Bên cạnh đó đã có nhiều sáng kiến được các cơ quan Liên hợp quốc thúc đẩy hướng tới nền kinh tế xanh, như: Nông nghiệp thông minh với khí hậu FAO phát động, Đầu tư công nghệ sạch WB, Việ
Trang 1TĂNG TRƯỞNG XANH,
VIỆT NAM XANH
Trang 3THƯƠNG HIỆU XANH,
THƯƠNG HIỆU XANH, TĂNG TRƯỞNG XANH,
TĂNG TRƯỞNG XANH,
VIỆT NAM XANH
NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH
2017
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 7
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH 9
Tăng trưởng xanh – con đường tất yếu để phát triển bền vững 10
Nội dung cơ bản của tăng trưởng xanh, kinh tế xanh 13
Thế giới với tăng trưởng xanh và kinh tế xanh 18
PHẦN THỨ HAI: VIỆT NAM VÀ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG XANH 25
Quá trình nhận thức của Đảng về tăng trưởng xanh, kinh tế xanh 26
Chính phủ triển khai đường lối của Đảng về tăng trưởng xanh 33
Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh 39
Kế hoạch Hành động Quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 50
Ngành Kế hoạch và Đầu tư thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh 75
Kế hoạch tăng trưởng xanh của các ngành 78
Kế hoạch tăng trưởng xanh của các địa phương 118
PHẦN THỨ BA: NHỮNG ĐƠN VỊ CHỦ ĐỘNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC TĂNG TRƯỞNG XANH, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 153
Quảng Ninh thực hiện tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh” 154
Vĩnh Phúc thực hiện xanh hóa lối sống, tiêu dùng bền vững .158
Đà Nẵng hướng tới thành phố xanh 163
Điện Biên thực hiện lồng ghép tăng trưởng xanh vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh 166
Đắk Lắk 5 năm triển khai thực hiện nội dung tăng trưởng xanh 170
Cà Mau: Những thành tựu và hạn chế trong thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh 176
Tạp chí Kinh tế và Dự báo với công tác tuyên truyền về tăng trưởng xanh và bảo vệ môi trường 182
Agribank thúc đẩy tín dụng xanh cho phát triển bền vững 189
Tận hưởng cuộc sống với CAESAR 193
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam: Vì một Việt Nam xanh 194
TOYOTA Việt Nam: “Nhà sản xuất xanh” hành động vì một “Việt Nam xanh” 197
Viện Môi trường nông nghiệp: Tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và xử lý môi trường nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam 200
Doanh nghiệp thân thiện với môi trường - Hướng đến sự phát triển bền vững 202
Thạch rau câu Long Hải - Địa chỉ tin cậy của người tiêu dùng 204
Phu Thai Cat: Công dân doanh nghiệp tốt 207
Tòa trụ sở mới của Siemens: Hình mẫu ưu tú về sử dụng năng lượng hiệu quả 210
Vinamilk “Bắt tay” với “Trùm” sản xuất men vi sinh thế giới: “Người tiên phong” xác lập thị trường sữa Việt 213
Một nét văn hóa Hà Nội 216
KEITI: Hạt nhân của mạng lưới xanh toàn cầu 219
Công ty TNHH Suntory PepsiCo Việt Nam thực hiện tốt trách nhiệm với cộng đồng 220
Cao Bằng: Thu hút đầu tư - “Đòn bẩy” phát triển kinh tế - xã hội địa phương 222
Trang 7Tăng trưởng xanh, phát triển bền vững đang trở thành sự lựa chọn của các quốc gia để giải quyết những vấn đề toàn cầu, như ô nhiễm môi trường, đói nghèo, bất bình đẳng xã hội và nhất
là ứng phó với biến đổi khí hậu Nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược phát triển phát triển bền vững dựa trên tăng trưởng xanh
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh tại Quyết định
số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012 và Kế hoạch Hành động Quốc gia thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh tại Quyết định số 403/QĐ-TTg, ngày 20/03/2014 Trong giai đoạn hiện nay, tăng trưởng xanh được xem như phương thức quan trọng để thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững
Sau 5 năm thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, tính đến nay, 32 tỉnh, thành phố và 8 bộ đã xây dựng và ban hành Kế hoạch Hành động Quốc gia tăng trưởng xanh Một số địa phương khác đang trong quá trình xây dựng kế hoạch hành động tăng trưởng xanh Hầu hết
63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện lồng ghép khía cạnh đầu tư xanh trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu
Nhận thức được tầm quan trọng của các chiến lược này, trong những năm gần đây, công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh đã được Tạp chí Kinh tế và Dự báo rất quan tâm và thực hiện nghiêm túc
Ngoài các bài viết tuyên truyền cho tăng trưởng xanh trên ấn phẩm tạp chí và tạp chí điện
tử, Tạp chí Kinh tế và Dự báo còn tổ chức nhiều sự kiện tuyên truyền, như: Diễn đàn “Kinh tế Việt Nam năm 2014: tăng trưởng xanh và tái cơ cấu kinh tế” tháng 10/2014; Chương trình truyền hình Thương hiệu xanh, tháng 11/2014; Hành trình Năng lượng xanh, tháng 4/2015; Hội thảo
“Tăng trưởng xanh, phát triển bền vững: Thời cơ và thách thức đối với Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp” tháng 11/2017
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững,
Tạp chí Kinh tế và Dự báo biên soạn cuốn sách “Thương hiệu xanh, tăng trưởng xanh, Việt Nam
xanh” Cuốn sách gồm 3 phần: Phần thứ nhất: Những nội dung cơ bản về tăng trưởng xanh; Phần
thứ hai: Việt Nam và mục tiêu tăng trưởng xanh; Phần thứ ba: Những đơn vị chủ động thực hiện Chiến lược phát triển bền vững tăng trưởng xanh
Trong quá trình biên soạn, Tạp chí Kinh tế và Dự báo đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đơn vị trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sự hợp tác cung cấp tài liệu của các địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp trong cả nước Quá trình biên soạn cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót, Tạp chí Kinh tế và Dự báo rất mong nhận được sự góp ý xây dựng của bạn đọc
Ban Biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo trân trọng cảm ơn các cơ quan, đơn vị, các nhà doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã nhiệt tình giúp đỡ góp phần cho sự thành công của cuốn sách này
TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 9PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH
Trang 10TĂNG TRƯỞNG XANH
CON ĐƯỜNG TẤT YẾU
ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Lao động là quá trình con người tác động tới
giới tự nhiên bằng công cụ lao động để tạo ra
sản phẩm đáp ứng nhu cầu của đời sống cả về
vật chất và tinh thần Trải qua các phương thức
sản xuất khác nhau, nhờ những tiến bộ của khoa
học, kỹ thuật và công nghệ mà công cụ sản xuất
ngày càng hiện đại Máy móc hiện đại đã, đang
và sẽ “chắp cánh” cho sức mạnh của con người
ngày càng tăng lên nhanh chóng Những con tàu
vũ trụ như Voyager 1 và Voyager 2 do chính bàn
tay, khối óc của con người tạo ra đã bay ra ngoài
hệ mặt trời để thám hiểm không gian vũ trụ bao
la của Thiên hà
Thế nhưng cũng chính nhờ các công cụ lao
động hiện đại mà con người đã tác động tới
giới tự nhiên một cách quá mức, không những
làm thay đổi sự cân bằng tự nhiên, mà còn hủy
hoại nó, gây ra những hậu quả tiêu cực như ô
nhiễm môi trường sống đang ở mức báo động
Không những mức ô nhiễm ngày càng cao, mà
các hình thức ô nhiễm cũng đang ngày càng đa
dạng thêm, ô nhiễm đất, nước, không khí, tiếng
ồn, sóng điện từ…, rồi gần đây còn phát hiện
được tình trạng ô nhiễm ánh sáng do nhiều
thành phố hiện đại đã chiếu sáng quá mức, làm
cho thực vật, động vật sống không còn tiếp cận
với quy luật tự nhiên ngày – đêm như trước
Trong chăn nuôi, người ta đã dùng hiệu ứng
ánh sáng làm ngày – đêm giả để ép gà đẻ 2–3
lần trong ngày)
Lịch sử loài người đã trải qua các thời kỳ phát
triển, có thịnh, có suy, nhưng ở bất kỳ thời đại
nào, hoạt động của tất cả các nền kinh tế đều có
mục tiêu cuối cùng là tạo ra được nhiều của cải,
hay nói cách khác là tạo ra sự thịnh vượng cho
các cá nhân và xã hội Tuy nhiên, quan niệm về của cải và sự thịnh vượng của nền kinh tế lại có thể thay đổi ở những thời kỳ khác nhau Chính những quan niệm khác nhau này đã tạo ra các
mô hình kinh tế để đạt đến sự thịnh vượng đó cũng khác nhau
Ở thời đại công nghiệp, người ta quan niệm rằng, của cải và sự thịnh vượng của nền kinh tế
có được là do có sự tích lũy tư bản - tiền bạc và vật chất Những gì thuộc về giá trị sử dụng được tạo ra, cũng có nghĩa là các nhu cầu xã hội được đáp ứng, chỉ đóng vai trò thứ yếu, hay không quan trọng bằng mục tiêu tích lũy tư bản ban đầu Trong vòng hai thế kỷ vừa qua, việc theo đuổi mục tiêu tích lũy tư bản đã dàn dựng nên quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ Quá trình này thực tế đã tạo ra thêm nhiều lợi ích về của cải vật chất và tinh thần cho con người, nhưng những lợi ích này lại được phân bổ không công bằng Thậm chí, tăng trưởng vật chất và tiền bạc giờ đã đạt tới ngưỡng mà tại đó, quá trình này hóa ra lại dẫn tới sự tàn phá nhiều hơn là tạo ra của cải thực (Brian Milani, 2005) Có lẽ, người ta chưa tính hết được cái giá phải trả cho sự tăng trưởng và giới hạn của tăng trưởng Nếu tăng trưởng mà chỉ dựa vào khai thác tài nguyên khoáng sản, thì rồi đến một ngày nào đó chúng cũng sẽ hết Tương tự như vậy, tăng trưởng mà không nghĩ đến bảo vệ môi trường sống, cứ mặc sức cho các nhà máy phát thải, thì đến lúc nào
đó môi trường sống sẽ không còn, con người không thể tồn tại được do bệnh tật phát sinh từ môi trường bị nhiễm độc hại
Thực vậy, lý thuyết kinh tế truyền thống dựa trên các mô hình cân bằng tổng quát - một hệ thống gồm hàng nghìn phương trình đồng thời cân bằng cung và cầu, qua đó xác định giá và lượng của các hàng hóa và dịch vụ Lý thuyết này giả định các nguồn lực là vô hạn và không tính đến lượng chất thải vô tận Nói một cách đơn giản, các nguồn lực sẽ không bao giờ hết và ô nhiễm sẽ không bao giờ xảy ra Điều đó có nghĩa
là không có giới hạn đối với tăng trưởng
Song, thực tế tồn tại và phát triển hơn hai thế kỷ của kinh tế học truyền thống cho chúng
ta thấy, lý thuyết này đã đặt sức ép quá lớn lên thế giới tự nhiên và các nguồn lực của nó Phát triển kinh tế chủ yếu chú trọng vào mặt hiệu quả - lợi ích mang lại từ các hoạt động sản xuất,
Trang 11kinh doanh và dịch vụ, mà chưa tính đến các chi
phí phải đầu tư để ngăn ngừa, giảm ô nhiễm và
bảo vệ môi trường Tăng trưởng kinh tế hiện nay
đang đạt tới cấp độ tàn phá nhiều hơn là tạo
ra của cải thực Do đó, quá trình phát triển này
đã đưa thế giới tới đại suy thoái kinh tế, khủng
hoảng sinh thái trầm trọng và biến đổi khí hậu
Nếu nhìn nhận mục tiêu phát triển kinh tế theo
hướng bền vững, thì mô hình phát triển kinh tế
hiện tại rõ ràng không còn phù hợp nữa
Hậu quả của quá trình phát triển kinh tế
này là loài người đang phải đương đầu với hàng
loạt các vấn đề về môi trường, như: sự hủy hoại
tầng ozone, biến đổi khí hậu, mưa acid, chặt phá
rừng, dân số quá đông, mất đa dạng sinh học,
xói mòn đất, sa mạc hóa, lũ lụt, nạn đói, đánh
bắt cá quá giới hạn cho phép, chất thải nguy
hiểm, thiếu nước sạch, khai thác quá mức các
nguồn lực và các nguồn năng lượng không có
khả năng tái tạo
Bắt đầu từ những năm 1960, những dấu
hiệu cho thấy sự phát triển ngày càng tăng của
nạn suy thoái môi trường đã ngày một rõ ràng
hơn, con người đã bắt đầu ý thức được về những
ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường
sống Các tổ chức quốc tế đã có những ghi nhận
và những cảnh báo đầu tiên về hiện trạng báo
động của suy thoái môi trường Những sự kiện
làm suy thoái môi trường nghiêm trọng có thể kể
tới trong hoạt động kinh tế, như: nổ hóa chất gây
phát tán chất độc màu da cam ở Seveso, ngoại ô
Milan (1976); nhà máy năng lượng hạt nhân đảo
Three Mile rò rỉ hóa chất lỏng, gây thẩm thấu cục
bộ (1979); thảm họa nổ nhà máy điện nguyên tử
Chernobyl tại Ukraina làm 31 người thiệt mạng
ngay tức khắc (1986); vụ tràn hóa chất Sandoz
trên sông Rhine, Thụy Sĩ (1989)… Gần đây nhất
là sự cố môi trường năm 2016 do Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh
đầu độc dọc vùng biển của 4 tỉnh miền Trung
Việt Nam, gây ra hàng ngàn tấn cá chết, hủy hoại
môi trường biển suốt dọc bờ biển dài hàng trăm
ki-lô-mét
Những gì mà thế giới đã và đang trải qua và
đối diện đã buộc chúng ta phải nghĩ lại về mục
tiêu phát triển kinh tế Đành rằng phát triển kinh
tế là phải hướng tới việc nâng cao chất lượng
cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu xã hội và đảm
bảo một môi trường bền vững, nhưng với cách
làm cũ chúng ta đang rơi vào cảnh “được cái này thì mất cái kia”, mà cái đang mất đi chính là môi trường sống, tới mức Trái đất cũng đang “lên cơn thịnh nộ” – biến đổi khí hậu Bởi vậy, chúng ta cần hướng cuộc sống theo cách mới, dân chủ hơn, hiệu quả hơn, công bằng hơn và có trách nhiệm hơn
Theo nhà kinh tế học xanh Paul Hawken, các cuộc khủng hoảng xã hội và môi trường mà chúng ta đang trải qua không phải là hậu quả của các vấn đề về quản lý, mà do sai lầm của mô hình kinh tế (Brian Milani, 2005) Nếu nhìn nhận mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng bền vững, thì
mô hình phát triển kinh tế hiện tại rõ ràng không còn phù hợp nữa
Nhận thấy điều đó, vào tháng 9/1968, UNESCO đã triệu tập tại Paris – Pháp một hội nghị về môi trường nhằm tìm kiếm phương cách sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của sinh quyển Gần 4 năm sau đó, vào tháng 6/1972 đã diễn ra hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người được tổ chức tại Stockholm – Thụy Điển Hội nghị được đánh giá
là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thế nhân loại nhằm giải quyết các vấn
đề về môi trường bằng hành động thông qua được Bản Tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường, từ đó dẫn đến việc thành lập Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), một cơ quan đóng vai trò chủ chốt trong việc hình thành sự phối hợp, hợp tác quốc tế để đương đầu với cách thức về môi trường trên phạm vi toàn cầu
Vào ngày 14/06/1992, một hội nghị nhằm tạo cơ sở cho cuộc sống bến vững trên trái đất
và ngăn chặn suy thoái môi trường của hành tinh
đã được tổ chức tại Rio de Janeiro, Brazil, và được biết đến là Hội nghị Rio Sau hội nghị, thế giới đã nâng cao được nhân thức về môi trường, đồng thời các nước công nghiệp hóa đã nhận thức được rằng họ có một vai trò to lớn hơn trong việc làm sạch môi trường Đây chính là những tiền
đề thúc đẩy sự ra đời và phát triển của một khái niệm mới, đó chính là khái niệm “Kinh tế Xanh” không lâu sau đó
