1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học tư tưởng triết học phật giáo trong triết học ấn độ cổ đại

16 28 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Triết Học Phật Giáo Trong Triết Học Ấn Độ Cổ Đại
Trường học Trường Đại học [Tên trường], https://www.exampleuniversity.edu
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận cao học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 96,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Ấn Độ cổ đại là một vùng đất thuộc Nam Châu Á với đặc điểm khí hậu, đất đai đa dạng và khắc nghiệt cùng sự án ngữ của vòng cung dãy Hy – Mã Lạp – Sơn kéo dài trên hai ngàn km. Đây là yếu tố địa lý có ảnh hưởng nhất định tới quá trình hình thành văn hoá, tôn giáo và tư tưởng triết học của người Ấn Độ cổ đại. Tuy nhiên, nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất tới quá trình đó là nhân tố kinh tế xã hội, trong đó đặc biệt là sự tồn tại từ rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình đặc biệt mà Các Mác gọi là “Công xã nông thôn”. Trong kết cấu này, chế độ quốc hữu về ruộng đất được các nhà kinh tế điển hình là chủ nghĩa Mác coi là “chiếc chìa khóa” để hiểu toàn bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại. Chính trong mô hình này đã làm phát sinh chủ yếu không phải là sự phân chia đối kháng giai cấp giữa chủ nô và nô lệ như ở Hy Lạp cổ đại, mà là sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và giai dẳng của bốn đẳng cấp lớn trong xã hội: Tăng nữ, quý tộc, bình dân tự do và tiện nô ( nô lệ). Thêm vào đó, người Ấn Độ cổ đại đã tích lũy được những tri thức rất phong phú về các lĩnh vực toán học thiên văn, lịch pháp nông nghiệp… Tất cả những yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị và tri thức nói trên đã hợp thành cơ sở hiện thực cho sự phát triển những tư tưởng triết học – tôn giáo Ấn Độ cổ đại. Vi vậy, việc nghiên cứu tư tưởng triết học Phật giáo trong triết học Ấn độ cổ đại hết sức cần thiết. Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, nhân đạo của Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho họ một nhân cách chính, đúng đắn. NỘI DUNG 1. Tư tưởng triết học Phật giáo trong triết học Ấn Độ cổ đại 1.1 Đặc điểm triết học Phật giáo Ấn Độ cổ đại Nếu gọi Phương đông là chiếc nôi của văn minh nhân loại thì Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hoá và triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy nó có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng của Châu Á. Giống như triết học Trung Quốc, triết học Ấn Độ ra đời sớm và chứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về thế giới, trong đó có vấn đề phạm trù triết học Có thể nói, trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò khá quan trọng. Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo. Một trong những điểm sáng của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại đó là sự xuất hiện Đạo Phật, sau này được tôn giáo hoá nhưng đạo Phật là một tôn giáo Phật, đây là một phương pháp giáo hoá con người, một phương pháp tu dưỡng dạy cho con người một triết lý sống, một cuộc sống có đạo lý, có lý tưởng cao cả và đầy lòng vị tha. Chính vì vậy mà ngày nay Phật giáo vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trên thế giới. Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu những đặc điểm triết học Phật giáo Ấn Độ cổ đại: Triết học Ấn Độ cổ đại chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: (Từ giữa thiên niên kỷ III tr.CN đến khoảng giữa thiên niên kỷ II tr.CN). Đây là giai đoạn thường được gọi là “Nền văn hoá Harappa” (hay nền văn minh sống Ấn) – Khởi đầu của nền văn hoá Ấn Độ, mà cho tới nay người ta còn biết quá ít về nó ngoài những tư liệu khảo cổ học vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX. Giai đoạn thứ hai: (Tiếp nối giai đoạn thứ nhất tới thế kỷ thứ VII tr.CN). Đây là thời kỳ có sự thâm nhập của người Arya (gốc Ấn Âu)

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC

Đề tài:

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ấn Độ cổ đại là một vùng đất thuộc Nam Châu Á với đặc điểm khí hậu, đất đai đa dạng và khắc nghiệt cùng sự án ngữ của vòng cung dãy Hy – Mã -Lạp – Sơn kéo dài trên hai ngàn km Đây là yếu tố địa lý có ảnh hưởng nhất định tới quá trình hình thành văn hoá, tôn giáo và tư tưởng triết học của người

