1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ HAIKU CỔ ĐIỂN NHẬT BẢN

77 3,1K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Đặc Điểm Nghệ Thuật Thơ Haiku Cổ Điển Nhật Bản
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Nghệ Thuật Quân Đội
Chuyên ngành Nghệ Thuật
Thể loại Khóa luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 425 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở trong nước, các bài nghiên cứu trên cáctạp chí đã đi vào giới thiệu khái lược về thơ haiku, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu đặc biệt đi vào so sánh giữa thơ haiku và các thể thơ khác:

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 8

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

VI CẤU TRÚC KHOÁ LUẬN 9

CHƯƠNG 1 KẾT CẤU HƯ KHÔNG 10

I HƯ KHÔNG TRONG THIỀN VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT 10

I.1 Hư không trong Thiền 10

I.2 Hư không trong các loại hình nghệ thuật 11

II KẾT CẤU HƯ KHÔNG TRONG THƠ HAIKU 14

II.1 Giới thuyết khái niệm kết cấu hư không 14

II.2 Hư không bên ngoài bài thơ: ngôn ngữ thơ cực tiểu 16

II.3 Hư không giữa các hình ảnh, từ ngữ trong bài 19

II.4 Nghệ thuật tượng trưng 22

II.5 Nghệ thuật cảm nghiệm – nhất tâm đồng sáng tạo 25

CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 30

I KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 30

I.1 Giới thuyết khái niệm không gian nghệ thuật 30

I.2 Không gian thiên về vi mô trong thơ haiku 31

I.3 Không gian Nhật Bản thuần khiết 33

I.4 Cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa 35

I.5 Cảnh và người hoà hợp 37

II THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 39

II.1 Giới thuyết khái niệm thời gian nghệ thuật 39

II.2 Thời gian bốn mùa luân chuyển 40

Trang 2

II.3 Thời gian khoảnh khắc thực tại 42

CHƯƠNG 3 LUẬT THƠ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ 47

I LUẬT THƠ 47

I.1 Giới thuyết khái niệm luật thơ 47

I.2 Quy tắc phân dòng và số tiếng 47

I.3 Quy tắc gieo vần 50

I.4 Quy tắc tạo nhịp thơ 53

II BIỆN PHÁP TU TỪ 56

II.1 Giới thuyết khái niệm biện pháp tu từ 56

II.2 Biện pháp liệt kê 58

II.3 Biện pháp ẩn dụ 60

II.3.1 Ẩn dụ vật hóa 61

II.3.2 Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác 62

II.3.3 Ẩn dụ nhân hóa 64

II 4 Biện pháp tương phản 66

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 3

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I.1 Văn học Nhật Bản là nền văn học lâu đời, có nhiều thành tựu rực rỡ,

từng được ghi nhận qua hai giải Noben văn học: một của Y.Kawabata năm 1969,một của K.Oe năm 1994 Văn học Nhật Bản trở thành đối tượng hấp dẫn đối vớirất nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về văn học NhậtBản chưa nhiều nhất là những công trình nghiên cứu về thơ ca cổ Nhật Bản Vìvậy trong tương lai vẫn rất cần những công trình tìm hiểu về nền văn hoá, vănhọc Nhật Bản

I.2 Thơ haiku là một biểu hiện của tinh thần Nhật Bản Giáo sư R.H.Blyth

trong cuốn Đời sống và tính cách Nhật Bản trong thơ xuyên liễu (Japanese Life

and Character in Senryu) (Hokuseido Tokyo, 1960) đã viết: “Nước Nhật sinh ra

cùng với Basho vào năm 1644 Ông chính là người sáng tạo ra linh hồn NhậtBản” R.Blyth đã đánh giá cao vị trí của haiku cũng như vai trò của Basho trongvăn học Nhật Bản đến mức coi haiku là linh hồn của Nhật Bản và M.Basho làngười sáng tạo ra linh hồn Nhật Bản…

Haiku có nguồn gốc từ thể tanka (đoản ca) Tanka là thể thơ tiêu biểu nhấtcủa waka (hòa ca) – thơ ca của người Nhật Tanka là thể thơ ngắn, mỗi bài có 31

âm tiết, chia làm 5 dòng 5 – 7 – 5 – 7 – 7 Thể thơ này chiếm ưu thế trong Vạn

diệp tập – một thi tuyển đồ sộ của văn học Nhật Bản.

Từ thế kỉ thứ XIV – XV, khi tanka bắt đầu có dấu hiệu đi xuống, trên thiđàn văn học Nhật Bản xuất hiện thể renga (liên ca) Thực chất đây là trò chơi nốithơ của các nhà thơ tanka Mỗi bài renga cũng có nhịp phách 5 – 7 – 5 – 7 – 7nhưng chia thành hai phần rõ rệt, ba câu đầu là kami no ku (thượng cú) gồm 17

âm tiết theo nhịp phách 5 – 7 – 5 và hai câu sau là shimmo no ku (hạ cú) gồm 14

âm tiết theo nhịp phách 7 – 7 Những câu thơ này đan xen với nhau để tạo thànhnhững chuỗi dài gồm 36, 100 có khi nhiều hơn nữa Trong bài renga liên hoàn,

Trang 4

khổ đầu được gọi là hokku (phát cú) và quy chiếu theo mùa trong năm Chúng cóthể do một nhóm thi sĩ hoặc một thi sĩ sáng tác với tư cách nhóm.

Sang thế kỉ XVI, khi sáng tác các thi sĩ với tư cách cả nhóm sẽ soạn theonhững niêm luật đã vạch ra hết sức rõ ràng Phần đầu hokku gồm 17 âm tiết cótính độc lập hơn trong bài renga sau này có tên gọi là haiku Renga không chỉ làthú vui của giai cấp quý tộc mà trở nên phổ biến và bình dân hơn, nhiều bàirenga được làm với mục đích hài hước, châm chọc nên còn được gọi là haikai

Bước sang thế kỉ XVII, thể thơ 17 âm tiết này phát triển độc lập và đạt đượcđỉnh cao vào thời Edo (1603 – 1867) gắn liền với tên tuổi lừng lẫy của nhà thơMatsuo Basho (1644 – 1694) Vào thời kì này, tính chất hóm hỉnh, trào lộng củathể thơ được thay thế bằng sắc thái tĩnh mịch, cô đọng, sâu thẳm của Thiền tông

Đến năm 1890, nhà thơ Masaoka Shiki (1867 – 1902) đặt tên cho thể thơ

17 âm tiết là haiku Đây là sự kết hợp của hai tên gọi haikai và hokku Có thểnói, nếu như “chính nhờ thiên tài Basho mà haiku đã trở thành một thể thơ độcđáo, có ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ thế giới” [38,105] thì M Shiki “là nhà tiênphong trong công cuộc cách tân thơ haiku thời kì cận đại [30]

Hàm chứa tính triết học và nhân văn rất sâu sắc chính vì thế thơ haiku cósức hấp dẫn rất mạnh đối với người sáng tác và người thưởng thức Tuy nhiênthơ haiku Nhật Bản là một thể thơ khó bởi cấu trúc ngôn ngữ đa nghĩa, mơ hồ, vìvậy việc hiểu một bài haiku là công việc không hề đơn giản Khoá luận nàymong muốn đóng góp vào việc tìm hiểu đặc trưng thi pháp của thơ haiku cổ điển

để từ đó góp phần vào một công việc gian nan là tìm ra chìa khoá, mở ra cánhcổng bước vào thế giới haiku Bởi vì những yếu tố nghệ thuật độc đáo của haikugóp phần biểu đạt chiều sâu nội dung tư tưởng của bài thơ Và hiểu haiku cũng làbước đầu hiểu được linh hồn Nhật Bản

I.3 Trong lần cải cách sách giáo khoa Ngữ Văn gần đây, thơ haiku đã

được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 10(tập một) bộ đại trà gồm 8 bài haiku của Basho, bộ nâng cao gồm 3 bài haiku của

Trang 5

Basho và 3 bài haiku của Buson Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhậnthấy, việc dạy và học thơ haiku vô cùng khó khăn đối với cả giáo viên và họcsinh do thời lượng dành cho thơ haiku còn quá ít: sách nâng cao 2 tiết, sách cơbản 1 tiết (đọc thêm), bên cạnh đó, thơ haiku hàm súc, khó hiểu, tài liệu về thơhaiku hiếm Trong Sách giáo viên Ngữ Văn 10 bộ đại trà, các nhà soạn sáchcũng đã khẳng định: “Thơ haiku là một thể thơ lạ đối với học sinh, không chỉ lạ

về thể loại mà còn lạ về thi pháp”

Mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc dạy và học thơ

haiku ở phổ thông, chúng tôi đã chọn đề tài Một số đặc điểm nghệ thuật thơ

haiku cổ điển Nhật Bản.