Trên thực tế, ý tưởng phát triển kinh tế xanh được đưa ra từ đầu những năm1970 trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng 1972–1973 gây ra những tác động nghiêm trọng tới nền kinh
Trang 12tế thế giới Tuy đã có một số nghiên cứu bước
đầu song nhìn chung đến đầu những năm 2000,
khái niệm kinh tế xanh vẫn chưa thu hút nhiều sự
quan tâm của cộng đồng quốc tế
Phải đến cuối những năm 2000, khái niệm
kinh tế xanh (Green Economy) mới thu hút sự
quan tâm chú ý rộng rãi hơn khi mô hình kinh
tế nâu (Brown Economy) chủ yếu dựa vào khai
thác và sử dụng nguyên liệu hóa thạch ngày
càng bộc lộ nhiều bất cập, không đáp ứng được
các yêu cầu về phát triển bền vững Đặc biệt sau
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009,
phát triển kinh tế xanh trở thành chủ đề quan
tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế và được
coi là một trong những ưu tiên chính trong chính
sách tái cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia cũng
như giải quyết các thách thức toàn cầu đang nổi
lên, như: biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an
ninh năng lượng…
Tháng 10/2008, UNEP phối hợp với các nền
kinh tế hàng đầu thế giới đã triển khai sáng kiến
“Kinh tế xanh” (trong tiếng Việt, màu xanh là
chung cần có thêm bổ ngữ xanh lam, xanh nước
biển, xanh da trời, xanh dương, xanh biếc…, thì
green ở đây chỉ rõ là xanh lá cây, hàm ý của sự
sống trong giới thực vật trên Trái đất) Đây là một
hướng tiếp cận mới, được nhiều quốc gia đồng
tình hưởng ứng
“Kinh tế xanh” đã trở thành bước ngoặt về
nhận thức phát triển cho tiến trình khôi phục
kinh tế toàn cầu và cũng là động lực mới cho
việc thúc đẩy kinh tế toàn cầu phát triển bền
vững Liên hợp quốc nhận định, chính sách
kinh tế xanh còn là con đường phát triển cần
thiết cho kinh tế toàn cầu trong tương lai
(UNEP, 2009)
Nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới Herman
Daly cho rằng, tương lai của nền văn minh loài
người phụ thuộc vào một mô hình kinh tế mới
và năng động – được biết đến như là nền kinh tế
bền vững – bảo vệ và gìn giữ môi trường mà sự
sống trên Trái đất đang phụ thuộc vào nó Do đó,
chúng ta cần định hướng lại kinh tế học để nó
quay trở về đúng quỹ đạo và do đó, làm cho cuộc
sống trở nên tốt đẹp hơn Kinh tế xanh nhìn thấy
những khiếm khuyết của kinh tế học đương đại
trong thế giới hiện tại, khi mà nhiều người trên
thế giới vẫn sống trong cảnh nghèo và trong sự
tiếp diễn của khủng hoảng môi trường Theo đó,
lý thuyết kinh tế xanh đưa ra các nguyên tắc và các giải pháp thực tế, tích cực và hiệu quả đối với các vấn đề toàn cầu, vì sự phát triển bền vững,
vì sự tồn tại của thế giới tự nhiên mà loài người
là một phần trong đó và phụ thuộc vào nó, và vì
sự cân bằng tự nhiên giữa loài người và thế giới
tự nhiên
Phát triển bền vững gắn liền với kinh tế xanh
và tăng trưởng xanh ngày càng được thảo luận rộng rãi tại các diễn đàn quốc tế và khu vực Trong báo cáo “Hướng tới nền kinh tế xanh: Con đường đến phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” năm 2011 của UNEP đã kết luận: Kinh tế xanh không chỉ phù hợp với các nước phát triển
mà còn phù hợp với các nước đang phát triển, nơi gần 90% GDP của người nghèo gắn liền với vốn của thiên nhiên như rừng và nước ngọt Chính vì vậy, kinh tế xanh đã được xác định là chủ
đề chính tại Hội nghị của Liên hợp quốc về phát triển bền vừng (Rio + 20) được tổ chức vào năm
2012 tại Brazil
Nhiều diễn đàn, tổ chức uy tín, như: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), G20… cũng tích cực thúc đẩy chương trình nghị sự về kinh
tế xanh Theo nghiên cứu của OECD, nền kinh tế xanh sẽ tạo ra động lực mới thúc đẩy tăng trưởng thông qua: (i) Tăng cường tính hiệu quả, sử dụng tài nguyên một cách tối ưu nhất; (ii) Tạo điều kiện nghiên cứu các phát minh mới giúp xử lý các vấn
đề môi trường; (iii) Hình thành các thị trường mới, việc làm mới thông qua khuyến khích sử dụng các công nghệ, sản phẩm và dịch vụ xanh; (iv) Tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư, giảm lo ngại về các tác động chính sách xử lý môi trường của chính phủ; (v) Tăng cường tính ổn định vĩ mô qua việc giảm sự biến động giá cả của tài nguyên, gia tăng nguồn thu ngân sách
Bên cạnh đó đã có nhiều sáng kiến được các
cơ quan Liên hợp quốc thúc đẩy hướng tới nền kinh tế xanh, như: Nông nghiệp thông minh với khí hậu (FAO phát động), Đầu tư công nghệ sạch (WB), Việc làm xanh (ILO), Kinh tế xanh (UNEP), Giáo dục vì phát triển bền vững (UNESCO), Xanh hoá khu vực y tế (WHO), Thị trường công nghệ xanh (WIPO), Tiêu chuẩn công nghệ thông tin xanh (ITU), Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO), Sản xuất sạch hơn và hiệu quả nguồn tài nguyên (UNEP và UNIDO), Các thành phố và biến đổi khí hậu (UN-HABITAT), Tái chế tàu biển (IMO)…
Trang 13NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA TĂNG TRƯỞNG XANH,
KINH TẾ XANH
Tăng trưởng xanh
Theo Tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của
Liên hợp quốc, tăng trưởng xanh hay xây dựng
nền kinh tế xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt
động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết
quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên,
nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải
khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên
thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm
sự mất công bằng trong xã hội
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
định nghĩa tăng trưởng xanh như sau: “Tăng
trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế đồng thời đảm bảo các nguồn tài
sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên
và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống
của chúng ta Để thực hiện điều này, tăng trưởng
xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và
đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và
tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới”
Việt Nam cũng đã ban hành Chiến lược quốc
gia về Tăng trưởng xanh, trong đó định nghĩa
“Chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam là chiến
lược thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và hoàn thiện
thể chế kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả
hơn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế, thông qua tăng cường đầu
tư vào đổi mới công nghệ, vốn tự nhiên, công cụ
kinh tế Từ đó góp phần ứng phó với biến đổi khí
hậu, giảm nghèo và đảm bảo phát triển kinh tế
bền vững”
Như vậy, rõ ràng quá trình tìm phương thức
mới cho tăng trưởng, mà cụ thể là tăng trưởng
xanh, đang là nền móng cho một kiểu kinh tế
mới, đó chính là kinh tế xanh
Kinh tế xanh
UNEP đưa ra khái niệm: “Kinh tế xanh là nền
kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người
và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro về môi trường và khủng hoảng sinh thái” Hiểu một cách đơn giản, “Kinh tế xanh” là nền kinh tế thân thiện với môi trường, ít phát thải carbon, quan tâm tới bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm, chất thải nguy hại tới môi trường trong quá trình sản xuất và có khả năng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường và giúp tạo ra công bằng xã hội Đồng thời, nó là chiến lược kinh tế để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Khái niệm ban đầu của UNEP cho thấy, phát triển một nền kinh tế xanh thực chất là vì con người, đảm bảo phúc lợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trường và hệ sinh thái, tôn tạo và phát triển hệ sinh thái tự nhiên
Như vậy, kinh tế xanh đơn giản là phát triển một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo tính công bằng về mặt xã hội Trong nền kinh tế xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua việc đầu tư của nhà nước và
tư nhân cho nền kinh tế làm giảm thiểu phát thải carbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn
sự suy giảm đa dạng sinh học và dịch vụ của hệ sinh thái Như vậy khác với “nền kinh tế nâu”, đầu
tư công cần phải có sự điều chỉnh cơ bản thông qua những chính sách mới được cải thiện của các quốc gia, ưu tiên cho duy trì và phát triển nguồn vốn tự nhiên, nhất là những nguồn tài sản thuộc
sở hữu chung mang lại lợi ích cho mọi người Sự đầu tư đó cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo, bởi sinh kế và an sinh của họ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu
Kinh tế xanh là sự kết hợp giữa 3 thành tố: Kinh tế - Xã hội - Môi trường Môi trường bền vững, dựa theo quan điểm rằng sinh quyển của chúng ta là một hệ thống khép kín với nguồn tài nguyên hữu hạn và một khả năng nhất định trong việc tự điều chỉnh và tự phục hồi Chúng
ta sống nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên trên trái đất, chính vì thế, con người cần phải tạo
ra một hệ thống kinh tế biết tôn trọng sự toàn vẹn của hệ sinh thái và đảm bảo khả năng phục hồi của hệ thống hỗ trợ cuộc sống Công bằng xã
Trang 14hội, dựa theo quan điểm rằng văn hóa và phẩm
giá con người, cũng giống như nguồn tài nguyên
thiên nhiên, là tài nguyên quý giá, đòi hỏi quản lý
trách nhiệm để chúng không bị mai một Chúng
ta cần thiết lập một nền kinh tế sôi động đảm
bảo cho tất cả mọi người một cuộc sống tươm tất
và có đủ cơ hội cho việc phát triển cá nhân cũng
như xã hội Kinh tế xanh là một tổng hợp toàn cầu
của mỗi cộng đồng nhằm đáp ứng những nhu
cầu của chính các công dân trong cộng đồng ấy,
thông qua việc chịu trách nhiệm sản xuất của địa
phương và việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ
Theo UNEP, nền kinh tế xanh bao gồm 5
ngành kinh tế chủ chốt, đó là: Năng lượng bền
vững; Công trình xanh – Xây dựng tòa nhà tiết
kiệm năng lượng; Giao thông bền vững; Quản lý
nước sạch và môi trường sinh thái; Nông nghiệp
bền vững và bảo đảm an ninh lương thực
Để xác định một nền kinh tế xanh cần phải
có tiêu chí đo lường UNEP phối hợp với các đối
tác như OECD và WB để phát triển một bộ các
chỉ tiêu mà từ đó các chính phủ có thể lựa chọn
các chỉ tiêu phù hợp tùy thuộc vào tình hình của
mỗi quốc gia, chẳng hạn như cấu trúc của nền
kinh tế hay nguồn vốn tự nhiên Các chỉ số đang
được phát triển này có thể được tạm chia thành
ba nhóm sau đây:
– Các chỉ số kinh tế: chỉ số về tỉ lệ đầu tư, tỉ lệ
sản lượng và việc làm trong các lĩnh vực đáp ứng
các tiêu chuẩn bền vững, chẳng hạn như GDP
xanh Đây là chỉ tiêu quan trọng, trong đó xem
xét việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, làm ô
nhiễm môi trường và suy giảm sinh thái… bao
nhiêu để có được GDP Tức là GDP xanh không
chỉ phản ánh sự phát triển kinh tế, mà còn phản
ánh sự sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên
thiên nhiên, phản ánh sự giảm thiểu ô nhiễm môi
trường, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
và cuối cùng là phản ánh sự phát triển bền vững
GDP xanh giúp phản ánh chính xác hơn, đầy đủ
hơn sự phát triển của một quốc gia một cách toàn
diện về kinh tế, xã hội, môi trường, trong đó đã trừ
các chi phí do tiêu dùng tài nguyên và mất mát về
môi trường do các hoạt động kinh tế gây ra
– Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu
quả tài nguyên, về ô nhiễm ở mức độ ngành hoặc
toàn nền kinh tế (ví dụ như hệ số sử dụng năng
lượng/GDP, hoặc hệ số sử dụng nước/GDP)
– Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã
hội: ví dụ như các chỉ số tổng hợp về kinh tế vĩ mô,
bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi, ngoài định nghĩa hẹp của GDP bình quân đầu người Có thể kể đến chỉ số phát triển con người (HDI) Đây là một chỉ số phát triển bền vững với 5 đặc trưng: Con người là trung tâm của sự phát triển; Người dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của phát triển; Việc nâng cao vị thế của người dân (bao hàm cả sự hưởng thụ và cống hiến); Chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng cho người dân về mọi mặt (tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch…); Tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho người dân về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… HDI so sánh, định lượng về mức thu nhập,
tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới… giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia.Theo những tài liệu nghiên cứu đã công bố,
có thể khái quát vai trò của phát triển kinh tế xanh, như sau:
Thứ nhất, kinh tế xanh đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng hay làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Từ cuối những năm 1980, thuật ngữ này đã gây được sự chú ý từ
dư luận quốc tế sau khi xuất hiện trong bản báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, một báo cáo mang tính bước ngoặt của Ủy ban Brundtland; và tiếp tục gây được tiếng vang tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 (Rio 1992), được coi như
là một nguyên tắc quyết định về phát triển bền vững Phát triển bền vững đòi hỏi sự tiến bộ và tăng cường sức mạnh của cả ba yếu tố có tính chất phụ thuộc và tương hỗ: Kinh tế – Xã hội – Môi trường
Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh có thể là một động lực quan trọng trong nỗ lực này Thay
vì bị coi như là nơi hấp thụ chất thải tạo ra bởi các hoạt động kinh tế một cách thụ động, thì trong nền kinh tế xanh môi trường được xem là nhân tố
có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài
Trong nền kinh tế xanh, nhân tố môi trường
có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội Ngoài ra, khi mà sinh kế của một bộ phận người dân có mức sống dưới mức nghèo
Trang 15khổ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, hơn nữa họ là
những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động
của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu, việc
chuyển đổi sang nền kinh tế xanh cũng góp phấn
cải thiện sự công bằng xã hội, và có thể được xem
như là một hướng đi tốt để phát triển bền vững
Theo tài liệu “Hướng tới nền kinh tế xanh”
do UNEP công bố năm 2011, mô hình kịch bản
đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu,
trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5%
GDP) được đầu tư cho các lĩnh vực sử dụng nhiều
vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp, nước sạch và thủy sản Trong mô hình
kinh tế vĩ mô, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền
kinh tế xanh sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế và tăng
