Trong quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần 1009 - 1400, Việt Nam luôn chủ trương hiệnchính sách giao hảo, thân thiện với các quốc gia này để tr
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 7
7 Bố cục khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIV 8
1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỉ XI - XIV 8
1.2 Bối cảnh lịch sử khu vực Đông Nam Á thế kỉ XI - XIV 16
Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á DƯỚI TRIỀU LÝ (1009 - 1225) 23
2.1 Quan hệ thông hiếu và xung đột 23
2.2 Quan hệ kinh tế 34
2.3 Giao lưu văn hóa 41
Chương 3: QUAN HỆ VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á DƯỚI TRIỀU TRẦN (1226 - 1400) 45
3.1 Quan hệ thông hiếu và xung đột 45
3.2 Quan hệ kinh tế 56
3.3 Giao lưu văn hóa 61
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 2và khu vực Đông Nam Á trong các thế kỉ XI – XIV.
Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV, các quốc gia trong khu vực Đông Nam
Á từng bước được củng cố và tiến hành mở rộng ảnh hưởng của mình rabên ngoài, trong đó có việc thiết lập mối quan hệ với Việt Nam Đặc biệt,trong thời gian này, cả ba vương quốc mới được thống nhất và định hình ởĐông Nam Á lục địa là Đại Việt, Chiêm Thành và Chân Lạp lại có vị tríliền kề về mặt lãnh thổ Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nướcthiết lập mối quan hệ với nhau trên nhiều lĩnh vực trong quá trình xây dựng
và phát triển đất nước
Trong quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam
Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400), Việt Nam luôn chủ trương hiệnchính sách giao hảo, thân thiện với các quốc gia này để tránh chiến tranh,bảo vệ vững chắc chủ quyền dân tộc Bên cạnh đó, nhà nước Đại Việt dướitriều Lý – Trần cũng tiến hành ngăn chặn các âm mưu, hành động quấyrối, xâm chiếm của các nước láng giềng như Chiêm Thành, Chân Lạp, AiLao nhằm bảo vệ vững chắc vùng biên giới phía Nam và phía Tây của Tổquốc
Tuy nhiên, mối quan hệ của Việt Nam với các nước Đông Nam Ádưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) vẫn còn là một khoảng trống chưa được
Trang 3các nhà sử học quan tâm nghiên cứu Với những lý do trên, tôi chọn đề tài:
“Quan hệ Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý - Trần
(1009 - 1400)” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Trước thế kỉ XX
Tác phẩm đầu tiên đề cập đến quan hệ của Việt Nam với các nước
Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần được viết trước thế kỉ XX là “Việt sử lược” do một nhà sử học khuyết danh biên soạn dưới thời triều Trần (1226
- 1400), sau này được Trần Quốc Vượng phiên dịch và chú giải Tác phẩmnày chỉ gồm 3 quyển nhưng đã đề cập đến mối quan hệ của Việt Nam vớicác nước Đông Nam Á dưới triều Lý (1009 - 1225) trong hai quyển 2 và 3thông qua lối chép sử biên niên Các sự kiện thể hiện mối quan hệ này được
sử gia chép lại tương đối tỉ mỉ về cả mối quan hệ chính trị, kinh tế và vănhóa Tuy nhiên, tác giả chưa ghi chép lại được quan hệ của Việt Nam vớicác nước Đông Nam Á dưới triều Trần
Tác phẩm thứ hai đề cập đến quan hệ của Việt Nam với các nước
Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần là bộ sử “Đại Việt sử kí toàn thư” do
Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê biên soạn và hoàn thành vào năm 1697dưới triều vua Lê Huyền Tông Toàn bộ các hoạt động liên quan đến mốiquan hệ của Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần
được phản ánh trong Bản kỷ toàn thư từ quyển số 2 đến quyển số 8, chia
thành hai mục rõ ràng: Kỷ nhà Lý và Kỷ nhà Trần Tác phẩm đã này đượcviết theo lối biên niên theo từng triều vua Khi viết về mối quan hệ đầu tiên
được thiết lập giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á, Ngô Sĩ Liên viết:
“Tân Hợi, năm thứ 2 (1011) (Tống, Đại Trung Tường Phù năm thứ 4)… nước Chiêm Thành dâng sư tử… Nước Chân Lạp đến cống” [38;162] Tác
phẩm cũng đề cập đến những hoạt động thông hiếu khác cũng như các cuộcxung đột, các hoạt động giao thương, giao lưu văn hóa của Việt Nam vớicác nước trong khu vực dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) Tuy nhiên, tác
Trang 4phẩm chưa xâu chuỗi được các sự kiện trong mối quan hệ của Việt Namvới các nước thành một hệ thống cụ thể.
Tác phẩm “Đại Việt sử kí tiền biên” do tác giả Ngô Thì Sĩ biên soạn
được khắc in năm 1800 dưới triều nhà Tây Sơn cũng đã đề cập đến mốiquan hệ Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần với các
sự kiện thông hiếu, xung đột cụ thể qua từng đời vua Lý – Trần Tuynhiên, tác phẩm chủ yếu xoay quanh vấn đề ngoại giao chính trị Các yếu tốngoại giao kinh tế, văn hóa ít được đề cập Trong cuộc kháng chiến chốngquân Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), một bộ phận người Chiêm Thànhtheo quân Mông - Nguyên, vua Trần bắt được đã sai người đưa về nước
Ngô Thì Sĩ viết: “Tướng nước Chiêm Thành là bọn Bà Lậu Kê Na Liên tất
cả 30 người vì đi theo Toa Đô nên bị bắt Vua sai Trung phẩm phụng ngự
là Đặng Du Chi đưa họ về nước” [53;370] Tác phẩm cũng viết theo thể
biên niên, chủ yếu liệt kê các sự kiện hòa hiếu, xung đột của Việt Nam vớicác nước Đông Nam Á chứ chưa đề cập đến bối cảnh, nguyên nhân diễn racác hoạt động ngoại giao đó dưới triều Lý – Trần
Từ năm 1856 đến năm 1881, Quốc sử quán triều Nguyễn đã biên
soạn bộ sử “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” Trong tác phẩm
có đề cập đến những sự kiện liên quan đến quan hệ Việt Nam với các nướcĐông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) ở phần chính biên (từquyển số 2 đến quyển số 11) trên cả lĩnh vực thông hiếu, xung đột, giaothương và giao lưu văn hóa Khi trình bày về việc nước Chân Lạp sang
cống vua triều Lý, các sử gia triều Nguyễn viết: “Nước Chân Lạp ở phía Nam nước Chiêm Thành, khoảng niên hiệu Thuận Thiên (1010 - 1026), tất
cả có bốn lần sang triều cống Đại Việt” [52;290] Tuy nhiên, các sự kiện
về quan hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á vẫn chưa được biênsoạn thành hệ thống mà đan xen với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hộitrong nước
Nhìn chung, các tác phẩm do các sử gia phong kiến Việt Nam biênsoạn chủ yếu biên soạn về các sự kiện thể hiện mối quan hệ hòa hiếu, xung
Trang 5đột của Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần mà chưa
đề cập đến bối cảnh lịch sử, nguyên nhân diễn ra các hoạt động đó Tuyvậy, đây chính là nguồn tư liệu gốc cung cấp nhiều dẫn chứng quan trọngcho tác giả khi nghiên cứu đề tài này
“Đánh Chiêm Thành”, Trần Trọng Kim viết: “Thái Tông lên làm vua đã hơn 15 năm mà Chiêm Thành không chịu thông sứ và lại quấy nhiễu ở mặt bể Thái Tông bèn sắp sửa binh thuyền sang đánh Chiêm Thành” [34;92].
Trong cuốn “Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước” do tác
giả Nguyễn Lương Bích xuất bản năm 1996 đã nghiên cứu chi tiết về tìnhhình ngoại giao Việt Nam trong lịch sử Tuy nhiên, đối với quan hệ củaViệt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần, ông mới dừnglại ở việc nghiên cứu quan hệ giữa triều Trần với nước Chiêm Thành, màchưa chú ý đến các quốc gia khác trong khu vực
Trong công trình “Vương triều Lý” của tác giả Nguyễn Quang Ngọc
(chủ biên) xuất bản năm 2010 đã tập hợp nhiều bài viết, bài báo cáo khoahọc của các nhà nghiên cứu lịch sử đề cập đến mối quan hệ của Việt Namvới các nước Đông Nam Á dưới triều Lý Khi đề cập đến nguyên nhân hìnhthành mối quan hệ của Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý,
trong bài: “Đại Việt thời Vương triều Lý trong quan hệ khu vực”, tác giả Lương Ninh có viết: Bước vào thế kỉ XI, cả ba vương quốc phong kiến mới thống nhất, định hình ở Đông Nam Á lục địa, lại đứng sát cạnh nhau, là
Trang 6Đại Việt, Chiêm Thành/Chămpa và Campuchia… Ở cạnh nhau thì đương nhiên, liên quan với nhau về nhiều mặt” [43;792].
Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến những bài viết nghiên cứu vềquan hệ ngoại giao của Việt Nam như: tác giả Nguyễn Văn Kim với bài
viết Vị thế đối ngoại của Thăng Long - Đại Việt với các quốc gia Đông Nam Á thời Lý – Trần, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 7/2010.
Trong bài viết tác giả đã phác thảo những nét lớn về mối quan hệ hòa hiếucủa Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần Tác giảcũng đưa ra nhận xét rằng khu vực Đông Nam Á có mối quan hệ đa dạng,
đa chiều và được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau Triều đại Lý – Trầnluôn thể hiện rõ ý thức về nền độc lập, tự chủ và khát vọng vươn lên khẳngđịnh vị thế của mình trong khu vực Dưới triều Lý – Trần, nhiều quốc gialáng giềng đã chủ động tìm đến đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam
“Những mối quan hệ bang giao đó là điều kiện thuận lợi để chính quyền Thăng Long có thể giữ vững được sự ổn định về chính trị trong nước, thiết lập, củng cố các mối bang giao quốc tế và phát triển kinh tế đối ngoại”
[35;24]
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu về mối quan hệ Việt Namvới các nước Đông Nam Á, tác giả thấy rằng mối quan hệ Việt Nam vớicác nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) đã được nghiêncứu ở nhiều mức độ khác nhau Tuy nhiên các công trình trên chưa hệthống được bối cảnh lịch sử, diễn biến của các mối quan hệ Việt Nam vớicác nước trong khu vực Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400).Trên cơ sở kế thừa những thành tựu trên, tác giả tiếp tục nghiên cứu, tìmhiểu và làm rõ hơn về bối cảnh lịch sử cũng như mối quan hệ bang giao,kinh tế - văn hóa của Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý –Trần (1009 - 1400)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 7Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ của Việt Nam với các cácquốc gia Đông Nam Á trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa dướitriều Lý – Trần (1009 - 1400).
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian của đề tài là: thời gian diễn ra các hoạt động liênquan đến mối quan hệ Việt Nam với các các quốc gia Đông Nam Á dướitriều vua Lý – Trần từ năm 1009 đến năm 1400
Phạm vi không gian: không gian nghiên cứu của khóa luận giới hạntrên lãnh thổ Việt Nam dưới sự cai trị của triều Lý (1009 – 1225) và triềuTrần (1226 – 1400) và các nước trong khu vực Đông Nam Á trong các thế
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề thực hiện được mục đích trên, khóa luận thực hiện những nhiệm
vụ sau: Khái quát bối cảnh lịch sử khu vực Đông Nam Á và Việt Nam; cácmối quan hệ của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Ádưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) trên các lĩnh vực: thông hiếu và xungđột, giao thương và giao lưu văn hóa
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu đầu tiên đó là các tác phẩm sử học do các sử gia phong
kiến Việt Nam biên soạn Ví dụ như: Việt sử lược, Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Việt sử kí tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục,…
Những tác phẩm này là nguồn tư liệu đặc biệt quan trọng để tác giả tiến
Trang 8hành các khai thác các sự kiện liên quan đến quan hệ Việt Nam với cácnước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400).
