lên
gấp 2,8 lần thông qua quá trình khai khẩn ruộng đất hoang của nhân dân Dân cư chủ yếu sinh sống và làm nhà dọc hai bên bờ dòng sông Lãng Giang Làng Cổ Định nằm tiếp giáp với các huyện đồng bằng, trung du và miền núi nên hình thành hai dạng địa hình cơ bản:
Dạng địa hình đồi núi: Phía tây của làng Cổ Định là dãy Núi Nưa (còn gọi là
Na Sơn) đây là ngọn núi cao nhất ở đồng bằng phía tây tỉnh Thanh Hoá7, trên đỉnh núi là di tích thắng cảnh chùa Am Tiên Núi Nưa chạy dài theo hướng bắc - nam với những ngọn núi cao, sườn dốc và thoải dần về phía đông là vùng đồng bằng Theo các nhà địa chất Núi Nưa gồm các loại đá: Dunit, hafbungit và serpentinit, là loại đá quý hiếm tạo ra quặng dưới dạng sa khoáng Trong lòng núi còn có quặng Crômit
5 Thổ trạch viên cư: Tức đất dựng nhà ở, vườn
6 Thần từ Phật tự: Đền Thần, chùa Phật, chỉ ruộng đất các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng
7 Núi Nưa: Nay thuộc địa bàn của 3 huyện Triệu Sơn, Nông Cống và Như Thanh Dãy núi có chiều dài khoảng 20km và được xem như một bức tường thành tự nhiên ở phía tây đồng bằng Thanh Hoá Phần tiếp giáp huyện Triệu Sơn gồm các xã Thái Hoà, Tân Ninh, Vân Sơn, đỉnh cao nhất thuộc địa phận làng Cổ Định cho nên từ lâu dãy Núi Nưa đã được xem là gạch nối giữa đồng bằng với trung
du xứ Thanh
Trang 3832
với trữ lượng lớn và nơi duy nhất trên cả nước có loại quặng quý hiếm này Trong các bộ chính sử, Núi Nưa được ghi chép gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc Trong mục Sông núi Thanh Hoá sách Nguyễn Trãi toàn tập có ghi: “Na, Tùng
và Lương ở về Thanh Hoá, Na, Tùng là hai tên núi, Lương là tên sông” [178, tr 300] Núi Na, tức Na Sơn, còn gọi là Núi Nưa Núi Tùng, tức Tùng Sơn, nay thuộc
xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, còn sông Lương tức là sông Lương Giang, ngày nay còn gọi là sông Chu Cuối thời Trần, đầu thời Lê, Lương Giang là tên một huyện của trấn Thanh Hoá vì có sông này chảy qua Núi Nưa làng Cổ Định còn là nơi “Bà
nơi hò hẹn của nhiều tao nhân mặc khách Họ đến với Núi Nưa để lấy cảm hứng thi vịnh, để thổ lộ tâm trạng [141, tr 88] Thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ vì có cảm tình nồng nàn với Núi Nưa nên đã để lại những bài thơ như: Bài Na Sơn ca (bài ca về núi Na);
triều Nguyễn cũng ghi chép với nội dung như trên [137, tr 307]
Núi Nưa còn được tác giả Nguyễn Dữ miêu tả là một khu tiên cảnh với cảnh sắc đẹp và thơ mộng Trong đó có một ngọn núi cao chót vót, tên gọi là núi Na Núi có động, dài mà hẹp, hiểm trở mà quạnh hiu, bụi trần không bén tới [174, tr 263] Trên độ cao hơn 500m, nhìn về bốn phía cảnh sắc xứ Thanh bao la hiện ra lúc tỏ, lúc mờ như một bức tranh sơn thuỷ lung linh sắc màu, biến hoá huyền ảo Từ đỉnh núi có thể nhìn thấy vùng đất huyện Thường Xuân, Lang Chánh, xa hơn là biển Sầm Sơn Không chỉ vậy Núi Nưa còn là nơi hội tụ của hồn thiêng sông núi, quê hương của truyền thuyết người khổng lồ gánh núi, xẻ đồi, Tu Nưa đấu với Tu Vồm,…