tổng lượng của cải trên toàn cầu Mặt khác, sự
đầu tư đó sẽ đem lại hiệu quả trong việc phục
hồi các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo,
giảm thiểu những rủi ro môi trường và tái thiết
sự thịnh vượng cho tương lai
Như vậy, xây dựng một nền kinh tế xanh
cũng không thay thế và mâu thuẫn với “Phát
triển bền vững” Phát triển bền vững nhằm đạt
tới mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ), còn
xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa chúng
ta tới đích của phát triển bền vững
Thứ hai, kinh tế xanh bảo vệ môi trường và sự
đa dạng sinh học
Cũng theo tài liệu “Hướng tới nền kinh tế
xanh” của UNEP, “Xanh hóa” các ngành kinh tế
sẽ làm giảm thiểu đáng kể lượng khí thải nhà
kính Chỉ cần đầu tư khoảng 1,25% GDP toàn cầu
vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng
trong các ngành và phát triển năng lượng tái tạo,
bao gồm cả nhiên liệu sinh học thế hệ hai, mức
độ tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới có thể
giảm đi 36% vào năm 2030 và lượng khí CO
2 thải
ra hàng năm sẽ giảm từ 30,6 tỷ tấn năm 2010
xuống 20 tỷ tấn năm 2050 Thêm vào đó, nhờ vào
nông nghiệp xanh, kịch bản kinh tế xanh ước tính
có thể giảm nồng độ khí thải xuống 450 ppm vào
năm 2050, một mức độ được cho là hợp lý và đủ
để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở ngưỡng 20oC
Các khoản đầu tư xanh trong các lĩnh vực lâm
nghiệp và nông nghiệp sẽ giúp đảo ngược xu thế
suy giảm đất lâm nghiệp hiện nay, tái tạo khoảng
4,5 tỷ ha nguồn tài nguyên quan trọng này trong
vòng 40 năm tới Đầu tư vào nông nghiệp xanh
vừa nâng cao năng suất, sản xuất ra nhiều lương
thực hơn vừa giúp giảm lượng đất sử dụng cho nông nghiệp và chăn nuôi 6% vào năm 2050, cải thiện chất lượng đất nông nghiệp lên 25%.Ngoài ra, đầu tư để tăng nguồn cung cấp nước và mở rộng khả năng tiếp cận, trong khi cải thiện quản lý, sẽ cung cấp thêm 10% nguồn cung nước toàn cầu trong cả ngắn hạn và dài hạn, thêm vào đó có thể góp phần duy trì nguồn tài nguyên nước ngầm và nước mặt
Trong lĩnh vực thủy sản, hạn chế việc khai thác quá mức sẽ giúp phục hồi lượng cá vào năm
2050 tới 70% so với lượng cá năm 1970; trong khi nền kinh tế thông thường, lượng cá sẽ bị sụt giảm đi 30% so với năm 1970 Những đầu tư vào
“kết cấu hạ tầng sinh thái” giúp phục hồi hệ sinh thái của trái đất và cũng để nâng cao đời sống con người
Một nền kinh tế xanh cũng giúp đạt được hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên Trong mô phỏng, nhờ các khoản đầu tư hỗ trợ cho kinh tế xanh sẽ làm giảm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch khoảng 40%, giảm nhu cầu về nước khoảng 20%
Thứ ba, phát triển kinh tế xanh có thể tạo ra việc làm
Nền kinh tế xanh có khả năng tạo ra việc làm trong một loạt các lĩnh vực mới nổi và nhiều tiềm năng, chẳng hạn như nông nghiệp hữu cơ, năng lượng tái tạo, giao thông công cộng, cải tạo các khu công nghiệp, tái chế… Các công việc có năng suất lao động cao, cùng với hiệu quả về cải thiện môi trường sinh thái và ổn định lượng khí thải ra ở mức thấp, sẽ góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng và giúp bảo vệ môi trường – khí hậu Đã có rất nhiều những việc làm xanh như vậy được tạo ra, đặc biệt là trong ngành năng lượng tái tạo Đó là những việc làm đóng góp vào việc bảo vệ và giữ gìn chất lượng môi trường, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững cho cả hiện tại và tương lai, thực hiện công bằng
và bình đẳng cho mọi người
Thứ tư, kinh tế xanh có thể giúp xóa đói giảm nghèo
Hướng tới nền kinh tế xanh được coi như là một trong những phương thức nhằm xóa đói giảm nghèo và cải thiện tổng thể chất lượng cuộc sống Chẳng hạn như cung cấp các nguồn năng lượng có khả năng hỗ trợ cho 1,4 tỷ người hiện đang thiếu điện và cho hơn 700 triệu người
Trang 16khác hiện đang không được tiếp cận với các dịch
vụ năng lượng hiện đại Công nghệ năng lượng
tái tạo, như năng lượng mặt trời, năng lượng gió
và các chính sách hỗ trợ năng lượng hứa hẹn sẽ
đóng góp đáng kể cho việc cải thiện đời sống
và sức khỏe cho một bộ phận người dân có thu
nhập thấp, đặc biệt là cho những người hiện đang
không có khả năng tiếp cận với năng lượng Một
điều khác mà chúng ta cần cân nhắc là việc ngừng
hoặc chuyển hướng các khoản trợ cấp cho việc
hủy hoại môi trường Trên thực tế, khoảng 700 tỷ
USD được chi ra mỗi năm bởi các chính phủ trên
khắp thế giới để trợ cấp cho việc sử dụng nguồn
nhiên liệu hóa thạch; khoản chi này lớn gấp năm
lần tổng số tiền dành cho hỗ trợ phát triển Gỡ bỏ
các khoản trợ cấp gây hại môi trường hoặc thay
thế bằng các loại hỗ trợ hướng đến các mục tiêu
cụ thể hơn là cách tốt để góp phần thực hiện mục
tiêu xã hội và cải thiện môi trường
Tiêu dùng xanh và thương hiệu xanh
Khái niệm tiêu dùng xanh lần đầu tiên được
nhắc đến năm 1970 (Peattie, 2010) và từ đó nhiều
nghiên cứu đã mở rộng khái niệm này Tuy nhiên,
cho đến nay tiêu dùng xanh vẫn là một khái niệm
khá mới và được định nghĩa bằng nhiều cách
Theo International Green Purchasing
Network (2010), tiêu dùng xanh là thuật ngữ
được sử dụng để chỉ việc lựa chọn một sản phẩm
hoặc dịch vụ có cùng chức năng nhưng ít gây tác
động xấu đến môi trường, có cùng mức giá cạnh
tranh mà vẫn thể hiện được trách nhiệm xã hội
Nguyễn Hữu Thụ (2014) đưa ra định nghĩa:
“Tiêu dùng xanh là các hành động tìm kiếm, mua
và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của cá nhân,
nhóm với mục đích giảm thiểu các chất thải gây ô
nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn cho sức khỏe
cộng đồng được thể hiện qua nhận thức, thái độ
và hành động của họ” Điều này có nghĩa là, tiêu
dùng xanh bao gồm cả mua sắm lẫn tiêu thụ sản
phẩm theo hướng thân thiện với môi trường
Thương hiệu xanh, trước hết, là một dạng
thương hiệu Do đó, chúng ta cần dựa trên phân
tích về khái niệm thương hiệu để hiểu thương
hiệu xanh là gì
Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ
thế giới (WIPO, 2004), thương hiệu là một dấu
hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết
một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào
đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức Thương hiệu được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất
Còn theo Farquhar và cộng sự (1992), thương hiệu là hệ thống các giá trị, ý tưởng, liên kết, cảm nhận và cảm xúc tạo thành bản sắc đồng nhất Như vậy, thương hiệu giúp phân biệt và bảo vệ sản phẩm khỏi các sản phẩm tương tự của đối thủ cạnh tranh (Low & Lamb, 2000)
Kotler, K Keller (2006) cho rằng, thương hiệu
là một khái niệm phức tạp và đa chiều, có thể biểu đạt sáu mức ý nghĩa:
- Thuộc tính: thương hiệu bao gồm một nhóm đặc tính cụ thể;
- Lợi ích: thuộc tính của thương hiệu chuyển hóa thành những lợi ích về mặt chức năng và cảm xúc mà người tiêu dùng đánh giá;
- Giá trị: thương hiệu truyền đạt điều gì đó liên quan đến giá trị của công ty;
- Văn hóa: thương hiệu có thể đại diện cho một biểu hiện văn hoá cụ thể;
- Tính cách: thương hiệu có thể truyền tải một cá tính cụ thể, dần được xây dựng thông qua hoạt động truyền thông, tiếp thị;
- Định nghĩa người dùng: thương hiệu giúp phân loại khách hàng hoặc người sử dụng nó
Từ đó có thể hiểu, thương hiệu xanh là một nhóm đặc trưng cụ thể và lợi ích thương hiệu liên quan đến giảm thiểu tác động môi trường, vì sức
khỏe môi trường (Hartmann, 2005).
Một nền kinh tế xanh chỉ có thể thành hiện thực nếu có sự tham gia tích cực của cả xã hội, tức
là bao gồm từ nhà nước, doanh nghiệp và người dân Vai trò của nhà nước là đưa ra các chính sách, đường lối để thực hiện nền kinh tế xanh Người dân có vai trò quan trọng quyết định qua cách ứng xử của mình thông qua hình thành một lối sống xanh, trong đó có tiêu dùng xanh Từ đó, doanh nghiệp muốn phát triển và tồn tại cũng không thể nằm ngoài xu thế “xanh” của xã hội, phải hoạt động theo pháp luật “xanh” và để tiêu thụ sản phẩm cũng phải đáp ứng yêu cầu “xanh” của người tiêu dùng Muốn vậy, doanh nghiệp phải tạo được cho mình thương hiệu xanh và đó
là hướng phát triển tất yếu
Tiêu dùng xanh hiện được xem là xu hướng tiêu dùng của thế kỷ khi môi trường trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trên thế giới (Sylvia Lorek, Doris Funchs, 2013) Trong thập
Trang 17niên qua, các chính sách và chương trình đã được
nỗ lực thực hiện nhằm chuyển đổi thành công cơ
cấu công nghiệp, làm quy trình sản xuất sạch và
hiệu quả hơn Tuy nhiên, các doanh nghiệp chỉ
có thể làm giảm các tác động đến môi trường
liên quan đến việc sản xuất chứ không giải quyết
được các tác động đến môi trường liên quan đến
việc lựa chọn, sử dụng và thải loại sản phẩm của
người tiêu dùng (Maria Rosario Partidario, Rita C
Comes, 2013) Chính vì thế, tiêu dùng ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các
vấn đề về môi trường; sự hợp tác giữa các nhà
sản xuất, người tiêu dùng và các bên liên quan
khác có thể mang lại các giải pháp bền vững hơn
trong hệ thống sản xuất - tiêu thụ Trong bối cảnh
đó, tích hợp nỗ lực của các bên liên quan là vấn
đề then chốt để thúc đẩy tiêu dùng xanh trên thế
giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Tiêu dùng xanh xuất phát từ mong muốn bảo
vệ các nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai
và nâng cao chất lượng sống của con người Hiện
nay, người tiêu dùng trên thế giới đang dần dần
hướng tới các sản phẩm xanh, thân thiện với môi
trường và coi đó như một tiêu chuẩn cho các sản
phẩm và dịch vụ chất lượng cao Người tiêu dùng
sẵn lòng trả giá cao hơn cho những hàng hóa
được gắn nhãn mác đạt tiêu chuẩn sản xuất bền
vững (Laroche & Barbaro-Forleo, 2001)
Chính phủ các nước cũng đang nỗ lực đưa
ra nhiều chính sách để thúc đẩy tiêu dùng xanh
Hầu hết các quốc gia đang phát triển ở châu Á đã
xây dựng các bộ luật bảo vệ môi trường Số lượng
người sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các sản
phẩm sinh thái thân thiện gần đây cho thấy thị
trường của các sản phẩm thân thiện môi trường
đang mở rộng (Tsakiridouet et al, 2008)
Chính sách và chương trình thúc đẩy tiêu dùng xanh ở các quốc gia trên thế giới rất đa dạng, từ gắn nhãn sinh thái, mua sắm xanh… (Bảng)
Xuất phát từ sự gia tăng mối quan tâm đối với tiêu dùng xanh, nhiều công ty đã bắt đầu sản xuất các sản phẩm xanh thân thiện với môi trường và thể hiện nỗ lực bảo vệ môi trường, nói cách khác là xây dựng thương hiệu xanh cho sản phẩm, dịch vụ của mình
Thương hiệu xanh đòi hỏi doanh nghiệp phải đạt 4 tiêu chí đó là: Sản phẩm được tạo ra
từ các vật liệu thân thiện với môi trường; Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn cho môi trường và sức khoẻ cho người tiêu dùng; Áp dụng các biện pháp cải tiến công nghệ sản xuất giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng; Sản phẩm tạo ra môi trường thân thiện và
an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng Phát triển thương hiệu gắn với yếu tố xanh ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Như vậy, thương hiệu xanh sẽ nâng cao nhận thức về môi trường cho người tiêu dùng Để có thể thành công, thương hiệu xanh cần tạo ra lợi thế sinh thái nổi bật hơn so với các thương hiệu khác và hướng tới đối tượng người tiêu dùng đánh giá cao các vấn đề liên quan đến môi trường (Kaman, 2008) Điều này có nghĩa là một thương hiệu xanh phải kết nối được nhóm đối tượng mục tiêu, bởi niềm tin của người tiêu dùng
về hiệu suất sinh thái của thương hiệu sẽ dẫn đến thái độ tích cực đối với thương hiệu đó
Thị trường và khách hàng có xu hướng dễ dàng chấp nhận các sản phẩm mang thương hiệu xanh Tuy vậy, trên thực tế, các sản phẩm bền vững sinh thái sẽ không thành công về mặt
Chính sách/chương trình thúc đẩy tiêu dùng xanh Quốc gia áp dụng
Gắn nhãn sinh thái/gắn nhãn xanh Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước EU Mua sắm xanh ở khu vực công Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và các nước EU Khuyến khích sử dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng Trung Quốc, Hoa Kỳ
Luật khuyến khích tiêu dùng xanh (thẻ tín dụng xanh) Hàn Quốc
Nguồn: Hoàng Thị Bảo Thoa, 2016
BẢNG: TÓM LƯỢC CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG XANH Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Trang 18thương mại, nếu các thuộc tính và lợi ích thương
hiệu xanh không được truyền đạt hiệu quả
(Pickett và cộng sự, 1995) Điều này có nghĩa là,
đi kèm với định vị hương hiệu xanh, thì các hoạt
động truyền thông có liên quan đến nhận diện
thương hiệu cho đối tượng mục tiêu là cần thiết
Khi truyền thông thương hiệu, các công ty
cần tính đến một số vấn đề sau Một mặt, các
công ty cần đảm bảo sự tương thích về môi
trường của thương hiệu với các tính năng và
thông tin cụ thể của sản phẩm Điều này được
hiểu là “chiến lược định vị chức năng”(functional
positioning strategy) (Hartmann & Ibanez, 2006)
Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần xem xét các đặc
tính kỹ thuật này là không đủ; mà mối liên hệ cảm
xúc của thương hiệu cũng rất quan trọng Cả quá
trình nhận thức và cảm nhận đều góp phần tạo
ra thái độ thương hiệu Do đó, thương hiệu cần
truyền đạt cả thông điệp chức năng cũng như
thông điệp cảm xúc đến khách hàng (Hartmann
và cộng sự, 2006) Mặt khác, sự lựa chọn thương
hiệu và loại hình thương hiệu là rất quan trọng
Các tuyên bố mơ hồ và vô căn cứ về thương hiệu
có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến danh tiếng của
nó và khiến người tiêu dùng trở nên hoài nghi về
các tuyên bố liên quan đến giá trị môi trường của
công ty Điều này cơ bản là đúng nếu một công ty
hoàn toàn sử dụng “chiến lược định vị tình cảm”
(emotional positioning strategy), nghĩa là những
tuyên bố về môi trường không có mục tiêu, một
khi được phát hiện có thể gây ra phản ứng tiêu
cực của khách hàng (Hartmann & Ibanez, 2006)
Ngoài ra, một số tác giả cho rằng, các thương
hiệu xanh nên có giấy chứng nhận của bên thứ
ba, cụ thể là chứng nhận môi trường, để đánh giá
độ xanh của thương hiệu Trong bối cảnh có quá
nhiều động thái tiếp thị xanh, từ ý tưởng truyền
thông, thiết kế bao bì cho đến sản phẩm, người
tiêu dùng và công chúng có thể rơi vào trạng thái
nhầm lẫn trong nhận thức và chọn lựa sản phẩm
xanh thật sự Vì vậy, song song với những động
thái tiếp thị xanh đã hình thành những nhãn hiệu
chứng nhận (certifi cation mark) và thương hiệu