Bên cạnh đó, các công trình chuyên khảo về mối quan hệ Việt Namvới các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) như sách,
báo cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu cơ bản mà tác giả khai thác trong quá trình nghiên cứuquan hệ Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 -1400) là nguồn tài liệu thành văn nên tác giả đặc biệt coi trọng phương
pháp làm việc với tư liệu gốc
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê nhằm hệthống các sự kiện lên quan đến mối quan hệ Việt Nam với các nước ĐôngNam Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) Đây là phương pháp nghiêncứu hỗ trợ tác giả nhận thức được khái quát nhất những nét chính trong cácmối quan hệ thông hiếu, xung đột cũng như các mối Quan hệ kinh tế vàgiao lưu văn hóa Từ đó, đưa ra những phân tích cụ thể hơn về các mối
quan hệ đó
6 Đóng góp của khóa luận
Thứ nhất, khóa luận đã thống kê, tập hợp một cách đầy đủ về quan
hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á dưới triều Lý –Trần (1009 - 1400) trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa
Thứ hai, khóa luận đã bổ sung thêm nguồn tư liệu nghiên cứu về vấn
đề mối quan hệ của Việt Nam với các nước Đông Nam Á thời phong kiếnnói chung và triều Lý – Trần (1009 - 1400) nói riêng Đó cũng là nguồn tưliệu quan trọng phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy vềquan hệ Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 -1400)
7 Bố cục khóa luận
Trang 9Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử khu vực Đông Nam Á và Việt Nam từthế kỉ XI đến cuối thế kỉ XIV
Chương 2: Quan hệ Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều
Lý (1009 - 1225)
Chương 3: Quan hệ Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triềuTrần (1226 - 1400)
NỘI DUNG Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIV
1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỉ XI - XIV
Thế kỉ X, sau chiến thắng Bạch Đằng (938), Việt Nam bước vào thời
kỳ độc lập, tự chủ Các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê là thời kỳ lịch sử được coi
là “bản lề” của dân tộc Chỉ trong một thời gian ngắn (938 - 1009), tình
hình chính trị Việt Nam có nhiều biến đổi với việc các vương triều thaynhau cầm quyền Từ thế kỉ XI - XIV, Việt Nam bước vào thời kỳ phongkiến phát triển mạnh mẽ với tồn tại kéo dài hàng trăm năm của hai vươngtriều phong kiến là Vương triều Lý (1009 - 1225) và Vương triều Trần(1226 - 1400) Cả hai vương triều phong kiến Lý – Trần đều đã ban hànhnhiều chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm xây dựng một quốc giavững mạnh Trên thực tế, những chính sách đó đã mang lại những thànhcông nhất định trong việc xây dựng đất nước Tiềm lực kinh tế, quốc phòngcủa Đại Việt ngày càng được củng cố và tăng cường Đây là cơ sở vô cùngquan trọng để các vương triều tiến hành các hoạt động ngoại giao độc lập
và tự chủ với các quốc gia khác
* Việt Nam dưới triều Lý (1009 - 1225)
Vương triều Lý được thành lập từ năm 1010 Vua Lý Thái Tổ đã dời
đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, sau đổi tên là thành Thăng Long Năm 1054,
Trang 10đổi tên nước là Đại Việt Từ đó vua Lý ra sức xây dựng, làm hoàn thiệndần bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, xâydựng các bộ luật thành văn, xây dựng củng cố khối đoàn kết dân tộc, đồngthời, ra sức củng cố lực lượng quốc phòng vững mạnh.
Về tổ chức hành chính và bộ máy nhà nước: quan chế của nhà nước
dưới triều Lý có quy củ, chặt chẽ hơn các triều đại trước Đứng đầu nhànước là Hoàng đế, giúp việc cho Hoàng đế là các chức quan Tam thái (Thái
sư, Thái phó, Thái bảo), Thái úy cùng các chức quan chuyên trách giúpvua quản lý mọi mặt của đất nước như: khu mật sứ, ngự sử đài, hànhkhiển Năm 1097, triều Lý cho biên soạn và ban hành Hội điển, quy địnhcác phép tắc chính trị, tổ chức bộ máy quan lại Từ đó, quy chế tổ chứchành chính và quan lại được xác lập một bước, thể hiện bước tiến rõ rệt củagiai cấp thống trị trong việc quản lí xã hội, đất nước Các quan lại có côngvới đất nước được thưởng thực phong, thực ấp Sang triều Trần, tổ chức bộmáy quan lại ở trung ương có bước hoàn thiện hơn triều Lý
Về tổ chức bộ máy hành chính địa phương: cả nước được chia thành
24 lộ, dưới lộ là huyện, hương Bên cạnh đó còn đặt ra một số trại, châu đốivới những vùng xa đổi làm phủ Đứng đầu phủ có chức tri phủ, tri phủ sự,phán phủ sự phụ trách Triều Lý, các quan lại đều xuất thân từ tầng lớp quýtộc, vua Lý cũng giao cho các hoàng tử đi trấn trị ở các địa phương
Về pháp luật, “pháp luật triều Lý nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước trung ương tập quyền, của giai cấp thống trị, trước hết là nhà vua; củng cố chế độ đẳng cấp, hạn chế sự bành trướng thế lực của bọn quan liêu quý tộc, bảo vệ nguồn bóc lột của Nhà nước” [53;100] Năm 1042, triều Lý cho biên soạn và ban hành bộ luật Hình thư, đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước quân chủ Việt Nam Bộ Hình thư ra đời thay thế
cho các quy chế, luật lệ, chiếu chỉ trước đó, nhìn chung rất nghiêm khắctrong việc giữ gìn phép nước nhằm phát triển sản xuất, củng cố thống nhấtquốc gia, ổn định trật tự xã hội, góp phần củng cố nhà nước trung ương tậpquyền vững mạnh Bên cạnh đó, pháp luật triều Lý đã có những mặt tích
Trang 11cực như coi trọng và quan tâm đến đời sống của con người, thể hiện tinhthần nhân ái trong pháp trị, tiêu biểu là dưới triều Lý Thánh Tông (1054 -1072) đã giảm nhẹ luật hình, xây dựng đất nước hòa bình, thịnh trị
Về quân đội, quân đội triều Lý đã đạt đến trình độ tổ chức và huấn
luyện khá cao; được phiên chế thành các đơn vị: quân, vệ và cơ đội, baogồm các binh chủng như bộ binh, thủy binh, kỵ binh và tượng binh Trang
bị quân đội, ngoài các loại vũ khí bạch binh thông thường như giáo mác,cung nỏ, kiếm, khiên… còn có thêm máy bắn đá [43;781]
Việc tuyển mộ binh lính được triều Lý quy định khá chặt chẽ “hàng năm, vào mùa xuân, các xã quan phải lập sổ hộ tịch của xã mình kê khai nhân số xếp theo từng hạng… tất cả đinh nam từ 18 tuổi trở lên đều được biên vào cuốn sổ màu vàng thì được gọi là hoàng nam, 20 tuổi trở lên thì được gọi là đại hoàng nam” [68;12].
Cấm quân, sương quân và bộ phận túc vệ quân là hệ thống quânthường trực do triều đình triều Lý trực tiếp quan lí với chức năng chủ yếu
là bảo vệ kinh thành, ngoài ra còn thực thi các nhiệm vụ khác theo chứctrách riêng của từng loại quân, từng đơn vị Cấm quân (bảo vệ hoàng cung
và nhà vua) gồm 10 vệ gọi là Điện tiền cấm quân, về sau, từ 1059, LýThánh Tông chia thành 16 vệ, với tổng số quân khoảng 3.200 người, domột viên thiếu úy đứng đầu Ngoài cấm quân, ở các địa phương, các lộ,phủ, châu đều có lực lượng quân sự riêng Đó là quân do các quan lại địaphương tổ chức, chỉ huy, có thể đó là các vương tôn, quý tộc Triều Lýcho phép họ tuyển đinh tráng trong địa phương và cai quản binh trong lộ,trong phủ đệ của mình, nhưng họ phải chịu sự chỉ đạo chung của trungương và có thể được huy động khi có chiến sự
Việc trang bị, huấn luyện tướng lĩnh, quân sĩ cũng được triều Lý chútrọng Cung tên, đao, kiếm, voi, ngựa, thuyền là vũ khí, phương tiện cơđộng quân sự được sử dụng chính Điện Giảng Võ, bãi Xạ Đinh (phía Namthành Thăng Long) là nơi vua tôi triều Lý học tập binh pháp, luyện tập võ
Trang 12nghệ Tháng 10 năm 1130, triều Lý tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở điệnThiên Linh [52;387].
Vương triều Lý thi hành chính sách “ngụ binh ư nông”, chia đội
quân thường trực được chia thành 5 phiên, luân phiên nhau về cày cấynhằm vừa bảo vệ đảm bảo sản xuất nông nghiệp, vừa đảm bảo số quânthường trực cần thiết trong quân đội, vừa có được lúa gạo dự trữ cho nhiềunăm
Về hoạt động đối ngoại, các vua triều Lý luôn có mong muốn giữ gìn đất nước thái bình, thịnh trị Do đó, với lực lượng quân đội ngày càng được
hoàn thiện đã giúp cho việc bảo vệ và củng cố biên thùy phía Bắc, Tây vàNam của triều Lý trở nên dễ dàng hơn Triều Lý thực hiện hòa hiếu với nhàTống đồng thời cũng thể hiện ý chí kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ củamình Trong cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược (1075 - 1077), trướctình hình nhà Tống lôi kéo các nước Chân Lạp và Chiêm Thành vào côngcuộc xâm lược Đại Việt, các vua triều Lý kiên quyết đấu tranh, đánh tanquân xâm lược Tống và phá tan âm mưu hỗ trợ nhà Tống xâm lược ĐạiViệt của các nước Chân Lạp và Chiêm Thành
Về kinh tế, triều Lý rất chú trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế nông
nghiệp bằng nhiều chính sách và biện pháp khuyến nông như xuống chiếucho những người phiêu tán về quê làm ăn, hoặc chiêu tập khai hoang lập
điền trang, thực hiện chính sách ngụ binh ư nông trong quân đội, thực hiện
chính sách khai hoang lập đồn điền, cấm buôn bán hoàng nam làm nô tỳ…Nhà nước cũng rất chú ý bảo vệ ruộng đất công làng xã khỏi xu hướng tưhữu hóa, đắp đê phòng lụt, đào sông, kênh để chống úng hạn, thành lập các
cơ quan chuyên trách về đê điều như Hà đê sứ có các chức Hà đê chánhphó sứ trông coi Năm 1077, triều Lý cho đắp sông Như Nguyệt; năm
1103, ra lệnh đắp đê ngăn nước lụt; năm 1108, đắp đê Cơ Xá (đê sôngHồng) Nhờ có những biện pháp và chính sách khuyến nông tích cực nóitrên, nền kinh tế nông nghiệp dưới triều Lý nói chung khá phát triển, nhiềunăm được mùa lớn, đời sống nhân dân ổn định Mặt khác, sự phát triển ổn
Trang 13định của nền kinh tế nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc cácvương triều quyết định chính sách ngoại giao của nhà nước Đại Việt dướitriều Lý (1009 - 1225) Thủ công nghiệp nhà nước cũng như thủ côngnghiệp dân gian đều phát triển Nhà nước mở rộng các quan xưởng gọi làCục bách tác chuyên chế tạo binh khí, đồ tranh sức, đóng thuyền, đúc tiền,
đúc chuông, xây dựng cung điện, đền đài cho nhà nước Thủ công nghiệp dân gian bao gồm nhiều loại hình như các làng, các phường thủ công
quanh các thị trấn lớn và các nghề phụ gia đình Nghề chăn tằm, ươm tơ,dệt lụa, làm đồ gốm, xây dựng đền đài, nhà cửa… rất phát triển Ngoài ra,nghề làm đồ trang sức bằng vàng, bạc, nghề làm giấy, khắc in bản gỗ, đúcđồng, rèn sắt, nhuộm vải đều phát triển Nghề khai mỏ (vàng, bạc, đồng)
đã bước đầu có sự phát triển Như vậy, nền nông nghiệp phát triển đã tácđộng đến thủ công nghiệp và thương nghiệp có bước phát triển hơn thời kìtrước
Nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển dẫn đến việc buôn bántrong nước cũng phát đạt Khắp nơi trong cả nước, chợ lớn, chợ nhỏ mọclên Số lượng chợ tương đối nhiều, có lẽ mỗi huyện cũng có vài chợ, xómlàng nào cũng có chợ, hàng hóa đa dạng Bên cạnh các chợ là những thànhthị, phố xá
Nhà nước cho đúc tiền đồng để tiện việc trao đổi; các đơn vị đolường cũng được thống nhất; việc đắp đường, làm cầu, nạo vét, đào sôngngòi được tiến hành để thuận lợi trong việc giao thông, buôn bán Lái buônTrung Quốc và Việt Nam hình thành những địa điểm để buôn bán, gọi làBạc dịch trường (ở trại Vĩnh Bình và trại Hoành Sơn) Thương nhân cácnước trong khu vực Đông Nam Á cũng đến buôn bán ở các cửa sông, cửabiển Đại Việt
Như vậy, sự phát triển ổn định về tình hình chính trị, kinh tế, nhất làkinh tế nông nghiệp vừa là kết quả của những chính sách tích cực, sángsuốt của các vương triều Lý; đồng thời tác động tích cực đến sự ổn địnhcủa nền chính trị, xã hội thời bấy giờ Kinh tế phát triển ổn định cũng tác