Ấn Độ cổ đại Tuy nhiên, nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất tới quá trình đó là nhân tố kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là sự tồn tại từ rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình đặc biệt mà Các Mác gọi là “Công xã nông thôn” Trong kết cấu này, chế độ quốc hữu về ruộng đất được các nhà kinh tế điển hình là chủ nghĩa Mác coi là “chiếc chìa khóa” để hiểu toàn bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại Chính trong mô hình này đã làm phát sinh chủ yếu không phải là sự phân chia đối kháng giai cấp giữa chủ nô và nô lệ như ở Hy Lạp cổ đại, mà là sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và giai dẳng của bốn đẳng cấp lớn trong xã hội: Tăng nữ, quý tộc, bình dân tự do và tiện nô ( nô lệ) Thêm vào đó, người Ấn Độ cổ đại đã tích lũy được những tri thức rất phong phú về các lĩnh vực toán học thiên văn, lịch pháp nông nghiệp… Tất cả những yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị và tri thức nói trên đã hợp thành cơ sở hiện thực cho sự phát triển những tư tưởng triết học – tôn giáo Ấn Độ cổ đại

Vi vậy, việc nghiên cứu tư tưởng triết học Phật giáo trong triết học Ấn

độ cổ đại hết sức cần thiết Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, nhân đạo của Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho họ một nhân cách chính, đúng đắn

Trang 3

NỘI DUNG

1 Tư tưởng triết học Phật giáo trong triết học Ấn Độ cổ đại

1.1 Đặc điểm triết học Phật giáo Ấn Độ cổ đại

Nếu gọi Phương đông là chiếc nôi của văn minh nhân loại thì Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hoá và triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy - nó có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng của Châu Á

Giống như triết học Trung Quốc, triết học Ấn Độ ra đời sớm và chứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về thế giới, trong đó có vấn đề phạm trù triết học

Có thể nói, trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò khá quan trọng Chính vì sự gần gũi đó mà triết học

Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo Một trong những điểm sáng của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại đó là sự xuất hiện Đạo Phật, sau này được tôn giáo hoá nhưng đạo Phật là một tôn giáo

Phật, đây là một phương pháp giáo hoá con người, một phương pháp tu dưỡng dạy cho con người một triết lý sống, một cuộc sống có đạo lý, có lý tưởng cao cả và đầy lòng vị tha Chính vì vậy mà ngày nay Phật giáo vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trên thế giới

Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu những đặc điểm triết học Phật giáo Ấn

Độ cổ đại: Triết học Ấn Độ cổ đại chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: (Từ giữa thiên niên kỷ III tr.CN đến khoảng giữa thiên niên kỷ II tr.CN) Đây là giai đoạn thường được gọi là “Nền văn hoá Harappa” (hay nền văn minh sống Ấn) – Khởi đầu của nền văn hoá Ấn Độ,

mà cho tới nay người ta còn biết quá ít về nó ngoài những tư liệu khảo cổ học vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX

Giai đoạn thứ hai: (Tiếp nối giai đoạn thứ nhất tới thế kỷ thứ VII tr.CN)

Đây là thời kỳ có sự thâm nhập của người Arya (gốc Ấn- Âu) vào khu

Trang 4

vực của người Dravida (người bản địa) Đây là sự kiện quan trọng về lịch sử, đánh dấu sự hoà trộn giữa hai nền văn hoá -tín ngưỡng của hai chủng tộc khác nhau Chính qúa trình này đã làm xuất hiện một nền văn hoá mới của người

Ấn Độ: nền văn oá Véda

Giai đoạn thứ ba: Trong khoảng 5 – 6 thế kỷ (Từ thế kỷ thứ VI tr.CN tới thế kỷ I tr.CN) đây là thời kỳ Ấn Độ cổ đại có những biến động lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng, cũng là thời kỳ hình thành các trường phái triết học – tôn giáo lớn Đó là 9 hệ thống tư tưởng lớn, được chia làm hai phái: chính thống và không chính thống Thuộc phái chính thống có Sàmkhuy, Mimasa, Védanta.Yoga, Nỳaya và Vasêsika Thuộc phái không chính thống có Jaina, Lokayata và Phật giáo (Buddha)