chứng nhận (certifi cating brand) Tại các nước
phát triển, các nhãn hiệu chứng nhận như “green
label” hay “green product” hoặc “energy saving”
hình thành ngày một nhiều hơn từ các tổ chức
độc lập chứng nhận cho các sản phẩm và thương
hiệu có mặt trên thị trường
THẾ GIỚI VỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
VÀ KINH TẾ XANH
Thực tế đã cho thấy, tăng trưởng xanh giúp các quốc gia vừa đạt được các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và đặc biệt là bảo
vệ môi trường, thích ứng với điều kiện của biến đổi khí hậu Trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, tăng trưởng xanh, kinh
tế xanh đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia như một động lực thúc đẩy và phục hồi kinh tế toàn cầu và công cụ để phát triển bền vững Chủ đề này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các diễn dàn khu vực và quốc tế và đang được các nước nghiêm túc xem xét áp dụng
Ở khu vực châu Á, “Diễn đàn khí hậu Đông Á”
đã được tổ chức tại Seoul vào ngày 29/05/2009, các nước trong khu vực đã trao đổi về việc thiết lập các chiến lược tăng trưởng xanh của Đông
Á, tạo cơ hội để các quốc gia châu Á có thể chia
sẻ kinh nghiệm và chính sách liên quan Tại Diễn đàn này, “Sáng kiến Seoul về tăng trưởng xanh Đông Á” đã được thông qua Các nhà lãnh đạo cấp cao của các nước Đông Á cũng đã thảo luận
về phương án tăng cường hợp tác xanh trong việc thiết lập sự ổn định lương thực và năng lượng - những yếu tố cần thiết cho phát triển bền vững của các quốc gia trong khu vực tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Hàn Quốc (ngày 01-02/06/2009 ở Jeju, Hàn Quốc) được tổ chức ngay sau Diễn đàn trên, các nhà lãnh đạo bày tỏ sự đồng thuận cao đối với chính sách tăng trưởng xanh mà Chính phủ Hàn Quốc đưa ra
Về phần các nước Đông Nam Á, ASEAN cũng
ra tuyên bố chung (tháng 07/2010) nhấn mạnh: các đối tác và các tổ chức quốc tế cũng có vai trò quan trọng trong hỗ trợ khối ASEAN tiến gần hơn với hình mẫu phát triển “Giảm carbon – Tăng trưởng xanh” ASEAN sẽ thắt chặt hơn trong hợp tác năng lượng với khu vực Đông Á, trong
đó quan tâm nhiều đến Cơ chế phát triển sạch (CDM), phát triển năng lượng hạt nhân dân sự
Trang 19để hạn chế những tác động xấu trong biến đổi
khí hậu
Tiếp đó, tháng 10/2010, tại Hội nghị cấp cao
Á - Âu (ASEM) được tổ chức ở Bỉ, Thủ tướng Việt
Nam đã chính thức đề xuất sáng kiến hợp tác Á
- Âu về tăng trưởng xanh, sáng kiến này đã nhận
được sự ủng hộ của rất nhiều tổ chức, quốc gia
thành viên ASEM Nhiều thành viên ASEM đã đi
đầu trong thực hiện xanh hóa nền kinh tế, mà nổi
bật là các chiến lược của EU, Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Việt Nam Các quốc gia này đều
coi tăng trưởng xanh là một định hướng phát
triển quốc gia trong những thập kỷ tới, đặc biệt
là trước những hệ quả sâu sắc của cuộc khủng
hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu
Đầu tháng 10/2011, Diễn đàn Hợp tác Á -
Âu về tăng trưởng xanh (Asia-Europe Meeting
Green Growth Forum) với chủ đề “Cùng hành
động hướng tới các nền kinh tế xanh” được tổ
chức ở Việt Nam để tìm các cơ chế hợp tác và
chia sẻ kinh nghiệm phát triển xanh giữa các
nước Tại Hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á – Thái Bình Dương (APEC) bế mạc ngày
13/11/2011 ở Hawaii (Hoa Kỳ), các nhà lãnh đạo
APEC cũng đã thông qua Tuyên bố Honolulu,
trong đó, APEC xác định cần phải giải quyết các
thách thức môi trường và kinh tế của khu vực
bằng cách hướng đến nền kinh tế xanh, carbon
thấp, nâng cao an ninh năng lượng và tạo
nguồn mới cho tăng trưởng kinh tế và việc làm
Theo đó, APEC đã thống nhất, năm 2012 phát
triển danh mục hàng hóa môi trường (hàng hóa
xanh) và giảm thuế quan đối các mặt hàng này
vào cuối năm 2015 APEC sẽ xóa bỏ rào cản phi
thuế quan bao gồm các yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa
đối với các dịch vụ và hàng hóa môi trường Để
thúc đẩy các mục tiêu tăng trưởng xanh, APEC
sẽ thực hiện các biện pháp như giảm 45% cường
độ sử dụng năng lượng của APEC vào năm 2035
so với năm 2005, kết hợp các chiến lược phát
triển về thải carbon thấp vào các kế hoạch tăng
trưởng kinh tế thông qua Dự án thành phố mẫu
carbon thấp
Ở cấp độ toàn cầu, Diễn đàn Tăng trưởng
xanh Toàn cầu (Global Green Growth Forum -
3GF) lần thứ nhất đã diễn ra tại Copenhagen
- Đan Mạch trong hai ngày 11 và 12/10/2011
Đây là một sự kiện được tổ chức bởi Chính phủ
Đan Mạch với sự phối hợp đồng sáng kiến của
các chính phủ Hàn Quốc và Mexico 3GF được tổ chức với mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua cơ chế hợp tác công - tư giữa các chính phủ với khối doanh nghiệp
Hiện nay các cơ quan Liên hợp quốc có hàng loạt sáng kiến thúc đẩy hướng tới nền kinh tế xanh và đang thu được kết quả tốt đẹp, như: Nông nghiệp thông minh với khí hậu (FAO phát động); Đầu tư công nghệ sạch (WB); Việc làm xanh (ILO); Kinh tế xanh (UNEP); Giáo dục vì sự phát triển bền vững (UNESCO); Xanh hóa khu vực
y tế (WHO); Thị trường công nghệ xanh (WIPO); Tiêu chuẩn công nghệ thông tin xanh; Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO); Sản xuất sạch hơn
và hiệu quả nguồn tài nguyên (UNEP và UNIDO); Các thành phố và biến đổi khí hậu (UN-HABITAT); Tái chế tàu biển (IMO)…
Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
(2011-2020) của Việt Nam: “Tăng trưởng kinh tế
phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu” phù hợp với định hướng
phát triển trên; do đó, Việt Nam có thể đề xuất
để được tham gia vào các chương trình thúc đẩy tăng trưởng xanh của Liên hợp quốc
Tuy có mức độ quan tâm và triển khai trên thực tế khác nhau, nhìn chung các nước đều ủng
hộ phát triển kinh tế xanh, coi đây là một trong những nội dung tái cơ cấu kinh tế nhằm phục hồi nền kinh tế trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như duy trì lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới Ưu tiên phát triển kinh
tế xanh chủ yếu tập trung vào ba lĩnh vực: Công trình tiết kiệm năng lượng; Năng lượng tái tạo; Giao thông bền vững
Trang 20có quy định năm 2016, xe hơi không được phép
tiêu thụ quá 6,6 lít xăng/100 km, từ 9,4 lít/100
km như hiện nay Với biện pháp này Mỹ sẽ tiết
kiệm được gần 2 tỷ thùng dầu mỗi năm, đồng
thời giảm được 30% khí thải xả ra môi trường
Trong Ngày Trái đất 22/04/2009, Chính phủ Mỹ
đã thông báo sẽ dành 300 triệu USD trong khoản
kích thích kinh tế Liên bang để giúp các thành
phố và thị trấn mua thêm các phương tiện giao
thông tiết kiệm nhiên liệu
Bên cạnh đó, để giảm dần phụ thuộc nhập
khẩu dầu từ nước ngoài và sự biến đổi khí hậu
toàn cầu, Chính phủ Mỹ quyết định áp dụng kế
hoạch “Khống chế lượng thải khí carbon thương
mại” và tiến hành bán đấu giá các sản phẩm hạn
chế gây ô nhiễm môi trường Một phần số tiền
bán đấu giá bình quân mỗi năm là 15 tỷ USD,
được dùng vào việc khuyến khích phát triển
nguồn năng lượng sạch và cải thiện hiệu quả đầu
tư vào năng lượng Một chương trình triển khai
dự án ngoài khơi sản xuất điện từ tuốc-bin gió và
dòng hải lưu đang được nghiên cứu triển khai, và
dự kiến tạo ra 250.000 việc làm
Theo Bộ Năng lượng Mỹ, đến năm 2020, nhu
cầu điện trung bình sẽ giảm 15%; đến năm 2030
người tiêu dùng sẽ phải tiết kiệm 130 tỷ USD cho
chi phí năng lượng và cắt giảm 5 tỷ tấn carbon
thải ra
Các nước EU
Ngày 9/03/2011, EU đã công bố chính sách
“Gắn kết châu Âu”, đầu tư 105 tỷ Euro vào kinh tế
xanh Số tiền này lớn gấp 3 lần so với số tiền đã
được chi cho giai đoạn 2002-2006 Trong chính
sách này, EU đưa ra nhiều mục tiêu tham vọng
về cuộc chiến chống biến đổi khí hậu trong đó
có việc giảm đến 20% lượng khí thải nhà kính,
tăng năng lượng tái sinh lên 20% trong tổng tiêu
thụ năng lượng của EU vào năm 2020 Gần một
nửa các quốc gia thành viên của EU (bao gồm Áo,
Bungari, Séc, Pháp, Đức, Hun-gari, Italia, Ba Lan,
Bồ Đào Nha, Rumani, Slovakia và Anh) đã đưa các
chỉ số giảm lượng khí thải nhà kính vào chương
trình gắn kết của quốc gia mình
Anh thành lập một văn phòng về các
phương tiện vận tải phát thải thấp, và đã công
bố dành 4 triệu Bảng cho việc nghiên cứu áp
dụng công nghệ phát thải thấp như xe sạc điện,
xe lai sạc điện (Plug-in hybrid), xe chạy bằng khí
hyđrô Chính phủ Anh sẽ hỗ trợ tiền mua loại
xe này và sẽ xây dựng những trạm nạp điện để khuyến khích việc sử dụng các loại phương tiện này Anh cũng áp đặt mức phí vào nội thành cho các phương tiện giao thông, trung bình 10 Bảng
1 ngày Mức phí này được miễn với các phương tiện chạy điện và phát thải thấp Số tiền thu được
sử dụng để nâng cấp hệ thống vận tải công cộng như xe buýt và metro
Đức là nước xây dựng chiến lược nền kinh tế
“năng lượng xanh” đầu tiên trên thế giới Theo
đó, nước này đang có nhiều nỗ lực để trở thành cường quốc công nghiệp đầu tiên trên thế giới sử dụng 100% năng lượng xanh tái tạo và hướng tới “mục tiêu xanh” vào năm 2050 Bộ Môi trường Đức đã công bố Bản lộ trình mới phác thảo tiến trình thực hiện các kế hoạch hướng tới một nền kinh tế sử dụng hoàn toàn năng lượng tái tạo Năm 2008, năng lượng tái tạo chiếm 7% tổng lượng tiêu thụ năng lượng gốc của Đức Nhưng con số dự đoán sẽ tăng lên 33% vào năm 2020 khi nước này nhanh chóng vượt lên các quốc gia châu Âu khác trong phát triển năng lượng tái tạo.Bản lộ trình của Đức đã nêu nhiều biện pháp, kế hoạch nâng cao hiệu suất năng lượng, trong đó có việc xây dựng mạng lưới “điện thông minh”, giảm tiêu thụ điện năng khoảng 28% trong vòng 20 năm tới, từ 384,5
tỉ kWh năm 2007 xuống 333,3 tỉ kWh vào năm
2020 và 277,7 tỉ kWh vào năm 2030 Thực hiện
kế hoạch giảm tiêu thụ năng lượng, nước Đức
sẽ tiết kiệm được hàng tỉ USD chi trả cho nhập khẩu năng lượng
Ước tính đến năm 2030, nước Đức sẽ có tới 50% năng lượng điện tiêu thụ lấy từ nguồn năng lượng tái tạo Dự báo khoảng 20 năm nữa, một
“mạng lưới thông minh” kết nối với toàn bộ mạng lưới điện châu Âu sẽ được thiết lập Bản lộ trình của Đức đã lên kế hoạch cho biết, đến năm 2020
xe hơi điện sẽ sử dụng pin sạc bằng năng lượng tái tạo, làm giảm nhu cầu về xăng dầu và làm giảm lượng phát thải các loại khí nhà kính Đức
có nhiều tài nguyên năng lượng tái tạo để thực hiện lộ trình “năng lượng xanh” Riêng tài nguyên gió ở Đức đã và đang được khai thác tốt nhất Bên cạnh đó, năng lượng tái tạo là năng lượng sinh học cũng sẽ đóng góp vai trò quan trọng trong ngành năng lượng quốc gia, nhưng nguồn năng lượng sinh học phụ thuộc vào sự phát triển
Trang 21những loại cây trồng không cạnh tranh với các
loại cây lương thực khác Với rất nhiều các dự
án nghiên cứu đang được khởi động, nước Đức
được kỳ vọng sẽ có nhiều bước đột phá hơn nữa
nhằm trở thành nền kinh tế năng lượng xanh đầu
tiên của thế giới
Canada
Tháng 4/2007, Chính phủ Canada đã công
bố kế hoạch về biến đổi khí hậu, đưa ra mục tiêu
cắt giảm 20% khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào
năm 2020, lấy năm 2006 là điểm xuất phát.Vào
tháng 1/2009, Chính phủ Canada cũng đã công
bố Kế hoạch hành động về kinh tế với ngân sách
tiêu dùng là 40 tỷ CAD, tương đương với 1/5 GDP
năm 2009 Khoản ngân sách này nhắm đến các
dự án, như: đường sá, cầu cảng, năng lượng sạch,
hệ thống internet băng thông rộng…
Về tiết kiệm năng lượng, gói kích thích kinh
tế của Canada đã dành 300 triệu CAD trong vòng
2 năm cho chương trình Retrofi t ecoENERGY
nhằm hỗ trợ thêm thiết bị tiết kiệm năng lượng
bổ sung cho 200.000 hộ gia đình Một triệu CAD
cũng được dành cho Quỹ hạ tầng xanh trong
vòng 5 năm giúp hiện đại hóa các đường dẫn
năng lượng, trong đó có đường tải điện và các
năng lượng tái sinh khác Theo tính toán của
Chính phủ Canada, kế hoạch hành động này có
thể giúp phát triển nhanh năng lượng sạch, đồng
thời trong vòng 5 năm nữa khoảng 407.000 việc
làm mới có thể được tạo ra
Hàn Quốc
Hàn Quốc đã liên tục đạt được thành tựu
kinh tế rất ấn tượng Hiện tại, Hàn Quốc có một
nền kinh tế vững mạnh, duy trì ở vị trí nền kinh tế
lớn thứ 10-11 trong những năm gần đây và được
đánh giá là quốc gia có các chỉ số môi trường tốt
trong nhóm các quốc gia thành viên OECD
Tuy nhiên, để đạt được những thành tựu
đáng nể như vậy, Hàn Quốc cũng đã từng phải
đối mặt và trả giá rất đắt cho quá trình tăng
trưởng kinh tế nóng giai đoạn trước 1980 do chỉ
chú trọng theo đuổi các mục tiêu tăng trưởng
kinh tế và phớt lờ các tác động môi trường của
quá trình phát triển kinh tế nóng vội Tình trạng
ô nhiễm này ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất
lượng cuộc sống và sức khoẻ của người dân, đặc
biệt là dân cư sinh sống gần các khu công nghiệp
lớn và dẫn đến các cuộc biểu tình đòi hỏi Chính phủ phải nhanh chóng có các giải pháp cải thiện chất lượng môi trường và đảm bảo sức khoẻ cho người dân
Ngày 15/08/2008, Hàn Quốc đưa ra chính sách “Tăng trưởng xanh, ít carbon” với tầm nhìn cho 60 năm tiếp theo nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế với 3 nguyên tắc: (i) duy trì hoạt động kinh tế hiệu quả trong khi tối thiểu hóa sử dụng năng lượng và tài nguyên, (ii) Tối thiểu hóa
áp lực về môi trường với việc sử dụng mỗi nguồn năng lượng và tài nguyên, (iii) Đầu tư vào môi trường, một công cụ để phát triển kinh tế.Sau khi ban hành chính sách, Hàn Quốc đã đưa ra một loạt sáng kiến xanh gồm: (i) Kế hoạch năng lượng cơ bản quốc gia đầu tiên (2008-2030) với mục tiêu tăng phần trăm của năng lượng tái sinh lên 11% vào năm 2030; (ii) Kế hoạch toàn diện chống lại biến đổi khí hậu; (iii) Kế hoạch nghiên cứu và phát triển toàn bộ về công nghệ xanh, với mục tiêu tăng gấp 2 lần khoản chi cho nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh vào năm 2012 (178 triệu USD năm 2008), tập trung vào 27 lĩnh vực công nghệ chính, như: dự đoán biến đổi khí hậu và xây dựng mô hình, tấm năng lượng mặt trời điện quang, đi-ốt phát quang LED, tái sử dụng rác thải, lưu trữ carbon… Để triển khai, Hàn Quốc đã thành lập Ủy ban điều hành về Tăng trưởng xanh
Tháng 1/2009, Hàn Quốc đã công bố gói kích thích kinh tế “Tăng trưởng xanh mới” Theo đó, Chính phủ Hàn Quốc đầu tư khoảng 36 tỷ USD trong 4 năm tập trung với 9 dự án xanh chính và
27 dự án kinh tế liên quan khác đến năm 2012 Ngân sách năm 2009 xấp xỉ 2,6% GDP năm 9 dự
án bao gồm: (1) Khôi phục 4 dòng sông chính, (2) Xây dựng hệ thống giao thông xanh, (3) Xây dựng cơ sở dữ liệu về lãnh thổ và tài nguyên quốc gia, (4) Quản lí nguồn tài nguyên nước, (5)