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Hiện nay, nền văn học Nhật Bản nói chung và thơ haiku nói riêng đượckhá nhiều người quan tâm Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều công trìnhnghiên cứu về văn học Nhật Bản “Nhìn trong tổng thể và đặt trong tương quanchung với các nền văn học được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì việc dịch vàgiới thiệu văn học Nhật Bản còn quá ít ỏi” [18, 261] Thơ haiku cũng không phảingoại lệ Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực không ngừng để đưa haiku đến gần vớichúng ta hơn

Sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu thơ haiku, chúng tôi chia cáctài liệu các tài liệu nghiên cứu về nó làm ba loại:

Thứ nhất là các loại sách, giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo

Lịch sử nghiên cứu về thơ haiku ở Việt Nam đang dừng lại ở một mức độkhiêm tốn với lượng sách ít ỏi và một số gương mặt các nhà nghiên cứu, dịch giảtiêu biểu: Phan Nhật Chiêu, Lê Thiện Dũng, Đoàn Lê Giang, Lưu Đức Trung,Vĩnh Sính… Các công trình nghiên cứu của họ đã cung cấp cho người đọc mộtcái nhìn tương đối toàn diện về thơ haiku trên cả hai mặt nội dung và nghệ thuật

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu là người có nhiều công trình nghiên cứu vềthơ haiku nhất Bên cạnh các bài viết đăng trên các tạp chí trong nước, ông đã

Trang 6

xuất bản nhiều cuốn sách viết về thơ haiku như: Basho và thơ haiku (1994), Thơ

ca Nhật Bản (1998), Ba nghìn thế giới thơm (2007)… Trong các cuốn sách đó,

ông đã chỉ rõ những đặc trưng nghệ thuật của thơ haku về hình thức, đề tài, cảm

thức thẩm mĩ Trong cuốn Văn học Nhật Bản – Từ khởi thủy đến 1868 (2003)

ông đã chỉ rõ: “Về hình thức, một bài haiku thường có 17 âm tiết (5 – 7 – 5) Sự

cô đọng là đặc điểm nổi bật ” [8, 270 – 271] từ đó ông khẳng định “haiku là thểthơ ngắn nhất thế giới là thơ ca của kinh nghiệm thường ngày, của cảm thức

thẩm mĩ, của trực giác tâm linh” [8, 271 – 272] Trong cuốn Nhật Bản trong

chiếc gương soi (1995) tác giả đã phản ánh khá đầy đủ và sâu sắc những khía

cạnh về văn hóa, văn học Nhật Bản Qua những tấm gương phản chiếu đó, chúngtôi biết được: thơ haiku không cốt nói nhiều Nó im lặng hơn là nói Nó trốngchứ không đầy Có thể nói, những kết luận của nhà nghiên cứu Nhật Chiêu sẽ là

cơ sở tư liệu giúp ích chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Trong cuốn Đại cương văn hóa phương Đông, các tác giả sau khi nghiên

cứu đã khảng định haiku là “thể thơ độc lập mang phong vị Thiền” [39, 291].Chính phong vị Thiền đã tạo nên kết cấu hư không trong thơ

Giáo sư Lưu Đức Trung trong cuốn Giáo trình văn học châu Á (Nxb Giáo

dục, Hà Nội, 1997) đã khái quát những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật củathơ haiku một cách ngắn gọn: “Thơ haiku là loại thơ ngắn có ba câu gồm 17 âmtiết Nội dung cô đọng, súc tích, gây ấn tượng Đề tài chủ yếu miêu tả bốn mùacủa thiên nhiên gọi là kidai (quý đề), thường dùng những từ ngữ chỉ về mùa gọi

là kigo (quý ngữ) [43,140]

Trong chuyên luận Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam

thế kỉ XI – thế kỉ XIV, Đoàn Thị Thu Vân đã so sánh nghệ thuật thơ Thiền Lí

Trần và thơ Thiền Nhật Bản và bước đầu rút ra kết luận: “Thơ Thiền Lí Trầnthông qua tâm của người đạt đạo để đi đến cái chân như Còn thơ haiku đi thẳngđến cái tâm của vạn vật vũ trụ tức chân không, không thông qua cầu nối chủ

Trang 7

quan của con người” [trang 168] So sánh này là gợi ý bước đầu giúp chúng tôi

có ý niệm rõ hơn về chất Thiền trong thơ haiku

Để khảng định vị trí quan trọng của thơ haiku trong nền văn học Nhật

Bản, Hữu Ngọc trong cuốn Dạo chơi vườn văn học Nhật Bản (Nxb Thế giới,

1999) cũng đã khảng định: “Nói đến Nhật Bản là phải nói thơ haiku… một thểthơ trữ tình vừa tuyệt mĩ vừa cao siêu Haiku đã trở thành tập quán văn hóa Nhật,người Nhật có học nào cũng làm thơ haiku” Có lẽ, tính trữ tình, tuyệt mĩ, caosiêu trong thơ haiku được thể hiện ở nội dung, ở dấu ấn Thiền tông, tư tưởngthẩm mĩ, ở nghệ thuật biểu hiện

Có thể nói, các cuốn sách, giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo về thơhaiku tuy chưa nhiều nhưng đã chỉ rõ và khái quát được các đặc điểm cơ bản vềđặc trưng nội dung và nghệ thuật của thơ haiku Đây là nguồn tài liệu quý báugiúp chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Thứ hai là các bài báo đăng trên các tạp chí trong nước

Thơ haiku được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh và được đăng tải nhiềutrên các tạp chí trong và ngoài nước Ở trong nước, các bài nghiên cứu trên cáctạp chí đã đi vào giới thiệu khái lược về thơ haiku, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu

đặc biệt đi vào so sánh giữa thơ haiku và các thể thơ khác: : Basho – Nguyễn

Trãi – Nguyễn Du những hồn thơ đồng điệu (Đoàn Lê Giang, Tạp chí Văn học,

2003), Basho (1644 – 1694) và Huyền Quang (1254 – 1334) sự gặp gỡ với mùa

thu hay sự tương hợp về cảm thức thẩm mĩ (Lê Từ Hiển, Tạp chí Nghiên cứu

Văn học số 7, 2005), Phác thảo những nét tương đồng và dị biệt của ba thể thơ:

tuyệt cú, haiku và lục bát (Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn Văn học so sánh, nghiên cứu và triển vọng, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005), So sánh chất Thiền trong thơ haiku Nhật Bản và thơ mang màu sắc Thiền Tông ở Việt Nam

(Nguyễn Thị Thanh Chung, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư Phạm Hà Nội, số 2,

2005), Sự biểu hiện của cái “tĩnh” và “động” trong thơ Trần Nhân Tông và thơ

haiku của M.Basho (Hà Văn Lưỡng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1,

Trang 8

2006), Haiku – Lục bát một vài ghi nhận (Nguyễn Thị Thanh Xuân, Tạp chí Văn học 2012), Đặc điểm thơ haiku Nhật Bản (Nguyễn Thị Mai Liên, Nghiên cứu Đông Bắc Á, 10, 2010), Một số phương diện thi pháp thơ haiku cổ điển Nhật

Bản (Nguyễn Thị Mai Liên, Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội, 5, 2014)

Nhìn chung các bài báo trên thông qua so sánh đều nhằm làm rõ nhữngđặc trưng nghệ thuật của thơ haiku như: tính ngắn gọn, kiệm lời, kết cấu tạokhoảng trống…

Tạp chí Văn học số 10, 1999 có bài Cấu trúc nghệ thuật thơ haiku của

Nguyễn Tuấn Khanh đã trình bày khái quát về nguồn gốc, đặc điểm thể loại, tácgiả đã nhận xét về cấu trúc của thơ haiku: “Vì haiku ngắn hơn tất cả các thể thơkhác nên nó phải tập trung tất cả các năng lực của mình vào việc gợi cảm có khicòn hơn các loại thơ khác rất nhiều Chỉ những đường viền quanh hay nhữngphần quan trọng mới được vẽ ra, phần còn lại người đọc tự làm lấy Haiku rấtgiống loại tranh thủy mặc mà người Nhật ưa chuộng” [17,62]

Hà Văn Lưỡng trong bài nghiên cứu Đặc điểm thơ haiku Nhật Bản đăng

trên Tạp chí Sông Hương số 150, tháng 8, 2001 đã khái quát về quá trình hìnhthành và phát triển, đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thể thơ Về đặc điểm nghệthuật, tác giả đã nhận xét: “Thơ haiku có một cấu trúc nghệ thuật đặc sắc… sửdụng tương phản, đối lập là đặc trưng nghệ thuật của thơ haiku… Giới thiệu đềtài để tạo ra sự liên tưởng đối với người đọc cũng là một nghệ thuật củathơ haiku Các bài thơ haiku thường chỉ là những nét chấm phá, gợi mở để độcgiả vận dụng trí tưởng tượng nhằm liên tưởng đến các sự vật và hiện tượngkhác” [26]

Trong hai bài viết Đặc điểm thơ haiku Nhật Bản (Nguyễn Thị Mai Liên, Nghiên cứu Đông Bắc Á, 10, 2010), Một số phương diện thi pháp thơ haiku cổ

điển Nhật Bản (Nguyễn Thị Mai Liên, Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội, số 5,

2014), tác giả đã chỉ ra một số phương diện nội dung và nghệ thuật thơ haiku cổđiển Nhật Bản Về nội dung, thơ haiku cổ điển chứa đựng những Thiền ý sâu xa

Trang 9

như thuyết tương giao hoà hợp, bình đẳng, vô ngã – vô thường Về nghệ thuật,tác giả chỉ ra kết cấu hư không, thời gian khoảnh khắc thực tại, luật thơ, khônggian thiên về vi mô, chín thủ pháp nghệ thuật là liệt kê, so sánh, ẩn dụ (ẩn dụnhân hoá, ẩn dụ vật hoá, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác), hoán dụ, đối lập, điệp, chơichữ, cường điệu.

Có thể nói, các bài viết đăng trên các tạp chí dù ngắn gọn, khái quát nhưngđều là nguồn tư liệu cần thiết và là gợi ý quan trọng cho chúng tôi thực hiện đềtài này

Thứ ba là các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp

Hiện nay thơ haiku đang được giảng dạy, nghiên cứu tại các trường Caođẳng, Đại học, tuy nhiên chưa có nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh lựa chọn thơhaiku làm đề tài nghiên cứu Chúng tôi tìm thấy trong Thư viện Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội hai Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục chuyên ngành Lí luận

và Phương pháp dạy học của Nguyễn Thị Mai Anh với đề tài Định hướng dạy

học thơ Haiku ở lớp 10 THPT từ góc nhìn văn hóa và Luận văn Dạy học thơ Hai – cư Nhật Bản ở lớp 10 trong quan hệ so sánh với thơ Thiền Việt Nam của Trịnh

Thị Tâm Hai tác giả đã đưa ra hướng tiếp cận thơ haiku cho học sinh – một đốitượng tiếp nhận khá đặc biệt theo hai hướng: từ góc nhìn văn hóa và trong quan

hệ với thơ Thiền Việt Nam Các tác giả đều khẳng định: “Thơ haiku là một thểthơ độc đáo của Nhật Bản, thấm đẫm tinh thần Thiền tông và tinh thần văn hóaphương Đông Không thể hiểu thơ haiku nếu không có kiến thức gì về Phật giáo”[1, 110] Đặc biệt, tác giả Trịnh Thị Tâm đã đi vào so sánh trên các nét tươngđồng và dị biệt của thơ haiku với thơ Thiền Việt Nam trên các mặt: hình thức, đềtài, hình ảnh, cảm xúc, tư tưởng, ngôn ngữ