Địa hình đồng bằng: Cổ Định là vùng trồng lúa trọng điểm của huyện, có độ cao trung bình là 10m so với mực nước biển Đất chủ yếu là các loại phù sa cổ, được bồi đắp bởi các hệ thống sông Chu, sông Mã, sông Lãng Giang Gần chân núi
là các thung lũng với hệ thống mau8, hồ Nằm ở sườn núi là các đất bạc màu, dễ bị rửa trôi Ngoài ra, còn có nhóm đất được hình thành từ đá Serpentin ở những nơi có địa hình cao, độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng, thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày và cây lâm nghiệp Nhìn chung ở khu vực đồng bằng của làng địa hình tương đối da dạng, trải qua hàng ngàn năm với sức lao động cần cù của nhân
8 Mau: T heo các gọi của địa phương có thể hiểu đây là khu đồng trũng
Trang 3933
dân, khiến cho đồng ruộng có thể canh tác được từ 2 đến 3 vụ trong năm, thường là
2 vụ trồng lúa và 1 vụ trồng màu như: Ngô, khoai, lạc, đậu
sông Nhơm hay sông nhà Lê Sông bắt nguồn từ rừng núi Hàm Đôn - huyện Như Xuân, chảy theo hướng tây bắc - đông nam, dọc theo chân Núi Nưa về huyện Nông Cống, khi đến địa điểm Vua Bà nhập với sông Hoàng để cùng chảy vào sông Yên tại ngã ba Yên Sở Đoạn sông chảy trên địa bàn huyện Triệu Sơn, Nông Cống có tên là sông Lãng Giang, khi qua Cầu Quan (thuộc làng Kiều Bi, xã Trung Chính, huyện Nông Cống) được gọi là sông Cầu Quan [77, tr 51-52] Sông chảy theo chân Núi Nưa làng Cổ Định, qua các xã Minh Nông, An Nông, Ninh Hòa9, Tân Phúc, Trung Chính, Tế Nông, rồi hợp lưu với sông Hoàng Giang [187, tr 3] Làng Cổ Định nằm trong vùng có lượng mưa lớn, khi đến mùa mưa nước trên Núi Nưa đổ xuống, nên mực nước sông lên rất nhanh và thường gây lũ lớn Do vậy, sông Lãng Giang có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của làng Cổ Định
và các vùng lân cận, nhất là thoát lũ vào mùa mưa, cung cấp nước vào mùa khô hạn Trên địa bàn Cổ Định còn có sông Hón dài khoảng 3km, nằm giáp với xã Đồng Lợi, sông chảy theo hướng tây bắc - đông nam và chày vào sông Hoàng Giang Hệ
thống sông này có tác dụng thoát lũ và cấp nước cho sản xuất nông nghiệpp của các xã như: Tân Ninh, Minh Châu, An Nông, Vân Sơn, Nông Trường, Tiến Nông, Khuyến Nông, Đồng Lợi (huyện Triệu Sơn) xuống xã Tân Phúc (huyện Nông Cống) Sông Hón còn là địa danh gắn liền với sự tích “Núi Quảy, sông Cày” ở làng Cổ Định
Ngoài các dòng sông trên làng Cổ Định còn có kênh Bái Thượng10 được chia làm hai nhánh, chảy vào phía đông (gọi là Kênh Nam) và phía tây của làng, từ đó chảy sang xã Tân Thọ (huyện Nông Cống) Sát chân dãy Núi Nưa là hệ thống các kênh rạch tự nhiên bao gồm các khe suối, mau, hồ, như: Khe Ba Động, Mau Bãi Tráng, Mau Sở, Mau Đan Lồ,… các kênh rạch tự nhiên này đều bắt nguồn từ Núi Nưa chảy ra hoà vào dòng sông Lãng Giang rồi đổ ra biển