Trang 14động tích cực đến những mối quan hệ kinh tế, chính trị và văn hóa của ViệtNam với các nước trong khu vực Đông Nam Á dưới triều Lý (1009 –1225)
* Việt Nam dưới triều Trần (1226 - 1400)
Về tổ chức hành chính và bộ máy nhà nước: tổ chức bộ máy quan lại
riều Trần ở trung ương có bước hoàn thiện hơn Triều Lý Khác với Triều
Lý, triều Trần có chế độ thái thượng hoàng (cha) nhưng vẫn cùng vua (con)trông coi chính sự Nhìn chung bộ máy quan lại ở cấp trung ương dướitriều Trần được tổ chức có quy củ và đầy đủ hơn so với triều Lý, song vẫnđược cấu trúc theo ba cấp: trung ương, cấp hành chính trung gian, cấp hành
chính cơ sở Về tổ chức bộ máy hành chính địa phương: cả nước được chia
thành 12 lộ (từ năm 1242) Dưới lộ, phủ là châu, huyện, xã Đứng đầu các
lộ là an phủ sứ, ở các phủ là tri phủ, trấn phủ Năm 1230, triều Trần cho
ban hành bộ sách Thông chế gồm 20 quyển, lại cho soạn sách Quốc triều thường lễ, ghi chép công việc của triều đình Việc quản lý, cai trị đất nước
dưới triều Trần theo quy chế rõ ràng hơn, và có bước tiến bộ, phát triển hơntriều Lý Tất cả các chức vụ quan trọng trong triều đều giao cho vương hầuquý tộc triều Trần nắm giữ Do đó, triều Trần nắm khá chắc toàn bộ côngviệc chủ chốt trong triều, do đó, quyền lực được tập trung vào các nhà nướctrung ương, chế độ quân chủ trung ương được củng cố thêm một bước
Về luật pháp, năm 1230, vua Trần Thái Tông đã cho soạn Quốc triều hình luật Năm 1341, Trần Dụ Tông sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu khảo soạn bộ Hình thư để ban hành [38;373] đã góp phần củng
cố, giữ vững an ninh trật tự trong nước
Về quân đội, thay thế triều Lý bằng sự chuyển giao quyền lực một
cách hòa bình, chính sách quốc phòng của triều Trần tiếp tục được đề ratheo hướng ngày càng hoàn thiện nhằm tăng cường sức mạnh quân đội vàkhả năng phòng thủ quốc gia Triều Trần rất chú ý xây dựng lực lượngquân triều đình gồm cấm quân và sương quân chuyên nghiệp, thường trực
để làm công cụ chủ yếu bảo vệ chính quyền hoặc để giành được những
Trang 15thắng lợi quyết định trong chiến tranh chống lại những kẻ thù đông vàmạnh Bên cạnh đó, nhà nước thời bấy giờ luôn lưu tâm đặc biệt đến tínhrộng khắp của lực lượng quân sự, xây dựng lực lượng quân của các vươnghầu, quân địa phương và dân binh giữ các nhiệm vụ canh phòng và chiếnđấu tại chỗ.
So với cấm quân triều Lý, cấm quân triều Trần cũng được tổ chức
chuyên nghiệp, được coi trọng và tổ chức theo nguyên tắc “thân quân”,
quân của vua, của dòng họ thống trị được triều đình ưu đãi, tuyển lựa kĩ vàhuấn luyện chu đáo Cấm quân Triều Trần luôn thể hiện vai trò nòng cốtcủa mình trong nhiệm vụ bảo vệ kinh thành và đánh giặc giữ nước Suốtthời kỳ tồn tại của vương quyền, về cơ bản cấm quân đã thể hiện tốt chứcnăng bảo vệ kinh đô Thăng Long, phủ Thiên Trường, bảo vệ vua và triềuđình Ngoài cấm quân và lính chuyên nghiệp, quân đội Triều Trần còn cósương quân (ngoại quân hay quân địa phương) và quân của các vương hầu,quý tộc được tự do chiêu mộ Bên cạnh đó, triều Trần đã viết tổ chức vàđộng viên dân binh các làng xã tạo nên thế mạnh của cuộc chiến tranh toàndân, cả nước cùng đoàn kết đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương xứ sởcủa mình Với ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thắng lợi,nhân dân Đại Việt dưới triều Trần đã đập tan âm mưu thôn tính của phongkiến phương Bắc, giữ yên bờ cõi Đồng thời, dẹp yên các cuộc xung đột,gây hấn của các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á như ChiêmThành, Ai Lao ở phía biên giới phía nam và phía tây đất nước
Triều Trần cũng thực hiện chính sách kết hợp giữa quốc phòng vớingọai giao hết sức khôn khéo đã có tác dụng rất lớn trong thời bình nhằmtránh những căng thẳng dẫn đến chiến tranh trong tình thế có nhiều bất lợikhi vẫn chưa chuẩn bị được lực lượng Những chính sách củng cố quốcphòng, đoàn kết dân tộc đã góp phần to lớn trong việc tăng cường tiềm lựcquốc gia; giúp các vương triều chủ động hơn trong quan hệ với các nướctrong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, độc lập, tự chủ của dân tộc
Trang 16Về kinh tế, vương triều Trần cũng rất chú trọng đẩy mạnh hoạt động
sản xuất nông nghiệp bằng nhiều chính sách và biện pháp khuyến khíchphát triển nông nghiệp, có tác dụng tích cực đảm bảo nhân công lao độngcho nông nghiệp, thu hút các lực lượng có thể huy động được vào làm kinh
tế nông nghiệp Ruộng đất công làng xã là bộ phận ruộng đất lớn nhất trongtổng số diện tích ruộng đất trong cả nước, cũng như trong bộ phận thuộcquyền quản lí, sở hữu của nhà nước trung ương Tuy nhiên, ruộng đất thuộcquyền sở hữu và chiếm hữu tư nhân triều Trần bao gồm ruộng đất cônglàng xã ngày càng bị thu hẹp dần và ruộng đất tư hữu ngày càng tăng lên.Những năm thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh… nhà nước cũng chú ýgiảm thuế, xá thuế, phát chẩn cho dân nghèo Nhà nước cũng thực hiệnnhững biện pháp tích cực để bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp như phạtnặng những kẻ ăn trộm trâu, bò… Năm 1248, nhà nước tổ chức việc đắp đêtrên một quy mô khá lớn ở nhiều lộ, phủ (đắp đê từ đầu nguồn sông ra đếnbiển gọi là đê Quai Vạc), ở ven biển đắp đê ngăn nước mặn… Nhờ cónhững biện pháp và chính sách khuyến nông tích cực nói trên, nền kinh tếnông nghiệp dưới triều Trần nói chung khá phát triển, nhiều năm được mùalớn, đời sống nhân dân ổn định
Thủ công nghiệp Triều Trần được phát triển theo hướng chuyên
môn, chuyên sâu, hình thành các làng nghề lớn: làng gốm Phù Lãng; làngdệt Nha Xá, làng chuyên làm nón Ma Lôi… Cũng như các làng nghề Triều
Lý, các sản phẩm mà các làng nghề này đã trở thành các mặt hàng quý, tinhxảo có mặt trên thị trường buôn bán và làm đồ triều cống quan trọng của
triều đình “Những làng chuyên môn ấy phát triển trong một chừng mực nhất định nào đó đã báo hiệu sự phá vỡ nền kinh tế tiểu nông phong kiến, phản ánh nền kinh tế thương nghiệp phát triển” [40;31].
Trong thời gian này, cảng Vân Đồn hình thành từ triều Lý cũng làmột hải cảng khá sầm uất và càng ngày càng thể hiện rõ vai trò của mộtthương cảng quốc tế Tại đây, hoạt động buôn bán diễn ra sầm uất giữa cácthương nhân trong và ngoài nước Cảng Vân Đồn tấp nập thuyền bè ra vào
Trang 17buôn bán.“Thuyền buôn các nước Giava, Lộ Lạc, Xiêm La, Hồi Hột (người Tân Cương) đã đến buôn bán ở Đại Việt” [53;114] dưới sự kiểm soát của
nhà nước Ngoài Vân Đồn, thuyền buôn các nước còn buôn bán ở cảng VânHải và Hội Thống ở miền Trung
Thăng Long là nơi diễn ra hoạt động thủ công nghiệp sầm uất, nhộnnhịp, hình thành 61 phố phường Phố xá ban đêm rực rỡ ánh đèn Tại đâycác hoạt động buôn bán diễn ra rất tấp nập Người mua, người bán, ngườisản xuất đủ cả Có cả những người trong phường, ngoài phường và cả cácthương nhân nước ngoài Sự mở rộng buôn bán với người nước ngoài cũngkhiến cho Thăng Long có vẻ quốc tế của một đô thành [30;22]
Như vậy, thế kỉ XI - XIV, tình hình chính trị Việt Nam dưới triều Lý– Trần (1009 - 1400) tương đối ổn định và phát triển Sự phát triển về tìnhhình kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp vừa là kết quả của những chínhsách tích cực, sáng suốt của các vương triều Lý – Trần, đồng thời tác độngtích cực đến sự ổn định của nền chính trị, xã hội Tuy thế kỉ XIII, Đại Việtlâm vào tình trạng hỗn loạn và nội chiến nhưng rất nhanh chóng, sự hưngkhởi của triều Trần trong một phần tư thế kỉ tiếp theo đã đưa Đại Việt hănghái bước vào công cuộc xây dựng và phục hưng đất nước với nhiều thànhtựu quan trọng Đây là điều kiện chi phối rất lớn đến hoạt động ngoai giaovới các nước khác trong khu vực Đông Nam Á ở các thế kỉ XI - XIV
1.2 Bối cảnh lịch sử khu vực Đông Nam Á thế kỉ XI - XIV
Đông Nam Á là khu vực rộng lớn nằm ở phía Đông Nam của Châu
Á với vĩ độ khoảng 92o kinh độ Đông đến 140o kinh độ Đông, và khoảng
từ 28o vĩ độ Bắc chạy qua xích đạo đến 15o vĩ độ Nam bao gồm nhiều quốcgia hải đảo và lục địa Nói cách khác, khu vực này bao gồm hai bộ phận làĐông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo
Ý niệm về Đông Nam Á như là một khu vực riêng biệt đã có từ lâu,tuy vậy, trong các thế kỉ XI - XIV thì khu vực này chưa được gọi tên là khuvực Đông Nam Á Người Trung Quốc xưa kia thường gọi khu vực này vớicái tên: Nam Dương (tức là những nước nằm trong vùng biển phía Nam)
Trang 18Trong khi đó, người Nhật thường gọi vùng này là “Nan Yo” Người Ả-rậpxưa gọi vùng này là “Qumr” hay “Waq - Waq” và sau này chỉ gọi là
“Zabag” Còn người Ấn Độ từ xưa vẫn gọi vùng này là “Suvarnabhumi”(đất vàng) hay “Suvarnadvipa” (đảo vàng) Mãi đến thời kỳ Chiến tranh thếgiới thứ 2, tên gọi “Đông Nam Á” mới chính thức đi vào lịch sử với ýnghĩa là một khu vực địa - chính trị và quân sự (1943)
Trong khóa luận, tác giả sử dụng khái niệm “Đông Nam Á” như một
khái niệm chung để chỉ các quốc gia thuộc khu vực phía Nam Dương, phíaNam Trung Hoa, phía Bắc Ấn Độ và các nước Nam Đảo, để cụ thể hóa mốiquan hệ của Việt Nam Triều Lý – Trần (Đại Việt) với các quốc gia trongkhu vực Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400)
Khu vực Đông Nam Á có một hệ thống gồm các bán đảo, đảo vàquần đảo, các biển và vịnh biển xen kẽ với nhau rất phức tạp gồm các bánđảo Trung Ấn (còn gọi là bán đảo Đông Dương) và quần đảo Mã Lai Nằmgiữa các đảo nói trên có nhiều biển lớn và quan trọng, trong đó đáng chú ýnhất là biển Đông (tên quốc tế là biển Nam Trung Hoa), biển Giava, biểnSulu, biển Sulawesi, biển Banda Biển Đông là biển lớn nhất, nối với biểnGiava qua một eo biển rộng là Karimata nằm giữa đảo Borneo và Billiton
Mặt khác, Đông Nam Á còn nằm ở vị trí trung chuyển, cầu nối giữacác nước phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản ) với các nước phương
Tây (Tây Á, Địa Trung Hải ) Khu vực này đã trở thành ngã tư đường, ống thông gió kết nối hai thế giới Đông - Tây Đây chính là một lợi thế để
Đông Nam Á phát triển quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa giao lưu giữacác nước trong khu vực nói riêng và giữa khu vực Đông Nam Á với cáckhu vực khác trên thế giới nói chung, nhất là giao lưu bằng đường biển
Đông Nam Á được coi là quê hương của cây lúa nước Cùng với việctrồng lúa nước, cư dân Đông Nam Á đã thuần dưỡng trâu bò làm sức kéo,xuất hiện các nghề thủ công Từ đó, nông nghiệp lúa nước đã trở thành một
cơ sở quan trọng của nền văn minh khu vực Đó là một nền văn minh mang
đủ các sắc thái của những nền văn minh đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửa
Trang 19rừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp cơ sở chung của nền vănminh này là nông nghiệp trồng lúa nước, văn hóa xóm làng Bên cạnh đó,các hoạt động thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng bắt đầu được đẩymạnh, nhất là trong thời kỳ xác lập và phát triển thịnh đạt của các quốc gia,dân tộc (từ thế kỉ X đến thế kỉ XV) [1;104-105]
Từ thế kỉ VII đến thế kỉ IX được coi là giai đoạn chuẩn bị tích lũycủa các vương quốc phong kiến Đông Nam Á Từ khoảng thế kỉ X đến thế
kỉ XV là thời kỳ phát triển thịnh đạt của các quốc gia phong kiến ĐôngNam Á Thế kỉ X được coi là thế kỉ bản lề trong quá trình phát triển của cácvương quốc này Bởi lẽ, từ thế kỉ X trở đi đánh dấu một kỉ nguyên mới đối
với các quốc gia Đông Nam Á: “kỉ nguyên độc lập, mở đầu cho một thời đại phục hưng trên toàn Đông Nam Á với đặc điểm nổi bật là trở lại chính mình, là sự khẳng định ý thức dân tộc, một nền văn hóa dân tộc đã định hình” [39;31].