Luận văn của Bùi Thị Mai Anh có đề tài Chất sabi trong Lối lên miền

Oku, luận văn của Trần Thị Oanh với đề tài Một số cảm thức thẩm mĩ trong thơ haiku Nhật Bản đề cập đến những lí tưởng thẩm mĩ cơ bản của người Nhật thể

hiện trong thơ như sabi, wabi, aware

Trang 10

Luận án của Nguyễn Thị Quỳnh Như với đề tài Thơ Haiku Nhật Bản: Lịch

sử phát triển và đặc điểm thể loại được bảo vệ tại Đại học Khoa học xã hội &

Nhân văn – ĐHQG TPHCM vào ngày 14/6/2013 đã đi sâu vào nghiên cứu, tìmhiểu những giá trị lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của thơ haiku quacác thời kì, làm rõ những đặc trưng về nội dung, nghệ thuật của thơ haiku nhằmđưa ra bức tranh đầy đủ, muôn mặt của thể loại này đến với người đọc

Nhìn chung thơ haiku trong các công trình nghiên cứu, trong một số sáchbáo, tạp chí chỉ được xem xét ở mức khái quát, chưa có chuyên luận nào đi sâu

cụ thể vào phương diện nghệ thuật của thể thơ độc đáo này Các công trìnhnghiên cứu trên sẽ là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi trong quá trình thựchiện đề tài với mong muốn góp phần nào vào công việc lấp đầy khoảng trốngnghiên cứu thơ haiku nói riêng và văn học Nhật Bản nói chung tại Việt Nam

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thông qua đề tài này, khóa luận hướng tới mục đích sau:

 Tìm hiểu một số đặc điểm nghệ thuật như: kết cấu hư không, khônggian – thời gian nghệ thuật, biện pháp tu từ, luật thơ haiku để thấy rõ vai trò củanghệ thuật trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng

 Từ việc xác định đặc trưng nội dung và nghệ thuật thơ haiku, chúng tôiđưa ra những cơ hội và thách thức trong việc dịch và sáng tác thơ haiku ở các nước

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

IV.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu các đặc điểm về nghệthuật của thơ haiku: kết cấu, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, biệnpháp tu từ, luật thơ

IV.2 Phạm vi nghiên cứu

 Để tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật thơ haiku, chúng tôi chủ yếu khảo sátcác bài thơ haiku của các tác giả như: Basho, Issa, Buson, Shiki, Chiyko…

Trang 11

 Nguồn tư liệu của đề tài là các sách, các công trình nghiên cứu về văn họcNhật Bản, thơ haiku bằng tiếng Việt có xuất xứ rõ ràng và được công bố chính thức,các bài thơ được sử dụng là các bản dịch của các dịch giả như Nhật Chiêu, Đoàn LêGiang, Thanh Châu, Lê Thị Bình, Quỳnh Như, Nam Trân, Mai Liên…

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Khóa luận sử dụng hướng tiếp cận thi pháp học, so sánh, phương phápliên ngành, phân tích, tổng hợp

 Một số thao tác nghiên cứu khác cũng được sử dụng xuyên suốt trongkhóa luận như khảo sát, thống kê

VI CẤU TRÚC KHOÁ LUẬN

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, khóa luậnđược triển khai thành 3 chương:

 Chương 1: Kết cấu hư không

 Chương 2: Không gian - thời gian nghệ thuật

 Chương 3: Luật thơ và biện pháp tu từ

Trang 12

CHƯƠNG 1 KẾT CẤU HƯ KHÔNG

I HƯ KHÔNG TRONG THIỀN VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT I.1 Hư không trong Thiền

Nhật Bản là xứ sở của đạo Phật Trong nhiều tông phái của Phật giáo,Thiền tông có ý nghĩa to lớn trong văn hóa Nhật Bản “Thiền đến Nhật Bản từthế kỉ thứ 12 và trong suốt tám trăm năm lịch sử nó đã ảnh hưởng tới đời sốngNhật Bản trong nhiều phương diện” [44, 365] “Thiền đem đến cho con ngườitriết lí sâu sắc và sáng suốt Thiền chính là chốn tâm vốn “tĩnh lặng, sáng suốt”tuyệt đối của mỗi người”, “tu Thiền chính là làm cho “tính chân” sẵn có nơi tâmlinh của mỗi người bộc lộ ra, có như vậy mới tận dụng được sự tĩnh lặng tột cùng

và phát huy được công năng sáng suốt, rõ ràng bất tận của tính chân” [3, 211]

Từ Thiền – nói đầy đủ là Thiền na hay Thiền định – xuất phát từ chữ Zentrong tiếng Nhật Chữ Zen có nguồn gốc từ chữ Ch’an trong tiếng Trung ChữCh’an lai bắt nguồn từ Dhyana trong tiếng Saskrit, Ấn Độ Dhyana nghĩa là tịch

lự, trầm tư chiêm nghiệm về một vấn đề cho đến khi thức ngộ thấu đáo, triệt để

Thiền “là thể tĩnh vốn tĩnh lặng tràn đầy sáng suốt của chân tâm, nói gầnhơn Zen (Thiền) chính là sự vận hành của tâm tỉnh giác” [3, 211] Thiền luôn đòi

hỏi sự tĩnh tâm, đề cao trạng thái tĩnh và hư “Hư” là trống không nhưng không phải là trống rỗng tuyệt đối không có gì cả mà “hư” để tâm trở nên không tạp

niệm, không thiên kiến Bản chất của Thiền đã xác định “hãy là chính mình khi

đó anh sẽ mênh mông như không gian, tự do như chim trên trời, cá dưới nước,tinh thần sẽ trong sạch như gương” [21, 60] Trạng thái này thể hiện sự tự dotuyệt đối của tinh thần

“Hư không” là thuật ngữ của Thiền tông “chỉ cảnh giới tịch lặng trong tâm

hành giả lúc nhập định, một cái tâm trong sáng, không tạp niệm, do đó có khảnăng tri kiến sáng suốt” [21, 68] Đó không phải là trạng thái trống rỗng, vô tri

Trang 13

vô giác mà đó là lúc cái tâm trở về bản tính nguyên thuỷ trong suốt, chưa khởi ýtham, sân, si Khi tâm trong sạch, nguyên vẹn, trong sáng vô ngần, con người cóthể nhìn thấu, nghe thấu được bản chất của vạn vật:

Thân thị bồ đề thụ Tâm như minh cảnh đài

(Thân là cây bồ đềTâm như đài gương sáng)

(Thần Tú)

Hư không chính là khoảng trống trong tâm hồn nhưng khoảng trống đó cókhả năng tri diện, tri kiến sáng suốt như tấm gương thu nhận, phản chiếu vạn vậttrong vũ trụ

Hư không không phải là sự hư vô trống rỗng cũng không phải là chânkhông được đo bằng đơn vị dài, rộng cao sâu mà chỉ có thể nhìn và cảm nhậnbằng mắt của tâm hồn

I.2 Hư không trong các loại hình nghệ thuật

Khái niệm hư không của Phật giáo Thiền tông đã thâm nhập vào nhiềuloại hình nghệ thuật của Nhật Bản như vườn cảnh, thư pháp, tranh mặc hộisumie, thơ haiku…

Vườn cảnh là một thành tố quan trọng trong đời sống Phật giáo Nhật Bản.

Những khu vườn thấm đẫm triết lí Phật giáo được làm bằng cát, đá hơn bằng đất

và hoa Đó là các “khu vườn Thiền” thu nhỏ với một số phiến đá xếp trên mộtmặt phẳng nhỏ hình chữ nhật Các phiến đá, ao hồ, cây cối được sắp đặt mộtcách hài hòa theo quy luật tự nhiên khiến cho không gian khu vườn tĩnh lặng,thanh bình “Những lớp sỏi trắng đẹp đẽ kia tượng trưng cho mặt biển, cònnhững viễn đá lớn tượng trưng cho những hòn đảo nổi lên trên mặt biển Nhữngđường lăn tăn, gợn sóng gợi lên hình ảnh những con sống ngoài khơi Thế nhưngsóng và biển ở đây chỉ lặng yên mà không hề chuyển động, điều này đem lại chochúng ta cảm giác giữa hữu và vô” [37] Đó là sự hài hòa, tịch mịch, trống vắng

Trang 14

Bước vào vườn cảnh, tâm hồn con người ta trở nên thanh sạch và sáng trong, đó

là lúc con người trút bỏ được bụi đời, những bộn bề của cuộc sống để thư giãn,cân bằng lại trạng thái tinh thần Khi đó, tâm và cảnh sẽ hòa làm một, không gian

và thời gian như đứng yên để con người chiêm nghiệm, để nhận ra những vẻ đẹp

tự nhiên, bình dị và sống động trong hiện tại

Thư pháp được xem là môn nghệ thuật cao cấp, mang tính đặc thù, có

ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của người dân Nhật Bản Chỉ với câybút lông và thỏi mực, người Nhật đã đẩy môn nghệ thuật đậm nét phương Đôngnày lên một bậc cao hơn với tên gọi môn Hitsuzendo tức Thư pháp Thiền “Hitsu

là nét bút hấp thụ và phỏng chiếu cảnh giới tâm của hành giả, Zen là sự vận hànhcủa tâm một cách toàn triệt trong thời gian và hoàn cảnh hiện tại, thoát khỏi tâmlượng hẹp hòi và Do là sự vận hành tương tục của Đạo” [15, 104] Viết thư phápcũng là cách để các hành giả tu Thiền Triết lí hư không của Phật giáo Thiềntông thể hiện khi các hành giả hạ tâm vào công phu tu thập họ gạt phăng khỏitâm thức những thấy – biết (tư kiến), đạt được trạng thái giác ngộ cao, nhữnggiây phút thể nghiệm hoặc chiêm ngưỡng trang trọng và ý vị Thư pháp Thiềndùng một vòng tròn, dạng đơn giản nhất trong tất cả các hình ảnh, để biểu lộ sự

