1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Thực hành Nguội – Hàn cơ bản (Nghề: Công nghệ ô tô - Trình độ: Cao đẳng) - Trường CĐ Cơ điện-Xây dựng và Nông lâm Trung bộ

69 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Thực hành Nguội – Hàn cơ bản (Nghề: Công nghệ ô tô - Trình độ: Cao đẳng)
Trường học Trường CĐ Cơ điện-Xây dựng và Nông lâm Trung bộ
Chuyên ngành Công nghệ ô tô
Thể loại Giáo trình thực hành
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Thực hành Nguội – Hàn cơ bản (Nghề: Công nghệ ô tô - Trình độ: Cao đẳng) - Trường CĐ Cơ điện-Xây dựng và Nông...

Trang 1

Yêu cầu của người học

Nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực nghề Cắt gọt kim loại

Cung cấp lao động kỹ thuật cho Doanh nghiệp và xuất khẩu lao động Dưới sự chỉ đạo của Ban Giám Hiệu nhà trường trong thời gian qua các giáo viên trong khoa kỉ thuật sắt đã dành thời gian tập trung biên soạn giáo trình, cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm tạo điều kiện cho học sinh hiểu biết kiến thức

và rèn luyện kỹ năng nghề

Nhóm biên soạn đã vận dụng sáng tạo vào việc biên soạn giáo trình các mô đun chuyên môn nguội cơ bản Nội dung giáo trình có thể đáp ứng để đào tạo cho từng cấp trình độ và có tính liên thông cho 3 cấp trình độ ( Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề)

Mặt khác nội dung của mô đun phải đạt được các tiêu chí quan trọng theo mục tiêu, hướng tới đạt chuẩn quốc tế cho ngành Cắt gọt kim loại Vì thế giáo trình

mô đun đã bao gồm các nội dung như sau:

Trình độ kiến thức

Kỹ năng thực hành

Tính quy trình trong công nghiệp

Năng lực người học và tư duy về mô đun được đào tạo ứng dụng trong thực tiễn

Phẩm chất văn hóa nghề được đào tạo

Trong quá trình biên soạn giáo trình, Khoa đã tham khảo ý kiến từ các Doanh nghệp trong nước, giáo trình của các trường Đại học, học viện Nhóm biên soạn đã hết sức cố gắng để giáo trình đạt được chất lượng tốt nhất Trong quá trình biên soạn không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ các đồng nghiệp, các bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 2

Trang 3

CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN Tên mô đun: Thực hành Nguội – Hàn cơ bản

Mã mô đun: MĐ 14

Thời gian thực hiện mô đun: 45 giờ; (Lý thuyết: 8 giờ; Thực hành, thí

nghiệm, thảo luận, bài tập: 35 giờ; Kiểm tra 2 giờ)

I Vị trí, tính chất của mô đun:

- Vị trí: Môn học được bố trí giảng dạy sau môn Vẽ kỹ thuật, Vật liệu cơ khí, trước các môn học chuyên môn

- Tính chất: Mô đun cơ sở nghề bắt buộc

II Mục tiêu mô đun:

-Về kiến thức

+Trình bày được các phương pháp dũa mặp phẳng, khoan lỗ, cắt ren +Trình bày được phương pháp tính toán các chế độ hàn, phương pháp điều chỉnh máy trước khi hàn

-Về kỹ năng

+ Dũa được các mặt phẳng, khoan lỗ, cắt ren đúng yêu cầu kỹ thuật

+ Thực hiện được các kỹ năng Hàn điện hồ quang, Hàn hơi, Hàn thiếc cơ bản

-Về năng lực tự chủ và trách nhiệm

+ Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong thực hành hàn - nguội cơ bản

+ Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, chính xác của học viên

III Nội dung mô đun:

1 Nội dung tổng quát và phân phối thời gian:

Số

TT Tên các bài trong mô đun

Thời gian Tổng

số

Lý thuyết

Thực hành

Kiểm tra*

Trang 3

Thân giũa

Chuôi giũa

Hình 4.1: Giũa nguội

BÀI 1: GIŨA MẶT PHẲNG

I Khái niệm chung:

Giũa kim loại là một phương pháp gia công cơ bản của nghề Nguội, bằng cách dùng dụng cụ là giũa dùng để hớt đi một lượng dư mỏng trên phôi, tạo cho chi tiết có hình dáng, kích thước, độ bóng và độ chính xác bề mặt theo yêu cầu

Trong nghề Nguội, nếu đục là phương pháp gia công thô thì giũa là phương pháp gia công nguội bán tinh hoặc tinh, độ chính xác và kích thước có thể đạt tới 0,05mm khi giũa bán tinh và 0,01mm khi giũa tinh

Giũa chỉ gia công được các kim loại mềm chưa qua nhiệt luyện, các bề mặt chai cứng hoặc đã qua tôi không thể gia công được bằng phương pháp giũa

II Cấu tạo, công dụng và phân loại giũa:

1 Cấu tạo:

Gồm có 2 phần: Chuôi giũa và thân giũa

- Chuôi giũa: có chiều dài bằng 1/4 – 1/5 chiều dài toàn bộ của giũa Chuôi

giũa nhỏ thon dần về một phía, cuối phần chuôi giũa được làm nhọn để cắm vào cán

gỗ Tiết diện phần chuôi giũa là hình nhiều cạnh để giũa không bị xoay tròn trong lỗ của cán gỗ

- Thân giũa: có chiều dài gấp 3 – 4 lần chiều dài chuôi Thân thường có tiết

diện dẹt, vuông, tròn, tam giác, …với các kích thước khác nhau tùy theo kích thước

và hình dạng của chi tiết gia công

Trên các bề mặt bao quanh thân giũa người ta tạo các đường răng theo một quy luật nhất định, mỗi răng là một lưỡi cắt

Giũa được chế tạo bằng thép cácbon dụng cụ Sau khi đã tạo nên được các đường răng, người ta đem nhiệt luyện phần thân để răng có độ cứng nhất định

2 Phân loại giũa:

Phân loại thép tính chất công nghệ: căn cứ vào hình dạng tiết diện thân giũa,

nó quyết định tính chất công nghệ gia công của từng loại giũa

- Giũa dẹt: có tiết diện hình chữ nhật, dùng để gia công các mặt phẳng ngoài,

các mặt phẳng trong lỗ có góc 900

- Giũa vuông: có tiết diện hình vuông, dùng để gia công các lỗ hình vuông

hoặc các chi tiết có rãnh vuông

- Giũa tam giác: có tiết diện là tam giác đều, dùng để gia công các lỗ tam

giác đều, các rãnh có góc 600

- Giũa bán nguyệt (giũa lòng mo): có tiết diện là một phần hình tròn, có một

mặt phẳng một mặt cong, dùng để gia công các mặt cong có bán kính cong lớn

- Giũa tròn: có tiết diện hình tròn, toàn bộ thân giũa là hình nón cụt góc công

nhỏ; dùng để gia công các lỗ tròn, các rãnh có đáy là ½ hình tròn

Trang 4

Trang 5

Hình 4.2: Các loại giũa

Hình 4.3: Chọn chiều cao êtô

- Giũa hình thoi: có tiết diện hình thoi, dùng để giũa các rãnh răng, các góc

hẹp góc nhọn

III Phương pháp giũa kim loại:

1 Chọn chiều cao êtô:

Chọn chiều cao của êtô dựa trên nguyên tắc khi

người thợ đặt giũa lên mặt vật gia công, giũa ở vị trí

nằm ngang thì cánh tay trên và dưới hợp với nhau 1

góc 900

2 Cách cầm giũa:

Giũa dẹt Giũa vuông

Giũa tam giác

Giũa hình thoi

Giũa bán nguyệt (giũa lòng mo)

Giũa hình lưỡi dao

Trang 5

Hình 4.4: Cách cầm giũa a) Tay phải

b) Tay trái

- Tay phải cầm lấy đầu mút của cán giũa sao cho phần ô van của cán tựa vào lòng bàn tay, ngón tay cái đặt dọc theo đường trục của cán, các ngón tay còn lại ôm chặt lấy cán giũa vào lòng bàn tay (hình 4.4a)

- Đặt lòng bàn tay trái ngang qua giũa và cách đầu mút giũa một khoảng 20–30mm, các đầu ngón tay hơi cong nhưng không được bỏ thỏng xuống Cách đặt tay trái như trên là dùng khi giũa phá, khi cần gia công tinh hoặc sử dụng giũa nhỏ, ngắn thì các ngón tay trái nắm lấy mũi giũa(ngón tay cái nằm trên, các ngón tay còn lại ôm lấy mặt dười của giũa)

3 Vị trí và tư thế đứng giũa:

Hinh 4.5: Vị trí và tư thế đứng giũa

Khi giũa, người thợ đứng trước êtô, lệch về phía bên trái (với người thợ thuận tay trái thì đứng ngược lại) Đứng thẳng và ổn định, người quay vào êtô để tạo thành 1 góc 450 so với đường trục của êtô Vị trí của 2 bàn chân được xác định như sau

- Bàn chân trái hợp với êtô 1 góc 450

- Bàn chân phải hợp với bàn chân trái 1 góc khoảng 60 – 700

- Đường thẳng đi qua tâm 2 gót chân hợp với tâm dọc êtô 1 góc 450

- Khoảng cách giữa 2 gót chân khoảng 200 – 300 mm

4 Điều khiển lực ấn khi giũa:

Khi giũa ta cho giũa chuyển động đều ở vị trí nằm ngang Khi chiều dài thân giũa đã lướt hết bề mặt vật gia công, kéo giũa về vị trí ban đầu rồi sau đó lai đẩy giũa Mỗi lần đẩy giũa đi và kéo lùi giũa về chỉ thực hiện 1 lần cắt nên ta gọi là một