Trong các thế kỉ XI - XIV, ở Đông Nam Á đã hình thành và pháttriển với nhiều vương quốc phong kiến, đó là Đại Việt, Chiêm Thành, ChânLạp, Ai Lao (sau là Lan Xang), Pagan, Ayuthaya, Sukhothay, và một vàitiểu quốc Haripunjaya trên lưu vực sông Mê-nam ở khu vực Đông Nam
Á lục địa và hai quốc gia phong kiến hùng mạnh, thu phục được hầu hếtcác tiểu quốc còn lại là Mataram ở Giava và Sri Vijaya ở Sumatra khu vựcĐông Nam Á hải đảo Ngay từ khi thành lập, các vương quốc phong kiếnĐông Nam Á đã rất chú ý phát triển nền kinh tế nhằm đảm bảo cuộc sống
ấm no cho nhân dân, và cũng là cơ sở để xây dựng tiềm lực đất nước vữngmạnh
Vương quốc Chiêm Thành (Chămpa) hình thành và phát triển ở khuvực gồm các tỉnh từ Quảng Bình, Quảng Trị cho đến Ninh Thuận, BìnhThuận (thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay) Trong lịch sử tồn tại, ChiêmThành từng có các tên gọi như: Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành(Champapura) Đất đai Chiêm Thành không phì nhiêu nhưng Chiêm Thànhlại là một khu vực giàu có về sản vật, đặc biệt là hương liệu, thú quý và
Trang 20thủy sản quý “Nicolo de Couti đã từng đến thăm Chiêm Thành một tháng nửa đầu thế kỉ XV, đã kể lại: “Một thành phố ở sát biển, gọi là Chiêm Thành (tức Chiêm Thành) có nhiều gỗ tầm, long não và vàng” Chiêm Thành có các loại trầm hương, già lan hương, sinh hương, xạ hương…”
[29;40]
Trong An Nam chí lược, một bộ sử do Lê Tắc biên soạn vào khoảng
nửa đầu thế kỉ XIV, phần các dân biên cảnh phục dịch có ghi về Chiêm
Thành như sau: “Nước Chiêm Thành: Lập quốc tại mé biển, thương thuyền Trung Quốc vượt bể đi qua các nước phiên phục, thường tập trung tại đấy để chứa củi và nước, là bến tàu lớn nhất tại phía Nam” [58;16] Từ thế kỉ
XI, vương quốc Chiêm Thành bước vào thời kỳ mới với nhiều thách thứcphát sinh từ những biến đổi cục diện chính trị trên bán đảo Đông Dương:nước Đại Việt ra đời, sự hình thành vương quốc Ăng-co (Chân Lạp) ngaysát biên giới Chiêm Thành Do đó, trong thời kỳ này, Chiêm Thành thườngxuyên có chiến tranh với các nước láng giềng là Đại Việt ở phía Bắc
và Chân Lạp ở phía tây nam Các cuộc chiến tranh với Chân Lạp đã dẫn tới
có hai giai đoạn Chiêm Thành thuộc sự cai trị của người Khơ-me, đó là cácgiai đoạn 1145 - 1149 và giai đoạn 1190 - 1220, tiếp đó là cuộc chiến thànhcông chống lại đạo quân xâm lược của đế quốc Nguyên Mông vào năm
1283 do tướng Toa Đô cầm đầu Tuy nhiên dấu ấn mạnh nhất vẫn là cáccuộc chiến tranh với Đại Việt, không như các cuộc chiến với Chân Lạp vàTrung Quốc, những cuộc chiến tranh với người Việt đã làm vương quốcChiêm Thành lần lượt mất lãnh thổ và dần suy yếu dẫn tới sụp đổ
Vương quốc Chân Lạp (hay Cao Miên, Campuchia) được hình thànhvào khoảng thế kỉ VI, là nhà nước đầu tiên của người Khơ-me tồn tại trênphần phía nam của bán đảo Đông Dương (gồm cả Campuchia và một sốtỉnh phía Nam của Việt Nam ngày nay) Từ thế kỉ IX trở đi Chân Lạp đượckhôi phục dưới vương triều Jayavarman II (802 - 944) và nhanh chóngbước vào thời kì Ăng-co (802 - 1434) huy hoàng Chân Lạp trở thành mộttrong những vương quốc mạnh và hiếu chiến nhất trong khu vực [39;32]
Trang 21Những năm đầu thế kỉ XI, tình hình chính trị Chân Lạp diễn biến rất phứctạp Trong khi đó, một vương triều do hoàng thân Suriavarman lập nên(1001 - 1002) thay thế vương triều cũ sau hàng loạt những cuộc chinh phạt
để “chiếm được vương quốc từ tay một ông vua ở trong những đám ông vua khác” [47;92] Nhà vua đã cho khôi phục đất nước đồng thời mở rộng
ảnh hưởng của mình về phía Tây Từ nửa sau thế kỉ XI đến hết thế kỉ XII,vương quốc Chân Lạp có sự phát triển mạnh hơn nữa cả về kinh tế, vănhóa, tổ chức chính trị cũng như sức mạnh quân sự của nó trong khu vực.Chính quyền trung ương đã được củng cố trên toàn bộ lãnh thổ và cư dân.Tuy nhiên xu hướng phân lập vẫn còn tồn tại Dưới thời Jayavarman VII
(1181 - 1201),“ở thượng Mê Nam, Jayavarman VII đã tiến hành thu phục địa bàn vương quốc Môn - Hazipunayja, tiến tới sát biên giới Mianma về phía Nam; lãnh thổ biên giới Campuchia được mở rộng tới miền Bắc bán đảo Mã Lai [37;32] Để thực hiện chính sách mở rộng ảnh hưởng ra bên
ngoài, Jayavarman VII luôn giữ quan hệ hòa hiếu với các vương quốc
mạnh khác như Trung Quốc, Đại Việt, Giava Trong thời gian “ở ngôi khoảng 20 năm, Jayavarman VII đã làm được rất nhiều việc, để lại dấu ấn không thể phai mờ và một hình ảnh rực rỡ nhất trong lịch sử trung đại Campuchia” [39;98] Tuy nhiên, với tham vọng bá chủ khu vực Chân Lạp
thường xuyên gây hấn với các nước xung quanh, trong đó có Đại Việt vàChiêm Thành
Năm 1044, vương quốc Pagan trên lưu vực sông Iraoađi được thành
lập dưới vương triều Anthôratha [1;107] Anthôratha đã thống nhất xứ
Miến Điện trên cả lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa Về chính trị, ông
thiết lập “cường lực của Pagan” [1;108] biến nhà nước của người Miến từ
một tiểu quốc ở vùng đất khô ở Thượng Miến thành một trong hai đế quốc
ở Đông Nam Á lục địa lúc bấy giờ, tạo lập cơ sở cho đất nước Myanmahiện nay Vương quốc Pagan sống trong cảnh hòa bình, thịnh trị, đến năm
1254, vua Narathihapate (1238 - 1287) - vị vua cuối cùng của triều đạiPagan đã thiết lập một chế độ chuyên chế cao độ ở Miến Điện (Myanmar)
Trang 22trong những năm 1256 - 1287 Vương quốc Miến Điện - Pagan mạnh mẽ
đã bộc lộ những nhược điểm của nó khi thành phần dân cư trong nước rấtphức tạp, bao gồm cư dân người Môn, người Thái, người Miến Điều đólàm cho vương quốc này không đủ khả năng để tổ chức nền hành chínhchặt chẽ, thống nhất
Khoảng từ thế kỉ IX, trên lưu vực sông Mê Nam xuất hiện quốc giaHaripunjaya của người Môn trên trung và thượng lưu sông Mê Nam Từgiữa thế kỉ XIII, một làn sóng di cư ồ ạt của những người Thái ở phía TâyNam Trung Hoa xuống lưu vực sông Mê Nam Khoảng giữa thế kỉ XIII,hình thành ba vương quốc của người Thái Chiềng Mai, Sukhothay vàAyuthaya
Năm 1353, nhà nước đầu tiên của người Lào ra đời với tên gọi là
Lan Xang, nghĩa là “đất nước triệu voi” (Lan: triệu, Xang: voi) Lịch sử
của Lào trước khi thành lập gắn liền với sự thống trị của vương quốc NamChiếu Cho đến thế kỉ XIII, lãnh thổ nước Lào hiện nay thuộc về đế chếKhơ-me, rồi đến vương quốc Sukhothay
Ở khu vực Đông Nam Á hải đảo, quốc gia hải đảo hình thành dướitriều vua Erơranga trên cơ sở thống nhất cả hai đảo Xumatơra và Giava.Kinh tế của Majapahit thời Vijaya phát triển mạnh cả về kinh tế nôngnghiệp, nghề thủ công nghiệp lẫn thương mại Sau khi thắng quân Nguyên,Vua Vijaya (1293 - 1309) chuyển kinh đô về Môgiôpahít ở Inđônêxia vớilãnh thổ rộng lớn bao gồm đảo Giava, Xumatơra, phần lớn Kalimanta, đảoXulavêđi, bán đảo Mã Lai và quần đảo Môlucu [39;34] Nhà nước này cóquan hệ ngoại giao kinh tế, văn hóa với hầu hết các nước trong khu vực
Đông Nam Á, trong đó có Đại Việt [16;24-25] Trong Việt sử thông giám cương mục cũng có ghi thời vua Lý Anh Tông (1149), nhiều thuyền Giava
đến buôn bán ở Hải Đông và lập thương điếm ở Vân Đồn [39;35] Nhưvậy, vua Erơranga là người đặt cơ sở đầu tiên cho sự thống nhất Inđônêxia,
là người tiêu biểu cho sự khôi phục và phồn thịnh của quốc gia này
Trang 23Như vậy, trong các thế kỉ XI - XIV, với sự hình thành và phát triểncủa các quốc gia phong kiến độc lập ở Đông Nam Á như Đại Việt, ChânLạp, Chiêm Thành, Giava đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế khuvực này có bước phát triển rõ rệt, nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nướcđược sự quan tâm của các vương triều phong kiến, kĩ thuật canh tác đượcnâng cao; các nghề thủ công cũng được phát triển và cùng với những sảnvật quý hiếm, các sản phẩm thủ công đã góp phần làm cho hoạt động giaolưu thương mại ở từng quốc gia nói riêng, trong nội bộ khu vực và giữa khuvực với các nước khác nói chung có điều kiện phát triển mạnh mẽ Cư dânĐông Nam Á ở đây có chung một nền tảng kinh tế lấy sản xuất nôngnghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế chính Điều này đã tácđộng đến văn hóa khu vực, tạo nên những nét chung thống nhất về mặt vănhóa trong toàn khu vực Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thànhcác mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các nước với nhau, trong
đó có quan hệ Việt Nam với các nước Đông Nam Á dưới triều Lý – Trần(1009 - 1400)
Tiểu kết chương 1
Thế kỉ XI - XIV, bối cảnh lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á là yếu
tố quan trọng tác động đến quan hệ của Việt Nam với các nước Đông Nam
Á dưới triều Lý – Trần (1009 - 1400) Dưới triều Lý, Việt Nam đã kế thừathành quả dựng nước và giữ nước thời Đinh - Tiền Lê, đồng thời tập trungxây dựng, phát triển nền chính trị - kinh tế, văn hóa – xã hội Đặc biệt, nềnkinh tế nông nghiệp đã làm cho đời sống xã hội Việt Nam dưới triều Lý ổnđịnh, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vớicác nước Đông Nam Á Dưới triều Trần, các vua Trần cũng tìm cách thực
hiện chính sách “thân dân”, “khoan thư sức dân” cùng các chính sách
khuyến khích phát triển kinh tế, ổn định xã hội… Nhất là thực hiện chínhsách quốc phòng đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nhà nướcphong kiến mạnh trong khu vực Đông Nam Á Do vậy, Việt Nam dướitriều Lý – Trần (1009 - 1400) có điều kiện thuận lợi trong việc thiết lập các
Trang 24mối quan hệ với với các nước trong khu vực Đông Nam Á Ở khu vựcĐông Nam Á, trong các thế kỉ XI – XIV cũng bước vào thời kỳ phát triểnmạnh mẽ với sự ra đời của nhiều vương quốc thống nhất, tăng cường mởrộng tầm ảnh hưởng của mình ta bên ngoài, trong có quan hệ với Việt Namdưới triều Lý – Trần (1009 - 1400).
Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á DƯỚI TRIỀU LÝ (1009 - 1225)
2.1 Quan hệ thông hiếu và xung đột
* Quan hệ thông hiếu
Hoạt động thông hiếu của vương triều Lý đối với các quốc gia ĐôngNam Á, chủ yếu bao gồm các hoạt động dâng tặng lễ vật, báo tang, hoạtđộng xin cầu phong của các nước Đông Nam Á đối với Đại Việt và cáchoạt động như sách phong và cử quân sang giúp đỡ các nước trong khu vựccủa triều Lý, điển hình là với Chiêm Thành và Chân Lạp
Đối với Chiêm Thành, từ trước thế kỉ X, ngay từ khi nhà nước phong
kiến độc lập, tự chủ chưa hình thành, nhân dân hai nước Việt Nam vàChiêm Thành đã hình thành những mối quan hệ hòa hiếu tốt đẹp với nhautrong cuộc đấu tranh chung chống lại sự đô hộ của phong kiến phương Bắc.Trong suốt thời Bắc thuộc, Chiêm Thành và Việt Nam có quan hệ đoàn kếtgiúp đỡ lẫn nhau Năm 40, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng lênmạnh mẽ ở quận Giao Chỉ, nhân dân quận Nhật Nam cũng hưởng ứngchống lại nhà Hán Năm 722, cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan ở HoanChâu (Nghệ An, Hà Tĩnh) chống lại nhà Đường đã thu hút đông đảo nhândân tham gia, người Chiêm Thành, Chân Lạp cũng hưởng ứng mạnh mẽ
Vào thế kỉ X, quan hệ Việt Nam - Chiêm Thành thế kỉ X diễn rathường xuyên hơn với các mối bang giao hòa hiếu, song có nhiều biến đổi
Trang 25sâu sắc, nhất là vào những năm cuối cùng của thế kỉ X đã diễn ra các cuộcchiến tranh liên tiếp giữa Đại Cồ Việt và Chiêm Thành Tuy nhiên, hai nhànước trong thời kỳ này chưa chú ý xây dựng quan hệ hòa hiếu, những mốixung đột cũng chưa thực sự nhiều và gay gắt.
Sang thế kỉ XI, nước Đại Việt độc lập, tự chủ dưới triều Lý Cùngvới đó, nước Chiêm Thành cũng đang trong thời kỳ phát triển Khoảng 999
- 1010, con vua Harivarman lên kế ngôi, xưng hiệu là Yang Po Ku VijayaSri (Đức vua thiêng liêng thắng lợi), lấy tên ông đặt tên kinh đô - Vijaya(Thắng Lợi) Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước Chiêm Thành quản
lý được cả ba vùng, phía bắc đến sông Thạch Hãn, vùng núi ThượngNguyên, cả phía nam, Panduranga và được nhiên, vùng giữa, vùng kinh đô,nơi có các đền, tháp Vàng, tháp Bạc, tháp Đồng hay Cánh Tiên… [43;794]
Quan hệ Đại Việt với Chiêm Thành dưới triều Lý chủ yếu là hoạtđộng thông hiếu Sự giao hảo ấy được thể hiện chủ yếu qua hoạt độngthông hiếu, dâng tặng lễ vật của Chiêm Thành đối với Đại Việt Lý giải vềhoạt động cống nạp của Chiêm Thành đối với Đại Việt, sử thần Ngô Thì Sĩ
bàn rằng: “Xét thấy biên giới nước Chiêm Thành thì phía nằm liền với Nghệ An, sợ ta lấn bức cho nên sửa lễ cống hiến, còn như sự Chiêm Thành giao thông với Trung Quốc, thì là theo lệ các nước phiên bang” [56;239].
Dựa vào Bảng thống kê hoạt động thông hiếu giữa Đại Việt với Chiêm Thành dưới triều Lý (1009 - 1225) (Phụ lục 1) cho thấy thời gian
các sứ thần Chiêm Thành sang Đại Việt dâng lễ vật rất gần nhau, có giaiđoạn hầu như năm nào Chiêm Thành cũng sang thông hiếu với Đại Việtnhư trong các năm từ 1071 đến 1112, hay khoảng 2 - 3 năm một lần nhưtrong các năm 1066 - 1068; 1120 - 1124; 1164 - 1167, Những lần dângtặng lễ vật của Chiêm Thành trải dài suốt các đời vua Lý, từ vua Lý Thái
Tổ đến vua Lý Cao Tông Trong vòng 217 năm tồn tại của vương triều Lý,Chiêm Thành đã cử 43 sứ đoàn sang Đại Việt dâng tặng sư tử, voi trắng, cásấu với đủ các loại sản vật quý hiếm như tơ lụa, trân châu, vàng bạc
Trang 26[29;57] Hành động đó đã thể hiện mong muốn thiết lập một mối bang giaohòa bình, hữu nghị của Chiêm Thành đối với Đại Việt
Quan hệ thông hiếu, gắn bó giữa hai quốc gia này còn ở quan hệ hôn
nhân: năm 1154, “tháng 10, mùa đông, Chúa Chiêm Thành chế Bì La Bút đem dâng con gái, được nhà vua thu nạp” [52;408] Sự kiện này chứng tỏ
quan hệ giữa Chiêm Thành và Đại Việt ngày càng gần gũi, thể hiện sự hòa
hợp giữa hai quốc gia Một năm sau đó (1307), vua Chế Mân mất, “thế tử Chế Đa Gia sai bầy tôi là Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng và báo cáo tin buồn” [52;572] cũng thể hiện mối bang giao thông hiếu, thân thiết giữa hai
quốc gia
Vua Chiêm Thành là Harivarman IV đã thi hành chính sách vun đắpquan hệ tốt đẹp hơn với người Việt Do đó, vua rất do dự khi bị lôi cuốnvào liên minh do nhà Tống tổ chức tấn công Đại Việt Khi cuộc tấn công
đó thất bại, Harivarman đã rất quan tâm xoa dịu sự tức giận của người Việtbằng cách đưa ra các đề nghị hòa hiếu [15;298] Mặt khác, từ năm 1081đến năm 1091, năm nào sứ Chiêm cũng đến dâng tặng lễ vật nhằm xoa dịu
sự căng thẳng của triều Lý
Quan hệ thông hiếu giữa hai nước Đại Việt và Chiêm Thành cònđược thể hiện trong việc vua Chiêm Thành sang Đại Việt xin quy phục, cầu
phong Ví dụ như đời vua Lý Nhân Tông, năm 1124,“tháng 5, người nước Chiêm Thành là bọn Ba Tư Bồ Đa La 30 người sang quy phục” [39;214];
đời vua Lý Cao Tông, sứ Chiêm sang dâng lễ vật và cầu phong năm 1189
và một năm sau, vua Cao Tông đã sai sứ sang phong vương cho ChiêmThành [29;57] Điều đó, chứng tỏ chính sách ngoại giao hết sức mềm dẻocủa vương triều Lý và cũng chính sự phát triển hùng mạnh của Đại Việtdưới sự trị vì của vương triều Lý đã có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đối vớiChiêm Thành
Đối với Chân Lạp, là một quốc gia phong kiến được thống nhất cùng
thời gian với Đại Việt và Chiêm Thành, Chân Lạp cũng ngày càng khẳng
định địa vị chính trị của mình trong khu vực “Nước Chân Lạp ở phía nam
Trang 27nước Chiêm Thành, cách quận Nhật Nam đi bằng thuyền 60 ngày mới đến Cách đặt huyện, trấn và phong tục của nước Chân Lạp cũng giống như nước Chiêm Thành Tục của nước đó hướng đông là trên, tay phải là tay sạch Sau đời Thần Nghiêu nhà Đường chia làm hai, nửa nước phía bắc nhiều đồi núi, gọi là Lục Chân Lạp, nửa nước phía nam sát biển, nhiều đầm hồ, gọi là Thủy Chân Lạp Đất của Thủy Chân Lạp là 800 dặm Vua ở thành Bà La Đề Bạt Đất của Lục Chân Lạp là 700 dặm, quốc hiệu Hạ Khuất) [38;199]
Thế kỉ XI, dưới thời vương quốc Ăng-co, Chân Lạp vẫn là nướchùng mạnh và hiếu chiến nhất trong khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ.Sau một cuộc nội chiến kéo dài, Suryavarman đã đánh tan địch thủ làJayavira, người đã nắm giữ một số vùng đất Chân Lạp và lên ngôi vua ởĂng-co (năm 101) [41;73] Từ nửa sau thế kỉ XI đến hết thế kỉ XII, vươngquốc Chân Lạp có sự phát triển mạnh hơn nữa cả về kinh tế, văn hóa, tổchức chính trị cũng như sức mạnh quân sự của nó trong khu vực Chínhquyền trung ương đã được củng cố trên toàn bộ lãnh thổ và cư dân
Dựa vào Bảng thống kê hoạt động thông hiếu giữa Đại Việt với Chân Lạp dưới triều Lý (1009 - 1225) (phụ lục 2) cho thấy ở triều Lý
(1010 - 1225), Chân Lạp đã sang Đại Việt dâng tặng lễ vật 20 lần, chủ yếutập trung ở các đời vua đầu triều đại, đó là đời vua Lý Thái Tổ (5 lần); đờivua Lý Thái Tông (2 lần); đời vua Lý Thánh Tông (3 lần), đời vua Lý NhânTông (6 lần) và đời vua Lý Thần Tông (1 lần), Lý Anh Tông (1 lần), LýCao Tông (2 lần) Từ năm 1195 cho đến hết triều đại triều Lý, nước ChânLạp không hề sang Đại Việt dâng lễ vật Điều này có thể lý giải là do, ở cáctriều đại trước, các vua Lý rất chú trọng củng cố tiềm lực trong nước, đấtnước trở nên hùng mạnh khiến các nước lân bang phải sợ uy mà quy phụcc.Điển hình là năm 1069, ngay sau khi Đại Việt đánh tan Chiêm Thành, lấy
được hai ba châu của Chiêm Thành, sợ uy Đại Việt, “Chân Lạp tới cống”
vua Lý [76;105]
Trang 28Bên cạnh hoạt động dâng tặng lễ vật, mối quan hệ thông hiếu giữaĐại Việt và Chân Lạp còn được thể hiện trong các hoạt động xin quy phục,
cầu phong của Chân Lạp đối với Đại Việt Đại Việt sử kí toàn thư có chép rằng: Năm 1123, “mùa hạ tháng 4, năm người nước Chân Lạp quy phục” [39;214] và vào năm 1124, “tháng 4, người Chân Lạp là Kim Đinh A Truyền cùng 4 người gia đồng sang quy phục” [39;214] Qua đây, có thể
thấy rằng, trong quan hệ với Đại Việt, Chân Lạp đã tự nhận mình là nướcnhỏ yếu hơn Đại Việt và cần được Đại Việt quan tâm, giúp đỡ Các vuaChân Lạp cũng tỏ thái độ thiện chí trong quan hệ thông hiếu với Đại Việttrong các cuộc thông sứ nhằm mục đích tạo mối quan hệ tốt đẹp với vua Lý
và mong muốn triều Lý không can thiệp vào công cuộc xâm chiếm của
Chân Lạp đối với Chiêm Thành Dẫn chứng như thời vua “Jayavarman VII (1211 - 1218) đã cử sứ thần sang Đại Việt nhằm đảm bảo sự trung lập Sau
đó vua chỉ đinh Hoàng tử Vidyananda làm tổng chỉ huy đánh Chăm-pa lần thứ hai vào năm 1203, chiếm được Chăm-pa” [41;73].