đa dạng của đạo Phật – trống không nhưng tròn đầy, vô tận, rõ ràng và trọn vẹn.Người nghệ sĩ thể hiện mỗi nét bút như thể đang đối diện với giây phút cuối

cùng của cuộc đời mình (hữu và vô nhất thể thành một), tâm hồn của mình được

khắc họa trên trang giấy Quá trình thể hiện và thưởng thức các bức thư phápThiền “giúp con người “quán chiếu u uẩn” của chính mình hay còn được gọi là

“quán chiếu bát nhã” (trí tuệ đạt được thông qua chiêm nghiệm)” [3, 214]

Tranh mặc hội (sumie): cũng giống như tranh thủy mặc Trung Quốc,

tranh mặc hội sumie chỉ dùng bút lông thấm mực nho quệt, phẩy… lên giấytrắng, lụa trắng chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ trống trơn (không bạch) để khắc họa hìnhtượng Tư tưởng Thiền tông ảnh hưởng tới mọi mặt trong đời sống tinh thần củangười Nhật Bản, tranh mặc hội Sumie cũng không là ngoại lệ Triết lí hư không

Trang 15

của Thiền tông trong tranh mặc hội Sumie thể hiện trong việc người nghệ sĩ khi vẽtranh phải tu tâm, giữ tâm tĩnh lự, trạng thái tinh thần cân bằng, không xao động

để nắm bắt thần thái của tạo vật, làm sao để đưa vào tranh cái hồn của sự vật đó.Điều đặc biệt của bức tranh không phải những mảng đặc mà là những khoảng dưbạch trong tranh Những khoảng dư bạch đó chính là những khoảng trống ám gợitrí tưởng tưởng của người thưởng lãm Chỉ bằng vài nét bút giản đơn với hai màuđen, trắng nhưng nhìn vào đó người ta có thể cảm nhận được sự đối lập Âm,Dương, sự dung hòa giữa ánh sáng và bóng tối, sự hòa điệu giữa động và tĩnh, hữu

và vô… Lúc đậm lúc nhạt, lúc nhanh lúc chậm, từng nét bút lướt trên trang giấy

ẩn chứa bao điều về sức sống thiên nhiên và lẽ sống nhân sinh

Bên cạnh các loại hình nghệ thuật như vườn cảnh, thư pháp Thiền, tranhmặc hội, triết lí hư không của Phật giáo Thiền tông còn ảnh hưởng đến các loạihình nghệ thuật nổi tiếng khác của Nhật Bản như trà đạo, hoa đạo, kịch No Cóthể nói, triết lí hư không trong các loại hình nghệ thuật thể hiện ở sự vắng lặng,tĩnh mịch, ở khoảng trống lấp đầy của người thưởng thức Hư không trong cácloại hình nghệ thuật cần sự phối hợp giữa người nghệ sĩ và người tiếp nhận Mỗingười nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật phải giữa cho tâm mình trong sáng,thanh sạch mới có thể tạo nên những tác phẩm nghệ thuật giá trị Trong mỗi tácphẩm của mình, người nghệ sĩ chỉ gợi chứ không tả Những gì họ tạo ra mới chỉmột phần, phần còn lại để hoàn thiện tác phẩm thuộc về người thưởng thức Nhưcách nói của nhà thơ Chế Lan Viên:

Bài thơ anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa để mùa thu làm lấy

(Một nửa)

Người thưởng thức khi thưởng lãm các tác phẩm nghệ thuật cũng phải ởtrong trạng thái tinh thần cân bằng, trong sạch, không tạp niệm, phải dùng tâmcủa mình để xem xét, đánh giá như thế mới đạt được khoảnh khắc đốn ngộ

Trang 16

II KẾT CẤU HƯ KHÔNG TRONG THƠ HAIKU

II.1 Giới thuyết khái niệm kết cấu hư không

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và

sinh động của tác phẩm” [13, 156] “Kết cấu là phương tiện cơ bản để khái quátnghệ thuật”, “nếu như những yếu tố kĩ thuật, thủ pháp là có giới hạn thì kết cấu

là vô hạn, vì mỗi tác phẩm là một “sinh mệnh”, một “cơ thể sống” nên kết cấutác phẩm là một kiến trúc, một tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung cụ thể củatác phẩm” [13, 157]

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đã khẳng định, kết cấu

là “sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự cấu tạo tácphẩm, tùy theo nội dung và thể tài Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức vàphối thuộc chúng với tư tưởng Các quy luật của kết cấu – là kết quả của nhậnthức thẩm mĩ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại” [2, 169]

Những định nghĩa trên đây đều là những tiền đề cơ sở để chúng tôi bước

đầu tìm hiểu về kết cấu hư không – đặc trưng thi pháp của thơ haiku Như vậy,

kết cấu là nền tảng, là cơ sở cho việc thể hiện tư tưởng, nội dung của tác phẩm,

là công cụ vô hình để tác giả thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình

Trong nhiều tài liệu, các tác giả vẫn thường sử dụng thuật ngữ kết cấu

chân không để chỉ đặc trưng thi pháp của thơ haiku nhưng chúng tôi sử dụng

thuật ngữ kết cấu hư không cho bài viết của mình Bởi “chân không” là thuật ngữ vật lí dùng để chỉ khoảng trống rỗng tuyệt đối, còn hư không là thuật ngữ của

Thiền tông” [21, 67], thể hiện triết lí hư không của đạo Phật Thơ haiku thấmđẫm tinh thần Thiền tông, do đó, triết lí hư không của đạo Phật đã thấm nhuầnvào từng câu, chữ, hình ảnh trong thơ haiku, tạo nên đặc trưng thi pháp của thơ

haiku – kết cấu hư không.

Như đã nói ở trên, hư không là khoảng trống, là sự tĩnh lặng, u tịch Khi tabắt gặp một bức tranh Nhật Bản được vẽ theo kiểu trọng tâm dồn về một gócphần còn lại là khoảng trống mênh mông, khi bước vào vườn cảnh ta cảm nhận

Trang 17

được sự lặng im u tịch và sự yên bình, thanh thản Khi chiêm ngưỡng một bứcthư pháp, tâm hồn ta trở nên tròn đầy trước những khoảng lặng, dư vị của từngnét bút Khi đắm chìm vào mỗi vần thơ haiku, để lại ấn tượng cho ta không phải

là câu chữ hình ảnh mà chính là những khoảng trống, khoảng trắng giữa nhữngngôn từ, hình ảnh Mỗi dư vị là những trăn trở để con người giải đáp, mỗi sựlặng im, u tịch là lúc để con người tự suy nghĩ, cảm nhận, mỗi khoảng trống,khoảng trắng để người đọc tưởng tưởng, lấp đầy bằng trải nghiệm của mình

Như vậy, kết cấu hư không chính là những khoảng trống trong việc miêu

tả thiên nhiên, cuộc sống, con người trong hội họa, trong thơ haiku… nhằm ámgợi trí liên tưởng, tưởng tượng của người đọc, nhằm giúp người đọc thấu hiểu,cắt nghĩa, lí giải về vạn vật trong vũ trụ theo cách hiểu của riêng mình Kết cấu

hư không không phải là sự thể hiện của nghệ thuật mà là sự lí giải nghệ thuật củacon người Con người phải tự chiêm nghiệm, phải tự mình khám phá “cái bề sâu,cái bề xa” (Chế Lan Viên) để rút ra những triết lí sâu xa

Tóm lại, kết cấu hư không là nghệ thuật để trống trong thơ, gợi lên nhiều

lớp nghĩa thông qua các từ ngữ, hình ảnh để từ đó khơi gợi liên tưởng, đồng sángtạo của người đọc

Qua tìm hiểu có thể thấy kết cấu hư không trong mỗi loại hình nghệ thuật

có những biểu hiện khác nhau nhưng đều có dấu hiệu chung như sau:

 Sự ngắn gọn, cô đọng, súc tích

 Khơi gợi trí liên tưởng, sự tự cảm nghiệm của người thưởng thức

 Thể hiện nội dung tư tưởng triết lí, gắn với quan niệm của tác giả

Kết cấu hư không không chỉ thể hiện ở trong các loại hình nghệ thuật màngay ở trong văn học, kết cấu hư không có mặt từ rất sớm trong tập thơ đầu tiên

và cũng là kiệt tác bất hủ của Nhật Bản là Vạn diệp tập Về sau, kết cấu hư

không đã thể hiện được đúng giá trị của mình khi tìm ra một hình thức vừa vặn:thơ haiku

Trang 18

Cơ sở để tạo nên kết cấu hư không trong thơ chính là nguồn gốc của tính

“không” “Không” là sự tự do tuyệt đối của tinh thần, là bản chất của Thiền, là đặc trưng của nền văn hóa Nhật Bản Kết cấu hư không được tạo nên từ triết lí

tương giao hòa hợp, bình đẳng của vạn vật, chúng sinh, từ triết lí vô ngã, vôthường không đứng yên mà luôn chuyển động, biến đổi không ngừng theo chutrình sinh, trụ, dị, diệt của vạn vật trong vũ trụ Con người phải hòa vào chốn hưkhông để giải thoát tâm linh, phải tự chính mình làm sạch và lấp đầy khoảngtrống trong tâm Đây cũng chính là triết lí sống mà người Nhật hằng theo đuổi

Trong thơ haiku, kết cấu hư không được biểu hiện bên ngoài bài thơ, giữacác hình ảnh, từ ngữ, biểu hiện ở các hình ảnh tượng trưng và qua nghệ thuậtcảm nghiệm – nhất tâm đồng sáng tạo

II.2 Hư không bên ngoài bài thơ: ngôn ngữ thơ cực tiểu

Ngắn gọn, không dài dòng, cô đọng là một đặc trưng nổi bất nhất của thơhaiku Mỗi bài haiku chỉ gói gọn trong 17 âm tiết, thi thoảng có bài 19 âm tiếtphân bố thành ba dòng 5 – 7 – 5 âm (5 – 9 – 5 âm) Thơ haiku được viết theohình thức của Nhật Bản từ trên xuống dưới chỉ có một dòng, giống như một dòngthác đổ

quán bên đường các du nữ ngủ trăng và đinh hương

(Basho – Nhật Chiêu dịch)