45 0

Trang 6

Trong hành trình cắt ta cần điều khiển lực ấn của 2 tay như sau:

Hình 4.6: Phân bố lực ấn khi giũa

- Chỉ ấn lên giũa trong chuyển động tịnh tiến lên phía trước (hành trình cắt), phải đảm bảo sự phân bố đều lực ấn 2 tay lên giũa

- Lúc bắt đầu hành trình làm việc, lực ấn giũa chủ yếu do tay trái thực hiện, còn tay phải giữ cho giũa ở vị trí cân bằng (hình 4.6a)

- Ở khoảng giữa của hành trình làm việc, lực ấn giũa của 2 tay phải bằng nhau (hình 4.6b)

- Ở cuối hành trình làm việc, lực ấn lên giũa chủ yếu do tay phải thực hiện, còn tay trái giữ giũa ở vị trí cân bằng (hình 4.6c)

Chuyển động của giũa được thực hiện với nhịp độ 40 – 60 lần/phút Trong chuyển động của giũa về sau (hành trình chạy không) không được nâng giũa lên khỏi mặt vật gia công Tốc độ khi kéo giũa về nhanh hơn khi đẩy giũa để giảm bớt thời gian của 1 đường cắt

Như vậy, trong quá trình cắt lực ấn của 2 tay luông thay đổi Lực ấn tay phải

từ nhẹ đến mạnh dần còn lực ấn của tay trái từ mạnh giảm dần tới nhỏ nhất Cuối hành trình cắt cho giũa tiến chậm dần, tránh để giũa lao quá, chuôi giũa chạm vào êtô, đầu giũa sẽ chúi xuống làm vẹt một phía cạnh vật gia công và ngón tay dễ bị thương

5 Phương pháp giũa:

Để giũa được toàn bộ bề mặt vật gia công và để cho đường giũa sau không chồng lên đường giũa trước thì khi kéo giũa về phải vừa kéo vừa di chuyển giũa sang ngang một khoảng bằng ½ bề rộng bản giũa

Người ta thường áp dụng 2 phương pháp giũa sau:

a) Giũa dọc: đường cắt của giũa theo đường tâm giũa nghĩa là giũa chỉ có

một hướng tiến thẳng Người ta có thể cho giũa tiến thẳng song song với cạnh vật hoặc hợp với cạnh vật 1 góc bất kỳ

Trang 7

a)

Hình 4.6: Phương pháp giũa a) Phương pháp giũa dọc b) Phương pháp giũa chéo 45 0

- Đổi tư thế, giũa chéo 450, giũa từ trái sang phải trong một số lần cắt

- Đổi sang giũa dọc chéo 450 theo chiều ngược lai

- Đổi sang giũa song song với cạnh vật nhưng giũa từ trái sang phải trong một số lần cắt

Cứ thực hiện như thế ta sẽ giũa được mặt phẳng, sau đó kiểm tra độ phẳng bằng thước, nếu chưa phẳng ta tiếp tục giũa đến khi đạt yêu cầu

IV Các dạng sai hỏng thường gặp, nguyên nhân và cách khắc phục:

1 Mặt gia công không phẳng, các cạnh và các góc bị vẹt, kích thước hụt làm cho chi tiết không đạt yêu cầu

- Nguyên nhân: do thao tác giũa chưa đúng, tay giũa chưa thuần thục, khi giũa không điều khiển được lực ấn của hai tay nên không giữ thăng bằng được giũa trên mặt gia công hoặc do cẩu thả không chú ý đến kỹ thuật giũa cơ bản

- Cách khắc phục:

+ Thực hiện đúng thao tác giũa kim loại

+ Khi giũa phải luôn giữ giũa thăng bằng trên bề mặt vật gia công

2 Bề mặt vật gia công bị xây sát nhiều, độ bóng thấp

- Nguyên nhân: do giũa bị dắt phoi

- Cách khắc phục: cần phải phát hiện sớm và lau sạch phoi

V Quy tắc an toàn khi giũa:

- Bàn nguội phải được kê đệm chắc chắn

- Không được làm việc với giũa không có cán hoặc cán bị nút vỡ

- Không được làm sạch mạt sắt bằng tay hay thổi bằng miệng, phải lau sạch bằng khăn hay chổi

Trang 8

BÀI 6: CƯA KIM LOẠI

I Khái niệm chung:

Cưa kim loại là một phương pháp gia công thô nhằm chia phôi ra thành từng phần, cắt bỏ phần thừa hoặc tạo thành các hình dáng nhất định trên chi tiết Tuỳ theo hình dáng và kích thước của chi tiết gia công mà người ta cắt những tấm hay thanh kim loại thành những phôi có kích thước gần giống chi tiết gia công hoặc tạo thành hình dáng nhất định

II Cấu tạo và phân loại cưa cầm tay:

- Khung cưa: là một thanh thép dẹt hoặc ống, uốn thành hình chữ U để mắc

lưỡi cưa Khung cưa có 2 loại: khung cưa liền và khung cưa rời

- Lưỡi cưa: được chế tạo bằng thép cacbon dụng cụ Y10, Y12, hoặc bằng

thép gió, thép hợp kim dụng cụ Hai đầu lưỡi cưa có 2 lỗ nhỏ để luồn chốt khi mắc lên khung cưa Lưỡi cưa có 2 loại: loại 1 hàng răng và loại 2 hàng răng

Hình 5.1: a) Cấu tạo cưa cầm tay

b) Khung cưa liền; c) Khung cưa rời

III Phương pháp cưa kim loại:

1 Lắp lưỡi cưa vào khung cưa:

- Lắp 2 lỗ trên lưỡi cưa vào 2 chốt trên khung cưa sao cho hướng răng của lưỡi cưa hướng về phía trước

- Vặn chặt đai ốc tai hồng để kéo căng lưỡi cưa

- Kiểm tra độ căng của lưỡi cưa bằng cách ấn nhẹ ngón tay vào từng bên của lưỡi cưa, độ căng của lưỡi cưa được coi là đạt yêu cầu nếu lưỡi cưa không bị uốn cong

2 Tư thế cưa kim loại:

- Định vị chiều cao êtô theo tầm vóc người: cầm cưa đặt lên bề mặt vật gia công đã kẹp trên êtô, góc giữa cánh tay trên và dưới của tay phải bằng 900 (hình 5.2a)

- Các ngón tay phải nắm lấy tay cầm của cưa, ngón tay cái đặt lên phía trên, các ngón tay còn lại nắm lấy tay cầm từ phía dưới (hình 5.2c)

- Tay trái giữ lấy không cưa, bốn ngón tay nắm lấy đai ốc tai hồng, ngón tay cái đặt lên chỗ khung cưa lắp với lưỡi cưa (hình 5.2d)

3 Thao tác cưa:

Trang 9

- Khi cưa, hành trình đẩy cưa đi là hành trình cắt gọt, hành trình kéo cưa về

là hành trình chạy không Tư thế đứng sao cho khi đẩy cưa đi gần hết hành trình thì cánh tay trái gần như duỗi thẳng Cánh tay trên và dưới của tay phải gần như vuông góc Khi kéo cưa về, cánh tay dưới của tay phải vẫn nằm ngang

- Khi đẩy cưa đi, tay trái vừa ấn vừa đẩy, tay phải vừa ấn vừa đẩy đồng thời giữ cưa thăng bằng ở phương nằm ngang, tốc độ đẩy từ từ

- Khi kéo cưa về, tay trái không ấn nữa, tay phải rút nhanh cưa về Khung cưa luôn ở vị trí nằm ngang

- Hành trình đẩy cưa đi và kéo cưa về phải nhịp nhàng, tốc độ trung bình khoảng 60 lần/phút

4 Công nghệ cưa tay:

 Cưa cây thép tròn hoặc vuông:

- Cây thép được kẹp trên êtô, nếu cưa căt đứt thì mạch cưa phải nằm ngoài

má kẹp êtô, đường cưa cách má kẹp êtô một khoảng 15 – 20mm

- Dùng giũa tam giác vạch dấu chiều sau từ 1,5 – 2mm

- Cưa một mạch cho tới khi đứt hẳn, khi gần đứt thì cho lưỡi cưa ăn nhẹ Thường dùng khi cắt vật nhỏ

- Cưa hai mạch: cưa đứt khoảng ½ kích thước đường kính hay chiều dày vật cắt, lật mặt đối diện cũng cưa đứt như trên, sau đó đặt cây

thép lên hai miếng kê dùng đệm và búa đập gãy Phương

pháp này thường dùng để cắt những cây thép có tiết diện

vừa

- Với cây thép có tiết diện lớn nên tiến hành cưa 4

mặt, mỗi mặt cưa đứt từ 1/3 đến ¼ đường kính hay chiều

dày vật cắt sau đó đặt lên miếng kê và đập gãy

 Cưa các loại tôn mỏng:

Trang 10

Trang 11

Khi cưa các tấm tôn mỏng, kể tránh gãy lưỡi cưa cần phải tuân theo quy trình công nghệ sau:

- Chuẩn bị các phiến gỗ phẳng

- Kẹp chặt một hay một số phôi giữa các phiến gỗ

- Gá các phiến gỗ cùng với phôi lên êtô

- Cắt phôi cùng các phiến gỗ

 Cưa các mạch dài:

Khi cưa các mạch dài mà mạch cưa lớn hơn khoảng cách từ lưỡi cưa đến khung cưa Nếu mắc lưỡi cưa như bình thường thì khi lưỡi cưa ăn sâu xuống sẽ bị chạm vào khung cưa Vì vậy phải mắc lưỡi cưa để mặt bên lưỡi vuông góc với mạch khung cưa, khi cưa khung nằm ngang (hình 5.3)

bẻ nhẹ ống cho gãy

IV Các dạng sai hỏng thường gặp, nguyên nhân và cách khắc phục:

1 Mạch cưa bị lệnh: do cưa chưa vững, trong quá trình cưa khung cưa bị

nghiêng ngả làm cho lưỡi cưa ăn lệch mạch hoặc do điều chỉnh lưỡi cưa chưa căng Nếu mạch cưa bị lệnh ta bỏ mạch cưa đó và tạo mạch cưa mới ở phía sau

2 Răng cưa bị mẻ: do cưa không đúng kỹ thuật như khi cưa tôn mỏng không

kẹp giữa hai miếng gỗ, khi cưa ống không cưa vòng quanh, …

Răng cưa bị mẻ phải ngừng cưa, lấy cưa ra khỏi mạch cưa và lấy hết răng gãy nằm trong mạch cưa, đem mài lại 2 – 3 răng ở đoạn gãy và tiếp tục cưa

V An toàn khi cưa tay:

Để đảm bảo cho người và thiết bị, khi cưa cần thực hiện các biện pháp an toàn sau:

- Phải giữ gìn tay không bị sây sát do các rìa sắc khi làm việc

- Lưỡi cưa lắp vào khung cưa căng vừa phải, nếu quá chùng lưỡi cưa dễ bị tuột, nếu quá căng lưỡi cưa dễ bị gãy bung ra gây nguy hiểm cho người thao tác

- Phải kẹp thật chặt phôi trên êtô

- Không dùng cưa không có chuôi

- Khi cưa gần đứt cần đưa nhẹ tay, dùng 1 tay đỡ vật để tránh vật rơi vào chân

- Không dùng miệng thổi vào mạch cưa vì như vậy phoi dễ bay vào mắt

BÀI 2: KHOAN LỖ

I Khái niệm chung:

Lỗ hình trụ được sử dụng rất phổ biến trong các chi tiết máy Gia công lỗ là một khâu rất quan trọng, để gia công lỗ theo yêu cầu tăng dần độ chính xác ta dùng khoan, khoét, doa, … Trong đó khoan là một phương pháp gia công lỗ rất phổ biến

Trang 11

Khoan lỗ là phương pháp gia công lỗ trên vật đặc bằng dụng cụ là mũi khoan Khoan lỗ thường dùng trong công việc nguội để khoan các lỗ lắp bulông, vít

để kẹp các chi tiết với nhau; khoan lỗ trước khi cắt ren (tarô), …

Khoan rộng lỗ là khoan mở rộng lỗ có sẵn bằng mũi khoan có đường kính lớn hơn

Khoan là một phương pháp gia công thô vì độ chính xác và độ nhẵn bóng bề mặt sau khi khoan thấp, muốn tăng độ chính xác và độ nhẵn bóng của lỗ khoan người ta dùng phương pháp khoét và doa lỗ

II Máy khoan và phụ tùng đồ gá dùng trên máy khoan:

1 Máy khoan bàn: (hình 6.1a)

Là loại máy khoan nhỏ, đơn giản, đặt trên bàn nguội dùng để gia công các lỗ nhỏ có đường kính d = 10 – 12mm Máy khoan bàn thường được dùng trong sữa chữa

Trục chính máy khoan đứng quay xung quanh trục thẳng đứng cố định, dùng

để gia công những chi tiết nhỏ và trung bình, đường kính trung bình ≤ 50mm Trong quá trình gia công trục chính mang mũi khoan quay, phôi phải dịch chuyển sao cho

lỗ cần khoan trùng với tâm mũi khoan

3 Máy khoan cần: (hình 6.1c)

Dùng để gia công nhiều lỗ trên 1 chi tiết lớn, khó gá trên các loại máy khoan khác Đầu trục chính của máy khoan cần có thể di chuyển trên cần một phạm vi nhất định, cần được quay quanh 1 trục thẳng đứng, cố định 1 góc 180 – 3600 và di

Trang 12

Trang 13

chuyển lên xuống dọc trục Việc định tâm lỗ khoan được thực hiện trên máy, tức là vật đứng yên tại chỗ, người thợ điều chỉnh, di chuyển mũi khoan tới tâm lỗ vật gia công

4 Máy khoan nhiều trục:

Một ụ khoan được lắp nhiều mũi khoan cùng làm việc theo 1 chế độ Máy dùng trong sản xuất hàng loạt

5 Các phụ tùng, đồ gá dùng trên máy khoan:

a) Côn moóc tiêu chuẩn

Để việc lắp mũi khoan lên trục máy khoan được dễ dàng và chính xác người

ta chế tạo lỗ trục chính và chuôi mũi khoan theo tiêu chuẩn, tức là có kích thước và hình dạng nhất định là côn moóc tiêu chuẩn

Côn moóc là loại công lắp để truyền lực, có góc côn nhỏ và độ côn lớn

Người ta chia kích thước đường kính mũi khoan từ bé đến lớn thành 7 nhóm Mỗi nhóm phần đuôi được chế tạo được chế tạo theo kích thước và độ côn nhất định, các nhóm được đánh số côn từ 0 ÷ 6

Ví dụ: Mũi khoan có đường kính 40mm Tra bảng ta thấy phần chuôi côn

moóc số 4 Kich thước lớn nhất của lỗ côn d = 31,267mm, kích thước nhỏ nhất của

Ví dụ:Máy khoan đứng k125 khoan được lỗ khoan lớn nhất D= 25mm thì lỗ trục chính là côn moóc số 3

b) Dụng cụ để tháo lắp mũi khoan:

Hình 6.2:

Trang 13

a) Cách lắp mũi khoan

b) Bạc côn

- Đối với mũi khoan chuôi côn: Khi phần côn của mũi khoan và côn của lỗ

trục chính cùng một số côn moóc thì người ta lắp trực tiếp mũi khoan vào lỗ trục chính máy khoan Khi lắp mũi khoan, tay trái nắm đầu trục chính, tay phải cầm mũi khoan xoay mũi khoan sao cho phần đuôi bẹt hướng về chỗ phía lỗ hình bầu dục trên trục máy Lao mạnh mũi khoan vào lỗ trục chính theo chiều hình mũi tên (hình 6.2a), sao cho đuôi bẹt lọt vào rãnh ở đáy lỗ trục chính

Khi phần côn mũi khoan không cùng số côn moóc với côn trục chính người

ta chế tạo sẵn các loại bạc côn (hình 6.2b) với côn ngoài lớn hơn côn trong, côn ngoài của bạc cùng số côn với trục chính, còn côn trong cùng số côn với côn mũi khoan Muốn lắp mũi khoan vào máy, trước hết lắp chuôi mũi khoan vào bạc côn sau đó lắp bạc côn cùng mũi khoan vào trục chính máy

Chú ý: Chỉ dùng bạc côn cho những trường hợp độ côn mũi khoan nhỏ hơn

độ côn trục chính, trường hợp ngược lại không lắp được

Muốn tháo mũi khoan chuôi côn khỏi lỗ trục chính, người ta dùng một dụng

cụ có hình cái nêm (hình 6.3a) Luồn miếng chêm qua lỗ ngang trục chính để chiều vát hướng xuống phía dưới, tay trái cầm mũi khoan, tay phải cầm búa đóng nhẹ vào chêm, mũi khoan sẽ dời khỏi lỗ trục chính Cũng có thể dùng miếng chêm có đuôi cầm để bẩy mũi khoan rời khỏi lỗ trục chính (hình 6.3b)

Hình 6.3: Dụng cụ dùng tháo lắp mũi khoan

- Đối với mũi khoan có đuôi hình trụ: thường mũi

khoan có đường kính nhỏ (d<12mm), nên người ta thường

dùng các loại bầu kẹp để giữ chặt được mũi khoan trên máy,

trong đó bầu kẹp 3 vấu tự định tâm thường sử dụng nhất

(hình 6.4) Khi lắp mũi khoan vào đầu cặp 3 vấu cần chú ý

để cho mặt đầu của đuôi mũi khoan chạm vào miếng đỡ

hoặc vào mặt đầu của trục chính, không được lơ lửng, bởi vì

lực dọc trục khi khoan sẽ đẩy mũi khoan tụt sâu vào đầu

cặp Nếu khoan điều chỉnh theo cữ hãm sẽ gây nên sai số

chiều dài lỗ

Hình 6.4: Bầu kẹp 3 vấu tự

Trang 14

Trang 15

c) Dụng cụ để cặp giữ vật gia công

Phân tích lực cắt khi khoan, ta nhận thấy rằng lực dọc trục có tác dụng ấn chặt chi tiết xuống bàn máy đồng thời mô men xoắn có tác dụng làm quay vật gia công, do đó khi khoan cần phải có những dụng cụ để cặp giữ vật ở vị trí cố định Căn cứ vào hình dạng chi tiết, vị trí lỗ khoan để chọn dụng cụ gá để gá lắp nhanh, thuận tiện và khoan chính xác Khi khoan những lỗ có đường kính nhỏ <10mm trên những vật nhỏ trọng lượng không quá 10kg, người ta đặt chi tiết lên miếng đỡ và giữ vật bằng ê tô tay Khi khoan lỗ có đường kính lớn, phải gá vật trên những dụng

cụ ê tô máy (hình 6.5), khối V, bích bu lông và các dụng cụ chuyên dùng khác

III Mũi khoan:

1 Cấu tạo chung:

Hình 6.6: Cấu tạo chung mũi khoan ruột gà a) Chuôi hình trụ b) Chuôi côn c) Góc mài sắc mũi khoan