1.2 Tư tưởng triết học Phật giáo

Triết học Ấn Độ có nhiều nét đặc thù về tư tưởng, trong đó Phật giáo

là một trường phái triết học – tôn giáo điển hình của nền tư tưởng Ấn Độ

cổ đại và có nhiều ảnh hưởng rộng rãi, lâu dài trên phạm vi thế giới Ngày nay, với tư cách là một tôn giáo, Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới

Theo truyền thuyết, người sáng lập Phật giáo là Thái tử Siddhartha (Thích – Đạt – Đa), họ Sakya (Thích ca), con vua Suddhodana (Tịnh Phan) và hoàng hậu Mada, sinh ngày 15-4 (có sách ghi 8-4) năm 563 trước Công Nguyên (Phật lịch cho là 544 trước Công Nguyên) tại vườn Lumbini thuộc kinh thành Kapilavastu (nay thuộc Nepan)

Thấy đời là khổ, Ngài quyết chí đi tu Mới đầu Ngài tu theo lối khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn 6 năm Thấy không kết quả, Ngài đổi hướng và đi đến giác ngộ (Buddha, Sakyamuni) Sau khi giác ngộ, Ngài đi khắp nơi giáo hóa, tùy bệnh cho thuốc, cứu khổ cứu nạn suốt 40 năm trời Ngài thọ 80 tuổi

Phật giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, khi

mà công cụ bằng sắt đã trở nên phổ biến, kinh tế, thương mại có bước phát triển vượt bậc, con người bon chen, khổ sở vì tham lam đa dục (lắm dục

Trang 5

vọng) Xã hội thời kỳ này đang dần chuyển biến từ nô lệ sang phong kiến, tức đang nằm trong giai đoạn mà Các Mác gọi là phương thức sản xuất châu Á Phật giáo xuất hiện trên cơ sở phê phán đạo Balamon về chế độ đẳng cấp khắt khe, về học thuyết linh hồn bất tử và thần tạo vật; trên cơ sở các học thuyết cũ

đã trở nên lỗi thời, các học thuyết mới lại quá nhiều do đó con người không biết đi theo đường nào, khiến lòng người hoang mang, luân lý hỗn loạn Từ

đó đức Phật giương cao ngọn cờ trung đạo (tránh thái cực của Lokayata và Jaina khi đó)

Sau khi qua đời, tư tưởng của Ngài vẫn chỉ được truyền miệng, mãi đến thế kỷ III trước Công Nguyên, kinh sách (Tam tạng kinh điển) mới xuất hiện bằng tiếng Pali, và bắt đầu truyền bá ra ngoài Ấn Độ Phật giáo được phân chia thành tông phái lớn là tiểu thừa giáo và đại thừa giáo (nghĩa là “cỗ xe nhỏ” và cỗ xe lớn”) Đầu tiên là đi xuống phía Nam (Srilanca, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia…) đó là khuynh hướng mà sau này người ta gọi là Tiểu Thừa (Hinayana) Sau này có nhánh nữa lên phía Bắc (Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản…) gọi là khuynh hướng Đại Thừa (Mahayana).Ông được tôn xưng với nhiều danh hiệu khác nhau: Như Lai, Phật Tổ, Đức Thế Tôn… nhưng khá phổ biến là “Thích Ca Muni” (Sakyamuni – nghĩa là “bộc hiền giả dòng Sakya”)

Kinh điển của Phật giáo gồm: Kinh – Luật – Luận (gọi là “Tam tạng” – tức “ba kho kinh điển”) Mà về mặt triết học thì quan trọng nhất là “kinh” và

“luận” “Tam tạng” kinh điển của Phật giáo được ghi bằng hai hệ Pali và Sankrit (Ngữ bộ Nam và Bắc Ấn) có tới trên 5000 quyển

- Về mặt triết học Phật giáo được chia làm 3 giai đoạn:

+ Từ Đức Phật cho đến 100 năm sau khi Phật nhập diệt, được gọi là Phật giáo nguyên thủy (Therevada)

+ Từ 100 năm sau khi Phật nhập diệt đến thế kỷ I, được gọi là Phật giáo Tiểu thừa