với độ ẩm lớn và thời tiết có sự thay đổi giữa các mùa Tuy nhiên, mỗi vùng Bắc - Trung - Nam lại có những đặc điểm riêng, hay ở cùng một tỉnh nhưng do địa hình
9 Ninh Hòa (nay là làng Cổ Định)
10 Kênh Bái Thượng, thuộc huyện Thường Xuân, có tác dụng cấp nước sản xuất nông nghiệp cho các huyện trung du và đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa
Trang 4034
khác nhau cũng có sự phân biệt rõ rệt Trong đó, khí hậu Thanh Hoá mang đặc điểm: Tháng Giêng, tháng 2, gió đông bắc, khí trời lạnh; tháng 3, tháng 4, khí nóng bắt đầu sinh, tháng 5 và tháng 6 gió nồm bắt đầu thổi mạnh, phần nhiều nóng nực; tháng 7, tháng 8 có gió tây nam, thường xuất hiện mưa rào, bão lũ lớn; khoảng thu sang đông, sau khi sấm rạp, thường có gió lạnh hoặc mưa dầm, lại hay có bão nhỏ, tục ngữ nói: “tháng 9 bão rươi tháng 10 bão cá”; tháng 11 và tháng 12 gió bấc, trời rét [137, tr 280]
Với khí hậu trên, nghề làm ruộng ở Thanh Hóa được chia làm các vùng, nơi gần núi hoặc gần biển mỗi năm cấy được một vụ vào tháng 4 tháng 5 đến mùa thu thì gặt Còn khu vực đồng bằng, mỗi năm cấy được hai mùa, ruộng cao cấy vào tháng 6, gặt vào tháng 10, ruộng trũng cấy vào tháng Chạp, gặt vào tháng 5 Lại có bãi ruộng cấy vào tháng 3 tháng 4, gặt vào tháng 7 tháng 8, gọi là lúa cạn [137, tr 280-281]
Theo tác giả Charles Robequain trong công trình Tỉnh Thanh Hóa, khí hậu Thanh Hóa có đặc trưng: Nhiệt độ trung bình năm đạt 24o3 độ và được chia làm 2 chu
kỳ ngắn dài khác nhau Nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 10, trung bình nhiệt độ tăng
từ 2401 đến 2907 độ (tháng 6, tháng 7), để rồi hạ bớt xuống 2505 độ, trong thời kỳ mát (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) không vượt quá 220 độ và lại giảm nữa, xuống
1709 độ vào tháng 1 Tổng lượng mưa trong năm 1.725mml, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm khoảng 85% lượng nước mưa trong năm, từ tháng 11 đến tháng
4 là mùa khô ước chừng 15% lượng nước mưa trong năm Khí hậu được chia làm 4 mùa: Mùa lạnh trời khô hanh vào tháng 11, tháng 12 và tháng 1 Một mùa mát nhưng rất ẩm ướt, bầu trời xám xịt, sương rơi ướt áo, mưa phùn dai dẳng vào tháng 2, tháng
3 Một mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 7 với những trận mưa dông bất ngờ, ngắt quãng những ngày nắng hạn Mùa nắng từ tháng 8 đến tháng 10 hay mưa và mưa to [33, tr 17-19]
Khí hậu huyện Triệu Sơn được chia thành hai tiểu vùng, thuộc khí hậu trung
du và đồng bằng, trong đó làng Cổ Định mang đặc điểm tiểu vùng trung du Mùa hè tương đối nóng, gió tây khô nóng, mưa nhiều Trung tâm mưa là khu vực Núi Nưa dẫn đến lụt úng cho vùng chân núi Mùa đông tương đối lạnh và rất ẩm vào thời kỳ cuối mùa Thiên tai cần đề phòng là mưa lớn, gió tây khô nóng, rét đậm, sương muối, sương giá, gió bão, giông tố và lũ lụt Tổng nhiệt độ trung bình năm là: 8300-
8500oC, tổng lượng mưa trung bình năm là 1900-2200mm, mùa mưa kéo dài từ