Ô tô xanh và chương trình năng lượng sạch hơn, (6) Chương trình tái sinh tài nguyên, (7) Quản lí rừng và chương trình sinh học, (8) Nhà xanh, văn phòng xanh và trường học xanh, (9) Phong cảnh
và kết cấu hạ tầng xanh hơn
Để đảm bảo nền kinh tế xanh, hệ thống cấp phép về môi trường được Hàn Quốc sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm kiểm soát ô nhiễm, giảm thiểu phát thải và là trọng tâm của các chính sách nhằm đảm bảo phát triển nền kinh tế
Trang 22theo hướng thân thiện với môi trường Hệ thống
cấp phép về môi trường được các quốc gia EU
bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 1996 với việc
ban hành Chỉ thị về Kiểm soát và Phòng ngừa ô
nhiễm tổng hợp (IPPC) Đến năm 2010, EU đã đẩy
mạnh hoạt động cấp phép này bằng Chỉ thị về Xả
thải công nghiệp (IED) nhằm thắt chặt hơn các
quy định về kiểm soát ô nhiễm Hiện nay, chính
phủ Hàn Quốc đang từng bước chuyển đổi dần
hệ thống quản lý kiểm soát ô nhiễm của mình
theo hướng tiếp cận và áp dụng các hệ thống cấp
phép môi trường theo kiểu châu Âu đã áp dụng
trong Chỉ thị số 96/61/EC và Chỉ thị số 2010/75/
EU Các văn bản chính sách làm cơ sở cho việc áp
dụng hệ thống cấp phép về môi trường dựa trên
quan điểm IPCC tại Hàn Quốc vẫn đang trong quá
trình tham vấn các bên để đi đến thống nhất Dự
kiến, sau khi ban hành, hệ thống cấp phép này
sẽ áp dụng cho 20 ngành công nghiệp được lựa
chọn tại Hàn Quốc
Trung Quốc
Từ năm 2004, để kiểm soát hoạt động kinh tế
theo xu hướng “xanh”, Trung Quốc bắt đầu thiết
lập hệ thống tính toán GDP xanh Theo đó, GDP
được tính bằng GDP trừ đi chi phí tiêu dùng tài
nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt
động kinh tế Trung Quốc đã cho ra đời Luật Sản
xuất sạch năm 2003, Luật Kinh tế tái sử dụng có
hiệu lực từ 1/01/2009; quy định về đánh giá môi
trường đối với các dự án nhằm tránh hiện tượng
phá hủy môi trường ngay từ đầu vào tháng
8/2009 Trong giai đoạn 2005-2010, nhờ sử dụng
công nghệ sản xuất năng lượng sạch, Trung Quốc
đã tạo được thêm 445 triệu kW năng lượng mới,
trong đó có 21,58% từ thủy điện và 0,86% từ điện
nguyên tử; đã đóng cửa các nhà máy than cũ, quy
mô nhỏ với tổng cộng 72,1 triệu kWh, xây dựng
thêm nhiều nhà máy với năng suất cao và hiệu
quả hơn từ các nhà máy cũ
Trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, Trung
Quốc đã dành một phần đầu tư vào lĩnh vực
xanh, trong đó nhấn mạnh năng lượng tái tạo
và hiệu quả năng lượng, cam kết tăng tỷ lệ sử
dụng năng lượng tái tạo lên 16% năm 2020 Bên
cạnh đó, nước này có chính sách đẩy mạnh đầu
tư đổi mới công nghệ, phát triển năng lượng tái
tạo nhằm từng bước chuyển nhiều ngành sản
xuất của nước này sang mô hình tăng trưởng sử
dụng hiệu quả năng lượng theo 3 hướng chính: (1) hiện đại hóa các ngành nghề chủ chốt như thép, ô tô, xi măng, viễn thông… để có thể tiếp cận công nghệ mới; (2) chuyển các ngành sử dụng nhiều lao động và công nghệ trung bình – thấp sang các tỉnh miền Tây và ra nước ngoài; (3) Chấn chỉnh các nghành khai thác và sản xuất trong nước nhằm chủ động ứng phó với các cú sốc năng lượng trong tương lai…
Luật Năng lượng tái tạo của Trung Quốc (thông qua năm 2005) được coi là bộ luật định hướng cho sự phát triển của ngành này Luật này cung cấp một loạt các ưu đãi tài chính, chẳng hạn như một quỹ quốc gia để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, cho vay, ưu đãi về thuế cho các dự án năng lượng tái tạo; yêu cầu các nhà khai thác lưới điện mua các nguyên liệu từ các nhà sản xuất năng lượng tái tạo đã đăng ký
Sự kết hợp giữa đầu tư và các chính sách ưu đãi tạo điều kiện cho những bước tiến lớn trong việc phát triển năng lượng gió và năng lượng mặt trời của Trung Quốc
Ấn Độ
Ấn Độ quan niệm phát triển bền vững đi liền với bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu và kiểm soát tài nguyên Theo đó, Ấn Độ đã xây dựng chính sách tổng thể về bảo tồn nguồn nước, kiểm soát rừng, đầu tư hạ tầng sinh thái, xây dựng chiến lược năng lượng tái sinh, khuyến khích các ngành, lĩnh vực kinh tế sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường
Để xây dựng hạ tầng sinh thái nông thôn,
Ấn Độ đã thông qua Luật Bảo đảm việc làm cho nông thôn (NREGA) năm 2005, chú trọng vào việc cải thiện đời sống dân nghèo nông thôn, tạo công ăn việc làm, hỗ trợ xây dựng lại hệ sinh thái nông thôn, bảo tồn nguồn nước Trong hơn
2 năm đầu thực hiện, NREGA đã tạo ra hơn 3,5 tỷ ngày công lao động, đạt trung bình hơn 30 triệu gia đình mỗi năm có việc làm Chương trình việc làm này được thực hiện ở tất cả 615 huyện nông thôn của Ấn Độ, trong đó phụ nữ chiếm gần một nửa lực lượng lao động Điểm nhấn ở đây là tạo
ra việc làm sử dụng nhiều lao động, cấm sử dụng nhà thầu và máy móc
Ngoài việc bổ sung lao động làm công ăn lương, mục tiêu thứ cấp của NREGA là tăng
Trang 23cường quản lý tài nguyên thiên nhiên nông thôn
Điều này được thực hiện bằng cách hỗ trợ các
công trình nông thôn vốn là nạn nhân của hạn
hán, phá rừng và xói mòn đất, từ đó khôi phục lại
kết cấu hạ tầng tự nhiên
Là một trong những nhà sản xuất nông
nghiệp hàng đầu của thế giới, Ấn Độ đã nhận
thấy một sự đột biến về lượng nước tiêu thụ
cho lĩnh vực nông nghiệp trong những năm
qua Chính vì thế, chiếm một nửa các dự án
do NREGA hỗ trợ chính là các dự án về nước
(850.000 dự án được tài trợ từ năm 2006 đến
2008) NREGA đào tạo và cung cấp việc làm cho
các dân làng để họ tự phát triển các giải pháp xử
lý nước, giải quyết tình trạng khan hiếm nước tại
nơi họ sống NREGA cũng hỗ trợ phục hồi một
mạng lưới các bể chứa nước có niên đại hơn 500
năm tại một khu vực khô cằn chủ yếu Điều này
không chỉ có ý nghĩa đối với việc sản xuất cây
trồng, vật nuôi, mà còn đóng góp vào bổ sung
lượng nước ngầm
Chỉ trong một thời gian ngắn, NREGA đã thành công trên khắp đất nước Trong việc thúc đẩy tăng trưởng toàn diện và phục hồi cơ sở hạ tầng sinh thái, chương trình còn có một tác động mạnh đối với việc trao quyền cho nhóm người nghèo hoặc bị thiệt thòi Trong vòng 3 năm, chương trình đã góp phần tăng mức lương trung bình cho người lao động nông nghiệp hơn 25%.Nhằm thực hiện định hướng phát triển bền vững, Ấn Độ còn triển khai Chiến lược năng lượng mới nhằm giảm lệ thuộc vào nguồn dầu
mỏ đang ngày càng cạn kiệt Ấn Độ đang đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn năng lượng và đặt mục tiêu cho việc sản xuất năng lượng tái tạo sẽ chiếm 50% năng lượng cả nước vào năm 2050 (hiện nay là 5%) Ấn Độ là quốc gia duy nhất trên thế giới thiết lập Bộ Năng lượng tái tạo và Năng lượng mới trong cơ quan Chính phủ Ấn
Độ đang xây dựng chương trình hành động sản xuất 20.000 MW điện từ năng lượng mặt trời vào năm 2020./
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hoàng Thị Bảo Thoa (2016) Xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới và hàm ý đối với Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 32, Số 1 (2016) 66-72
Sylvia Lorek, Doris Funchs, “Strong Sustainable Consumption Governance Precondition for a Degrowth Path?”, Journal of Cleaner Production, 38 (2013), 36
Maria Rosario Partidario, Rita C Comes, “Ecosytem Services Inclusive Strategic Environmental Assessement”, Environmental Impact Assessment, 40 (2013) 36
Tania Briceno, “The Role of Social Processes for Sustainable Consumption”, Journal of Cleaner Production 14 (2006) 17, 1541
P Kotler, K Keller, Marketing Management, 12th edition, Pearson/Prentice Hall, New Jersey, 2006 P Farquhar, J Han, P Herr, Y Ijiri, Strategies for leveraging master brands, Marketing Research, 4(3) (1992) 32-43
G.S Low, C.W Lamb Jr., The measurement and dimensionality of brand associations, Journal of Product and Brand Management, 9(6) (2000) 350-368
P Hartmann, V.A Ibanez, J.F.F Sainz, Green branding eff ects on attitude: functional versus emotional positioning strategies, Marketing Intelligence and Planning, 23(1) (2005) 9-29
L Kaman, Opportunities for green marketing, Marketing Intelligence & Planning, 26(6) (2008) 586
573-F.J Montoro Rios, T.L Marinez, F.F Moreno, P.C Soriano, Improving attitudes toward brands with environmental associations: an experimental approach, Journal of Consumer Marketing, 23(1) (2006) 26-33G.M Pickett, N Kangun, S.J Grove, An examination of the conserving consumer: implications for public policy formation in promoting conservation behavior, In M.J Polonsky and A.T Mintu-Wimsatt (Eds), Environmental Marketing: Strategies, Practice, Theory, and Research, The Haworth Press, New York, 1995
P Hartmann, V.A Ibanez, Green value added Marketing Intelligence & Planning, 24(7) (2006) 673-680
Trang 25PHẦN THỨ HAI
VIỆT NAM VÀ MỤC TIÊU
TĂNG TRƯỞNG XANH
Trang 26QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA
ĐẢNG VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH,
KINH TẾ XANH
Việt Nam là quốc gia nằm ở vùng nhiệt đới
gió mùa, quanh năm cây cối tốt tươi Nước ta
đang phát triển từ điểm xuất phát thấp của một
nước nông nghiệp, lúa nước Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, cả nước đang đẩy mạnh công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; phấn đấu sớm trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Trong lịch sử nước nhà màu xanh của hoa lá cỏ cây
đã trở nên gắn bó, thân thuộc với từng con người
Việt Nam hàng ngàn năm Trong thời đại Hồ Chí
Minh, người Việt chúng ta vẫn còn nhớ mãi ngày
28/11/1959, với bút danh Trần Lực, Bác Hồ, đã viết
bài báo nhan đề “Tết trồng cây” và đăng trên báo
Nhân dân Bằng những lời văn thật là giản dị, có
sức thuyết phục, Người đã phân tích ý nghĩa và lợi
ích thiết thực của việc trồng cây đối với đất nước,
gia đình và mỗi người dân Kể từ đó, Người khuyên
nhân dân ta cần duy trì bền bỉ “Tết trồng cây”
Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta đã thực hiện “Tết trồng
cây” đầu tiên trong dịp Tết nguyên đán Canh Tý
(năm 1960) Từ đó tới nay, mỗi khi cả nước chuẩn
bị đón Xuân,kỷ niệm ngày thành lập Đảng (ngày
03/02 hàng năm) – “Mừng Đảng, mừng Xuân,
mừng đất nước”, nhân dân ta lại tổ chức “Tết trồng
cây” theo lời Bác Đến nay, phong trào đó đã trở
thành một tập quán tốt đẹp của nhân dân ta
trong những dịp vui Tết đón Xuân và duy trì được
57 năm Lễ mừng Xuân Canh Tý 2019 – 2020 cả
nước sẽ chính thức kỷ niệm 60 ngày Bác Hồ phát
động Tết trồng cây
“Mùa Xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”
Ngày nay, xanh trong kinh tế, xanh trong
tăng trưởng, xanh trong tiêu dùng…, dù có nội
hàm rộng đến mấy đi chăng nữa, thì rõ ràng cái
màu xanh của hoa lá cỏ cây là một phần quan
trọng không thể thiếu được của cuộc sống con
người Nó không những là nguồn thực phẩm,
thức uống, nguyên vật liệu, mà màu xanh còn là
sự thanh lọc cho môi trường ngày càng “xanh – sạch – đẹp” hơn Màu xanh còn là sự cân bằng giữa tăng trưởng với mức sống của quảng đại quần chúng nhân dân, là làm cho “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Chính vì lẽ đó, có thể nói trong tư tưởng, nhận thức của Đảng ta, nhất là trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, đã xuất hiện từ rất sớm về những nội hàm của tăng trưởng xanh, kinh tế xanh như ngày nay thế giới đang theo đuổi
Cụ thể hóa những nội hàm của tăng trưởng xanh, kinh tế xanh trong xu thế phát triển chung của thế giới, Đảng ta đã thể hiện những tư tưởng chỉ đạo lớn, mang tầm chiến lược về tăng trưởng xanh qua những nghị quyết, chủ trương quan trọng
Trải qua 12 kỳ đại hội, nhận thức và tư tưởng của Đảng ta đã thể hiện ngày càng rõ ràng hơn
về phát triển bền vững, phát triển nhanh, cũng như tăng trưởng xanh, kinh tế xanh Nếu như tại các văn kiện khóa I đến khóa III, không có từ
“xanh” nào được nhắc đến, thì các đại hội sau đã xuất hiện từ này
Khóa IV, khóa IV, khóa V, khóa VI, văn kiện Đại hội Đảng mới chỉ đề cập tại vấn đề: phủ xanh đất trống, đồi trọc, khôi phục và trồng kín rừng ở vùng bờ biển, khoanh nuôi và gây trồng các khu rừng đầu nguồn…
Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII
(năm 1991), tại Báo cáo Chính trị, trong phần
Những phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong
5 năm 1991-1995 của Ban Chấp hành Trung
ương khóa VI đã nhận định: “Rừng bị khai thác
và đốt phá bừa bãi trở nên nghèo kiệt, song nếu có chính sách và giải pháp đúng sẽ khôi phục nhanh Khoảng 9 triệu ha rừng còn lại được bảo vệ và khai thác tốt cùng với khoảng 10 triệu ha đất trống, đồi trọc được phủ xanh và sử dụng có hiệu quả sẽ là một thế mạnh về kinh tế và môi sinh” Có thể nói,
đây là lần đầu tiên, Đảng đánh giá đúng và xác định rõ giá trị của rừng và khả năng đóng góp của 5 triệu ha vào kinh tế và môi sinh của đất nước Đây là tiền đề cho tư tưởng tăng trưởng xanh rõ nét hơn sau này
Sang khóa VIII (năm 1996), tại văn kiện Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng tiếp tục khẳng định tiếp tục Chương trình “phủ xanh đất trống, đồi trọc”
Trang 27Trước vấn nạn ô nhiễm môi trường, ngay từ
ngày 25/06/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ
thị số 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ
môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước
Chỉ thị nêu rõ, bảo vệ môi trường là một
vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là
nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc
đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với
cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên
phạm vi toàn thế giới Đảng và Nhà nước ta đã có
những chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn
đề môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường của
nước ta đã đạt được những kết quả bước đầu, đã
xuất hiện những gương người tốt, việc tốt về bảo
vệ môi trường Tuy nhiên, việc bảo vệ môi trường
ở nước ta hiện chưa đáp ứng yêu cầu của quá
trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn
mới Nhìn chung, môi trường nước ta vẫn tiếp
tục bị ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng
Việc thi hành pháp luật bảo vệ môi trường chưa
nghiêm minh Ý thức tự giác bảo vệ và giữ gìn
môi trường công cộng chưa trở thành thói quen
trong cách sống của đại bộ phận dân cư Do đó,
Chỉ thị đưa ra những nhiệm vụ sau:
“Trong năm 1998, các cấp uỷ đảng và và chính
quyền từ Trung ương đến cơ sở mở đợt tuyên truyền
sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
nhằm quán triệt chỉ thị này, thực hiện các nhiệm vụ
bảo vệ môi trường nêu trong chỉ thị.