+ Từ thế kỷ I đến thế kỷ VI, được gọi là Phật giáo Đại thừa

Trang 6

Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy (sơ kỳ) gồm mấy vấn đề lớn sau:

Thứ nhất: Thế giới quan Phật giáo là một thế giới quan có tính duy vật

và vô thần, đồng thời có chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng sâu sắc

Trong Phật giáo, thế giới quan không tách rời nhân sinh quan, bởi lẽ khảo sát thế giới, nghiên cứu vũ trụ mà tách rời khỏi con người thì đức Phật không chấp nhận Cách khảo sát thế giới của Đức Phật Theo Phật, mọi sự vật hiện tượng đều phải xem xét đến cái chân tướng, cái thực tướng (gần với khái niệm bản chất trong triết học) của chúng, tránh tưởng tượng, phải như thị kiến (Yathatatha) và như thực kiến (Yathabhutam) (gần với khái niệm khách quan trong triết học)

Với cách khảo sát này, ông đã phát hiện ra mọi sự vật hiện tượng đều

do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên sinh Nhân duyên ở đây chỉ mối liên hệ, điều kiện Như vậy, mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ chằng chịt, không có gì là tồn tại độc lập tuyệt đối

Phật giáo cho rằng, bản thể (thực tướng) của vũ trụ là chân như (chân tâm) không thể mô tả được, bởi vậy, thái độ đúng đắn nhất để trực nhận bản thể là im lặng (vô ngôn)

Thế giới, vạn vật xuất hiện như thế nào, nguyên nhân biến chuyển nó ra sao, để trả lời câu hỏi này có 5 thuyết:

+Nghiệp cảm duyên khởi: Con người tạo nghiệp tức đã tạo nhân thì phải chịu quả báo (kết quả đáp trở lại) Báo có chính báo (ví dụ ta gieo nghiệp nhân làm người thì chính báo đời sau ta lại có thân người) và y báo (cảnh, thế giới xung quanh) Như vậy nghiệp (nhân) có là có một cách tương đối đối với thân ta Nếu nghiệp (nhân) dữ, chính báo là con bò thì cảnh (vạn vật xung quanh) dưới mắt còn bò cũng thay đổi không giống như dưới mắt người, nghĩa là vũ trụ, vạn vật biến đổi theo tầm mắt và sự hiểu biết của các loài

Nghiệp cảm nghĩa là nghiệp thế nào thì cảm thọ cái thân và cảnh như thế ấy Do nghiệp mà có thân cảnh Thân cảnh tốt hay xấu do nghiệp lành hay

Trang 7

dữ Nhưng còn nghiệp là còn thế giới hiện tượng Dứt trừ được nghiệp là trở

về với chân Như, Niết bàn Như vậy, nghiệp (do mê hoặc, vô minh mà có) – nguyên nhân xuất hiện con người và thế giới hiện tượng, do đó muốn giải thoát phải diệt nghiệp

+Alaida duyên khởi:

Manas – chủ thấy biết, tự nhận có cái ngã và giữ gìn nó Nhưng làm sao giữ được cái vô thường – ngã Vậy dưới Manas phải có cái khác, đó là Alaya (tạng thức) chứa mầm các sự vật hiện tượng (pháp)

Gây nghiệp tức ghi tất cả những hành động, cử chỉ, hành vi, suy nghĩ… vào trong tạng thức, đủ nhân duyên thì mầm đó phát ra hiển lộ (chẳng hạn, người có mầm tham, không có điều kiện ăn trộm cứ tưởng mình là lương thiện, người có mầm ngoại tình, không có điều kiện cứ tưởng mình là người chung thủy)

Khi một cá nhân xuất hiện, Alaya đã bao hàm mầm của mọi sự vật, hiện tượng Thế giới bên ngoài phong phú, đa dạng là do Alaya tác động mà

ra Từ đó ta thấy Alaya là cái căn bản của thế giới hiện tượng Mầm và thế giới hiện tượng làm nhân quả cho nhau mãi làm xuất hiện vạn vật, nền móng của luân hồi