Vật liệu chế tạo thường là các loại thép tốt: CD100A, CD120A hoặc thép hợp kim dụng dụng cụ như 9XC, P19, P18…

Kết cấu chung của mũi khoan gồm 3 phần: Chuôi, cổ và bộ phận công tác (hình 6.6)

- Phần chuôi : Là phần lắp vào lỗ của trục chính máy khoan để truyền lực từ

trục máy khoan cho mũi khoan, nhờ bộ phận này mà mũi khoan dễ lắp đồng tâm với trục máy Chuôi mũi khoan có thể là chuôi trụ hoặc hình côn, với đường kính mũi khoan lớn thường làm chuôi hình côn, với đường kính mũi khoan nhỏ (<12mm) thường làm chuôi hình trụ

- Phần cổ: Là phần nối tiếp giữa phần chuôi phần công tác, phần này chỉ có

tác dụng khi chế tạo mũi khoan, người ta khắc ký hiệu mũi khoan (đường kính, vật liệu, nơi sản xuất)

- Phần công tác: gồm phần trụ định hướng và phần cắt

+ Phần trụ định hướng: có tác dụng định hướng mũi khoan khi làm việc, nó còn là phần dự trữ khi mài lại phần cắt đã mòn

Cổ

Trang 15

+ Phần cắt: gồm hai lưỡi cắt chính, một lưỡi cắt ngang và hai lưỡi cắt phụ Phần mặt côn xoắn còn lại của đầu cắt gọi là mặt sau chính của lưỡi cắt chính, mặt rãnh xoắn gọi là mặt trước Lưỡi cắt chính của mũi khoan là giao tuyến giữa mặt sau chính và mặt trước Lưỡi cắt phụ là đường xoắn chạy dọc cạnh viền của mũi khoan

2 Các loại mũi khoan:

- Mũi khoan ruột gà: còn gọi là mũi khoan xoắn, loại này được dùng phổ biến nhất, chuôi của mũi khoan có 2 loại: chuôi côn và chuôi trụ tròn Mũi khoan xoắn có tác dụng để tạo lỗ mới và mở rộng lỗ

- Mũi khoan bẹt: cấu tạo tương tự như mũi khoan ruột gà, chỉ khác ở phần định hướng bẹt, vì vậy không có rãnh xoắn ốc để thoát phoi, hai cạnh bên có thể làm song song hoặc côn ngược 2 – 3% để giảm ma sát với thành lỗ Đặc điểm của mũi khoan là đơn giản, dễ chế tạo nhưng lỗ khoan kém chính xác

- Mũi khoan tâm: là loại chuyên dùng để khoan tâm, nó chỉ có công dụng là khoan lỗ ở mặt đầu những chi tiết trục

- Mũi khoan tổ hợp: là một loại dụng cụ cắt liên hợp, cùng một lúc làm được nhiều công việc khác nhau

IV Phương pháp khoan:

1 Các công việc chuẩn bị và điều chỉnh trước khi khoan:

a Các công việc chuẩn bị trên chi tiết cần khoan:

Công việc đầu tiên là lấy dấu xác định vị trí lỗ khoan trên chi tiết, căn cứ vào kích thước ghi trên bản vẽ để xác định vị trí tâm lỗ khoan, dùng mũi chấm dấu đánh dấu tâm lỗ Nếu trên chi tiết cần khoan nhiều lỗ nằm một hoặc nhiều mặt phẳng, thì cần chú ý đến vị trí đến các lỗ

Sau khi lấy dấu, xác định xem chi tiết có cần kẹp chặt hay không, nếu phải

gá kẹp, dụng cụ gá phải chọn sao cho phù hợp với hình dạng chi tiết, thao tác nhanh đảm bảo chính xác Với chi tiết cần khoan nhiều lỗ, xác định thứ tự khoan các lỗ để quyết định việc gá đặt Sau khi gá đặt chi tiết xong kiểm tra lại và điều chỉnh vị trí vật gá thật chính xác

b Chuẩn bị dụng cụ khoan: Căn cứ vào đường kính lỗ định khoan để chọn

mũi khoan Đối với lỗ có đường kính lớn không thể khoan một lần, cần xác định các đường kính lỗ trung gian để chọn mũi khoan, kiểm tra bộ phận cắt của từng mũi khoan Nếu cần mài sửa lại để các góc độ phù hợp với vật liệu chi tiết cần khoan.Với mũi khoan chuôi trụ phải chuẩn bị đầu kẹp, với mũi khoan chuôi côn phải xem côn moóc có phù hợp với côn moóc của trục chính máy hay không, nếu chưa phù hợp cần chuẩn bị bạc côn

Sau đó đặt mũi khoan đã chọn trên bàn máy cạnh vật gia công ở vị trí thao tác thuận lợi nhất; sắp xếp theo thứ tự mũi khoan nào dùng trước để gần, dùng sau

để xa, lắp mũi khoan cần khoan trước lên máy

c Điều chỉnh máy: Sau khi gá lắp mũi khoan và vật gia công lên máy, ta

tiến hành điều chỉnh máy bao gồm các công việc sau:

- Điều chỉnh khoảng chạy của mũi khoan xem có khoan hết chiều mũi khoan hay không; nếu không hết thì cho bàn máy (ở máy khoan đứng) hoặc giá máy (ở máy khoan bàn); cần máy (ở máy khoan cần) lên sao cho khoảng chạy của mũi

Trang 16

Đối với máy khoan bàn, máy khoan đứng phải xê dịch vật gia công, công việc này khá phức tạp đối với chi tiết gá trực tiếp trên bàn máy bằng bích, bu lông

và với những chi tiết nặng Sau khi đã xê dịch vật gia công để tâm mũi khoan trùng với tâm mũi khoan, ta kẹp chặt vật để cố định vị trí Rồi kiểm tra lại nếu chưa đạt yêu cầu thì phải tiếp tục điều chỉnh cho đến khi đạt yêu cầu mới thôi

- Điều chỉnh tốc độ quay và tốc độ tiến dọc của mũi khoan: Căn cứ vào đường kính mũi khoan, độ cứng vật liệu gia công để chọn lượng chạy dao (chọn theo bảng trong sổ tay cắt gọt) Sau đó căn cứ vào lượng chay dao để chọn tốc độ cắt, tính ra tốc độ quay của mũi khoan theo công thức:

( / )

.

1000

ph Vg D

V n

Trong đó: V – là tốc độ cắt, m/phút

D – là đường kính mũi khoan

Tốc độ tính ra thường không đúng với tốc độ có sẵn của máy, mà ở khoảng giữa hai tốc độ nào đó Để đảm bảo độ bền của mũi khoan, chỉ cho phép sử dụng tốc độ của máy bằng hoặc nhỏ hơn tốc độ tính toán Sau đó điều chỉnh tay gạt ở trên máy để trục chính chạy theo tốc độ vừa chọn Cho máy chạy thử kiểm tra lại chiều quay mũi khoan

- Điều chỉnh lượng chạy dao: Điều chỉnh máy cho lượng chạy dao bằng hoặc nhỏ hơn lượng chạy dao đã chọn theo bảng Đặt tay gạt để máy chạy với lượng chay dao đã định Cần lưu ý chỉ cho mũi khoan ăn tự động khi lỗ khoan sâu, đường kính lớn Trường hợp ngược lại cho ăn dao bằng tay

2 Các phương pháp khoan cơ bản:

a) Khoan lỗ theo vạch dấu:

- Vạch dấu xác định tâm lỗ cần khoan

- Gá chi tiết gia công lên bàn máy, điều chỉnh đầu nhọn của mũi khoan trùng với tâm lỗ cần khoan

- Mở máy, di chuyển mũi khoan đi xuống vừa chạm vào bề mặt chi tiết gia công, kiểm tra tâm mũi khoan có trùng với tâm lỗ cần khoan không, nếu chưa trùng thì hiệu chỉnh lại đến khi đạt yêu cầu thì tiến hành khoan sâu

- Khi khoan phải theo dõi quá trình cắt của mũi khoan, phải thường xuyên rút mũi khoan lên để bẻ phoi và đưa phoi ra ngoài

- Nếu khoan lỗ suốt, khi khoan gần thủng thì di chuyển mũi khoan chậm lại, tránh kẹt và gãy mũi khoan trong lỗ (hình 6.7)

- Nếu khoan lỗ không suốt, phải quan sát chiều sâu của lỗ khoan bằng thước

đo chiều sâu

Trang 17

Chú ý: với vật được khoan thủng, không được đặt trực tiếp trên bàn máy phải đệm bằng gỗ

có thể khoan được chính xác lỗ cần khoan

Ưu điểm của phương pháp này là năng suất cao, độ chính xác cao nhưng có nhược điểm là việc chế tạo mẫu và bạc dẫn tốn kém và phức tạp

V Các dạng sai hỏng thường gặp, nguyên nhân và cách khắc phục:

1 Đường kính lỗ khoan sai:

Nguyên nhân do mũi khoan bị đảo hoặc bị mòn

Mũi khoan bị đảo do việc gá mũi khoan vào trục chính hoặc bầu kẹp không chính xác Do đó khi gá lắp mũi khoan vào trục chính hoặc bầu kẹp phải cẩn thận, đảm bảo chính xác

Khi mũi khoan bị mòn, đường kính danh nghĩa của mũi khoan nhỏ lại làm cho lỗ khoan cũng nhỏ hơn đường kính danh nghĩa các mũi khoan đã chọn Do đó nếu mũi khoan mòn ít thì ta mài sửa lại, còn mòn nhiều quá thì tốt nhất nên thay mũi khoan mới