Ban cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo việc xây
dựng chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường ,
kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường ở Trung ương và địa phương và tăng cường
đầu tư kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường.
Các cấp uỷ đảng và chính quyền cần lãnh đạo
và chỉ đạo trực tiếp việc kết hợp kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội với công tác bảo vệ môi trường,
phát động phong trào quần chúng rộng rãi, liên
tục tham gia công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ
sinh công cộng, xây dựng nếp sống sạch, đẹp, văn
minh trên địa bàn mình.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng nâng
cao nhận thức về bảo vệ môi trường và gương mẫu,
tích cực tham gia mọi hoạt động bảo vệ môi trường,
chủ động lãnh đạo quần chúng bảo vệ môi trường”.
Tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần
thứ IX (năm 2001), trong Chiến lược Phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010, tại phần định
hướng phát triển các vùng, lần đầu tiên, Đảng
nhấn mạnh yêu cầu: “Kết hợp hài hoà giữa phát
triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững; tiến tới bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường tự nhiên khác đạt chuẩn mực tối thiểu do Nhà nước quy định Trước mắt, tập trung giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc, chật chội ở các thành phố lớn và một số vùng nông thôn Kiểm soát ô nhiễm và ứng cứu sự
cố môi trường do thiên tai lũ lụt gây ra; có kế hoạch cải tạo, khắc phục sự cố ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương Thực hiện các
dự án về cải tạo, bảo vệ môi trường: xây dựng vườn quốc gia, khu rừng cấm, trồng cây xanh, giữ gìn đa dạng sinh học, bảo tồn các nguồn gen di truyền, xây dựng các công trình làm sạch môi trường Đảm bảo sử dụng hợp lý tài nguyên, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tiết kiệm và tiết chế sử dụng tài nguyên không tái tạo được Tăng cường kiểm tra và giám sát môi trường trong từng dự án đầu tư và từng quy hoạch,
kế hoạch phát triển của các ngành, các vùng lãnh thổ Áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất ít chất thải, ít gây ô nhiễm môi trường”.
Cũng tại Đại hội này, Đảng vẫn tiếp tục yêu cầu “xanh hóa đất trống, đồi núi trọc” và nhấn mạnh yêu cầu: “Đưa việc quy hoạch và quản lý
đô thị vào nền nếp, ngày càng xanh, sạch đẹp, văn minh”
Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Lần đầu tiên
có một nghị quyết lớn của Bộ Chính trị về bảo
vệ môi trường Nghị quyết số 41 nêu rõ: “Những
yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận thức, trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc bảo vệ môi trường; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường của Nhà
Trang 28nước, của các doanh nghiệp và cộng đồng dân
cư rất hạn chế; công tác quản lý nhà nước về môi
trường còn nhiều yếu kém, phân công, phân cấp
trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành pháp luật
chưa nghiêm.
Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội
2001-2010 được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm
phát triển đất nước là “Phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.
Để giải quyết các vấn đề về môi trường trong
giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước theo quan điểm nêu trên, cần phải
có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và
hành động, sự đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo,
điều hành và đặc biệt trong tổ chức, triển khai
thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong toàn
Đảng và toàn xã hội”
Từ đó, Nghị quyết đưa ra 5 quan điểm, 3
mục tiêu, nhiệm vụ chung, nhiệm vụ cụ thể và 7
nhóm giải pháp về bảo vệ môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước Quan điểm nêu rõ:
- Bảo vệ môi trường là một trong những vấn
đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm
sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân;
góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế -
xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc
đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
- Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là
một trong những nội dung cơ bản của phát triển
bền vững, phải được thể hiện trong các chiến
lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh
tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương
Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh
tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường Đầu tư
cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển
bền vững
- Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ
của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người,
là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là
tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự
nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài
hoà với tự nhiên của cha ông ta
- Bảo vệ môi trường phải theo phương châm
lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với
môi trường chính là kết hợp với xử lý ô nhiễm,
khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo
tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong
xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống
- Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Mục tiêu đề ra là:
1- Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây
ra. Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ đa dạng sinh học
2- Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết
ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường
3- Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo
vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên
Để có thể đạt mục tiêu đặt ra, Nghị quyết đã đưa ra các giải pháp chính sau:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường năm 2014
- Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường
- Áp dụng các biện pháp kinh tế trong bảo
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế về môi trường
Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ
X (năm 2006), đã cho thấy bước chuyển rõ hơn
trong nhận thức của Đảng về tăng trưởng xanh Tại kỳ Đại hội này, lần đầu tiên, Đảng đã nhắc tới cụm từ “phát triển bền vững”
Trang 29Kiểm điểm việc thực hiện Đại hội lần thứ IX
của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch
Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, Đảng
chỉ rõ: “Phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển
bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện
ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài
hạn. Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng
cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền
kinh tế Trong khi khai thác các yếu tố phát triển
theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố
phát triển theo chiều sâu Phải gắn tăng trưởng
kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn
diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công
bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống,
khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói,
giảm nghèo Từng bước thu hẹp khoảng cách phát
triển giữa các vùng Phải rất coi trọng bảo vệ và cải
thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển,
không gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm
ổn định chính trị - xã hội; ổn định chính trị - xã hội là
tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững”.
Trong phần mục tiêu và phương hướng
phát triển đất nước 5 năm 2006-2010, Đảng
đã dự báo: “…những năm tới tuy khó khăn còn
nhiều nhưng đất nước ta có nhiều cơ hội để tiến
lên. Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc ta lúc này là
phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát
triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn”
Từ đó đưa ra mục tiêu tổng quát 5 năm
2006-2010 là: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt
được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao
hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.
Trong định hướng phát triển ngành, lĩnh vực
và vùng, Đảng cũng đã nhấn mạnh nhiệm vụ
tăng cường bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên, với các nhiệm vụ cụ thể
là: “Coi trọng việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ
bảo vệ môi trường trong mọi hoạt động kinh tế, xã
hội Thực hiện tốt Chương trình nghị sự XXI (20)
Áp dụng các biện pháp mạnh mẽ để ngăn
chặn các hành vi huỷ hoại hoặc gây ô nhiễm môi
trường, từng bước khắc phục tình trạng xuống
cấp, cải thiện chất lượng môi trường, đặc biệt tập
trung khắc phục ô nhiễm ở các lưu vực sông, các
đô thị và khu công nghiệp, các làng nghề, nơi có
đông dân cư và nhiều hoạt động kinh tế
Xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hoá với bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững.
Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
và quản lý tài nguyên thiên nhiên Chú trọng lĩnh vực quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước”.
Tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011), khi đánh giá 5 năm thực hiện
Nghị quyết Đại hội X của Đảng, nhìn lại 10 năm thực hiện Chiến lược Phát triển Kinh tế - xã hội 2001-2010, 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm
1991, Đảng thừa nhận: “…một số chỉ tiêu, nhiệm
vụ Đại hội X đề ra chưa đạt được Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý”
Từ đó, Đảng đề ra quan điểm, mục tiêu Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
và phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước
5 năm 2011-2015 như sau: “Những năm tới là
giai đoạn kinh tế nước ta phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm, cấu trúc lại nền kinh tế
để phát triển nhanh và bền vững; khắc phục những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp.
…Trên cơ sở những quan điểm cơ bản và định hướng lớn của Cương lĩnh, xuất phát từ yêu cầu
và dự báo tình hình thực tế của đất nước trong thời gian tới, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 được xác định là Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Để thực hiện được tư tưởng chỉ đạo đó, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
đã đề ra 5 quan điểm phát triển, trong đó “Phát
triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững; phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” là quan điểm phát triển đầu tiên được Đảng
đề cập và nhấn mạnh
Đảng cũng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ
cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng,
Trang 30ổn định kinh tế vĩ mô, là một trong ba đột phá chiến
lược trong 10 năm tới. Nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản; vừa vận động theo những
quy luật của kinh tế thị trường, vừa được dẫn dắt,
chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ
nghĩa xã hội; trong đó, cơ chế thị trường được vận
dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ, có
hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và
bền vững nền kinh tế”.
Văn kiện Đảng nêu rõ, đổi mới mô hình tăng
trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế từ chủ yếu phát
triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa
chiều rộng và chiều sâu; vừa mở rộng quy mô,
vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả,
tính bền vững; từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào
tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng
lao động giá rẻ sang tăng trưởng chủ yếu do áp
dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nguồn nhân
lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm, phát triển công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ công nghệ cao, có giá trị
gia tăng và sức cạnh tranh lớn gắn với phát triển
kinh tế tri thức; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh
tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo
vệ môi trường
Một lần nữa, vấn đề coi trọng bảo vệ môi
trường, chủ động phòng, chống thiên tai và ứng
phó với biến đổi khí hậu cũng được Đảng đề cập
và nhấn mạnh Theo đó, Đảng yêu cầu: “Nâng cao
nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội,
trước hết là của cán bộ lãnh đạo các cấp về bảo
vệ môi trường Khẩn trương hoàn thiện hệ thống
pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài
đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi
gây ô nhiễm môi trường Ngăn chặn có hiệu quả
nạn phá rừng, cháy rừng và tình trạng khai thác
tài nguyên bừa bãi; xử lý nghiêm các cơ sở gây ô
nhiễm, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường”.
Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh
vực, vùng và các chương trình, dự án đầu tư Các
dự án, công trình đầu tư xây dựng mới bắt buộc
phải thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ môi
trường Quản lý, khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái
Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với
môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta; thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu; tích cực tham gia, phối hợp cùng cộng đồng quốc
tế hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất Tăng cường đầu
tư, nâng cao chất lượng hệ thống dự báo, cảnh báo thiên tai Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức phòng, chống thiên tai trong mỗi người dân, nhất là nhân dân vùng thường xảy ra thiên tai Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các địa phương phải chú ý đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai; tăng cường đầu tư cơ
sở hạ tầng nơi neo đậu tàu thuyền tránh bão, hệ thống thoát lũ, phương tiện liên lạc, cứu hộ, cứu nạn ở vùng thường xuyên bị thiên tai, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.
Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường”.
Như vậy, lần đầu tiên sau rất nhiều năm chỉ
đề cập chung chung tới phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, Đảng đã đề cập và đưa ra cụm
từ “tăng trưởng xanh” và nhấn mạnh yêu cầu:
“Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với
môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.
Đại hội Đảng khóa XI cũng đã thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
Tại Chiến lược này, Đảng đưa ra yêu cầu: “Chuyển
đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng
và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế tri thức Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh”.
Đảng cũng yêu cầu: “Nâng cao ý thức bảo vệ
môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Đưa
Trang 31nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng
và các chương trình, dự án Các dự án đầu tư xây
dựng mới phải bảo đảm yêu cầu về môi trường
Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường Hoàn thiện hệ thống luật pháp
về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để
ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm Khắc phục
suy thoái, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái,
nâng cao chất lượng môi trường Thực hiện tốt
chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả
nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu
bảo tồn thiên nhiên Quản lý, khai thác và sử dụng
có hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và
các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Hạn chế và
tiến tới không xuất khẩu tài nguyên chưa qua chế
biến Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện
với môi trường Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền
vững; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản
xuất sạch, tiêu dùng sạch Đẩy mạnh xã hội hóa
công tác bảo vệ môi trường, phát triển các dịch vụ
môi trường, xử lý chất thải”.
Hội nghị Trung ương 3 khóa XI tiếp tục nhấn
mạnh về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại
nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, bảo
đảm phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên
và môi trường Đây là những định hướng chiến
lược cho tái cấu trúc mô hình tăng trưởng gắn với
phát triển kinh tế xanh
Cùng với văn kiện, tiếp nối tinh thần của
Nghị quyết số 41, tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp
hành Trung ương khóa XI đã quyết nghị thông
qua Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/06/2013
về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng
cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Nghị quyết số 24 nêu rõ: “Nhận thức và tầm
nhìn của các cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp
và cộng đồng về công tác này chưa đầy đủ, thiếu
thống nhất, còn thiên về lợi ích kinh tế trước mắt,
chưa coi trọng phát triển bền vững Một số chủ
trương của Ðảng chưa được quán triệt và thể chế
hóa đầy đủ, kịp thời Hệ thống pháp luật thiếu đồng
bộ; một số cơ chế, chính sách chưa sát với thực tế,
thiếu tính khả thi Chất lượng công tác dự báo và
quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu
cầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng;
chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực
hiện Tổ chức bộ máy, quản lý nhà nước và việc
phân công, phân cấp, phối hợp giữa các bộ, ban,
ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ; tổ chức thực hiện chưa thực sự chủ động, cương quyết; hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa cao Chủ trương xã hội hóa chưa huy động được sự tham gia của các đoàn thể, hiệp hội, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân”.
Tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII (năm 2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI nêu rõ nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước Trong đó, nêu rõ: “Tăng cường công tác quản
lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ phát triển bền vững theo hướng bảo đảm tính tổng thể, liên ngành, liên vùng, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, trong
đó lợi ích lâu dài là cơ bản, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn Tài nguyên là tài sản quốc gia, nguồn lực quan trọng của đất nước, phải được đánh giá đầy đủ, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh Chú trọng sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, vật liệu mới Ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên
do chủ quan con người, nhất là do các dự án phát triển kinh tế gây ra Bảo vệ môi trường tự nhiên vừa
là nội dung, vừa là mục tiêu phát triển bền vững Hạn chế, tiến tới khắc phục căn bản tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu
đô thị Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản Đảm bảo
sự hài hòa giữa môi trường tự nhiên với môi trường sống ở các khu công nghiệp, đô thị, dân cư Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên Tăng cường phổ biến pháp luật và tuyên truyền trong xã hội về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên và ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu Tích cực hợp tác quốc
tế trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đến năm 2020, có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền
Trang 32kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; về cơ bản,
chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng,
tránh thiên tai, giảm mức phát thải khí nhà kính”.
Tại Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015
và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế
xã hội 5 năm 2016-2020, Đảng đưa ra quan điểm:
“Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở
ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh
Phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu,
chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri
thức, kinh tế xanh Phát triển kinh tế phải gắn kết
chặt chẽ với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi
trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Bảo
đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững hòa bình, ổn
định để xây dựng đất nước…”.
Đánh giá chung:
Nhìn lại 12 kỳ đại hội của Đảng ta cho thấy,
bước chuyển biến rõ nét nhất trong nhận thức
về tăng trưởng xanh, kinh tế xanh Ngay từ Đại
hội VIII (năm 1996), Đảng Cộng sản Việt Nam đã
bắt đầu đặt ra mục tiêu cho chiến lược xây dựng
và phát triển nền kinh tế - xã hội theo hướng
“tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền
vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về
xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời
sống của nhân dân…” Quan điểm phát triển kinh
tế - xã hội theo hướng bền vững của Việt Nam
đã được khẳng định tại các văn kiện Đại hội lần
thứ IX, X, XI, XII Trong đường lối phát triển của
Việt Nam, khái niệm ‘’định hướng XHCN” chỉ có
ý nghĩa thực tiễn khi mang ‘’nội hàm’’ phát triển
bền vững, vì sự tiến bộ xã hội, sự phát triển tự
do và toàn diện của mỗi cá nhân Đảng và nhà
nước ta đã đưa ra định hướng Chiến lược phát
triển bền vững, với mục tiêu cơ bản đảm bảo
sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển
phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa 3 mặt:
Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi
trường Với nguyên tắc: Con người là trung tâm
của sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
là sự nghiệp của toàn dân Đại hội lần thứ XI của
Đảng đã nêu ra quan điểm phát triển có tính
hàng đầu là phát triển nhanh gắn liền với phát
triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu
xuyên suốt trong Chiến lược
Đặc biệt, tại Đại hội lần thứ XI, XII, Đảng đã
chính thức đề cập tới cụm từ “phát triển kinh tế
xanh”, “tăng trưởng xanh” Đảng yêu cầu, cần chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch
Tại đại hội XI, XII, một nội dung quan trọng được Đảng bàn thảo kỹ càng đó là nội dung Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
Có thể thấy, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 cho thấy, mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội thập niên tới sẽ chú trọng vấn đề chất lượng tăng trưởng hay nói cách khác tăng trưởng theo chiều sâu và bền vững theo nghĩa không chạy theo số lượng và đảm bảo các cân đối vĩ
mô để ổn định kinh tế về dài hạn; tập trung phát triển những ngành có lợi thế cạnh tranh, có sử dụng công nghệ cao để từng bước nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, từng doanh nghiệp, sản phẩm
Tại hai kỳ đại hội này, Đảng thừa nhận, trong giai đoạn cải cách phát triển vừa qua, Việt Nam
đã tìm mọi cách để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế chứ chưa thực sự chú tâm đến phát triển bền vững, cũng như phát triển xanh hoặc có những lúc, những chỗ Việt Nam đã đề cập đến yếu tố bảo vệ môi trường trong tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn chưa được thực hiện tốt
Với quy mô dân số được dự báo gần 100 triệu dân vào năm 2020 và mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nền kinh tế Việt Nam không còn là nền kinh tế nhỏ, nhu cầu tiêu thụ năng lượng cho sản xuất, giao thông vận tải và sinh hoạt sẽ rất lớn Trước bối cảnh toàn cầu hiện nay, sự cạnh tranh nguồn lực khan hiếm càng khắc nghiệt, sự đe dọa do biến đổi khí hậu
đã đỉnh điểm, quá trình phát triển ở mọi nước đều không thể tách rời việc giảm phát thải ra môi trường để bảo vệ trái đất cho thế hệ tương lai Việc quản lý phát thải xấu đến môi trường và áp dụng công nghệ hiện đại để giảm tiêu hao nhiên liệu, sử dụng tiết kiệm, phát triển các nguồn năng lượng mới phải được thúc đẩy với những biện pháp mạnh ngay từ bây giờ và Việt Nam không nằm ngoài tiến trình này
Theo dự báo, Việt Nam còn là nước bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu Khi nước biển dâng lên sẽ nhấn chìm nhiều vùng đất ở Việt Nam Chính vì vậy, dù không đủ sức ngăn chặn sự thay đổi của khí hậu, Việt Nam cũng cần thể hiện
là một hạt nhân trách nhiệm bằng cách chủ động
Trang 33trong phát triển nền kinh tế xanh và kêu gọi cộng
đồng quốc tế cùng phát triển nền kinh tế xanh
Vì vậy, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng
kinh tế theo hướng phát triển theo chiều sâu, bền
vững, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường
được đặt ra như nhiệm vụ hàng đầu trong giai
đoạn phát triển mới Theo khái niệm kinh tế xanh
được phân tích ở phần 1 của cuốn sách này, thì
rõ ràng tăng trưởng xanh là một nội dung trọng
yếu của phát triển bền vững Tất cả những mục
tiêu đặt ra trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã
hội của Việt Nam trong giai đoạn tới đều liên quan
chặt chẽ với nội dung tăng trưởng xanh Cụ thể là:
Một là, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ
yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp
lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô
vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính
bền vững Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng
tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù
hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại và điều chỉnh
chiến lược phát triển doanh nghiệp; tăng nhanh giá
trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản
phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế
Hai là, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư,
kinh doanh, áp dụng các hình thức thu hút đầu
tư đa dạng, hấp dẫn để huy động và sử dụng có
hiệu quả mọi nguồn lực của các thành phần kinh
tế trong nước và nước ngoài, phát huy nội lực,
tranh thủ ngoại lực cho phát triển
Ba là, khuyến khích đầu tư vào các ngành
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ công nghệ
cao và các giải pháp đổi mới công nghệ, chế tạo
sản phẩm mới, tham gia ngày càng nhiều và có
hiệu quả vào những khâu, công đoạn có hàm
lượng khoa học, giá trị gia tăng cao trong mạng
sản xuất và phân phối toàn cầu
Bốn là, phát triển đa dạng các ngành, nghề
để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích,
tạo thuận lợi để người lao động học tập, nâng
cao trình độ, tay nghề, đồng thời có cơ chế, chính
sách phát hiện, trọng dụng nhân tài
Năm là, phát huy tiềm lực khoa học, công
nghệ của đất nước, nâng cao năng suất lao động
xã hội và chất lượng tăng trưởng của nền kinh
tế Tăng cường liên kết, khai thác, phát huy đúng
tiềm năng, thế mạnh của từng vùng kinh tế; tạo
điều kiện cho phát triển và phát huy vai trò đầu
tàu của vùng kinh tế trọng điểm, tạo sức lan toả,
lôi cuốn các vùng kinh tế khác
CHÍNH PHỦ TRIỂN KHAI ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG
VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH
Nhằm triển khai các cam kết quốc tế, thực hiện chỉ đạo của Đảng về phát triển bền vững, phát triển nền kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, Chính phủ đã ban hành các văn bản cụ thể, như: Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam); Quyết định số 1032/QĐ-TTg, ngày 27/09/2005 Thủ tướng Chính phủ về thành lập Hội đồng Phát triển bền vững Quốc gia, sau đó là Ban Chỉ đạo/Hội đồng phát triển bền vững; Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011- 2020”; Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 về “Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh cho thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến 2050”; Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 phê duyệt “Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020”; Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/07/2013 phê duyệt “Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020; Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020; Chương trình Mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg, ngày 02/12/2008 phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (NTP); Quyết định số 2139/QĐ-TTg, ngày 05/12/2011 phê duyệt Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu (VCCS); Quyết định
số 1474/QĐ-TTg, ngày 05/10/2012 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2020 (NAP)
Đặc biệt, trong Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, Chính phủ đã đặt ra những mục tiêu cụ thể như: Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành hiện
Trang 34có và khuyến khích phát triển các ngành kinh
tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên
với giá trị gia tăng cao; Nâng cao đời sống nhân
dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường
thông qua tạo nhiều việc làm từ các ngành công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ xanh, đầu tư vào
vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh Chiến
lược Quốc gia về tăng trưởng xanh nhằm thúc
đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, sử dụng hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát
thải khí nhà kính thông qua nghiên cứu và áp
dụng công nghệ xanh, hiện đại phù hợp, phát
triển hệ thống cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu
quả nền kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu,
góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế một cách bền vững
Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh
cũng khẳng định rõ quan điểm khi xây dựng
chiến lược xanh ở Việt Nam Đó là, tăng trưởng
xanh phải do con người và vì con người, phát
triển hài hòa đời sống xã hội với môi trường tự
nhiên, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của mọi người dân
Tăng trưởng xanh phải dựa trên việc tăng
cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng
hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải
khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi
trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học
và công nghệ xanh, hiện đại phù hợp, nguồn nhân
lực chất lượng cao, kết hợp giữa nội lực với mở rộng
hợp tác quốc tế Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của
toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và
địa phương của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn
thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân.
Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi
mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng
tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh
của nền kinh tế, tăng trưởng xanh trong thời gian
tới cần tập trung vào 3 nhiệm vụ chiến lược sau:
Thứ nhất, “xanh hóa” sản xuất
Theo mục tiêu của Chiến lược quốc gia về
tăng trưởng xanh, đến năm 2020, giá trị sản
phẩm ngành công nghệ cao, công nghệ xanh
trong GDP là 42%-45%; tỷ lệ các cơ sở sản xuất
kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường là 80%,
áp dụng công nghệ sạch hơn 50%, đầu tư phát
triển các ngành hỗ trợ bảo vệ môi trường và làm
giàu vốn tự nhiên phấn đấu đạt 3%-4% GDP
Để đạt được mục tiêu này, việc xanh hóa sản xuất thông qua quy hoạch, tái cơ cấu nền kinh
tế, đặc biệt hạn chế phát triển những ngành kinh
tế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước, tài nguyên đất và tài nguyên khoáng sản
Thúc đẩy các ngành kinh tế xanh phát triển nhanh để làm giàu thêm nguồn vốn tự nhiên của đất, nước, tạo thêm việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kết cấu
hạ tầng bền vững, đổi mới công nghệ, áp dụng phổ biến quy trình sản xuất sạch hơn
Bên cạnh đó, thực hiện một chiến lược “công nghiệp hóa sạch” thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với
cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử
lý ô nhiễm môi trường
Thứ hai, giảm cường độ phát thải khí nhà
kính trên đơn vị GDP và tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo
Theo mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, trong giai đoạn 2011-2020, cần giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% so với mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 1%-1,5% mỗi năm Để đạt được mục tiêu này, cần cải thiện hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm mức tiêu hao năng lượng trong hoạt động sản xuất, vận tải, thương mại; Thay đổi
cơ cấu sử dụng nhiên liệu trong các ngành công nghiệp và giao thông vận tải; Đẩy mạnh khai thác
có hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhằm từng bước gia tăng tỷ trọng của các nguồn năng lượng sạch này trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng của quốc gia, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch Bên cạnh
đó, cần giảm phát khí thải nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững, nâng cao tính cạnh tranh của sản xuất công nghiệp…
Thứ ba, xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền
vữngTheo mục tiêu của Chiến lược, đến năm 2020,
tỷ lệ đô thị loại III có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn quy định 60%; Với đô thị loại IV, loại V và các làng nghề là 40%, cải thiện môi
Trang 35trường khu vực bị ô nhiễm nặng 100%; Tỷ lệ đô thị
lớn và vừa đạt tiêu chí đô thị xanh phấn đấu đạt
50% Để đạt được mục tiêu này, cần đô thị hóa bền
vững để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển
hài hòa, nâng cao chất lượng sống cho người dân,
quy hoạch phát triển đô thị và quản lý quy hoạch
cần đạt được các tiêu chí về hiệu quả sinh thái và
đảm bảo xã hội để đô thị là động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế xanh và cạnh tranh, tăng cơ hội việc
làm, giảm nghèo, cải thiện chất lượng sống, tăng
an ninh năng lượng, cải thiện môi trường, tránh
được các chi phí và rủi ro trong tương lai
Xây dựng nông thôn mới cần theo hướng
hòa hợp với môi trường, thực hiện các nội dung
của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 và trong
những năm tiếp theo, kết hợp tăng trưởng kinh
tế với bảo vệ môi trường, phát triển giáo dục, y tế,
văn hóa và thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội
nhằm đảm bảo phát triển nông thôn bền vững
Để thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng
trưởng xanh, ngày 20/3/2014, Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg phê
duyệt Kế hoạch Hành động Quốc gia về tăng
trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 Kế hoạch gồm
12 nhóm hoạt động với 66 hoạt động cụ thể theo
4 chủ đề chính:
Chủ đề 1: Xây dựng thể chế quốc gia và Kế
hoạch hành động TTX tại địa phương, bao gồ m
8 hoạ t độ ng;
Chủ đề 2: Giảm cường độ phát thải khí nhà
kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng
lượng tái tạo với 20 hoạ t độ ng theo 4 nhó m;
Chủ đề 3: Thực hiện xanh hóa sản xuất với 25
hoạ t độ ng theo 4 nhó m;
Chủ đề 4: Thực hiện xanh hóa lối sống và tiêu
dùng bền vững với 13 hoạ t độ ng theo 2 nhó m
Kế hoạch cũng đề ra yêu cầu các tỉnh, thành
phố, các bộ, ngành xây dựng kế hoạch hành
động tăng trưởng xanh với ít nhất 2 chỉ tiêu giảm
tiêu hao nhiên liệu và cường độ phát thải khí nhà
kính trên đơn vị GDP; Phân công nhiệm vụ và chủ
trì phối hợp cụ thể cho Ban Điều phối quốc gia về
tăng trưởng xanh, bộ, ngành, địa phương, Hiệp
hội doanh nghiệp, cộng đồng; Xác định rõ hơn
3 dạng nguồn lực với cơ chế huy động, điều phối
phân bổ nguồn lực
Để Chiến lược sớm đi vào cuộc sống, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư cùng các bộ, ngành và địa phương
nỗ lực thực hiện nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch hành động Cụ thể: Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường… và các địa phương: Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hòa Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam, Bến Tre, TP.Đà Lạt (Lâm Đồng), Vĩnh Phúc, Hà Giang, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Huế, Ninh Thuận, Bình Thuận… đã chủ động tích cực xây dựng Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh và lồng ghép tăng trưởng xanh vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 của địa phương
