1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay

194 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận án Tiến sĩ Phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay
Tác giả Mai Thị Trang
Trường học Trường Đại học Tây Nguyên
Chuyên ngành Phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Buôn Ma Thuột
Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 746,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù đã có một sốcông trình nghiên cứu về giá trị văn hoá, hệ giá trị văn hoá, phát triển bền vữngTây Nguyên, nhưng nhìn tổng quan, chưa có công trình khoa học độc lập nào luận giải mộ

Trang 1

Tôi khẳng định đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Mai Thị Trang

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

và những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết 24

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN

HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.1 Quan niệm phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển

2.2 Một số nhân tố cơ bản quy định phát huy giá trị văn hóa dân

tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên 52

Chương 3 PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ

TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TÂY NGUYÊN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 71 3.1 Thực trạng phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát

triển bền vững Tây Nguyên hiện nay 71 3.2 Dự báo những nhân tố tác động và vấn đề đặt ra đối với phát huy giá

trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên 104

Chương 4 GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

4.1 Nhóm giải pháp nâng cao trách nhiệm và năng lực của các chủ

thể đối với phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển

4.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bảo tồn và phát triển

giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây

4.3 Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả các hoạt động định hướng

giá trị văn hoá dân tộc thiểu số vào thực tiễn phát triển bền vững

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Tây Nguyên là vùng chiến lược trọng yếu của quốc gia trong khángchiến cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Là vùng cao nguyên đất

đỏ, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, với một kho tàng văn hoá đầy bí ẩn và

đa sắc màu, sinh động trong sự thống nhất với văn hóa các dân tộc khác củanước ta Kho tàng văn hoá đấy, đã tạo nên những giá trị văn hoá dân tộc thiểu

số Tây Nguyên độc đáo Đó là: Thứ nhất, khai thác và ứng xử hài hoà với môi

trường tự nhiên, có sự thích ứng cao với các điều kiện, hoàn cảnh sống, biểuhiện qua tâm thức rừng và phương thức canh tác vừa khai thác vừa giữ gìn

được rừng của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên; Thứ hai, điều tiết các quan

hệ xã hội trong sự ổn định hài hoà, biểu hiện qua thiết chế buôn làng tự quảnvới hệ thống luật tục và toà án phong tục của tộc người dân tộc thiểu số Tây

Nguyên; Thứ ba, tính phong phú, đa dạng, độc đáo, sáng tạo, biểu hiện qua

các hoạt động nghệ thuật dân gian đa sắc màu và tay nghề thủ công khéo léo

của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên; Thứ tư, tính cố kết cộng đồng, đề cao

buôn làng trong hoạt động tín ngưỡng, lễ hội phong phú và trong hệ thống

kiến trúc của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên Thứ năm, đề cao vai trò của

người phụ nữ trong văn hoá mẫu hệ vẫn còn ghi dấu ấn trong xã hội hiện đại.Trong bối cảnh mới, sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta nói chung

và Tây Nguyên nói riêng, đều hướng đến mục tiêu cơ bản là bảo đảm pháttriển bền vững Trên thế giới, nhiều nước lựa chọn con đường, cách thứcphát triển kinh tế theo lý thuyết phát triển gắn với chấp nhận hy sinh môi

trường, hy sinh sự ổn định xã hội và đã phải trả giá đắt Quá trình tìm tòi,

nghiên cứu, các nhà khoa học đã phát hiện ra một thực tế, phát triển hiện nayphải mang đặc trưng của phát triển bền vững và là một trong những cơ sởkhoa học cho phát triển ấy phải là văn hoá Trong xu hướng chung đó, Đảng

ta đã kịp thời có các quan điểm cụ thể về văn hóa và vai trò văn hóa đối với

Trang 4

phát triển bền vững Xét đến cùng, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững TâyNguyên, là quá trình các chủ thể có nhận thức đầy đủ về các giá trị văn hoá, từ

đó tiến hành bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá đó Sau đó, thông qua cáchoạt động cụ thể, định hướng các giá trị đó vào trong thực tiễn phát triển bềnvững Tây Nguyên Quá trình này trước mắt đã thu được những thành tựu nhấtđịnh Các chủ thể đã nhìn nhận, hiểu đúng được về vai trò của giá trị văn hoá dântộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên Thực hiện bảo tồn có hiệuquả các giá trị văn hoá của vùng, qua đó phát triển có chọn lọc các giá trị đó đểphù hợp với xu hướng chung của thời đại Trên cơ sở đó, đã định hướng các giátrị văn hoá dân tộc thiểu số vào trong các trụ cột của phát triển bền vững nhưkinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khách quan vàchủ quan, mà quá trình nhận thức của các chủ thể vẫn chưa được đồng đều, hoạtđồng bảo tồn đáp ứng được số lượng, nhưng vẫn vấp phải một số hạn chế vềchất lượng Quá trình định hướng các giá trị văn hoá dân tộc thiểu số vào trongphát triển bền vững vẫn chưa khai thác được hết các thế mạnh của giá trị vănhoá, vào phát triển kinh tế, ổn định xã hội và môi trường Tây Nguyên