Đối với với Ai Lao: các vua triều Lý vẫn kiên trì chính sách ngoại
giao mềm dẻo, cốt lấy yên ổn, hòa bình trong nước làm trọng Quan hệthông hiếu giữa Đại Việt và Ai Lao được sử sách ghi nhận lần đầu vào năm
Đinh Mùi (1067),“tháng 2, mùa xuân, Ngưu Hống và Ai Lao đều tiến cống Lễ cống gồm có vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi” [52;343].
Đối với Xiêm La, nước Xiêm La (còn gọi là Tiêm La): “Đất nước Tiêm thì xấu, không cày cấy được, đất nước Hộc thì tốt, được mùa luôn, nước Tiêm phải nhờ nước Hộc cung cấp cho, sau nước Hộc phải hàng nước Tiêm, họp lại gọi là Tiêm La, đất rộng nghìn dặm, có núi bao bọc quanh, cao ngất, lởm chởm, khí hậu thì nóng, có chướng khí, từ Chiêm Thành đi 7 ngày đêm, mới đến nước ấy Tục chỉ thích đánh nhau, thổ sản thì có đá hoa, gỗ thơm, sư tử và voi” [55;62] Suốt thời gian trị vì của
mình, vương triều Lý luôn giữ thái độ giao hảo thân thiện với nước này.bằng chứng là trong sử sách không hề ghi chép lại bất kì một cuộc xung độtnào giữa Đại Việt với Xiêm La Nước Xiêm La tập trung phát triển đất
Trang 29nước và chủ động kết giao mối quan hệ thông hiếu với Đại Việt vào năm
Nhâm Dần (1183), “nước Xiêm La sang cống” [38;250].
Thế kỉ XI - XIII ở khu vực Đông Nam Á, nếu như ở khu vực ĐôngNam Á lục địa đã xuất hiện hàng loạt các quốc gia phong kiến trong khuvực như Đại Việt, Chân Lạp, Pagan thì ở các khu vực Đông Nam Á hảiđảo hầu hết các dân tộc mới bước đầu hình thành nhà nước phong kiến độclập Sự xa xôi cách biệt về khoảng cách địa lý đã gây trở ngại lớn đối vớiviệc thiết lập mối quan hệ bang giao của Đại Việt với các nước khác trongkhu vực Như vậy, dưới triều Lý (1009 - 1225) mối quan hệ thông hiếu củaĐại Việt với các nước Chiêm Thành và Chân Lạp là chủ yếu Đối với cácnước khác trong khu vực, Đại Việt chỉ thực hiện quan hệ bang giao khi cóđiều kiện
* Quan hệ xung đột
Bên cạnh mối quan hệ thông hiếu tốt đẹp của Đại Việt với các nướcĐông Nam Á dưới triều Lý diễn ra các mối xung đột giữa Đại Việt và cácnước trong khu vực Điển hình là trong quan hệ với Chiêm Thành và ChânLạp Các cuộc xung đột giữa Đại Việt với Chiêm Thành và Chân Lạp diễn
ra lẻ tẻ, diễn ra chủ yếu ở khu vực biên giới giáp ranh giữa Đại Việt và cácnước này
Đối với Chiêm Thành, với uy thế là một nước mạnh trong khu vực,
vương triều Lý cũng không ít lần sử dụng sức mạnh quân sự chủ yếu đểtrấn áp những hành động quấy rối của Chiêm Thành trong suốt thời kỳ tồntại của mình (1009 - 1225) Các cuộc xung đột giữa Đại Việt và ChiêmThành diễn ra thường xuyên trong mỗi triều đại vua Lý và xen kẽ vớinhững hoạt động hòa hiếu giữa hai quốc gia
Ngay sau khi vua Lý Thái Tổ rời đô ra Thăng Long, “Năm 1011, nước Chiêm Thành tiến sư tử” [76;72] Tuy nhiên, sau một thời gian dài
Chiêm Thành không sang Đại Việt thông sứ Năm 1020, vua Lý Thái Tổsai con đem quân đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính (tỉnh Quảng Bìnhngày nay) với lý do từ năm 1011, Chiêm Thành không sang thông sứ nữa
Trang 30khiến “người Chiêm chết mất quá nửa” [52;296] Nhưng phải đến năm
1038, đời vua Lý Thái Tông (1028 - 1054), “con vua Chiêm Thành là Địa
Bà Thích mới tới chầu” [76;83] Trong giai đoạn này, sử sách không hề
chép lại việc người Chiêm Thành vào quấy rối, lấn cướp Đại Việt Bởi
vì,“bấy giờ, Chiêm Thành đang ở trong tình trạng nội loạn Bọn quý tộc tranh nhau ngôi vua Phái bị thua chạy trốn sang Việt Nam Năm 1039, con vua Chiêm sang Đại Việt và đến năm 1040, nhân dân Bố Chánh vì nội chiến, đã kéo nhau hàng trăm người sang Đại Việt” [77;228]
Không lâu sau, năm 1043, Chiêm Thành lại sang cướp bóc ở venbiển Đại Việt Vua Thái Tông bèn sắp sửa binh thuyền thân chinh sangđánh Chiêm Thành Năm 1044, vua Lý Thái Tông dẫn quân đi đánh ChiêmThành Quân Chiêm Thành dàn trận ở phía nam sông Ngũ Bồ Vua Lý TháiTông đưa quân đánh tràn sang, quân Chiêm Thành chống cự không được bị
thua “Quân ta bắt được hơn 5000 người và 30 con voi Tướng Chiêm Thành là Quách Gia Di chém quốc vương là Sạ Đẩu đem xin hàng”
[31;92] Vua Lý Thái Tông là người rất nhân hậu, thấy quan quân chémgiết người bản xứ rất nhiều, máu chảy thành suối đã động lòng thương liềnxuống chiếu cấm không được giết người Chiêm Thành, hễ ai trái lệnh thìtheo phép quân mà trị tội Tuy Thái Tông bắt về hơn 5000 người Chiêm
Thành nhưng không biến họ thành nô tỳ lao dịch khổ sai mà “ban cho ruộng đất lập thành phường ấp mà làm ăn” [31;92].
Dưới triều vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) trị vì rất ít giặc giã.Năm 1068, Chiêm Thành dâng hai con voi trắng cống nạp nhưng ngay sau
đó lại sang Đại Việt quấy nhiễu “Vua Thánh Tông: đã nhân mà lại dũng”
[31;9], năm 1069, Người thân chinh đi đánh Đánh lần đầu không thànhcông thì đem quân trở về Đi đến châu Cư Liên, nghe thấy người khen bàNguyên phi ở nhà giám trị quốc, trong nước yên trị Vua khảng khái nói:
“Kìa, một người đàn bà còn làm được như thế, ta là tài trai mà không hạ được nước Chiêm Thành nhỏ xíu, chả hóa ra xoàng lắm ru?” [52;327] Sau
đó, vua lại đem quân trở lại đánh Chiêm Thành và đánh bắt được vua
Trang 31Chiêm Thành là Chế Củ Khoảng đầu tháng 4 năm 1069, Lý Thánh Tông
mở tiệc mừng thắng trận ngay tại kinh thành Chiêm (Phật Thệ) Với tư thế
của người chiến thắng, “vua thân hành múa khiên và đánh cầu trước bệ”,
đồng thời sai đốt 2560 khu nhà trong thành Về phần vua Chiêm Thành làChế Củ, bị bắt về Thăng Long, Chế Củ đã dâng đất 3 châu là châu Địa Lý,châu Ma Linh và Châu Bố Chính (nay thuộc Quảng Bình và Quảng Trị).Vua Thánh Tông nhận lấy ba châu ấy, đổi tên thành đất Lâm Bình, MinhLinh và Bố Chánh và cho Chế Củ về nước Như vậy, ban đầu của cuộcchiến tranh, quân Đại Việt đánh Chiêm Thành vì một lý do rất chính đáng
là để tự vệ, để phá âm mưu lấn đất đai, cướp bóc nhân dân biên giới của
Chiêm Thành Nhưng “cuộc chiến tranh tự vệ trở thành cuộc chiến tranh xâm lược, chiếm đất, lấy của, bắt người Chiến thắng của triều Lý mở đầu cho quá trình Nam tiến của phong kiến Việt Nam, mở đầu cho quá trình diệt vong của dân tộc Chiêm Thành” [77;229].