Trong Alaya có: Mầm phát sinh thiên sai vạn biệt, tức thế giới hiện tượng (hữu lậu) và mầm không để tâm vọng động, tức mầm đi đến giải thoát (vô lậu) Do mầm (hữu lậu) làm phát sinh ra thế giới hiện tượng, muốn giải thoát thì phải làm sinh sôi nhiều mầm (vô lậu)

+Chân như duyên khởi:

Chân như bằng chân tâm tùy duyên sinh ra vạn vật (nhất thiết duy tâm tạo) Tâm gồm có: Động – cửa của sinh diệt từ đó xuất hiện thế giới hiện tượng (vạn tượng), (chân như, chân tâm) vì duyên bởi vô minh mà vọng động, sinh ra thế giới vạn vật Tịnh – cửa của chân như, con người đi vào Niết bàn (chân như) Như vậy, vạn vật không phải ngoài tâm mà tồn tại được

+Lục đại duyên khởi:

Trang 8

Gồm 6 yếu tố không tách rời nhau: “Địa, thủy, hỏa, phong, không (sắc, vật)và thức (tâm)” Sắc và tâm là hai phương diện của bản thể Sáu yếu tố này liên thông, tùy duyên, kết hợp với nhau sinh ra vũ trụ, vạn vật Còn mất chỉ là hợp tan của lục đại Vạn vật, vũ trụ là sự hoạt động không ngừng của lục đại Chân như và lục đại, bản thể và hiện tượng không tách rời nhau

+Pháp giới duyên khởi:

Vũ trụ, vạn vật tự làm nhân duyên cho nhau, nương tựa tương phản, dung thông nhau mà thành lập Pháp giới vô tận duyên khởi, trùng trùng duyên khởi

Vũ trụ, vạn vật là một cuộc đại hoạt động của hiện tượng từ vô thủy đến vô chung nối tiếp tràn lan vô cùng tận như những đợt sóng bởi vậy chúng

có sinh diệt

Tóm lại, vạn vật xuất hiện và biến đổi, theo Phật giáo, là do nghiệp, Alaya, tâm, lục đại và do bản thân pháp giới (thế giới) Có những quan điểm với những yếu tố hợp lý, nhưng nhìn chung là duy tâm thần bí Theo Sherbatxki, có thể tóm tắt triết học Phật giáo thành hai hướng lớn sau: Hinayna (Tiểu thừa): Sautrantika (Kinh lượng bộ) và Vaibhasika (Hữu bộ), Mahayana (Đại thừa): Sunyavada (Madhyanika, không luận, trung quán luận), Yoyacara (Vijnanavada, Duy thức luận)

Có một thực thể (bản thể) nào đó tồn tại hay không? Có 3 cách trả lời: 1/ Sunyavada phủ nhận sự tồn tại cả vật chất lẫn tinh thần Tất cả là Sunya (không)

2/ Vynanavada cho chỉ có thức (tâm, tinh thần) là tồn tại, còn vật chất

là không tồn tại

3/ Hinayana cho cả vật chất lẫn tinh thần đều tồn tại một cách thực tại Thừa nhận tính thực tại của mọi khách thể Thực tại bên ngoài có nhận thức được không?

Có 2 cách trả lời:

1/ Sautrantika cho có thể nhận thức được bằng suy lý

Trang 9

2/ Vaibhasika cho có thể nhận thức được bằng tri giác trực tiếp

Cách nhìn nhận của Phật giáo đối với thế giới bên ngoài có quan niệm

vô thường, tức mọi cái không thường hằng mà luôn thay đổi trong từng satatsna, bởi vậy chúng là vô ngã Điều này khiến Phật giáo nhìn nhận sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài chỉ là ảo ảnh, có đấy nhưng không thực

Tính duy vật và vô thần thể hiện rõ nét nhất ở quan niệm về tính tự thân sinh thành, biến đổi của vạn vật, không do sự chi phối quyết định của một lực lượng thần linh hay thượng đế tối cao nào Trái lại vạn vật đều tuân theo tính tất định và phổ biến của luật nhân – quả Điều này được quán triệt trong việc