Để quá trình phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số vào phát triển bềnvững Tây Nguyên được hiểu quả Cần phải tập trung thực hiện đồng bộ, cóhiệu quả các giải pháp thiết thực Như nâng cao trách nhiệm và năng lực củacác chủ thể đối với phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triểnbền vững Tây Nguyên; nâng cao chất lượng hoạt động bảo tồn và phát triểngiá trị văn hoá dân tộc thiểu số; nâng cao hiệu quả các hoạt động định hướnggiá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên

Nghiên cứu về phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bềnvững Tây Nguyên chính là cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn, và những luận cứ khoahọc, để thống nhất nhận thức, nhằm định hướng giá trị văn hoá dân tộc thiểu số vào

Trang 5

thực tiễn phát triển bền vững Tây Nguyên Đồng thời, xác lập được hệ thống cácgiải pháp đồng bộ, góp phần tạo ra động lực vật chất và tinh thần to lớn, đểphát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên,

là vấn đề mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Mặc dù đã có một sốcông trình nghiên cứu về giá trị văn hoá, hệ giá trị văn hoá, phát triển bền vữngTây Nguyên, nhưng nhìn tổng quan, chưa có công trình khoa học độc lập nào

luận giải một cách hệ thống, cơ bản về phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu

số trong phát triển bền vững Tây Nguyên

Do đó, việc lựa chọn đề tài: “Phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số

trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ là

vấn đề mang ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp cơ bảnphát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững TâyNguyên hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;Làm rõ thực chất và những yếu tố quy định phát huy giá trị văn hoá dântộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên;

Đánh giá thực trạng, dự báo nhân tố tác động và những vấn đề đặt ra chophát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững TâyNguyên hiện nay;

Đề xuất những giải pháp cơ bản phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu

số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triểnbền vững Tây Nguyên

Trang 6

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề liên quan và tập trung vào những nội dungthuộc bản chất của văn hoá dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong mối quan hệvới phát triển bền vững Tây Nguyên Đề tài chỉ nghiên cứu giá trị văn hoá củacác dân tộc thiểu số tại chỗ mà không nghiên cứu các giá trị văn hoá của cácdân tộc thiểu số di dân đến Khảo sát thực tiễn một số địa bàn trên 5 tỉnh: KonTum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Cụ thể như: huyện Đắk Hà,huyện Ngọc Hồi, thành phố Kon Tum của tỉnh Kon Tum; Huyện Kbang,huyện Chư Prông, huyện Đắk Đoa, thành phố Pleiku của tỉnh Gia Lai; huyệnĐơn Dương, huyện Đức Trọng và huyện Lạc Dương, thành phố Đà Lạt củatỉnh Lâm Đồng; huyện Buôn Đôn, thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh ĐắkLắk Khảo sát trong một khoảng thời gian dài kể từ sau đổi mới 1986, nhưngtập trung hơn từ năm 2006 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án

Dựa vào hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt làmối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước Việt Nam, về vănhoá, văn hoá dân tộc thiểu số, về phát triển bền vững; về phát huy vai trò vănhoá dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng trongphát triển bền vững đất nước, phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay

Cơ sở thực tiễn của luận án

Dựa vào lịch sử phát triển và thực trạng phát huy giá trị văn hoá dân tộcthiểu số Tây Nguyên trong phát triển bền vững Kết quả nghiên cứu thực tiễncủa tác giả về phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;lôgíc và lịch sử; phân tích và tổng hợp; trừu tượng hoá và khái quát hóa; hệ

Trang 7

thống và cấu trúc; phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học thông qua bảnghỏi và phỏng vấn sâu; phương pháp tiếp cận giá trị; phương pháp nghiên cứutài liệu (các báo cáo tổng kết) và phương pháp xin ý kiến chuyên gia Ngoài

ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành triết học văn hoá học để nghiên cứu đề tài

-5 Những đóng góp mới của luận án

Góp phần làm rõ quan niệm về giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên,phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên;Góp phần làm rõ thực trạng, dự báo những nhân tố tác động tới phát huy giátrị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên;