- Trước khi khoan cần phải điều chỉnh độ đồng tâm thật chính xác

VI An toàn khi sử dụng máy khoan:

- Gá đặt đúng và kẹp chặt phôi trên bàn máy, không được giữ phôi bằng tay trong quá trình gia công

- Không được để quên chìa vặn trên đầu kẹp mũi khoan sau khi thay dụng cụ cắt

- Chỉ khởi động máy khi đã đảm bảo các điều kiện về an toàn

- Không được nắm vào dụng cụ cắt và trục chính khi đang quay

- Không được tháo dụng cụ cắt bị gãy bằng tay

Giảm lực ấn

Bắt đầu xuyên thủng

Hình 6.8: Khoan lỗ với bạc dẫn

Trang 18

Trang 19

- Thường xuyên theo dõi quá trình làm việc của dụng cụ cắt, cơ cấu kẹp chặt

và dụng cụ

- Khi khoan quấn tóc gọn gàng, không đeo găng tay, cài cẩn thận tay áo

- Không khoan mũi khoan cùn

- Không khoan thép nếu không có dung dịch tưới

- Không ấn mạnh mũi khoan, nhất là mũi khoan có đường kính nhỏ

- Không cúi xuống gần mũi khoan, để tránh phoi bắn vào mắt

- Không thổi phoi bằng miệng, không dùng tay gạt phoi

- Khi khoan nếu nghe tiếng kêu rít (két) thì ngừng khoan ngay, để kiểm tra

và mài sửa mũi khoan

- Khoan xong phải tắt máy, lau chùi máy và vệ sinh sạch sẽ

- Gá kẹp vật chính xác, dùng êke kiểm tra độ vuông góc giữa mũi khoan với

bề mặt vật gia công

3 Gãy mũi khoan:

Nguyên nhân do khi khoan không thực hiện đúng các thao tác khi khoan, trình tự khoan hay mũi khoan bị mòn

I Khái niệm chung:

Trong ngành Cơ khí, ren được sử dụng rộng rãi để nối ghép hoặc để truyền chuyển động giữa các chi tiết, các cơ cấu, các thiết bị Các ren tam giác chủ yếu dùng để ghép chặt còn ren vuông, ren thang được dùng trong các cơ cấu vít Các ren thông dụng là ren hệ Met, ren Anh, ren trục vít, ren pít

Quá trình tạo thành bề mặt ren gọi là cắt ren Cắt ren là phương pháp gia công có phoi để tạo nên những đường xoắn ốc Công việc này thường được tiến hành trên các máy gia công ren, hoặc máy tiện,… Trong nghề Nguội, công việc cắt ren được sử dụng nhiều nhất là khi lắp ráp hoặc sửa chữa các thiết bị bằng dụng cụ cắt ren cầm tay Ta có thể cắt được cả ren trong và ren ngoài bằng các loại dụng cụ cắt ren cầm tay

II Dụng cụ cầm tay tiêu chuẩn để cắt ren:

1 Dụng cụ cắt ren trong: TARÔ

Vuông Rãnh

Trang 19

Hình 7.1: Cấu tạo của tarô

Tarô là dụng cụ dùng để cắt ren lỗ Cấu tạo của tarô được giới thiệu trên hình 7.1

Tarô là một cái vít có đường kính, bước ren, góc trắc diện của ren phù hợp với ren cần gia công Tarô được chế tạo bằng thép cácbon dụng cụ, trên thân có rãnh dọc để thoát phoi với mặt ren tạo thành các lưỡi cắt hình lược

Cấu tạo của tarô gồm có 2 phần:

* Phần làm việc: gồm phần côn dẫn hướng và phần

hiệu chỉnh

- Bộ phận cắt có hình côn dẫn hướng có các rãnh với

chiều cao tăng dần Khi cắt gọt mỗi răng cắt một phần

lượng dư nhỏ cho đến khi tarô tiến đến hết phần côn dẫn

hướng thì trắc diện của ren cũng được hình thành

- Phần hiệu chỉnh: có nhiệm vụ giữ cho tarô đi theo

một hướng xác định, nó không có tác dụng cắt mà chỉ tăng

số lần mài làm cho mặt ren bóng, đôi khi có tác dụng sửa lại

dạng ren cho đúng

* Phần chuôi: có đầu vuông và có kích thước quy

chuẩn để lắp tay quay tarô

Trên thân tarô có ghi kí hiệu chỉ mác thép và loại

Vít điều

chỉnh Rãnh Lỗ định vị

(bắt vít của tay quay)

Mặt trước (thường ghi số hiệu đường kính)

a)

b)

c)

Trang 20

Trang 21

Hình 7.3:

a) Bàn ren b) Bàn ren liền c) Bàn ren có xẻ rãnh

Bàn ren là loại dụng cụ dùng để cắt ren tam giác ngoài có bước  2mm Bàn ren có cấu tạo tương tự như chiếc mũ ốc, nó được chế tạo từ thép cácbon dụng cụ, trên bàn ren được khoan từ 3 – 8 lỗ tùy thuộc vào kích thước của bàn ren Giao tuyến giữa các lỗ với mặt ren tạo thành các lưỡi cắt hình lược Lưỡi cắt hình lược được vát ở 2 đầu tạo thành côn lắp ghép nên ngay từ đầu bàn ren cắt gọt dễ dàng

Bàn ren được sử dụng cả 2 mặt, trên mặt đầu của bàn ren được ghi kích thước ký hiệu của ren, vật liệu chế tạo Bàn ren có 2 loại: bàn ren liền (hình 7.3b) và bàn ren có xẻ rãnh (hình 7.3c)

3 Tay quay:

a) Tay quay tarô

b) Tay quay bàn ren

Hình 7.4

Để cắt được ren người thợ quay truyền mômen quay cho tarô hay bàn ren thông qua tay quay tarô hay tay quay bàn ren

Về cấu tạo, tay quay gồm 2 phần chính:

- Bộ phận cặp giữ tarô hay bàn ren

- Cánh tay đòn để tạo mômen

III Phương pháp cắt ren:

1 Chuẩn bị bề mặt để gia công ren:

Ren thường được hình thành ở mặt trụ trong và ngoài, vì vậy trước khi gia công ren ta phải gia công trước các bề mặt chi tiết định cắt ren Tùy theo ren là ren ngoài hay trong mà công việc chuẩn bị có khác nhau

a) Đối với ren trụ ngoài:

khi cắt ren thường có hiện tượng dồn ép kim loại từ các rãnh ren, vì vậy đường kính của trục trước khi cắt ren phải nhỏ hơn đường kính đầu ren Đường kính của phôi trước khi gia công ren phụ thuộc vào vật liệu gia công và bước ren, được xác định trong cuốn sổ tay kỹ thuật

Ở cuối đoạn ren trụ có rãnh thoát dao, chiều rộng của rãnh phải lớn hơn bước ren

b) Đối với ren lỗ:

Trang 21

Căn cứ vào đường kính nhỏ nhất của ren trong đai ốc để khoan sẵn một lỗ hình trụ Trong thực tế người ta căn cứ vào các bảng tra trong sổ tay kỹ thuật để lựa chọn đường kính lỗ khoan, hoặc có thể sử dụng công thức gần đúng sau:

D = d – S Trong đó: D: đường kính lỗ cần khoan

d: đường kính ren cần cắt

S: bước ren

BẢNG ĐƯỜNG KÍNH CỦA MŨI KHOAN DÙNG ĐỂ KHOAN LỖ

TRƯỚC KHI TARÔ CÁC LỖ REN HỆ MÉT

Đường kính

ngoài của ren

(mm)

Bước ren (mm)

Đường kính của mũi khoan (mm) cho theo vật liệu gia công

2 Phương pháp cắt ren trong bằng tay (cắt ren bằng tarô):

Công việc được tiến hành theo các bước sau:

- Gá kẹp phôi lên êtô

Trang 22

- Khi cắt hết chiều dài ren cần quay ngược lại để lấy tarô ra khỏi lỗ hoặc đẩy cho tarô chui qua lỗ

- Lắp tarô tinh vào tay quay và tiến hành cắt ren tương tự

Khi cắt ren nếu quay tarô thấy nặng, chuyển động khó khăn phải lấy tarô ra

để tìm hiểu nguyên nhân, có thể do răng tarô bị cùn hay tarô bị kẹt phoi Khi cắt các

lỗ sâu, trong quá trình cắt cần tháo tarô ra 2 – 3 lần để làm sạch phoi, tránh hiện tượng kẹt gãy tarô hoặc làm hongren trong lỗ sâu

Hình 7.5: Cắt ren bằng Tarô

3 Phương pháp cắt ren ngoài bằng tay (cắt ren bằng bàn ren):

Trình tự các bước cắt ren bằng tay như sau:

- Kiểm tra đường kính phôi đã đúng chưa, mặt phôi có còn vỏ cứng hay không, mặt đầu của phôi phải được vát mép 1 – 2mm với góc vát 450

- Kẹp phôi vào êtô sao cho chiều cao của phôi nhô lên khỏi mặt êtô tính cả đoạn ren cần cắt từ 15 – 20mm (hình 7.6a)

- Đặt bàn ren đã lắp vào tay quay lên đầu mút của phôi sao cho mặt đầu của bàn ren vuông góc với đường tâm phôi

- Tay trái ấn nhẹ tay quay, tay phải quay tay quay theo chiều kim đồng hồ cho tới khi tarô cắt vào chi tiết 1 – 2 vòng ren (hình 7.6b)