Có thể nói, Chiến lược Quốc gia về tăng
trưởng xanh và Kế hoạch Hành động Quốc gia về tăng trưởng xanh đã thể hiện quyết tâm của Việt Nam đóng góp chung vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu dù trong giai đoạn trước mắt Việt Nam vẫn cần tăng trưởng nhanh để có thể đạt mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
Từ Chiến lược đến Kế hoạch hành động và triển khai trong thực tế là một quá trình lâu dài với nhiều thách thức từ hình thành và phát triển thể chế, chính sách, phân công tổ chức thực hiện, huy động các nguồn lực tài chính và công nghệ đến theo dõi, đánh giá, báo cáo tình hình thực hiện, do
đó, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực,
hỗ trợ quốc tế có một vai trò hết sức quan trọng.Trong điều kiện Việt Nam còn thiếu nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm để thực hiện toàn diện các hoạt động, đặc biệt là tái cấu trúc các ngành và thực hiện các dự án đổi mới công nghệ, trong khi đó khả năng huy động nguồn lực
từ ngân sách nhà nước và khu vực tư nhân còn rất hạn chế Thời gian vừa qua, Chính phủ hợp tác với nhiều đối tác phát triển và nhà tài trợ huy động tài chính thực hiện các dự án tăng trưởng xanh, các dự án này liên quan chặt chẽ tới giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu
Khác với nhiều chiến lược, chương trình phát triển khác, Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh là bước đi quan trọng để tái cấu trúc kinh
tế, thay đổi mô hình tăng trưởng với nhiều cơ hội đầu tư, cũng như thách thức Do đó, sau bước tuyên truyền nâng cao nhận thức, từng bước hoàn thiện thể chế, cần sự tham gia thực sự của các thành phần kinh tế, trong đó chính sách công
có vai trò xúc tác, dẫn dắt thu hút các nguồn đầu
tư ngoài khu vực công
Trang 36Cùng với 2 văn bản quan trọng trên, mới đây,
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch
hành động thực hiện Chương trình Nghị sự 2030
vì sự phát triển bền vững (theo Quyết định số
622/QĐ-TTg, ngày 10/05/2017) Kế hoạch được
xây dựng trên cơ sở quá trình tham vấn rộng rãi
của tất cả các bên liên quan, bao gồm các bộ
ngành, địa phương, các tổ chức trong nước và
quốc tế, các nhóm xã hội chính và bao gồm 17
mục tiêu chung toàn cầu và 115 mục tiêu cụ thể
Các nhiệm vụ chủ yếu của Kế hoạch được phân
kỳ thực hiện theo 2 giai đoạn 2017 - 2020 và 2021
- 2030 bao gồm 17 mục tiêu chung toàn cầu và
115 mục tiêu cụ thể, các nhiệm vụ chủ yếu được
phân kỳ thực hiện theo 2 giai đoạn 2017 - 2020
và 2021 - 2030
Để triển khai thực hiện thành công các Mục
tiêu nêu trên, cần thiết phải xác định các thách
thức và đề ra nhiều nhóm giải pháp khác nhau
cũng như phân công trách nhiệm tổ chức thực
hiện cho các bộ, ngành và địa phương, các tổ
chức chính trị - xã hội
Ngoài ra, trong thời gian qua, Chính phủ
cùng các bộ, ngành cũng ban hành nhiều văn
bản liên quan đến tăng trưởng xanh, như: năng
lượng tái tạo, tiết kiệm và hiệu quả năng lượng,
chuyển đổi và quản lý sử dụng đất, lâm nghiệp
bền vững, quản lý chất thải bền vững, nông
nghiệp xanh
Cụ thể như sau:
(1) Về năng lượng tái tạo:
- Nghị định số 112/2008/NĐ-CP, ngày
20/10/2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ,
khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các
hồ chứa thủy điện, thủy lợi
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP, ngày
18/04/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá
môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi
trường, cam kết bảo vệ môi trường
- Quyết định số 285/2006/QĐ-TTg, ngày
25/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ về nội
dung thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện
Quy trình vận hành hồ chứa thủy điện
- Thông tư số 43/2012/TT-BCT, ngày
27/12/2012 của Bộ Công Thương quy định về
quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng dự án thủy
điện và vận hành khai thác công trình thủy điện
- Quyết định số 2068/QĐ-TTg, ngày
25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030
- Quyết định số 428/QĐ-TTg, ngày 18/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030
- Quyết định số 2068/QĐ-TTg, ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030
- Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg, ngày 29/06/2011của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế
hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam
- Quyết định số 2068/QĐ-TTg, ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
- Quyết định số 428/QĐ-TTg, ngày 18/03/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030
- Thông tư số 32/2012/TT-BCT, ngày 12/11/2012 của Bộ Công Thương quy định thực hiện phát triển dự án điện gió và Hợp đồng mua bán điện mẫu cho các dự án điện gió
- Thông tư số 39/2015/TT-BCT, ngày 18/11/2015 của Bộ Công Thương quy định hệ thống điện phân phối
- Thông tư số 39/2015/TT-BCT, ngày 18/11/2015 của Bộ Công Thương quy định hệ thống điện phân phối
- Thông tư số 29/2015/TT-BCT, ngày 31/08/2015 của Bộ Công Thương quy định về nội dung, trình
tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển và sử dụng năng lượng sinh khối;
- Thông tư số 39/2015/TT-BCT, ngày 18/11/2015 của Bộ Công Thương quy định hệ thống điện phân phối
- Thông tư số 39/2015/TT-BCT ngày 18/11/2015 của Bộ Công Thương quy định hệ thống điện phân phối
(2) Về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng:
- Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010
- Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành 21 tiêu chuẩn về vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động;
Trang 37- Quyết định số 51/2011/QĐ-TTg, ngày
12/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định
danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn
năng lượng, áp dụng mức hiệu suất năng lượng
tối thiểu và lộ trình thực hiện;
- Quyết định số 03/2013/QĐ-TTg, ngày
14/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quyết định số 51/2011/QĐ-TTg;
- Quyết định số 78/2013/QĐ-TTg, ngày
25/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc
ban hành Danh mục và lộ trình phương tiện,
thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ và các
tổ máy phát điện hiệu suất thấp không được xây
dựng mới;
- Thông tư số 15/2013/TT-BXD, ngày
26/09/2013 của Bộ Xây dựng ban hành Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình xây dựng
sử dụng năng lượng hiệu quả;
- Thông tư số 02/2014/TT-BCT, ngày
16/01/2014 của Bộ Công Thương quy định các
biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả cho các ngành công nghiệp;
- Thông tư số 02/2014/TT-BCT, ngày
16/01/2014 của Bộ Công Thương quy định các
biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả cho các ngành công nghiệp;
- Thông tư số 19/2016/TT-BCT, ngày
14/09/2016 của Bộ Công Thương quy định định
mức tiêu hao năng lượng trong ngành công
nghiệp sản xuất bia và nước giải khát;
- Thông tư số 20/2016/TT-BCT, ngày
20/9/2016 của Bộ Công Thương quy định định
mức tiêu hao năng lượng trong ngành công
nghiệp thép;
- Thông tư số 15/2013/TT-BXD, ngày
26/09/2013 của Bộ Xây dựng ban hành Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình xây dựng
sử dụng năng lượng hiệu quả QCVN 09:2013/BXD;
- Thông tư số 64/2011/TT-BGTVT ngày
26/12/2011 của Bộ Giao thông vận tải quy định
biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả trong hoạt động giao thông vận tải
- Thông tư liên tịch số
43/2014/TTLT-BGTVT-BCT quy định về dán nhãn năng lượng đối với xe
ô tô con loại từ 07 chỗ trở xuống
(3) Chuyến đổi và quản lý sử dụng đất:
- Nghị định số 64/2010/NĐ-CP, ngày
11/06/2010 của Chính phủ về quản lý cây xanh
đô thị
- Nghị định số 109/2003/NĐ-CP, ngày 23/09/2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước
(4) Lâm nghiệp bền vững
- Nghị quyết số 73/NQ-CP, ngày 26/08/2016 của Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020;
- Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg, ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành
hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam trong đó có ngành kinh tế Lâm nghiệp;
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020;
- Nội dung số 14, Phụ lục II, Quyết định số 66/QĐ-BNN-KHCN, ngày 11/01/2013 ban hành kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kế hoạch hành động Quốc gia biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 - 2020;
- Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN, ngày 08/07/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp”
(5) Quản lý chất thải bền vững
- Luật Bảo vệ Môi trường 2014;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/04/2015 về quản lý chất thải và phế liệu;
- Nghị định số 80/2014/NĐ-CP, ngày 06/08/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử
lý nước thải;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
- Thông tư số 04/2015/TT-BXD, ngày 03/04/2015 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 80/2014/NĐ-CP, ngày 06/08/2014 của Chính phủ về thoát nước
và xử lý nước thải;
- Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT, ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao;
- Thông tư số 36/2015/TT–BTNMT, ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT, ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trang 38- Thông tư số 36/2015/TT–BTNMT, ngày
30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư số 01/2016/TT-BXD, ngày
01/02/2016 của Bộ Xây dựng ban hành quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng
kỹ thuật QCVN 07:2016/BXD
(6) Nông nghiệp xanh:
- Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm
2007
- Luật Hóa chất năm 2007
- Nghị định 54/2015/NĐ-CP, ngày 08/06/2016
của Thủ tướng Chính phủ quy định về ưu đãi đối
với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả;
- Thông tư số 19/2013/TT-BNNPTNT, ngày
15/03/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn hướng dẫn biện pháp sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
- Thông tư 48/2012/TT-BNNPTNT ngày
26/09/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn quy định về chứng nhận sản phẩm
thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi được sản xuất, sơ
chế phù hợp với Quy trình thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt;
- Quyết định 3824/QĐ-BNN-TCTS, ngày
06/09/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ban hành quy phạm thực hành nuôi
trồng thủy sản tốt (VietGAP)
- Quyết định 379/QĐ – BNN-KHCN, ngày
28/01/2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban
hành quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp
tốt cho rau, quả tươi an toàn
- Quyết định 1121/QĐ-BNN-KHCN, ngày 14/04/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn
- Thông tư 48/2012/TT-BNNPTNT, ngày 26/09/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônquy định về chứng nhận sản phẩm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi được sản xuất, sơ chế phù hợp với Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
- Quyết định 4653/QĐ-BNN-CN, ngày 10/11/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 08 quy trình thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) cho: bò sữa, bò thịt; dê sữa,
dê thịt; lợn; gà; ngan-vịt và ong
- Chỉ thị 1623/CT-BNN-CB, ngày 10/06/2011của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường các biện pháp tiết kiệm điện, nước trong nông nghiệp
Như vậy, hệ thống các văn bản về định hướng, chính sách liên quan đến vấn đề phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam đã được ban hành xuyên suốt từ Trung ương bằng các nghị quyết của Đảng, đến các chiến lược, chương trình, dự án, các kế hoạch hành động của Chính phủ và của các địa phương Trong định hướng phát triển chung đó, Chiến lược Quốc gia tăng trưởng xanh có thể được coi là một nỗ lực gần đây nhất, kết hợp với nhiều nỗ lực
và chiến lược hiện nay nhằm thúc đẩy hình thành định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu./
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII,
IX, X), Nxb Chính trị Quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc khóa XI, Nxb Chính trị Quốc gia Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị
Quốc gia Nội
Thủ tướng Chính phủ (2012) Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/09/2012 về phê duyệt Chiến lược
Quốc gia về tăng trưởng xanh
Thủ tướng Chính phủ (2012) Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12/04/2012 về phê duyệt Chiến lược Phát
triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Nguyễn Thế Phương (2015) Chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Xu hướng và thực tiễn, Tạp chí
Kinh tế và Dự báo, bản điện tử, cập nhật ngày 10/12/2015
ThS Võ Văn Lợi (2016) Tăng trưởng xanh ở các nước và Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận Chính trị,
số 2/2016
Trang 39Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến
năm 2050” với những nội dung chủ yếu sau đây:
I QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC
- Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam
- Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội
2. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung
Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế các-bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
- Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông qua tạo nhiều việc làm từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh
II NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC
1. Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo theo những chỉ tiêu chủ yếu sau:
Giai đoạn 2011 - 2020: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8 - 10% so với mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 1 - 1,5% mỗi năm Giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10% đến 20% so với phương án phát triển bình thường Trong đó mức tự nguyện khoảng 10%, 10% còn lại mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc tế
Trang 40Định hướng đến năm 2030: Giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm ít nhất 1,5 - 2%, giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 20% đến 30% so với phương án phát triển bình thường Trong đó mức tự nguyện khoảng 20%, 10% còn lại là mức khi có thêm hỗ trợ quốc tế.Định hướng đến năm 2050: Giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm 1,5 - 2%.
2. Xanh hóa sản xuất
Thực hiện một chiến lược “công nghiệp hóa sạch” thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm
Những chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 gồm: Giá trị sản phẩm ngành công nghệ cao, công nghệ xanh trong GDP là 42 - 45%; tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường là 80%, áp dụng công nghệ sạch hơn 50%, đầu tư phát triển các ngành hỗ trợ bảo vệ môi trường và làm giàu vốn tự nhiên phấn đấu đạt 3 - 4% GDP
3. Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững
Kết hợp nếp sống đẹp truyền thống với những phương tiện văn minh hiện đại để tạo nên đời sống tiện nghi, chất lượng cao mang đậm bản sắc dân tộc cho xã hội Việt Nam hiện đại Thực hiện đô thị hóa nhanh, bền vững, duy trì lối sống hòa hợp với thiên nhiên ở nông thôn và tạo lập thói quen tiêu dùng bền vững trong bối cảnh hội nhập với thế giới toàn cầu
Những chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 gồm: Tỷ lệ đô thị loại III có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn quy định: 60%, với đô thị loại IV, loại V và các làng nghề: 40%, cải thiện môi trường khu vực bị ô nhiễm nặng 100%, tỷ lệ chất thải được thu gom, xử lý hợp tiêu chuẩn theo Quyết định số 2149/QĐ-TTg diện tích cây xanh đạt tương ứng tiêu chuẩn đô thị, tỷ trọng dịch vụ vận tải công cộng ở đô thị lớn và vừa 35 - 45%, tỷ lệ đô thị lớn và vừa đạt tiêu chí đô thị xanh phấn đấu đạt 50%
III GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, khuyến khích hỗ trợ thực hiện
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân, cộng đồng về vai trò, ý nghĩa của tăng trưởng xanh, những hành động thiết thực đóng góp vào thực hiện tăng trưởng xanh
- Khuyến khích và hỗ trợ kỹ thuật để người dân, cộng đồng triển khai và mở rộng quy mô các mô hình sản xuất và tiêu dùng tiết kiệm, an toàn, văn minh, mang đậm bản sắc dân tộc, hài hòa và thân thiện với thiên nhiên
- Khuyến khích và hỗ trợ các cộng đồng phát triển mô hình đô thị sinh thái, nông thôn xanh, mô hình nhà ở xanh, mô hình phân loại rác thải tại nguồn theo phương pháp giảm thiểu - tái chế - tái sử dụng (3R), cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng
2. Nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm mức tiêu hao năng lượng trong hoạt động sản xuất, vận tải, thương mại
- Đổi mới công nghệ, áp dụng quy trình quản lý, vận hành tiên tiến đảm bảo sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất, truyền tải và tiêu dùng, đặc biệt với các cơ sở sản xuất công suất lớn, tiêu thụ nhiều năng lượng
- Xây dựng, công bố mức tiêu chuẩn về suất tiêu hao nhiên liệu, lộ trình loại bỏ các công nghệ cũ, lạc hậu tiêu tốn nhiên liệu ra khỏi hệ thống sản xuất và sử dụng năng lượng
- Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn bị cho việc áp dụng công nghệ thu hồi, lưu trữ và thương mại các dạng khí nhà kính
3. Thay đổi cơ cấu nhiên liệu trong công nghiệp và giao thông vận tải
- Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia theo hướng phát triển đồng bộ các nguồn năng lượng, khai thác và sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng trong nước, giảm bớt phụ thuộc vào các sản phẩm dầu
mỏ, giảm dần lượng than xuất khẩu và nhập khẩu số lượng than hợp lý, kết nối với hệ thống năng lượng của các nước láng giềng
- Thay đổi cơ cấu nguồn năng lượng theo hướng giảm năng lượng từ nguồn nhiên liệu hóa thạch, khuyến khích khai thác sử dụng các nguồn năng lượng mới, tái tạo, ít phát thải khí nhà kính