Ngôn ngữ cực tiểu đã ra những khoảng trống tối đa bên ngoài bài thơ.Trong một số lượng ngôn từ tối thiểu như thế, người đọc phải vận dụng hết khảnăng liên tưởng của mình để lí giải sự bí ẩn của ngôn từ:

từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi – wa

(Basho – Đoàn Lê Giang dịch)

Trang 19

Bài thơ chỉ có 17 âm tiết ngắn gọn nên nhà thơ tả cảnh mùa xuân chỉ bằnghình ảnh cánh hoa đào mỏng manh như những “đám mây hoa” rụng xuống mặt

hồ, làm cho mặt hồ gợn sóng Nhà thơ không đi sâu vào tả mà chỉ gợi lên Cảnhđẹp tưởng chừng như đơn giản, bình dị ấy lại ẩn chứa một một triết lí sâu sắc.Người đọc bằng kinh nghiệm, tưởng tưởng của mình để lí giải những hình ảnhtưởng chừng như phi logic ấy mới có thể hiểu được triết lí bài thơ: Sự tương giaohòa hợp của vạn vật trong vũ trụ Vạn vật luôn tác động lên nhau (gió từ bốnphương thổi tới làm hoa đào rụng, hoa đào rụng khiến mắt hồ gợn sóng), vạn vậtluôn vận động không ngừng theo chu trình sinh, trụ, dị, diệt (hoa nở rồi tàn) Mộtvài nét phác họa cảnh vật mùa xuân đã thể hiện tư tưởng biện chứng cổ đại Sựvận động, tương tác không ngừng ấy của vạn vật trong vũ trụ cũng được thể hiệntrong tứ thơ của Nguyễn Trãi:

Khách lạ đến, ngàn hoa chửa rụng Câu màu ngâm, dạ nguyệt càng cao

(Thuật hứng, bài 7)

Cũng bởi ngôn ngữ cực tiểu nên thơ haiku thường không mô tả cảm xúc

mà chủ yếu ghi lại những sự việc xảy ra trước mắt, nắm bắt khoảnh khắc của sựvật Các bài thơ haiku thường chỉ là những nét chấm phá, gợi mở để độc giả vậndụng trí tưởng tượng nhằm liên tưởng đến các sự vật và hiện tượng khác Vì thế,

“gợi” là thủ pháp chủ yếu trong thơ haiku khiến người ta cho rằng thơ haikugiống như những bức tranh thủy mặc của người Nhật Nó chứa đựng một khoảngtrống, một khoảng không nhưng tràn trề sự sinh động của cuộc sống Nhà thơ chỉphác họa vài dòng về thiên nhiên:

lá thủy tiên dưới làn tuyết mới nhè nhẹ trĩu mình (Basho)

Trang 20

Vẽ lên một chiếc lá thủy tiên thôi mà ta cảm thấy được cả đời sống của cỏcây, sự phân định của các mùa Điều này có được là nhờ sự liên tưởng củangười đọc để lấp đầy chỗ trống mà nhà thơ bỏ ngỏ Kết cấu bỏ lửng của thơhaiku chính là cái hư không khó nắm bắt của tinh thần Thiền tông Chính vì thế

mà nhà thơ Tagore (Ấn Độ) nhận xét trong thơ haiku “nhà thơ chỉ giới thiệu đềtài rồi bước nhanh sang một bên” và “lý do khiến nhà thơ rút nhanh chóng thế vìngười đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn” [21, 56 – 57]

Trên thế giới, bên cạnh thơ haiku (Nhật Bản), có thơ lục bát (Việt Nam),thơ ngũ ngôn tứ tuyệt (Trung Quốc), thơ ghazal (thơ đôi – Ả rập), thơ sijo (HànQuốc) là những thể thơ ngắn nhất thế giới Mỗi thể loại đều là những thể thơtruyền thống, có ảnh hưởng sâu rộng tới thi ca dân tộc và thi ca khu vực Tuynhiên các thể loại bên cạnh những điểm tương đồng vẫn có những điểm khác biệt

để làm nên nét đặc trưng riêng của mỗi thể thơ

đất khách mười mùa sương

về thăm quê ngoảnh lại Edo là cố hương

(Basho – Đoàn Lê Giang dịch)

Tôi bắt gặp cái liếc nhìn của em với mái tóc rối bời

Trái tim phiêu lãng của tôi đã là của em từ đó

(Ghazal tiếng Urdu – Mir - Ấn Độ – Mai Liên dịch)

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

(Ca dao – Việt Nam)

Tĩnh dạ tư

Đầu giường ánh trăng rọi Mặt đất như phủ sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương

(Thơ ngũ ngôn tứ tuyệt – Lí Bạch – Tương Như dịch)

Trang 21

Em sẽ bẻ đôi đêm đông dài giá lạnh

Ủ ấm một nửa dành ngày kia anh đến

Để nối thêm dài đêm ân ái của chúng ta

(Thơ sijo – Hwang Jin Y – Hà Văn Lưỡng dịch)

Tất cả các thể thơ này đều có số lượng âm tiết ít ỏi: thơ haiku có 17 âmtiết, thơ lục bát có 14 âm tiết, thơ ngũ ngôn tứ tuyệt có 20 âm tiết, thơ sijo có 45

âm tiết do đó chúng đều coi trọng tính hàm súc, đều để lại những khoảng trốnggiữa các ngôn từ, hình ảnh trong bài thơ Tuy nhiên, các thể thơ trên vẫn có điểmkhác thơ haiku Nếu như thơ haiku không sử dụng động từ, tính từ, hình dung từ

đi kèm, các sự vật, hình ảnh trong thơ không có sợi dây liên hệ nào, các hình ảnhchỉ được gợi chứ không tả thì các thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, lục bát, ghazal, sijo lại

sử dụng động từ, tính từ đi kèm, các hình ảnh có sợi dây liên hệ nhất định, cáchình ảnh vẫn được miêu tả đặc điểm, hoạt động đầy đủ

Có thể nói, kết cấu hư không trong thơ haiku thể hiện qua cách tổ chức

ngôn ngữ bên ngoài bài thơ Thơ cực tiểu chỉ với 17 âm tiết đã tạo nên đượcnhững khoảng trống trong thơ để khơi gợi trí tưởng tưởng, đồng sáng tạo của độcgiả Ngôn ngữ thơ haiku ngắn gọn, hàm súc, cô đọng không vang vọng mà chỉ

âm trầm, tĩnh lặng như thực, như hư Nhờ vậy mà thơ haiku tạo được những liêntưởng mạnh mẽ, ý gợi sâu xa Về đặc điểm này, nhà thơ R.Tagore đã nhận xét:

“Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài rồi bước tránh sang bên… Lí do khiến nhà thơ rútnhanh chóng như thế vì người đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tưởngrất lớn” [21, 73]

II.3 Hư không giữa các hình ảnh, từ ngữ trong bài

Trong thơ haiku, kết cấu hư không không chỉ biểu hiện ở bên ngoài bài thơ mà còn được biểu hiện ngay trong bài thơ Đó là những khoảng trống, khoảng trắng được gợi ra giữa các từ ngữ, hình ảnh Các từ ngữ, hình ảnh được gợi lên trong bài thơ thường không có bất cứ mối liên hệ nào Giữa chúng có những khoảng hư không, người đọc phải dùng kiến thức của mình để liên kết các từ ngữ, hình ảnh đó lại với nhau để tạo nên mối liên hệ thống nhất.

Trang 22

“kinh đô” hoàn toàn tách biệt không có bất cứ sợi dây liên hệ nào Do đó, để hiểuđược nội dung bài thơ người đọc cần phải dùng kiến thức của mình để tìm ra mốiliên hệ giữa các hình ảnh đó “Chim đỗ quyên” là thi liệu quen thuộc của văn họcTrung Quốc và văn học Việt Theo điển tích, vua Thục mất nước hóa thành chim

đỗ quyên, tiếng chim kêu nghe khắc khoải như nỗi hoài niệm về một thời vàngson đã qua “Kinh đô” trong bài thơ là Kyoto (Kinh đô cũ của Nhật Bản) nơiBasho đã sống suốt đời trai trẻ (1666 – 1672), sau đó ông chuyển lên sống ởEdo Hai mươi năm sau ông trở lại Kyoto Đứng trên cùng một không giannhưng tâm tưởng nhà thơ lại ở hai khoảng thời gian khác nhau “Kinh đô” trongdòng thơ thứ hai là hiện tại, “kinh đô” trong dòng thơ thứ ba là quá khứ Cảnhvật đã thay đổi, mọi thứ không còn được như xưa nên khi nghe tiếng chim đỗquyên hót ông lại nhớ tới “kinh đô” của hai mươi năm trước Có lẽ, bóng hình xứ

sở đã in dấu rất sâu đậm trong tâm trí nhà thơ nên mới chỉ nghe tiếng chim nhàthơ đã ngậm ngùi nhớ lại mảnh đất một thời mình gắn bó Nỗi nhớ “cố hương”xuất phát được gợi lên từ “tiếng chim quyên” trong thơ Basho làm ta nhớ tới nỗi

nhớ “cố hương” của Hạ Tri Chương khi nghe thấy “hương âm” trong bài “Hồi

hương ngẫu thư”:

Trang 23

Thiếu tiểu li gia lão đại hồi Hương âm vô cải mấn mao tồi Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?

Dịch thơ:

Bé đi già mới về nhà Tiếng quê vẫn thế tóc đà rụng thưa Trẻ con trông thấy hững hờ

Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao?