- Cầm tay quay bằng cả hai tay, cứ quay đựơc 1- 2 vòng thì quay ngược trở lại ½ vòng để bẻ phoi làm nhẹ quá trình cắt Trong quá trình cắt ren phải thường xuyên cho dầu bôi trơn để ren được bóng (hình 7.6c)

- Khi cắt hết chiều dài ren cần quay ngược lại để lấy bàn ren ra khỏi lỗ

Trang 23

a) b) c)

Hình 7.6: Cắt ren bằng bàn ren

IV Các dạng sai hỏng, nguyên nhân và cách phòng ngừa:

1 Gãy tarô trong lỗ:

- Nguyên nhân: do khi cắt ren thiếu thận trọng, không phát hiện được các hiện tượng như phoi làm kẹt tarô, tarô bị cùn

- Cách phòng ngừa: Khi làm việc phải cẩn thận, phải thường xuyên lấy phoi

3 Ren không đầy đủ hoặc bị tróc từng mảng:

- Nguyên nhân: ren không đầy đủ do đường kính lỗ khoan lớn hay đường kính ngoài của trục nhỏ hơn so với quy chuẩn, ren bị tróc từng mảng là do đường kính lỗ khoan quá nhỏ hay đường kính ngoài của trục lớn, dụng cụ cắt bị cùn và kẹt phoi

- Cách phòng ngừa: trước khi gia công phải kiểm tra thật kỹ phôi và trong quá trình cắt ren phải thường xuyên làm sạch phoi

Trang 24

Trang 25

BÀI 4: HÀN ĐIỆN

I – Hàn hồ quang tay :

1- Khái niệm về hồ quang hàn:

Hồ quang là hiện tượng phóng điện cực mạnh và liên tục qua môi trường khí

đã bị ion hoá giữa các điện cực Hồ quang phát ra một nguồn ánh sáng và cung cấp một nguồn nhiệt.Nguồn nhiệt này làm nóng chảy vật liệu hàn và kim loại cơ bản

2- Cách gây hồ quang và sự cháy của hồ quang:

Để gây hồ quang người thợ hàn có thể thực hiện bằng hai cách sau đây:

a)Phương pháp mổ thẳng: Cho que hàn tiếp xúc với vật hàn theo phương vuông

góc,rồi nhấc que hàn lên khỏi vật hàn từ (35)mm sẽ hình thành hồ quang.Duy trì cho hồ quang cháy ở một khoảng cách có cảm giác là ổn định nhất

b)Phương pháp ma sát: Đặt nghiêng que hànso với bề mặt vật hàn một góc nào

đó,cho đầu que hàn quẹt nhẹlên bề mặt vật hàn và đưa về vị trí thẳng góc với vật hàn để hình thành hồ quang và giữ cho hồ cháy ổn định một khoảng cách l= d Đối với người mời học nghề phương pháp ma sát dễ thực hiện nhưng nó dễ làm hỏng bề mặt chi tiết hàn và rất khó thao tác trong những điều kiện không gian hẹp Phương pháp mổ thẳng gây hồ quang gọn ,êm nhưng dễ bị tắt và chập mạch

c) Sự cháy của hồ quang

Sau khi hình thành ,sự cháy hồ quang phụ

thuộc vào nhiều yếu tố: điện áp và cường độ

dòng điện hàn,que hàn và chiều dài cột hồ quang

vì vậy,để hồ quang cháy ổn định trong suốt quá trình

hàn phải giữ cho chiều dài cột hồ quang luôn không đổi

3-Tác dụng của điện trường đối với hồ quang

Hồ quang hàn được hình thành trong môi trường khí

giữa các điện cực,cho nên có thể coi nó như một dây dẫn

không khí và dưới tác dụng một số ỵéu tốkhác nó có thể

bị kéo dài và dịch chuyển khỏi vị trí bình thường ta gọi hiện trượng thổi lệch hồ quang

-Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiện trượng thổi lệch hồ quang:

Các phương pháp gây hồ quang a) phương pháp mổ thẳng ;b) phương pháp ma sát

Trang 25

a) Aûnh hưởng của từ trường: Khi hàn,xung quang cột hồ quang,điện cực

hàn,vật hàn ,…sẽ sinh ra một từ trường Nếu từ trường xung quanh cột hồ quang phân bố đối xứng sẽ khơng cĩ hiện tượng thổi lệch hồ quang.Nếu phân bố khơng đối xứng thì nĩ sẽ bị thổi lẹch hồ qaung về phía từ trường yếu hơn

b) Aûnh hưởng của vật liệu sắt từ:Khi đặt gần hồ quang một vật liệu sắt từ

giữa chúng sẽ sinh ra một lực điện từ cĩ tác dụng kéo lẹch cột hồ quang về phía vật từ đĩ.Điều này gây khĩ khăn khi hàn gĩc hay khi hàn gần cuối mối hàn

c) Aûnh hưởng của gĩc nghiêng điện cực:Gĩc nghiêng của điện cực cũng ảnh

hưởngsự phân bố đườngsức từ xung quang hồ quang.Bởi vậy chọn gĩc nghiêng que hàn thích hợp để tính chất phân bố đường sức từ tạo ra từ trường đồng đều

Hiện tượng thổi lệch hồ quang cũng cĩ thể do một số nguyên nhân khác gây nên:tác dụng trực tiếp của các luồng khí,giĩmạnh hoặc do lõi que hàn và vỏ thuốc bọc khơng đồng tâm

II-Sự tạo thành mối hàn và tổ chức kim loại mối hàn

1 Vẽ qui ước mặt cắt ngang của mối hàn:

Tương tự như các mối nối bằng đinh tán và bu lơng, mối nối được thực hiện bằng hàn Gọi là mối hàn.Mối nối hàn là mối nối liền

Trong hàn nĩng chảy,mối nối hàn gồm:Mối hàn (1), vùng tiệm cận mối hàn(2), kim loại cơ bản khơng bị tác dụng nhiệt trong quá trình hàn (3)

Mối hàn gồm hỗn hợp kim loại cực và kim loại cơ bản kết tinh tạo thành,cịn vùng tiệm cận mối hàn là vùng kim loại cơ bảnbị nung nĩng từ 1000C đến nhiệt

độ nĩng chảy

2-Sự tạo thành bể hàn:

Trong quá trình hàn nĩng chảy,mép kim loại hàn và kim loại phụ bị nĩng chảy

và tạo ra bể kim loại lỏng ,bể hàn chung cho cả hai chi tiết

Kim loại cơ bản Mối hàn

Vùng lân cận mối hàn

Trang 26

Trang 27

Trong quá trình hàn,nguồn nhiệt chuyển dời theo kẻ hàn và bể hàn cũng đồng thời chuyển dời theo Theo qui ước có thể chia bể hàn ra làm hai phần:Phần đầu

I và phần II Trong phần đầu bể hàn diễn ra quá trình nấu chảy kim loại cơ bản

và kim loại phụ.Trong phần đuôi diễn ra quá trình kết tinh-hình thành mối hàn Kim loạ i lỏ ng trong bể hà n ở trạ ng thái chuyể n đ ộ ng và xáo trộ n không ngừ ng.Sự chuyể n đ ộ ng đ ó gây ra áp suấ t củ a dòng khí lên mặ t kim loạ i

lỏ ng trong vùng tác dung củ a nguồ n nhiệ t(vùng đ ầ u),đ ông thờ i do nhữ ng

yế u tố khác chẳ ng hạ nnhư lự c đ iệ n từ khi hà n hồ quang ngắ n Dư ớ i tác

dụ ng củ a khí,kim loạ i lỏ ng bị đ ẩ y từ vùng tác dụ ng củ a nguồ n nhiệ t về

hư ớ ng ngư ợ c vớ i chiề u chuyể n đ ộ ng củ a nó và tạ o nên chỗ lõm trong bể

Hình dạng của mối hàn đặc trưng bằng chiều dài bể hàn Lh,chiều rộng b,chiều sâu nóng chảy h.Ngoài ra chiều dài kết tinh phần kết tinh và tỷ số

3- Sự chuyển dịch kim loại lỏng vào bể hàn:

Khi hàn hồ quang bất cứ phương pháp nào và bất kỳ vị trí nào kim loại cũng đều chuyển từ que hàn vào bể hàn.Điều này được giải thích bởi những nhân tố sau:

a)Trọng lực của các giọt kim loại lỏng: Những giọt kim loại hình thành trong

mặt đầu que hàn và dịch chuyển theo phương thẳng đứng từ trên xuống dưới.Lực này chỉ có khả năng làm chuyển dịch giọt kim loại vào bể hàn khi hàn sấp và có tác dụng ngược khi hàn trần Còn khi hàn đứng thì chỉ có một phần kim loại chuyển dịch từ trên xuống dưới

b)Sức căn bề mặt:Sức căn bề mặt sinh ra do tác dụng của lực phân tử.Lực phân

tử luôn luôn có khuynh hướng tạo cho bề ma8t5 chất lỏng một năng lượng nhỏ nhất Vì vậy sức căng bề mặt tạo nên những giọt kim loại lỏng có hình dạng cầu Sức căn bề mặt có tác dụng giử cho kim loại lỏng của bể hàn khi hàn trần không

bị rơi và để hình thành mối hàn

Trang 27

c)Cường độ điện trường:Dòng điện đi qua quehàn sinh ra xung quanh nó một

điện trường ép lên que hàn ,có tác dụng làm giảm mặt cắt ngang của que hàn đến không.Lực này cắt kim loại lỏng ở đầu que hàn thành những giọt.Lực điện trường có khả năng chuyển dịch kim loại lỏng từ que hàn vào bể hàn đối với tất

cả các vị trí hàn.Cường độđiện trường trên bề mặt bể hàn không lớn bởi vì mật

độ dòng điện nhỏ.Mật độ dòng điện giảm dần từ que hàn đến vật hàn,nên không bao giờ có hiện tượng kim loại lỏng chuyển dịch từ vật hàn vào que hàn đuợc