Góp phần làm rõ những yếu tố quy định phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu

số trong phát triền bền vững Tây Nguyên;

Các giải pháp cơ bản được đề xuất có tính đặc thù và khả thi nhằm phát huygiá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triền bền vững Tây Nguyên hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

và những người quan tâm đến vấn đề này hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), Kết luận, Danh mục tài liệutham khảo và Phụ lục, Danh mục các công trình của tác giả đã được công bốliên quan đến luận án

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề văn hóa và giá trị văn hoá

* Về văn hóa

Văn hóa là lĩnh vực luôn được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâmtìm hiểu Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa, có nội hàm rất rộng, xuất phát từtiếng La Tinh “culture” với nghĩa đen là trồng trọt ngoài đồng ruộng, nghĩa bóng

là giáo dưỡng, vun đắp, phát triển con người Ở phương Đông, ngay từ thời cổđại, khái niệm văn hóa được hiểu với nghĩa “văn trị giáo hóa”, tức lấy “văn” đểgiáo hóa thiên hạ Kế thừa khái niệm văn hóa của nhà nhân học người Anh E.B

Taylo (2019), trong “Văn hóa nguyên thủy” [117], tới nay đã có hơn 400 khái

niệm Năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là AL Conrobo và C Colackhon

đã đưa ra thống kê từ năm 1871 đến năm 1950 có tới 164 định nghĩa văn hóa.Năm 1967, nhà xã hội học người Pháp A.Molo cho biết có 250 định nghĩa Cácnghiên cứu của AV Lunatsaroxki, Pn Phedoxeep, AG Egorop, GI Goman,

AK Uledop và LN Cogan dưới góc độ triết học, xã hội học; chỉ ra sự tương tácchặt chẽ giữa văn hóa và nhân cách, đồng thời khẳng định sự tồn tại trọn vẹn củacon người, sự phát triển toàn diện lực lượng sáng tạo, trí tưởng tượng, đời sốngtình cảm, cũng như đời sống thể lực của con người, đó là các hiện tượng cơ bảncủa văn hóa Khi nói đến văn hóa, không chỉ có ý nói đến các kết quả hoạt độngsáng tạo, mà còn nói đến cả tính chất sáng tạo ấy, trong chừng mực nó góp phầnphát triển tiềm năng tinh thần của con người vào toàn bộ các quan hệ lý luận,kinh tế, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của con người với thực tại

Về văn hóa trong điều kiện Chủ nghĩa xã hội phát triển, nghiên cứu củatác giả AV Lunatsaroxki, PN Phedoxeep, AG Egorop, GI Gomman, AK

Trang 9

Uledop đã luận chứng khá sâu sắc dưới góc độ triết học, khẳng định sự tồn tạitrọn vẹn của con người, sự phát triển toàn diện của lực lượng sáng tạo, trítưởng tượng, đời sống tình cảm cũng như đời sống thể lực của con người làcác hiện tượng cơ bản của văn hóa.

Hiện nay, khái niệm văn hóa cũng được hiểu hết sức khác nhau.Rodentan định nghĩa văn hóa với nghĩa là toàn bộ những giá trị vật chất vàtinh thần mà con người đã sáng tạo ra gắn liền với quá trình sản xuất củamình Fedérico Mayor - Tổng thư ký UNESCO, tiếp cận văn hóa theo nghĩa

là toàn bộ diện mạo đặc trưng khắc họa nên bản sắc dân tộc, UNESCO nhìnnhận văn hóa theo nghĩa rộng rãi nhất: đó là một phức thể tinh thần, vật chất,trí thức, tình cảm; khắc họa trên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm,làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội và coi văn hóa là một tổng thể những hệthống biểu trưng chi phối cách ứng xử và sự giao tiếp trong cộng đồng, khiếncộng đồng ấy có đặc thù riêng; Bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giámột sự việc, một hiện tượng theo cộng đồng ấy

Quán triệt quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, nghiên

cứu của các tác giả: Phan Ngọc (2005), trong cuốn “Văn hóa Việt Nam và

cách tiếp cận mới”[93], cho rằng văn hóa là dấu ấn của một cộng đồng “lên

mọi hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm của thể cộng đồng này từ tínngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường” [93,

tr 16]; Trường Lưu (1998) với cuốn “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội”[81]; Trần Ngọc Thêm (1999) với “Cơ sở văn hóa Việt Nam [126]”; Đỗ Huy (2001) với “Cơ sở triết học của văn hóa nghệ thuật Việt Nam Nam [63]; Nguyễn Văn Huyên (2001) với “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam

trong thế kỷ mới” [67]; Phan Ngọc (2004) với “Bản sắc văn hóa Việt Nam”