(Trần Trọng Kim dịch)

Để thể hiện nội dung, tư tưởng và khơi gợi sức liên tưởng của người đọc,

từ ngữ trong thơ haiku thường là các danh từ, không dùng hoặc ít dùng tính từ,trạng từ để cụ thể hóa sự vật Trong một bài haiku có thể có hai, ba danh từ hoặcnhiều hơn thế

cành khô quạ đậu chiều thu

(Basho – Lê Thị Bình dịch)

Các danh từ trong thơ thường là các hình ảnh thiên nhiên vũ trụ như hoa,

lá, tuyết, nguyệt… hay các sự vật trong đời sống như bụi cám, ánh chớp, áo tơi, chuồng ngựa… Mỗi hình ảnh là một “mã tín hiệu” tồn tại một cách độc lập, bên

cạnh nhau Người đọc cần dùng sự liên tưởng của mình để hóa giải những “mãtín hiệu”, từ đó đi sâu hơn vào khám phá những ưu tư sâu lắng của tác giả, cảmthụ những gì mà nhà thơ muốn gửi gắm

Như vậy, công việc của nhà thơ là gieo vào tác phẩm một vài từ ngữ, hìnhảnh để tạo ra khoảng trống hư không còn công việc của người đọc là liên kết các

từ ngữ, hình ảnh lại với nhau để lấp đầy những khoảng hư không đó

Trang 24

Kết cấu hư không thể hiện giữa các từ ngữ hình ảnh, do vậy, thủ pháp giảnlược cũng là thủ pháp được sử dụng chủ yếu trong thơ haiku Thơ haiku không đisâu vào mô tả sự vật, không bày tỏ trực tiếp cảm xúc cá nhân mà giản lược làchủ yếu để mang lại tính trầm mặc cho bài thơ, khơi gợi cảm xúc sâu lắng củangười đọc Thơ haiku không trực tiếp miêu tả tiếng chim hót, cảnh mưa rơi, vẻđẹp của hoa, của lá… Người đọc phải tự mình xâm nhập, khám phá cái tận cùngcủa hình ảnh, nghe được những âm thanh vô thanh, nhìn được những chuyểnđộng tinh vi của vạn vật, đọc được cảm xúc của những khoảng lặng.

một đám mây hoa chuông đền Ueno vang vọng hay đền Asakasa

Tóm lại, hư không giữa các từ ngữ, hình ảnh được thể hiện thông qua việcnhà thơ đặt các từ ngữ, hình ảnh cạnh nhau, giữa chúng không có cảm xúc củathi nhân, những lời bình luận hay những gợi ý dù là nhỏ nhất Tất cả hiện lênkhách quan, chân thực Người đọc dùng kinh nghiệm và liên tưởng của mình đểkết nối chúng lại, từ đó lí giải và chiêm nghiệm

II.4 Nghệ thuật tượng trưng

Nghệ thuật trượng trưng là một trong những biện pháp tạo nên kết cấu hưkhông Trong thơ haiku, nghệ thuật tượng trưng biểu hiện trong việc sử dụng các

Trang 25

hình ảnh mang tính đa nghĩa, biểu tượng, trong cách cảm nhận bằng sự tươnggiao của các giác quan khi cảm nhận hình ảnh, thanh sắc, hương vị.

Hình ảnh được sử dụng vừa mang nghĩa thực vừa mang nghĩa tượng trưngtạo nên tính đa nghĩa cho thơ haiku Người đọc phải sử dụng kinh nghiệm củamình để cắt nghĩa, lí giải, chiêm nghiệm các nghĩa được gợi ra Trong thơ haiku,các nhà thơ không miêu tả trực tiếp sự vật và bày tỏ nỗi lòng Họ lôi cuốn ngườiđọc bằng thủ pháp ám thị (gián tiếp), họ khơi gợi hứng thú của độc giả bằng cái

bí ẩn đằng sau lớp ngôn từ, hình ảnh Các hình ảnh của đời sống được nhà thơthả vào trong bài để chúng bồng bềnh trôi Con ếch nhảy vào chỉ nghe tiếngnước vang lên:

ao cũ con ếch nhảy vào vang tiếng nước xao

(Basho – Nhật Chiêu dịch)

“Biết bao lời bình đã viết về bài thơ kì bí này Tiếng vang của nước màcon ếch của Basho đã khuấy động nên là một dư âm đã ngân qua bao thời đại và

xứ sở” [8, 265]

Trong thơ haiku, các hình ảnh được sử dụng thường mang tính biểu tượng

và sự tương quan giữa các hình ảnh Trong một bài thơ thường có một hình ảnhlớn (vũ trụ) tương xứng với một hình ảnh nhỏ (đời thường):

trên chuông chùa (hình ảnh vũ trụ) một cánh bướm nhỏ (hình ảnh đời thường) ngủ im lìm

(Buson – Đoàn Lê Giang dịch) Các hình ảnh được sử dụng đều là những “mã” ẩn tàng những tư tưởng, triết

lí nào đó mà nhà thơ gửi gắm Sử dụng hình ảnh tượng trưng nhằm thể hiệnnhững vẻ đẹp đơn sơ, bình dị của thiên nhiên, cuộc sống đời thường từ đó kháiquát lên những tư tưởng biện chứng, những triết lí sống sâu xa

Trang 26

A! Hoa Asagaô chiếc gầu vương hoa bên giếng đành xin nước nhà bên

Qua hình ảnh chú chim họa mi hót trong bụi măng tre người ta cảm nhậnđược quy luật vận động của vũ trụ Vạn vật đều biến đổi không ngừng, ngày hômnay là quá khứ của ngày mai, con người cũng nằm trong vòng luân chuyểnkhông ngừng ấy:

trong bụi măng tre con chim họa mi cất tiếng hót bài hát của tuổi già

(Basho – Thanh Châu dịch)

Đặc biệt để gợi lên ý nghĩa biểu tượng, thơ haiku thường sử dụng quý ngữ(từ chỉ mùa) Quý ngữ có thể là mùa nhưng cũng có thể là hình ảnh tiểu biểu chomột mùa trong năm Chính nhờ quý ngữ mà không gian và thời gian trong thơhaiku được mở ra, tạo điều kiện cho người đọc khám phá những ý nghĩa ẩn tàngtrong thơ

Vẻ đẹp thiên nhiên đã “tạo nên cho dân tộc Nhật Bản một cảm thức đặcbiệt tinh tế trước những vẻ đẹp của thiên nhiên qua những hình sắc, âm thanh,mùi vị” [9, 3] Các hình ảnh gợi lên trong thơ haiku chính là sự thể hiện mốitương giao giữa các hình sắc, âm thanh và mùi vị đó Mối tương giao này khiến

Trang 27

thơ haiku gần với thơ tượng trưng của phương Tây Bởi các nhà thơ tượng trưngcũng cảm thấy “những mùi hương, những màu sắc, những âm thanh tương giaovới nhau” (Bôđơle) Để hiểu và cảm nhận được mối tương quan đó, người đọcphải vận dụng tất cả các giác quan trong một hình ảnh, khoảnh khắc:

biển tối dần tiếng kêu chim nhạn trắng màu trong đêm

(Basho – Nhật Chiêu dịch)

Khoảnh khắc tiếng chim kêu trong bóng tối bao trùm trên biển, ngườinghệ sĩ và người đọc phải dùng thính giác, thị giác và cảm nhận sự cô đơn, lẻbóng cánh chim trong màn đêm Âm thanh của “tiếng kêu chim nhạn” vang vọngkhắp không gian, tiếng chim như “rắc” sắc “trắng” vào đêm đen Âm thanh, màusắc tương giao với nhau để gợi lên sự cô đơn của một cá thể nhỏ bé trong vũ trụbao la

Như vậy, nghệ thuật tượng trưng trong thơ haiku vừa là biểu hiện, vừa là

hệ quả của kết cấu hư không Nghệ thuật tượng trưng góp phần tạo nên khoảngtrống trong thơ qua việc sử dụng các hình ảnh đa nghĩa, biểu tượng và sự tươnggiao của các giác quan trong cảm nhận

II.5 Nghệ thuật cảm nghiệm – nhất tâm đồng sáng tạo

Trạng thái nhất tâm xuất phát từ quan niệm về đồng nhất Atman (LinhHồn Cá Thể) với Brahman (Linh Hồn Vũ Trụ) của Hindu giáo trên phương diệnnhận thức luận Các tôn giáo Ấn Độ thường đề cao hiểu biết viên mãn – chủ thểnhận thức đồng nhất với đối tượng nhận thức hơn là hiểu biết tri thức – chủ thểnhận thức phân biệt với đối tượng nhận thức

Trạng thái nhất tâm trong thơ haiku trước hết biểu hiện ở vẻ đẹp hòa hợpcủa con người với thiên nhiên “Thiên nhiên và con người không phải hai màmột – tương nhập và tương tức, con người trở về với thiên nhiên, thiên nhiênthẩm thấu vào con người” [10, 36]

Trang 28

đêm tàn quá sớm

trong vũng nước cạn một mảnh vụn của trăng

(Buson – Mai Liên dịch)

lang thang đồng nội

để cho gió mưa thấm vào tôi

(Basho – Đoàn Lê Giang dịch)

Con người là một phần của thiên nhiên, vũ trụ, cá nhân con người cũng chỉnhư một nhánh cỏ, một cành hoa, một giọt sương, một cánh hạc… mà thôi Conngười hòa nhập vào thiên nhiên làm cho thơ haiku toát lên vẻ đẹp thanh thoát nhẹ nhàng,hay nhàn tịch, phong nhã Chính trạng thái nhất tâm ấy, con người sẽ không phải chịu đầy đọa về một cái tôi bất biến, vĩnh hằng, sẽ không ảo tưởng về một chân ngã bất biến Con người sẽ ý thức được vạn vật vô ngã, vô thường “hoa nở Chim hót Chớp lóe Mây trôi Nước chảy… Con người sống Tất thảy đều biến chuyển không ngừng trong vòng sinh diệt vô thường” [16, 85].

mùa thu năm nay

sao tôi chóng già thế

chim sa ở mây trời

ve sầu hát say mê

chẳng mảy may hay biết cái chết đang cận kề

(Basho – Nam Trân dịch) (Basho – Mai Liên dịch)Cảm thức vô thường cũng được thể hiện rõ trong thơ Thiền tông củaViệt Nam:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Trang 29

Đi vào thơ haiku, trạng thái nhất tâm trong Hindu giáo được sử dụng kháiquát thành một phương pháp cảm nghiệm thơ haiku: Nhất tâm đồng sáng tạo.