Thời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127), nhà Tống tiến hành cuộc
chiến tranh xâm lược Đại Việt, nhà Tống đã “ước hẹn các nước Chiêm Thành và Chân Lạp cùng sang lấn cướp” [77;358] biên giới phía Nam của
Đại Việt Chiêm Thành đã nghe lời Tống, đem quân chực đón đánh trongkhi quân Quách Quỳ tấn công mặt bắc để dồn quân Đại Việt xuống phía
nam (1076 - 1077) “Chiêm Thành vốn không hay tập binh Ở gần Giao Chỉ thường hay bị lấn Nay Chiêm Thành soạn sửa quân bị để chống Giao Chỉ” … vừa mới lên ngôi Radravarmanda (Chế Củ) tổ chức vũ bị, luyện tập binh lính, lại sai sứ sang Tống cống phương vật và xin mua ngựa Vua Tống ban cho một con ngựa bạch và cho phép mua lừa ở Quảng Châu”
[79;228] Nhưng sau đó, quân Tống bị thua, phải rút lui, Chiêm Thành lấylàm lo, sợ triều Lý trả thù Vì thế, năm 1077 đã sai sứ tới Đại Việt và sứthần Chiêm khi tới Biện Kinh (kinh đô bấy giờ của nhà Tống) cùng một lúcvới sứ Đại Việt nhưng đã tìm cách tránh mặt
Từ năm 1081 đến năm 1091, tuy sứ Chiêm đến cống vua Lý rất đềuđặn nhưng vẫn luôn tìm cớ quấy rối Đại Việt nhằm đòi lại 3 châu đã
Trang 32nhượng cho triều Lý ngày trước Năm 1092, vua Chiêm hơi đổi ý, khôngsang dâng tặng lễ vật nữa Nhân lúc sai sứ sang Tống, vua Chiêm xin Tống
đem quân đánh Lý, và hẹn sẽ tập kích yểm hộ Vua Tống nói rằng: “Chiêm Thành có thù cũ với Giao Chỉ Hiện nay, Giao Chỉ vẫn giữ thần tiết vào cống thường thường Vậy khó lòng bàn việc cất quân đánh Giao Chỉ”
[26;373] Sau sự việc trên, chắc trong lòng chưa thực sự thỏa mãn với sự từchối khéo của vua Tống, Chiêm Thành không sang Đại Việt dâng tặng lễvật trong 2 năm (1092 và 1093) Năm 1094 lại bắt đầu sai sứ đến triều Lý,hoặc một, hoặc hai năm một lần cho đến hết triều vua Lý Nhân Tông
Tuy nhiên, năm 1102, con trai của vua Chiêm Harivarman là JayaIndravarman, được một người Việt tị nạn thuyết phục, đã thực hiện âmmưu nhằm lấy lại ba châu miền Bắc bị mất nhưng không thành [15;298].Nhưng mối hận thù kéo dài hàng thế kỉ với Chân Lạp làm cho ChiêmThành suy yếu nhiều, và sự phục hồi rất chậm chạp Trong suốt thời kỳ bịChân Lạp chiếm đóng, Chiêm Thành buộc phải từ bỏ tất cả mọi cố gắngnhằm giành lại ba châu từ Đại Việt Nhưng đó chỉ là kế hoãn binh, ChiêmThành chưa bao giờ chấp nhận từ bỏ Trong khi Đại Việt cũng quyết tâmgiữ cho bằng được vùng đấy ấy Do đó, cách duy nhất để chấm dứt cuộctranh chấp là thủ tiêu hoàn toàn một trong hai bên tranh chấp [15;300] Bấygiờ, ở Đại Việt, có giặc là Lý Giác khởi loạn (năm 1103) Sau khi và bị LýThường Kiệt đánh tan, Lý Giác chạy sang Chiêm Thành kể hết tình hìnhĐại Việt cho vua Chiêm Vua Chiêm bấy giờ là Chế Ma-na (IndravarmanII) đã đem quân vào chiếm lại các đất Lâm Bình, Minh Linh và Bố Chánh
mà Chế Củ đã nhường cho triều Lý Tháng 2 năm 1084, vua Nhân Tôngsai Lý Thường Kiệt đem quân vào đuổi, quân Chiêm thua, phải trả lại bachâu ấy [26;372] Như vậy, việc Đại Việt đánh Chiêm Thành dưới triều Lýkhông kịch liệt, chỉ là một cuộc xích mích ở biên thùy [26;373] Thời vua
Lý Thần Tông (1128 - 1138) giặc giã cũng ít, một vài lần có người ChânLạp và người Chiêm Thành sang quấy nhiễu ở mạn Nghệ An, nhưng chỉ là
Trang 33những cuộc cướp phá vặt vãnh, quan quân Đại Việt đánh đuổi được dễdàng.
Thời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175), “Người nước Chiêm Thành là Ung Minh Tá Điệp đến cửa nhà vua xin cho y làm vua, vua xuống chiếu sai
Lý Mông đem quân dẫn về nước, bị vua Chiêm Thành là Chế Bì La Bút giết mất, nhân thế vua Chiêm dâng con gái Vua nhận, không hỏi gì đến việc ấy nữa” [55;60] Thời vua Lý Cao Tông (1175 - 1210), tình hình Đại Việt lâm
vào cảnh vua tôi không ai lo nghĩ đến việc chính trị do đó, tiềm lực quốcphòng của đất nước sa sút nghiêm trọng
Đến cuối thế kỷ XII - đầu thế kỷ XIII, vùng biên thuỳ và bờ biển ởphía Nam (giáp Chiêm Thành) của Đại Việt liên tục xâm lấn và cướp phá
Có năm, quân Chiêm Thành tấn công Đại Việt tới hai, ba lần Tất cả cáccuộc xâm chiếm cướp phá của Chiêm Thành đều bị quân của triều đình, thổbiên và nhân dân địa phương vùng biên Đại Việt đẩy lùi Song các cuộcchiến đó cũng gây không ít thiệt hại cho nhân dân Đại Việt Điển hình nhưnăm 1203, người Chiêm là Bố Trì chạy sang Đại Việt nói dối là bị chú (BốĐiền) đuổi đi nên đem vợ con sang nhờ cứu giúp Vua Lý sai Đàm DĩMông và Đỗ An liệu kế để trừ khử nhưng kế hoạch bị lộ, bị giặc Chiêm
Thành giết chết “Dân Nghệ An kinh sợ, tan vỡ, chết mất không biết bao nhiêu mà kể Bố Trì tha hồ cướp bóc mà rút về” [52;428].
Như vậy, dưới triều Lý (1010 - 1225), quan hệ bang giao giữa ĐạiViệt với Chiêm Thành vẫn tiếp tục đan xen giữa quan hệ thông hiếu, hòabình với các cuộc xung đột Tuy nhiên, quan hệ thông hiếu chiếm ưu thếhơn cả Nguyên nhân chủ yếu xảy ra các cuộc xung đột chủ yếu là việcngười Chiêm Thành đem quân cướp bóc ven biển Đại Việt hay quấy rốinhằm đòi lại vùng đất đã mất Ngược lại, Đại Việt đem quân chinh phạt đểtrấn áp những cuộc quấy rối của Chiêm Thành Mỗi lần bị Đại Việt đánhthua, vua Chiêm Thành lại cầu hòa, cử người sang dâng tặng lễ vật nhưngsau đó lại chống đối Có thể nói rằng, mối quan hệ Đại Việt với Chiêm
Trang 34Thành dưới triều Lý (1009 - 1225) chủ yếu là mối quan hệ hòa hiếu xoayquanh vấn đề dâng tặng lễ vật của Chiêm Thành đối với Đại Việt.
Đối với Chân Lạp, mối quan hệ thông hiếu hòa hảo giữa Đại Việt
với Chân Lạp đổi thay từ khi vua Chân Lạp là Suryavarman II (1113 1150) lên nắm quyền Sau khi dẹp yên được sự chia rẽ trong nước và áp đặtđược sự ảnh hưởng to lớn của mình tới vương triều vua Harivarman V(1113 - 1139) của Chiêm Thành, Suryavarman II đã tiến hành những cuộcchiến tranh mở rộng quyền lực vượt xa các thời trước [43;975]Suryavarman II đã ép vua Chiêm Thành Harivarman V cùng phối hợp tấncông Đại Việt Về phía Đại Việt, từ đời vua Lý Anh Tông trở đi, vua lênngôi thường còn rất nhỏ tuổi, hầu hết mọi việc đều giao cho các quan đạithần trông nom Các vua Lý càng ngày càng trọng thú ăn chơi, tiêu khiển, ỷlại công việc của đất nước cho quan lại Nước Chân Lạp nhận thấy được sựrệu rã trong chính cơ quan đầu não của triều Lý, vì thế, không kiêng nể gìnữa, xúc tiến công cuộc xâm lấn, cướp bóc Đại Việt Cùng với đó, về phíanhà Tống, trước khi chính thức tiến hành công cuộc quấy rối Đại Việt vàonăm 1128, năm 1076, nhà Tống đem quân đánh Đại Việt, vua Tống đã épChiêm Thành và Chân Lạp đem quân hỗ trợ tấn công vào phía nam của ĐạiViệt Nước Chân Lạp cũng đã chuẩn bị quân đội sẵn sàng hỗ trợ nhà Tốngnhưng quân Tống thua, quân Chiêm Thành và Chân Lạp phải rút quân về
-Ngay từ triều vua Lý Thần Tông (1128 - 1138), với cái cớ là ĐạiViệt giúp đỡ người Chiêm Thành và người Chân Lạp lưu vong, nước ChânLạp đã mở đầu cho sự hiếu chiến của mình bằng hai cuộc tấn công vào
châu Nghệ An [63;11] Trong Việt sử thông giám cương mục có đoạn:
“Năm Mậu Thân (1128), tháng 2, Nước Chân Lạp hơn đem hơn 2 vạn người vào cướp Nghệ An Việc lên đến triều đình Nhà vua sai Lý Công Bình đi đánh, đánh bại được quân địch, bắt được tướng của địch gồm 169 người” [52;380] Cũng năm 1128, tháng 8, mùa thu, nước Chân Lạp vào cướp: “giặc kéo hơn 700 chiếc thuyền đến Nghệ An, nhà vua sai bọn Nguyễn Hà Viêm ở phủ Thanh Hóa và Dương Ổ ở châu Nghệ An đem quân
Trang 35đi đánh, đánh bại được địch Chân Lạp lại đưa thư xin triều đình sai người sang sứ nước Chân Lạp, nhưng nhà vua không trả lời” [52;383-384] Cũng
trong đời vua Lý Thần Tông, nước Chân Lạp hăng hái tấn công vùng đấtNghệ An vào các năm 1132, 1137 Có lúc còn cấu kết với quân ChiêmThành để quấy nhiễu Đại Việt, tuy nhiên đều bị đánh bại
Đến thời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175), vị vua hiếu chiến củaChân Lạp là Surysavarman II đã quyết tâm áp đặt sự thống trị của mình đốivới nước Chiêm Thành Những người Chiêm Thành tị nạn vượt biên chạytrốn sang cả Đại Việt Thừa thắng, Chân Lạp tấn công lên Nghệ An, cướpphá Thanh Hóa của Đại Việt Surysavarman II còn thuyết phục hay buộcvua Chiêm Thành là Jaya Indravarman III cùng tấn công Đại Việt nhưngcuộc tấn công này bị thất bại [15; 298] Đến đời vua Lý Huệ Tông (1210 -1224), Chân Lạp cũng tiến hành thêm hai cuộc tấn công xâm lấn lãnh thổĐại Việt ở khu vực Nghệ An, tuy triều đình Đại Việt dưới triều Lý thời bấygiờ có những biểu hiện suy thoái nhưng vẫn đủ sức chống lại tất cả cáccuộc tấn công của quân Chân Lạp Tóm lại, nước Chân Lạp đã tiến hànhxâm lấn lãnh thổ Đại Việt 7 lần và hầu hết đều diễn ta tập trung ở cuối triềuLý
Như vậy, dưới triều Lý, Đại Việt đã thiết lập được mối quan hệ banggiao tương đối thường xuyên với hầu hết các nước trong khu vực ĐôngNam Á lục địa, đặc biệt là với Chiêm Thành và Chân Lạp Trong đó, quan
hệ Đại Việt với Chiêm Thành dưới triều Lý (1009 – 1225) là chủ yếu hơn
cả Đối với các nước Đông Nam Á khác, mối quan hệ bang giao giữa ĐạiViệt dưới triều Lý với các nước này rất mờ nhạt, hoặc không diễn ra Năm
1149, với việc thuyền buôn các nước Đông Nam Á hải đảo như nước Trảo
Oa, Lộ Lạc đã vào Hải Đông xin cư trú buôn bán với Đại Việt Về sau,
đó là những nước có quan hệ bang giao thường xuyên, lâu dài với Đại Việt.Tuy nhiên, trong thời kỳ này, các nước Đông Nam Á hải đảo đều là những
nhân tố mới trong quan hệ đối ngoại với Đại Việt, khác hẳn với hai nước
láng giềng có quan hệ sớm, lâu dài là Chiêm Thành và Chân Lạp [75;198]
Trang 362.2 Quan hệ kinh tế
Đại Việt dưới triều Lý (1009 – 1225) có nhiều điều kiện thuận lợi đểphát triển các mối quan hệ kinh tế với các nước bên ngoài Trong đó cónhững thuận lợi tiêu biểu sau:
Thứ nhất, về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Đại Việt có lãnh thổ
hẹp ngang, nằm giữa hai nền văn minh lớn Ấn Độ - Trung Hoa, nằm ở vị