4-Tổ chức kim loại của mối hàn:

Sau khi kim loại lỏng ở bể hàn nguội và kết tinh tạo thành mốihàn.Vùng kim loại vật hàn quanh mối hàn ,do ảnh hưởng nhiệt nên có sự thay đổi tổ chức và tính chất của nó goịi là vùng ảnh hưởng nhiệt

a)Vùng mối hàn:(hình II-5)Trong vùng này kim loạ lỏng chảy hoàn toàn,khi

nguội nhanh có có tổ chức tương nư tổ chức thỏi đúc,thàn phầnvà tổ chức khác với kim loại que hàn và vật hàn

-Vùng sát với kim loại cơ bản do tản nhiệt nhanh,tốc độ nguội lờn nên tổ chức hạt nhỏ.Vùng tiếp theo kim loại sẽ kết tinh theo hướng thẳng góc với mặt tản nhiệt tạo nên nhánh cây kéo dài,vùng terung tâm do nguội chậm nên hạt lớn và

có lẫn chát không kim loại(xỉ)

b)Vùng ành hưởng nhiệt:(hình II-6) Chiều rộng vùng ảnh hưởng nhiệt phụ thuộc

vào phương pháp và chế độ hàn,thành phần và chiều dày của kim loại hàn.Trong trường hợp nguồn nhiệt tập trung ,tốc độ hàn lớn,chiều rộng vùng ảnh hưởng nhiệt

sẽ hẹp.Có thể chia vùng ảnh hưởng nhiệt ra thành các phần dưới đây:

-Viền chảy 1:là vùng giáp ranh giữa vũng hàn và kim loại cơ bản.Kim loại ở đây

được nung nóng đến nhiệt xấp xỉ nhiệt độ nóng chảy của vật liệu cơ bản và nằm trong trạng thái rắn –lỏng lẫn lộn.Kích thước hạt sau khi hàn nhỏ mịnvà có cơ thính rất cao

-Vùng quá nhiệt 2:Là khu vực kim loại cơ bảnbị nung nóng từ 11000C đến xấp

xỉ nhiệt độ nóng chảy Ở đây thường xảy ra quá trình kết tinh lại(biến đổi thù hình) Do hiện tượng quá nhiệt nên hạt tinh thể có kích thước lớn ,độ dai va đập

và độ dẻo thấp,dể nứt nóng và nứt nguội.Có thể nói đây là yếu nhất của liên kết hàn

-Vùng thường hoá 3:là khu vực kim loại bị nung nóng từ nhiệt độ từ

90011000C Toỏ« chức gồm những hạt frit nhỏ và peclit.Vì thế có cơ tính tổng hợp tương đối cao

-Vùng k ế t tinh lạ i không hoà n toà n 4:Ở đ ây kim loạ i cơ bả n bị nung trong

khoả n nhiệ t đ ộ 720 9000C Kim loạ i có sự kế t tinh lạ i từ ng phầ n,do đ ó bên cạ nh nhữ ng ting thể kim loạ i cơ bả n chư a bị thay đ ổ i trong quá trình nung nóng còn có nhữ ng tinh thể mớ i đ ư ợ c hình thà nh do hiệ n tư ơ ng kế t

lạ i.Tổ chứ c gồ m các hạ t frit thô và ôstenit nhỏ ,vì thế vùng nà y kém hơ n

Trang 28

Trang 29

-Vùng k ế t lạ i 5(còn gọ i là vùng hoá già ): Kim loạ i bị nung nóng từ 500

7000C, xẩ y ra quá trình kế t tinh lạ i vớ i sự phát sinh và phát triể n tinh thể

mớ i

-Vùng giòn xanh 6:Khi hà n kim loạ i chị u tác dụ ng nhiệ t từ 100 50000C Vùng nà y không có sự thay đ ổ i rỏ rệ t về tổ chứ c kim loạ i,như ng do ả nh

hư ở ng vùng nhiệ t hà n nên thư ờ ng tồ n tạ imộ t trạ ngthái ứ ng suấ t dư ,đ ộ

dẻ o,đ ộ dai va đ ậ p giả m,đ ộ bề n tă ng

Đ áng chú ý là các trư ờ ng hợ p sự thay đ ổ i chứ c củ a vùng ả nh hư ở ng nhiệ t đ ề u là m giả m cơ tính tổ ng hợ p củ a liên kế t hà n.Đ iề u nà y cầ n phả i tính khi thiế t ke quy trình công nghệ hà n , nhằ m hạ n chế nhữ ng thay

đ ổ i xấ u có thể xả y ra ở vùng ả nh nhiệ t

II MÁY HÀN ĐIỆ N

1 -Yêu c ầ u với máy hà n đ iệ n:

Các thiế t bị dùng đ ể cung cấ p nă ng lư ợ ng cho qua trình hà n hồ quang tay đ ư ợ c gọ i là máy hà n hồ quang Máy hà n hồ quang rấ t đ a dạ ng,

đ ư ợ c thiế t kế thích hợ p vớ i các phư ơ ng pháp hà n hồ quang khác nhau Tuy nhiên chúng đ iề u thoả mãn mộ t số yêu cầ u cơ bả n sau đ ây:

1 Đ iệ n áp không tả i củ a máy hà n U0 phả i đ ủ đ ể gây hồ quang, như ng không gây nguy hiể m cho ngư ờ i sử dụ ng (tố i đ a là 90 V) Đ iệ n áp không

tả i U0 là đ iệ n áp củ a các đ ầ u ra củ a máy hà n trong đ iề u kiệ n không có

tả i Thông thư ờ ng ,đ ố i vớ i nguồ n đ iệ n xoay chiề u U0=55 80 V, dố i vơ i nguồ n đ iệ n mộ t chiề u U0 =30 55 V Lư u ý, khi hà n đ iệ n áp hồ quang Uhq

củ a nguồ n xoay chiề u thư ờ ng nằ m trong khoả ng 2545V, và củ a nguồ n

Trang 29

hồ quang tă ng thì đ iệ n thế công tác tă ng, khi chiề u dà i hồ quang giả m thì

đ iệ n thế công tác cũ ng giả m

4 Quan hệ giữ a đ iệ n thế và dòng đ iệ n củ a máy hà n gọ i là đ ư ờ ng đ ặ c tính ngoà i củ a máy Đ ư ờ ng đ ặ c tính ngoà i đ ể hà n hồ quang tay yêu cầ u phả i là đ ư ờ ng cong dố c lien tụ c, Tứ c là dòng đ iệ n trong mạ ch tă ng lên thì đ iệ n thế củ a máy giả m xuố ng và ngư ợ c lạ i

2 - Máy hà n đ iệ n xoay chiề u:

Máy hàn xoay chiều chủ yếu là các loại biến áp hàn dùng dòng điện một pha hoặc ba pha Máy hàn dùng dòng điện ba pha có yêu điểm hơn máy dùng dòng điện một pha, bởi vì hồ quang ba pha cháy ổn định hơn,mạng điện cung cấp cho máy chịu tải đồng đều, năng xuất cao hơn 20 -40%, tiết kiệm năng lượng điện từ

10 -20% Máy biến áp hồ quang tay chủ là loại giảm áp, chuyển từ điện áp cao (dòng điện bé) xuống điện áp thấp (dòng điện cao) phù hợp với quá trình hàn , nên số vòng dây ở cuộn sơ cấp thường lớn hơn ở cuộn thứ cấp Quan hệ giữa điện áp ,dòng điện và số vòng dây như sau:

- Máy hàn diện xoay chiều có bộ tự cảm riêng:

- Cấu tạo của máy bao gồm: lõi biến áp, cuộn dây sơ cấp, cuộn dây thứ cấp và

bộ tự cảm điều chỉnh dòng điện hàn

- Bộ tự cảm mắc nối tiếp với cuộn dây thứ cấp mục đích tạo ra sự lệch pha của dòng điện và điện áp Tạo ra đường đặc tính dốc liên tục và thay đổi cường độ dòng điện hàn Loại máy này cồng kềnh vì có hai bộ phận riêng rẽ

Dòng điện thứ cấp I2

=

Số vòng dây sơ cấp n1

Số vòng dây thứ cấp n2

Trang 30

Trang 31

- Máy hàn điện xoay chiều có bộ tự cảm kết hợp:

Về nguyên tắc tương tự như máy hàn có bộ tự cảm riêng

a) Cấu tạo: 1.lõi , 2 Cuộn dây sơ cấp, 3 Cuộn dây thứ cấp, 4 bộ tự cảm

b) Nguyên lý hoạt động:

Nguồn cung ứng có lõi sắt chung cho cả biến thế và điều chỉnh

Trên phần lõi chính( phần dưới ) đặt cuộn sơ cấp và phần chính của cuộn thứ cấp, ở trên của lõi đặt phần còn lại của cuộn thứ cấp và gọi là cuộn dây phản(cuộn kháng) Ơû đây giữa biến thế và phần điều chỉnh có mối liên quan cả

về từ và điện , nhưng liên quan về từ thì không lớn do có kẽ hở a ở lõi phụ Như vậy ta có thể coi cuộn phản như cuộn tự cảm riêng mắc vào mạch hàn nối tiếp với hồ quang Cuộn tự cảm có thể mắc cung chiều hoạc ngược chiều với cuộn thứ cấp

- Máy hàn điện xoay chiều có lõi từ di động :