“ta” tan chảy vào mạch sống đang không ngừng lan tỏa trong vũ trụ này” [24].Nhà nghiên cứu D Suzuki cũng đã nhận xét: “Cái “Ao cũ” của Bashô nằm bên

bờ kia vĩnh cửu nơi của thời gian vô thời gian Đó là nơi vạn vật sinh ra là nguồnsuối của thế giới sai biệt này nhưng trong chính nó không hề có mảy may sai biệtnào” [45, 29]

Có thể nói, mỗi bài thơ là một “kí mã” của nhà thơ gửi gắm Với mỗi độcgiả khác nhau sẽ có những lí giải, cắt nghĩa khác nhau Thơ haiku chấp nhận tất

cả những cách lí giải nếu hợp lí

Trang 30

Thơ haiku chỉ bằng vài ba từ mà vẽ lên được khoảnh khắc có thần củathực tại, diễn đạt được mọi rung động tinh vi nhất của cuộc sống Do đó, ngườiđọc cần phải vận dụng những hiểu biết của chính mình, những cảm nhận của contim, nhìn sự vật bằng đôi mắt của tâm hồn để từ đó chiêm nghiệm những triết lísâu xa ẩn tàng trong từng câu chữ, hình ảnh Các haijin tạo nên những khoảngtrống, khoảng hư không trong tác phẩm để mời gọi sự tri âm, đồng sáng tạo củađộc giả Một tác phẩm thực sự hoàn thiện khi có sự chung sức của người sáng tác

và người tiếp nhận Nhà thơ là người sáng tạo nên tác phẩm, nhưng để tác phẩmhoàn thiện và được phú cho một ý nghĩa đầy đủ thì cần phải nói đến công sứccủa độc giả Người đọc phải hóa thân vào tác phẩm như nguyên lí chính củaBasho: Người đọc phải “lặn sâu vào lòng sự vật để nhìn thấy điều gì đó tựa nhưtia sáng mờ ảo đang ẩn giấu ở đấy” Đó chính là sự khám phá “cái bề sâu, cái bềxa” (Chế Lan Viên) được gửi gắm trong lớp ngôn từ Người đọc cần phải nhậpvào cảnh giới bài thơ, hợp nhất trong khoảnh khắc hiện tại mà “công phá vào bàithơ để đạt tới trạng thái diệu ngộ – giây phút lóe sáng của nhận thức trong vùngtri kiến mờ tối của con người” Đây chính là phương pháp thể nghiệm của Thiền

tông: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành

Phật”1 Khi đó chủ thể và đối tượng sẽ đồng nhất đạt đến trạng thái viên mãn:trạng thái nhất tâm

Từ những khoảng hư không trong thơ, người đọc có thể thả hồn đếnnhững tầng ý nghĩa sâu thẳm, rộng lớn

Trong chương 1, chúng tôi tiến hành tìm hiểu kết cấu hư không trong đạoPhật giáo Thiền tông, trong các loại hình nghệ thuật, trong thơ haiku Kết cấu hưkhông trong thơ haiku thể hiện ở khoảng trống bên ngoài bài thơ do ngôn ngữngắn gọn, cô đọng, súc tích; ở khoảng trống giữa các từ ngữ, hình ảnh bên trongbài thơ Do đó phương pháp cảm nghiệm thơ haiku đòi hỏi nhất tâm đồng sángtạo Kết cấu hư không trong thơ haiku cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của

1 Đây là lời dạy của Sư Tổ Đạt Ma, nghĩa là: Đạo truyền riêng ngoài kinh điển, trực tiếp, không thông

Trang 31

Thiền tông đến nền văn học Nhật Bản Những kiến thức về Thiền học vì thế sẽ làchìa khóa vàng giúp chúng ta mở cánh cửa bước vào địa hạt tâm hồn của mỗinhà thơ được ẩn mật trong mỗi bài haiku bé nhỏ Do thời gian và phạm vinghiên cứu có hạn, vấn đề kết cấu hư không trong các loại hình nghệ thuật có thểtrở thành một đề tài nghiên cứu thú vị mà có lẽ chúng tôi mong muốn được tìmhiểu trong tương lai.

Trang 32

CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

I KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

I.1 Giới thuyết khái niệm không gian nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “không gian nghệ thuật là hình thức bên

trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó”, “sự miêu tả trầnthuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trongmột trường nhìn nhất định, qua đó thế giới cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảngtính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa,gần, rộng, sâu, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật” [13, 134 – 135]

Theo Trần Đình Sử, “Không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thứcnghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật”, “nếu thếgiới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệthuật là trường nhìn mở ra một từ một điểm nhìn, cách nhìn” [35, 42]

Qua đây có thể thấy, không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật thể hiệncái nhìn của con người về thế giới mà họ đang sống, đó có thể là cái nhìn vi môhoặc vĩ mô Không gian nghệ thuật là nghệ thuật biểu hiện của hình tượng nghệthuật, của nội dung tác phẩm, làm nên kết cấu tác phẩm

Không gian nghệ thuật được xây dựng từ cái nhìn, sự cảm thụ, quan niệmcủa người nghệ sĩ về thế giới và con người Những bức tranh thủy mặc củaTrung Quốc, hay tranh mặc hội Sumie của Nhật Bản chỉ với hai màu đen trắngvới những nét vẽ giản đơn đã vẽ lên sự bao la của bầu trời, sự hiện hữu của dòngsông với những con thuyền và cánh chim cô độc Xem bức tranh người ta cảmnhận được sự sự cô tịch của không gian, sự chuyển hóa giữa hữu và vô, thực và

hư, hữu hạn và vô hạn, tĩnh và động…

Không gian nghệ thuật là một mã văn hóa Tư tưởng nghệ thuật của ngườinghệ sĩ được bắt rễ từ cội nguồn cuộc sống, do đó trong tác phẩm hiện hữu ở đó

là không gian của đồng quê với khăn mỏ quạ, quần nái đen, giậu mùng tơi…

Trang 33

trong thơ Nguyễn Bính, với tiếng lép bép lửa tàu nơi xó bếp, chú dế mèn, mùirơm ải… trong thơ Nguyễn Duy, với tiếng gà trưa, mùa hoa doi trong thơ XuânQuỳnh… Có thể nói, trong thơ, không gian nghệ thuật là không gian của đấtnước, là dáng hình xứ sở, là những nét đẹp văn hóa đặc trưng của quê hương.Không gian ấy thường mang tính vô cực nhiều chiều, không bị giới hạn, cả vi

mô lẫn vĩ mô

Không gian vĩ mô:

Phi lưu trực há tam thiên xích Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

(Nước bay thẳng xuống ba nghìn thướcTưởng dải ngân hà tuột khỏi mây)

(Vọng lư sơn bộc bố - Lí Bạch)

Không gian vi mô:

Bươm bướm ẩn hiện trong khóm hoa

Chuồn chuồn điểm nước bay thong thả

(Khúc giang 2, Đỗ Phủ)

Tóm lại, không gian nghệ thuật là phương thức biểu hiện của tác phẩm, làphương thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật là khônggian được tạo nên từ là mô hình thế giới của con người, ở đó cho thấy mối quan

hệ giữa con người – thiên nhiên – xã hội Con người hòa nhập tan biến vào thiênnhiên và thể hiện những triết lí cao đẹp Không gian nghệ thuật là không gian vôcực, có thể là vĩ mô hay vi mô Trong thơ ca, thông qua không gian đó, ngườiđọc có thể cảm nhận được sự luân chuyển của vạn vật trong vũ trụ, nắm bắt đượccái hồn của sự vật để từ đó cảm nhận được tâm hồn của người nghệ sĩ cũng nhưnhững tư tưởng sâu xa mà họ gửi gắm

I.2 Không gian thiên về vi mô trong thơ haiku

Trong thơ Đường, không gian nghệ thuật là không gian rộng lớn của vũtrụ “Vũ trụ làm thành biểu tượng của tâm hồn, có thể nói không gian vũ trụ

Trang 34

trong thơ Đường lấn át không gian gia tộc, nhà cửa quê hương” [35, 22] Đó làkhông gian vĩ mô, không gian bao la, bao quát hết mọi chiều trong thơ Đỗ Phủ:

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai, Chử thanh sa bạch điểu phi hồi

Vô niên lạc mộc tiêu tiêu hạ, Bất tận Trường Giang cổn cổn lai

(Đăng cao – Đỗ Phủ – Nam Trân dịch)

Không gian nghệ thuật trong thơ haiku là không gian thiên về vi mô, xuấtphát từ điểm nhìn thiên về cận cảnh, diễn tả những rung động tinh tế trong hồnngười, sự tinh tế khi nắm bắt khoảnh khắc của sự vật như một cánh hoa đào rơi,cánh chuồn chuồn mỏng manh, một ánh chớp lóe ngang trời, một bông hoa dạibên bờ giậu, một đóa phù dung… Cảnh vật trong thơ haiku không hùng vĩ tráng

lệ mà giản dị, nhỏ bé trong đời thường được nhìn thấy mỗi ngày: chiếc áo tơi,bụi cám, những con vật bé mọn như chấy rận, con quạ, con ếch, ruồi, ve…

bên dòng Sumida chú chuột kia uống nước mưa mùa xuân pha

(Issa – Nhật Chiêu dịch)

Trên con đường hành hương lên miền Oku, Basho tình cờ trú chân trênmột căn lều rách trên núi Trời mưa ròng rã suốt ba ngày Người lữ khách chỉcòn biết nhẫn nãi nằm trong một cái chuồng ngựa Trong không gian nhỏ bé ấy,nhà thơ không hề tỏ ra “ngán ngẩm và ghê tởm” mà còn cất lên bài ca về sựbình đẳng:

Trang 35

chấy rận cắn ngựa tè nghe bên gối

(Basho)

Nếu như không gian vĩ mô trong thơ Đường lại được thể hiện bằng những

“số đo” ước lệ, phiếm chỉ như tam thiên xích, vạn trượng, vạn lí… thì không

gian vi mô trong thơ haiku được thể hiện qua những hình ảnh đơn nhất, nhỏ lẻ

không mang tính ước lệ như không gian trong quán bên đường, trong chuồng

ngựa, dưới chân núi…

dưới chân núi Fuji tiếng gà gáy

và cánh hoa đào

(Shiki)