lý giải những vấn đề của cuộc sống nhân sinh như: Hạnh phúc, đau khổ, giàu, nghèo, thọ, yểu… Tính biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo đặc biệt thể hiện rõ qua việc luận chứng về tính chất “vô ngã” và “vô thường” của vạn vật Phạm trù “vô ngã” bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vũ trụ vốn không có tính thườn hằng, nó chỉ là sự “giả hợp” do sự hội đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại) Ngay bản thân sự tồn tại của thực tế con người chẳng qua cũng là do “ngũ uẩn” (năm yếu tố) hội hợp lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức) Theo cách phân loại khác – “lục tại”: địa (chất khoáng), thủy (chất nước), hỏa (nhiệt năng), phong (hơi thở), không (khoảng trống) và thức (ý thức) Nói một cách tổng quát thì vạn vật chỉ là sự “hội hợp” của hai loại yếu tố là vật chất “sắc” và tinh thần

“danh” Như vậy thì không có cái gọi là “tôi” (vô ngã)

Phạm trù “vô thường” gắn liền với phạm trù “vô ngã” Vô thường nghĩa là vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: Sinh – Trụ Dị -Diệt… (hay: Sinh – Trụ - Hoại – Không) Vậy thì “có có” – “không không” luân hồi (bánh xe quay) bất tận: “thoáng có”, “thoáng không” cái còn mà chẳng còn, cái mất mà chẳng mất

Thứ hai:Nhân sinh quan Phật giáo là phần trọng tâm của triết học này Cũng như nhiều trường phái khác của triết học Ấn Độ cổ đại, Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu cứu cánh nhân sinh ở sự “giải thoát” (Moksa) khỏi

Trang 10

vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana) Tính quần chúng của luận điểm nhân sinh Phật giáo thể hiện ở chỗ nêu cao tinh thần “bình đẳng giác ngộ”, tức là quyền thực hiện sự giải thoát là cho tất

cả mọi người mà cao hơn nữa là của mọi “chúng sinh” Điều này mang tính nhân bản sâu sắc, vượt qua giới hạn đẳng cấp khắc nghiệt vốn là một truyền thống chính trị Ấn Độ cổ đại Nó nói lên khát vọng “tự do cho tất cả mọi người”, không thể là độc quyền của một đẳng cấp nào, dù đó là đẳng cấp tăng

nữ hay quý tộc, bình dân hay tiện nô Nhưng đó không phải kêu gọi gián tiếp cho quyền bình đẳng về mặt chính trị mà là bình đẳng trong sự mưu cầu cứu cánh giác ngộ Có thể, đây là lời kêu gọi gián tiếp cho quyền bình đẳng xã hội của Phật giáo, và như vậy Phật giáo thật sự là một trường phái thuộc phái

“không chính thống” (tức phải cải cách) của nền tư tưởng Ấn Độ cổ đại

Về cấu tạo con người trong Phật giáo có nhiều thuyết, nhưng phổ biến hơn cả là học thuyết ngũ uẩn, cho rằng con người được cấu thành từ 5 yếu tố: sắc (vật chất bao gồm tứ đại), thụ (những cái chỉ cảm tình, tình cảm, biết do cảm mà biết, tình), tưởng (biểu tượng, tưởng tượng, tri giác, ký ức, trí), hành (ý chí, những yếu tố khiến cho tâm hoạt động, ý), thức (ý thức, cái biết phân biệt) Sống chết chỉ là sự hợp tan của các yếu tố Con người là sự kết hợp động của những yếu tố động nên chúng là vô ngã

Theo phật giáo, con người xuất hiện là do nghiệp (Karma) Nghiệp là gì? Nghiệp là luật vô hình giống như nghiện Con người mỗi ngày hút hít một

tí dần thành nghiện Nghiệp cũng vậy, tất cả những hành động, cử chỉ, hành

vi, suy nghĩ của con người mỗi ngày tích lũy một chút, dần hình thành luật vô hình – nghiệp Nhưng trong từng satna, các yếu tố đều biến đổi, bởi vậy nghiệp còn có chức năng kết dính, kết hợp, sắp xếp các yếu tố mới lại, hình thành một sinh linh mới trong khoảnh khắc đó, thay thế cho các yếu tố cũ đã

bị giải thể

Khi còn nghiệp, con người lại phải quay trở lại để trả giá cho những hành động, hành vi, cử chỉ, suy nghĩ ở kiếp trước, tức lại phải luân hồi Gieo

Ngày đăng: 22/06/2023, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w