- Cấu tạo của máy bao gồm: lõi biến áp, cuộn dây sơ cấp, cuộn dây thứ cấp, vít

điều chỉnh

- Giữa cuộn dây sơ cấp và thứ cấp đặt một lõi từ di động để tạo ra sự phân nhánh từ thông sinh ra trong lõi của máy Nếu điều chỉnh lõi A đi sâu vào khung lõi biến áp thì trị số từ thông đi qua A càng lớn, phần từ thông đi qua cuộn thứ cấp càng nhỏ và dòng điện hàn sinh ra trong mạch càng nhỏ Ngược lại , nếu điều chỉnh lõi A chạy ra và tạo nên khoảng trống không khí thì từ thông rẽ qua

A càng bé và dòng điện trong mạch hàn càng lớn Vì vậy loại biến áp này có thể điều chỉnh dòng điện hàn vô cấp và khả điều chỉnh chính xác

Trang 31

- Máy hàn điện xoay chiều thay đổi cọc đấu dây hàn:

Cũng như các loại máy hàn điện xoay chiều khác máy hàn điện xoay chiều thay đổi cọc đấu dây hàn làm việc theo nguyên tắc biến thế ,hạ điện thế từ 380V/220V xuống điện thế thích hợp Dịng điện hànđược điều chỉnh bằng phương pháp thay đổi từ thồn tán nhờ thay đổi vị trí lõi tơn điều chỉnh là phần mạch từ đặt giữa 2 bối dây Khi hàn dịng điện hàn được hạn chế chủ yếu nhờ điện trởhof quang và trở kháng của bối dây thứ cấp

3- Máy hàn điện một chiều

a) Máy phát điện hàn một chiều:

- cấu tạo : Máy phát điện một chiều kiểu các cực từ lắp rời dùng để hàn gồm cĩ 4

cực từ , 2 cuực từ cùng tên được nối song song với nhau Trên cực điện cĩ lắp 3 tổ chổi điện than, 2 tổ chổi điện than chính A và B cung cấp điện cho hồ quang, ở giữa

cĩ lắp lại cĩ lắp một tổ chổi điện than phụ C , chổi điện than A và C cung cấp cho cuộn dây kích từ của máy phát điện , điiêù chỉnh dịng điện của cuộn dây kích từ bằng bộ biến trở lắp trên bàn máy hàn , cĩ thể dùng tay nắm để di chuyển vị trí của chổi điện than

- Nguyên lý làm việc: Lúc khơng tải, trong rơ to của máy phat điện khơng cĩ dịng

điện hàm thơng qua , khơng sinh ra phản ứng rơ to, do đĩ điện thế khơng tải của máy phát điện hơi cao, rất dể mồi hồ quang

lúc hàn, trong rơto của máy phát điện ,cĩ dịng điện hàn thơng qua, sinh ra phản ứng rơto, làm giảm từ thơng của máy phát điện ,cuối cùng điện thế của máy phát điện sẽ giảm xuống tới mức tương đương với điện thế dùng để đốt cháy hồ quang một cách ổn định

Lúc chập mạch, phản ứng rơto rất lớn , khiến cho điện thế của máy phát giảm xuống tới mức xấp xỉ số 0, như vậy hạn chế dịng điện chập mạch

b Máy hàn bằng dịng điện chỉnh lưu:

Tương tự như máy phát điệnhàn một chiều, chỉnh lưu hàn hồ quang cung cấp điện một chiều cho quá trình hàn Cấu tạo của ns bao gồm máy biến áp hàn và một mach chỉnh lưu dịng xoay chiều thành dịng một chiều

Aùy hàn chỉnh lưu dùng tron hồ quang tay thường thuộc kiểu cĩ dịng điện khơng đổi (CC) với dịng điện định mức từ 200 – 600 A Dịng điện được điều khiển thơng qua cảm kháng hoạt tổng trở biến thiên

Sơ đồ bộ chỉnh lưu hàn ba pha

Trang 32

Trang 33

4 Máy hàn vận hành song song

Trong quá trình hàn, có những lúc đòi hỏi phải có dòng điện hàn rất lớn , nếu một máy không đủ thì ta có thể dùng 2 máy hàn cho vận hành song song Những máy nối song song phải có điện thế không tải, công suất định mức và những tính năng điện khí giống nhau, do đó tốt nhất dùng máy cùng loại

a) Sử dụng máy hàn một chiều nối song song :Khi nối song song 2 máy hàn một

chiều kiểu cực từ lắp rời, ta có thể dùng phương pháp kích từ lẫn nhau dòng điện kích từ của máy A do máy hàn B cung cấp và ngược lại, như vậy mới có thể làm cho máy hàn điện công tác ổn định Ngoài ra còn phải nối cực dương với cực dương

và cực âm với cực âmcủa hai máy hàn lại, rồi nối cực dương chung, cực âm chung với vật hàn và que hàn

b) Sử dụng máy hàn xoay chiều nối song song :Khi nối song song 2 máy hàn xoay

chiều, ta phải đấu cuộn dây sơ cấp của hai máy vào cùng một pha của lưới điện , đồng thời cuộn dây thư cấp cũng đấu vào cùng một pha Khi hai máy hàn điện cùng vận hành song song, điều chỉnh sao cho cường độ dòng điện của máy hàn sao cho bằng một nữa dòng điện khi hàn

5 Bảo quản và xử ly sự cố máy hàn điện :

a) Bảo quản máy hàn điện:Nếu sử dụng và bảo quản hợp lý thì tăng thời gian tuổi

thọ của máy, tính năng công tác ổn định, bảo đảm sản xuất Người thợ tuân theo mấy điểm sau đây:

+ Khi đặt máy hàn, phải đặt nơi thông gió và khô ráo, không nên để chỗ nóng quá và đặt thân máy vững chắc

+ Khi đấu máy vào điện lưới thì điện thế phải phù hợp với nhau

+ Điều chỉnh dòng điện và cực tính, phải tiến hành khi không hàn

+ Không nên sử dụng dòng điện hàn quá mức qui định của máy hàn, phải căn

cứ vào tỉ số tạm tải và dòng điện của máy đó mà sử dụng

+ Thường xuyên phải đảm bảo đầu nối của máy hàn điện với cáp điện hàn tiếp xúc tốt, luôn luôn kiển tra sự cách điện của dây cáp điện xem còn tốt không, đề phòng bị chập mạch với vật hàn

+ Cần phải đảm bảo máy hàn điện được sạch sẽ định kỳ dùng khí nén để thổi sạch những bụi bẩn bên trong

+ Cần phải thường xuyên kiểm tra tình hình tiếp của chổi điện than với cổ góp điện của máy hàn điện một chiều, phải làm sạch những mặt than trên mặt cổ góp điện, bảo đảm bề mặt của cổ góp điện bóng, sạch

+ Những nơi có pa-li-ê trượt phải thường xuyên cho mở, định kỳ thay mở +Định kỳ kiểm tra dây tiếp đất của võ ngoài máy hàn điện, để đảm bảo an toàn

+ Khi máy hàn điện gặp sự cố, phải lập tức ngắt nguồn điện, sau đó báo cho thợ điện đến sửa chữa

b) Xử lý sự cố: Người thợ hàn cần biết xử lý sự cố phối hợp với thợ điện kịp

thời xử lý nhằm phục vụ tốt cho sản xuất

( Sự cố và cách sử lý của máy hàn điện một chiều)

Trang 33

Mô tơ của máy

hàn điện một

chiều quay ngược

Mô tơ cảm ứng ba pha đấu sai với lưới điện

Cho thay đổi hai dây pha nào đó trong ba dây pha

Sau khi mở máy

tốc độ quay của

mô tơ rất chậm và

có tiếng ung ung

1 Có một trong ba cầu chì của ba pha bị cháy

2 Cuộn dây trong stato của môtơ điện bị đứt

2 Cho sửa chữa lại

3 Cho sửa chữa lại

4 Lấy vải lâu sạch bề mặt cổ góp điện

Chổi điện than có

tia lửa 1 Chổi điện than và cổ góp điện tiếp xúc không tốt

2 Chổi điện than bị kẹt

3 Miếng mika của cổ góp điện lồi ra

1 Lâu sạch mặt tiếp xúc của chổi điện than và cổ góp điện

2.Đièu chỉnhkhe hở chổi điện than

3 Lấy dao cắt miếng mika cho thấp hơn bề mặt cổ góp điện 1mm

( Sự cố và cách xử lý của máy hàn điện xoay chiều)

Máy biến thế của

máy hàn quá nóng

1.Quá tải

2.Cuộn dây biến thế bị chập mạch 1 Giảm bớt dòng điện hàn

2 Cho sửa chữa lại

Chỗ nối dây của

dây dẫn quá nóng Vít chỗ nối dây hơi lỏng Vặn chặt vít

1 Cho vật hàn với cáp điện tiếp xúc chặt chẽ với nhau

2 Tìm phương pháp hạn chế sự di động của phần động bộ điều chỉnh dòng điện

cuộn dây sơ cấp hoặc thứ cấp bị chập mạch

Vặn chặt vít, điều chỉnh sức kéo của lò xo, kiểm tra sửa chữa cơ cấu di động Cho sửa chữa lại

Võ ngoài của máy

Trang 34

*Không nên dùng que hàn 6mm và lớn hơn để hàn kết cấu quan trọng

d lớn : tăng hiệu suất nhưng hàn chưa ngấu

K : hệ số, do tính chất của que hàn quyết định k = 0  60

- Hàn đứng, ngang Ih nhỏ hơn so với khi hàn bằng 10  15%

Hàn ngửa Ih nhỏ hơn so với khi hàn bằng 15  20%

Ngày đăng: 22/06/2023, 17:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w