trí ngã ba đường giao thương Đông – Tây, Đại Việt lại có nguồn tài nguyên khoáng sản rất giàu có “Đảo di chí lược chép: Đất (Giao Chỉ) sản vàng (sa kim), bạc, đồng, thiếc, chì An Nam chí lược cũng chép sản vật của Đại Việt có chì, sắt, thiếc” [77;288] đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động giao lưu kinh tế của Đại Việt với các quốc gia trong khu vực
Thứ hai, hoạt động thủ công nghiệp triều Lý rất phát triển Tuy thủ
công nghiệp chưa tách rời với nông nghiệp nhưng cũng đã xuất hiện nhữnglàng chuyên môn sản xuất một loại sản phẩm thủ công nhất định, như làngnghề chuyên làm nón ở Ma Lôi (Hồng Lộ - Hải Dương) Từ triều Lý, kĩthuật làm gốm, tráng men rất phát triển đã chế tạo ra những sản phẩm gốmtráng men rất tinh xảo Nghề dệt vải lụa cũng phát triển song song với nghề
tằm tang “Nhân dân lao động ăn mặc đơn giản, người trong nước đều mặc quần áo đen không có các màu xanh, đỏ, vàng, tía, tuy nhiên để phục
vụ bọn giầu có và quý tộc, thủ công nghiệp dệt bấy giờ đã sản xuất được các loại vải tốt” [77;288] Đồ mĩ nghệ, nhất là các sản phẩm xa xỉ bằng
vàng, bạc, ngọc ngà cũng được chế tạo rất tinh xảo Nhìn chung hoạt độngthủ công nghiệp vẫn còn gắn liền với nông nghiệp nhưng Triều Lý đã có rấtnhiều sản phẩm thủ công nghiệp trở thành mặt hàng buôn bán có giá trịkhông những ở trong nước mà còn được thương nhân các nước trong khuvực Đông Nam Á chú ý đến
Thứ ba, tiền đồng được lưu thông rộng rãi trong nội thương và ngoại thương dưới triều Lý “Đồng tiền tệ đã có vai trò quan trọng trong thuế khóa, trong buôn bán, trong cả pháp luật của triều đình Kinh tế tiền tệ đã
Trang 37len lỏi trong nhiều quan hệ xã hội” [53;148] Tuy nhiên, số tiền do các vua
Lý đúc không đáp ứng đủ nhu cầu giao lưu hàng hóa Tiền đồng Trung
Quốc vào Đại Việt chiếm một tỉ lệ lớn An Nam chí lược cũng chép rằng
thời bấy giờ Đại Việt cũng có sử dụng tiền của Trung Quốc thời Đường,Tống Ở cảng Vân Đồn, người ta cũng đã tìm được nhiều tiền Đường và
Tống [77;289] Bên cạnh đó, về giao thông đi lại, nhà nước Đại Việt cũng
rất chú ý sửa sang các con đường giao thông bằng đường bộ và đường biển
Ngoại thương Đại Việt dưới triều Lý (1009 – 1225) đã tiến ra mặtbiển, với việc hình thành hàng loạt các cửa biển, bến sông ven biểm làmnơi neo đậu cho tàu thuyền các nước vào buôn bán Thuyền buôn nướcngoài thường xuyên đến buôn bán với Đại Việt cũng như chọn các cửa biểnlàm nơi giao lưu buôn bán kinh tế với nhau như Vân Đồn (Quảng Ninh),Diễn Châu (Nghệ An), Lạch Trường, Hội Triều (Thanh Hóa), Hội Thống,
Kỳ Anh (Hà Tĩnh) Tuy nhiên, từ giữa thế kỉ XII, do biến đổi của điềukiện tự nhiên, sự quấy nhiễu, cướp phá của thủy quân Chiêm Thành, ChânLạp cũng như sự hưng khởi của vùng kinh tế Đông Bắc… nên hoạt độngkinh tế đối ngoại của Đại Việt có khuynh hướng chuyển dần lên phía bắc[23;317-318]
Vân Đồn là một hải cảng quan trọng thời bấy giờ, được triều Lý xây
dựng năm 1149 khi “thuyền buôn nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương” [38;238] Vân
Đồn (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) là vùng quần đảo ở phía đông bắc ĐạiViệt, có vị trí tự nhiên rất thuận lợi cho thuyền bè qua lại và đồn trú, lạinằm trên trục hàng hải Trung Quốc xuống các nước Đông Nam Á Ở đây
có đảo Vân Hải (còn gọi là đảo Lợn Lòi) là lớn nhất, là trung tâm giaothương của Đại Việt dưới triều Lý – Trần
Vì mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn của đất nước nên vua
Lý chỉ cho phép thương nhân nước ngoài buôn bán ở một số địa điểm nhấtđịnh, chịu sự kiểm soát của nhà nước [54;149] Điều này lý giải cho việc
Trang 38các thương nhân nước ngoài, trong đó có thương nhân các nước Đông Nam
Á thường xuyên đến cống, tặng sản vật quý hiếm cho vua Lý để xin thôngthương Tham gia hoạt động giao thương những người thuộc nhiều tầng lớp
khác nhau như quý tộc, người giàu và thương nhân “Thương nhân Triều
Lý, Trần tuy chưa hình thành đội ngũ chuyên nghiệp nhưng hoạt động giao thương đã có sự kết hợp buôn bán với các yếu tố và thế lực” [9;34] Tầng
lớp quý tộc và quan lại vừa có thế lực về chính trị vừa có thế lực về kinh tế,
do đó, họ dễ dàng kết hợp hoạt động ngoại giao chính trị với hoạt độngkinh tế
Đối với Chiêm Thành, dưới thời triều Lý, Chiêm Thành vừa chịu sự
hao hụt về dân số diện tích lãnh thổ, tiềm lực kinh tế sau mỗi lần xung độtvới Đại Việt; vừa luôn chịu sự tiến cống cho Đại Việt và giao thương.Năm 922, vua Lê Đại Hành sai Phụ Quốc là Ngô Tử An đem 3 vạn người
mở đi mở đường bộ từ cửa biển Nam giới (cửa Sót, Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnhngày nay) đến châu Địa Lý (đất của Chiêm Thành thuộc tỉnh Quảng Bìnhngày nay) Đó chính là con đường bộ đầu tiên mà Đại Việt khai thông đểvào đất Chiêm Thành Con đường này góp phần tạo điều kiện thuận lợi chomối quan hệ giao lưu kinh tế giữa hai quốc gia
Năm 1044, vua Lý Thái Tông đem quân đánh Chiêm Thành và giành
thắng lợi “Vua giết được vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu và bắt được 5000 người và 30 con voi” [34;92] Sau đó, vua vào kinh thành Chiêm Thành là
Phật Thệ, sai sứ đi khắp các hương phủ dụ nhân dân Chiêm Thành Đồngthời, xuống chiếu cho các tù nhân Chiêm Thành, theo từng bộ thuộc, đến ởtrấn Vĩnh Khương (Hưng Hóa) lập ra làng, ấp, theo danh hiệu cũ củaChiêm Thành mà đặt tên Năm 1069, Đại Việt và Chiêm Thành lại xungđột Chiêm Thành thua trận, vua Chiêm Thành là Chế Củ dâng 3 châu BốChính, Địa Lý, Ma Linh để được tha về Đến năm 1075, Lý Thường Kiệt
vẽ bản đồ ba châu ấy Vua Lý đổi tên châu Ma Linh thành châu Minh Linh,châu Địa Lý thành châu Lâm Bình rồi xuống chiếu chiêu mộ dân đến ở và
tổ chức việc cai trị, mở đầu công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam.
Trang 39Dâng tặng lễ vật cũng là một hình thức ngoại giao phổ biến, thườngxuyên của Chiêm Thành đối với Đại Việt Triều Lý (1009 - 1225) Vậtphẩm chính của Chiêm Thành phần lớn là voi trắng, sư tử, ngoài ra còn cóhoa bằng vàng, trân châu và các sản vật địa phương, thậm chí còn có cả conngười (con gái) Sử cũ ghi chép rất vắn tắt về hoạt động dâng tặng lễ vậtcủa Chiêm Thành đối với Đại Việt Tuy ý nghĩa kinh tế của hoạt động nàymang lại không đáng kể nhưng cũng với việc Chiêm Thành sang dâng tặng
lễ vật với mật độ khá đều đặn đã mang đến những mối lợi nhất định về kinh
tế cho Đại Việt dưới triều Lý
Trong quan hệ dâng tặng lễ vật cho Đại Việt, Chiêm Thành có lẽ đãdâng rất nhiều lâm - thổ sản quý này cho triều đình Đại Việt Bởi vì, ChiêmThành là một nước rất giàu có về sản vật, đặc biệt là hương liệu, thú quý vàthủy sản quý Dân Chiêm Thành sống chủ yếu bằng nghề nông và thuhoạch các sản phẩm quý trong miền núi Chiêm Thành có rất nhiều trầm
hương, già lan hương, sinh hương, xạ hương… Sách Chư phiên chí do
Triệu Nhữ Quát soạn vào năm 1225 cũng có đoạn viết về nước Chiêm
Thành “người Chiêm Thành một ngày tắm ba đến năm lần, dùng xạ hương hòa với hương liệu xoa lên thân thể, lại còn dùng hương liệu để tẩm y phục cho thơm” [29;40]
Đại Việt dưới triều Lý đã hình thành Quan hệ kinh tế với ChiêmThành, chủ yếu nhân dân hai nước trao đổi, buôn bán lâm thổ sản quý, nhất
là trầm hương Người Chiêm Thành hoạt động nhiều nhất về mặt thươngmại và nghề thông thương hàng hải Cho tới thế kỉ X, Chiêm Thành kiểmsoát một phần lớn sự buôn bán đồ gia vị giữa Nam Dương và Trung Quốc
[1;104-105] “Theo Chu Khứ Phi trong Lĩnh ngoại đại đáp thì trầm của Đại Việt xuất sang Trung Quốc chủ yếu là trầm của Chiêm Thành” [9;23].
Như vậy, có thể suy đoán được rằng con đường buôn bán trầm hương đãhình thành từ Chiêm Thành sang Đại Việt, và từ Đại Việt mới sang TrungQuốc
Trang 40Năm 1072, vua Lý “tha thuế vải sợi trắng của Chiêm Thành”
[76;107] là bằng chứng chứng minh cho sự điều chỉnh thích hợp trong lĩnhvực giao thương của nhà nước Đại Việt Bên cạnh đó, hoạt động giaothương buôn bán không có sự kiểm soát của Nhà nước cũng diễn ra dướitriều Lý, ví dụ như hoạt động buôn bán người cũng xuất hiện trong thời kỳ
này Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại: tháng 9, năm 1132, “Lệnh thư gia châu Nghệ An là Trần Lưu dâng 3 người Chiêm Thành Trước đây bọn người này thường nấp ở chỗ hiểm yếu, bắt người ở châu Nghệ An đem bán cho nước Chân Lạp Lưu đặt quân phục ở chỗ ấy, bắt được đem dâng”
[38;227] Như vậy, quan hệ kinh tế giữa Đại Việt với Chiêm Thành dướitriều Lý (1009 – 1225) chủ yếu diễn ra dưới hình thức dâng tặng lễ vật vàhoạt động giao thương
Đối với Giava (Trảo Oa, Qua Oa), quan hệ kinh tế của Đại Việt
Triều Lý đỗi với Giava chủ yếu dưới hình thức dâng tặng lễ vật và buônbán, trao đổi hàng hóa Người Việt Nam biết đến Giava từ rất sớm, từ thời
Bắc thuộc: “Đinh Mùi (767), người Côn Lôn, Chà Bà (tức Giava) đến cướp, đánh lấy châu thành Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cầu cứu với Đô
ủy châu Vũ Định là Cao Chính Bình Quân cứu viện đánh tan quân Côn Lôn, Chà Bà ở Chu Diên Bá Nghi đắp lại La Thành” [38;105] Theo Minh
sử, người Giava “tính người hung tợn, kẻ bé người lớn đều đeo dao, hễ trái
ý nhau một chút thì liền đánh giết nhau ngay” [52;401] Tuy nhiên, phải từ
thế kỉ X, khi Đại Việt giành được độc lập chủ quyền thì mới chính thứcthiết lập quan hệ với Giava
Giava (tức Inđônêxia ngày nay) Triều Lý – Trần gọi là Trảo Oa,
Qua Oa, Đại Oa, Chà Và (trong Việt chí còn gọi là Quỷ quốc) Năm 1010,
vua Erơlanga đã mở đầu triều đại Giava phát triển phồn thịnh ở Inđônêxia.Dưới thời trị vì của Erơlanga (1010 - 1049), nền kinh tế ngoại thương cóvai trò đặc biệt quan trọng đối với vương quốc Dưới thời Erơlanga, nhiềunơi có quan hệ thương mại với Inđônêxia như Ấn Độ (Bengan, Sola),Chiêm Thành, người Môn (Miến) và Khơ-me (Chân Lạp)