Như vậy, không gian vi mô trong thơ haiku được tạo nên từ một điểm nhìn

để từ đó nhà thơ mở rộng trường nhìn Từ một điểm cụ thể được nhà thơ ghi lại,người đọc phải thả hồn theo con mắt của nhà thơ, lắng nghe những âm thanh vidiệu bằng tâm hồn và nhìn những rung động tinh vi của vạn vật bằng con mắtcủa trái tim

I.3 Không gian Nhật Bản thuần khiết

Như đã nói ở trên, không gian nghệ thuật là một mã văn hóa, biểu tượng

về quê hương, đất nước Do đó không gian nghệ thuật trong thơ haiku không hề

xa vời, ước lệ mà luôn gần gũi, chân thực Những hình ảnh thiên nhiên trong thơ

Trang 36

haiku cũng là thiên nhiên Nhật Bản: tuyết, hoa triêu nhan, chim đỗ quyên… Đặcbiệt là hoa anh đào – biểu tượng của nước Nhật:

nhiều điều xiết bao gợi hồn ta nhớ những cánh hoa đào

(Basho – Nhật Chiêu dịch)

Những địa danh trong thơ haiku cũng là những địa danh của Nhật Bản nhưsông Sumida, Mogami, hồ Biwa, đảo Sado, núi Fuji…

biển động dải Ngân hà bắc ngang đảo Sado

(Lê Thị Bình dịch)

Vào mùa xuân năm 1689, Nhà thơ Basho đã thực hiện chuyến du hành lênphương Bắc (miền bắc của đảo Honshu) gần ba năm trời “Đó là cuộc hành trìnhnổi tiếng nhất trong văn học Nhật Bản vì nó đã để lại cho đời kiệt tác văn xuôi

pha thơ Oku no hosomichi (Áo chi tế đạo)” [8, 266] Theo gót chân Basho qua tác phẩm Áo chi tế đạo người đọc được biết đến nhiều vùng đất, nhiều địa danh

nổi tiếng, mới lạ của Nhật Bản: thị trấn Nikko, Shirakawa, Matsushima, hồBiwa, Huyễn trú am (Genjuan), Lạc thị xá (Rakushisha) vùng Saga… Ở đó,không gian của đất nước Nhật Bản hiện lên thanh bình, thuần khiết, đẹp hơn baogiờ hết:

từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Biwa

(Basho – Đoàn Lê Giang dịch)

Qua thơ haiku, người đọc biết đến Nhật Bản với những chiếc áo Kimonotruyền thống, với những lễ hội, tập tục mang đậm bản sắc văn hóa Nhật Bản:

lễ tẩy uế Thần và Phật trên bãi cỏ

Trang 37

(Shiki – Quỳnh Như dịch)

Tất cả những hình ảnh, những địa danh trong thơ haiku đều là biểu tượng,gắn với đặc trưng văn hóa của xứ Anh đào, làm nên bản sắc dân tộc Chính vìthế, khi thơ haiku vượt ra khỏi biên giới nước Nhật để đến với bạn đọc của nhiềuquốc gia trên thế giới đã góp phần quảng bá bản sắc văn hóa Nhật với bạn bènăm châu

một đám mây hoa chuông đền Ueno vang vọng hay đền Asakasa

(Basho – Nhật Chiêu dịch)

Chuông chùa vang đọc gợi cho người đọc thấy được sự trang nghiêm cổkính, trầm mặc và có phần cô tịch của một ngôi đền nằm trên đỉnh núi vào mùaxuân Tiếng chuông vang lên phá tan sự ngưng đọng, yên tĩnh của không gian.Đồng thời cũng phá tan sự yên tĩnh trong tâm tưởng con người, khiến dòng suytưởng ấy như trùng lại Không gian mùa xuân ở đây là không gian tầng bậc, cóchiều cao của “đám mây hoa”, có độ rộng và xa của tiếng chuông đền vangvọng Từ tĩnh sang động nhưng thực chất lại là lấy động tả tĩnh Nhà thơ nhìnnhững cánh hoa đào như “những đám mây hoa” mà không biết tiếng chuôngngân đến từ Ueno hay Asakasa? Tất cả như ngưng đọng trong vẻ đẹp thanh tao,trầm mặc của thiên nhiên, của đời sống tâm linh mà con người hằng theo đuổi

I.4 Cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa

Không gian nghệ thuật trong thơ haiku phong phú, rộng mở ôm trùm vẻđẹp của xứ sở Phù Tang qua bốn mùa Từ những cánh hoa đào đua nhau nở rộtrong mùa xuân hay tiếng chim quyên kêu mùa hạ đến những bông tuyết rơi củamùa đông hay sắc lá trong mùa thu… muôn sắc muôn màu, tất cả đã làm nên hơithở của thiên nhiên, vẻ đẹp tinh túy của xứ sở Anh đào Điều này đã làm nên đặcđiểm nghệ thuật đặc trưng của thơ haiku bao giờ cũng có quý đề

Trang 38

Quý đề (kidai) tức đề tài thiên nhiên là đặc trưng ngôn ngữ của thơ haiku.Thơ haiku ngắn gọn, cô đọng nên sử dụng quý đề là một ám thị để giúp ngườiđọc dễ dàng chiếm lĩnh tác phẩm Quý đề góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiênbốn mùa trong thơ haiku Mùa xuân với những chiếc lá non tràn đầy sức sống:

gần xa đâu đây nghe tiếng thác chảy

lá non tràn đầy

(Buson)

Từ bức tranh thiên nhiên mùa xuân tràn đầy sức sống với những chiếc lánon và tiếng chảy của thác nước, bài thơ đã gợi lên một khung cảnh thiên nhiêntrong không gian dường như nhòe mờ, vô định Những hình ảnh của bài thơ làmcho ta liên tưởng tới khu vườn cảnh Teien với cây lá xanh tươi và tiếng róc ráchcủa những dòng suối nhỏ giúp tâm hồn ta trở nên tĩnh lặng, thư thái, nhẹ nhàng

Bài thơ sau đây lại chấm phá một bức tranh mùa hạ:

tịch liêu

thấu xuyên vào đá

tiếng ve kêu

(Basho – Nhật Chiêu dịch)

Bài thơ mở ra một không gian vắng vẻ, tĩnh lặng, tĩnh lặng đến nỗi tiếng ve

ấy như sắc nhọn hơn, xé toang khoảng không gian vách núi, xuyên qua nhữngvách đá cứng lạnh Âm thanh tiếng ve được thị giác hóa khiến cái tĩnh lặng đạtđến cực điểm Basho đã cảm nhận được mối tương tác, hòa hợp kì diệu của vạnvật trong vũ trụ chỉ qua hình ảnh tiếng ve Không gian thiên nhiên trong thơ haikucủa người Nhật cho thấy sự giao hòa, gần gũi của vạn vật Thiên – Nhân đồngnhất thể, không có sự phân ranh nào giữa con người với thế giới thiên nhiên

Mùa xuân hoa lá non tươi, mùa hạ giéo giắt của tiếng chim, tiếng ve cònmùa thu thì lãng mạn với những con đường lá đỏ, lá vàng và ánh trăng chiếu rọi:

trăng thu cùng tôi phiêu lãng

Ngày đăng: 25/05/2014, 17:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Mai Anh (2007): Dạy học thơ haiku từ góc nhìn văn hóa, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học thơ haiku từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (1999): 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Trần Lê Bảo (2012): Giáo trình văn hóa phương Đông, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn hóa phương Đông
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
4. Đỗ Hữu Châu (1962): Giáo trình Việt ngữ (tập 2, Từ hội học), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ (tập 2, Từ hội học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
5. Đỗ Hữu Châu (1981): Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
6. Nhật Chiêu (1994): Basho và thơ haiku, Nxb Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basho và thơ haiku
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Tp HCM
Năm: 1994
7. Nhật Chiêu (1998): Thơ ca Nhật Bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Nhật Bản
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Nhật Chiêu (2010): Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến năm 1868, Nxb Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến năm 1868
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục VN
Năm: 2010
9. Nhật Chiêu (1995): Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong chiếc gương soi
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
10. Đoàn Lê Giang (2003): Basho – Nguyễn Trãi – Nguyễn Du những hồn thơ đồng điệu, Tạp chí văn học số 6, trang 32 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ): Basho – Nguyễn Trãi – Nguyễn Du những hồn thơ đồng điệu
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Năm: 2003
11. Đoàn Lê Giang (2010): Con đường hiện đại hóa văn học của các nước khu vực văn hóa chữ Hán, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường hiện đại hóa văn học của các nước khu vực văn hóa chữ Hán
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Năm: 2010
12. TP. Griôiriêva (1992): Thiền trong thơ haiku Nhật Bản, Tạp chí văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền trong thơ haiku Nhật Bản
Tác giả: TP. Griôiriêva
Năm: 1992
13. Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (2000): Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
14. Nguyễn Thị Bích Hải: Thơ tuyệt cú, haiku, lục bát.http://www.ivce.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tuyệt cú, haiku, lục bát
15. Nguyễn Bá Hoàn (2002): Thư pháp và Thiền, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư pháp và Thiền
Tác giả: Nguyễn Bá Hoàn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2002
16. Chimyo Horioka, Siewart W. Holmes (2004): Thiền trong hội họa, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền trong hội họa
Tác giả: Chimyo Horioka, Siewart W. Holmes
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
17. Nguyễn Tuấn Khanh (1999): Cấu trúc nghệ thuật thơ haiku, Tạp chí Văn học số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nghệ thuật thơ haiku
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh
Năm: 1999
18. Nguyễn Thị Khánh chủ biên (1998): Văn học Nhật Bản, Viện thông tin KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh chủ biên
Năm: 1998
19. Đinh Trọng Lạc (2008): 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
20. Mai Liên tuyển chọn, giới thiệu và dịch (2010): Hợp tuyển văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến giữa thế kỉ XIX, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến giữa thế kỉ XIX
Tác giả: Mai Liên tuyển chọn, giới thiệu và dịch
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w