[92], “Một nhận thức về văn hóa Việt Nam” [94]… Các quan niệm văn hóa

qua những định nghĩa đa dạng của các tác giả nhưng chung quy đều được biểuhiện ở những phương diện như sau:

Trang 10

Thứ nhất, văn hóa tồn tại tổng thể trong những sản phẩm vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo ra, phản ánh cái chân, thiện, mỹ và sự hiện thựccủa nó thông qua hoạt động sống của con người trong tiến trình lịch sử

Thứ hai, văn hóa được biểu hiện ra với những chuẩn mực, cách thức ứng

xử, phong tục, tập quán, hình thái sinh hoạt vật chất và tinh thần Những giátrị đó được con người sáng tạo và phát triển trong các mối quan hệ của họ với

tự nhiên, xã hội và bản thân, đánh dấu trình độ phát triển của “bản chất ngườitrong lịch sử xã hội”, chi phối trở lại đời sống và hoạt động của con ngườitrong một cộng đồng nhất định

Thứ ba, bản chất của văn hóa là sáng tạo và nhân văn theo tiêu chí chân,

thiện, mỹ của mỗi cộng đồng người Sự thống nhất giữa cái chân, cái thiện vàcái mỹ là quy luật của tiến bộ xã hội về mặt văn hóa Tiếp cận văn hóa theocác phương diện trên đây có ý nghĩa căn bản để nghiên cứu giá trị văn hóa

* Về giá trị văn hóa

Về giá trị văn hóa cho đến nay đã có không ít những nghiên cứu, nhữngquan niệm khác nhau Nghiên cứu của tác giả Echacdon (1987), trong cuốn

“Giá trị cuộc sống giá trị văn hóa” [43], cho rằng giá trị văn hóa là tất cả

những gì góp phần thúc đẩy sự phát triển năng lực sản xuất của cá nhân và xãhội, cũng như trên lĩnh vực xây dựng các quan hệ xã hội, chính trị, nghệ thuật,

khoa học và giáo dục; Tác giả La Quốc Kiệt (2003), trong cuốn “Tu dưỡng

đạo đức tư tưởng”[71] đưa ra quan điểm về “giá trị nhân cách”, coi đó là sự

thống nhất giữa giá trị bản thân và giá trị xã hội; đưa ra nội dung yêu cầu vàcon đường bồi dưỡng, xây dựng giá trị nhân cách

Tác giả Đào Duy Anh (2013) là một trong những học giả đầu tiên ở Việt

Nam trình bày giá trị văn hóa dân tộc thành hệ thống Trong công trình “Việt

Nam văn hóa sử cương” [1], ông đã trình bày 7 giá trị có thể coi là bản sắc

văn hóa Việt Nam, đó là: Sức ký ức (trí nhớ) tốt, thiên về nghệ thuật và trực

Trang 11

giác; Ham học, thích văn chương; Ít mộng tưởng (thiết thực); Sức làm việckhó nhọc (cần cù) ở mức ít dân tộc nào bì kịp; Giỏi chịu khổ và hay nhẫnnhục; Chuộng hòa bình, song ngộ sự thì cũng biết hy sinh vì đại nghĩa; Khảnăng bắt chước, thích ứng và dung hòa rất tài.

Tác giả Nguyễn Duy Bắc và các cộng sự (2008), trong công trình “Sự biến

đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [7] khẳng định: “Giá trị văn hóa là giá trị phản ánh năng lực sáng

tạo vươn tới các giá trị nhân văn của con người trong hoạt động thực tiễn xã hội”

[7, tr 277] Tác giả Hoàng Chí Bảo (2010) trong “Thanh niên với việc chọn nghề

để lập thân, lập nghiệp” [7] khẳng định “tính phổ biến, phổ quát của văn hóa - ở

đó, con người - dân tộc và nhân loại gặp gỡ nhau, đó chính là chân - thiện - mỹ.Đây là giá trị đích thực, bền vững của một nền văn hóa, của các nền văn hóa, cácthời đại văn hóa trong lịch sử nhân loại” [6, tr 50] Tác giả Nguyễn Trọng

Chuẩn (1998) trong “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát

triển [28] cho rằng “khi nói đến giá trị truyền thống thì hàm ý đã muốn nói tới

những giá trị tương đổi ổn định, tới những gì là tốt đẹp, là tích cực, là tiêu biểucho bản sắc văn hóa dân tộc, có khả năng truyền lại qua không gian, thời gian,những gì cần bảo vệ và phát triển” [28, tr 16]

Công trình của tác giả Trần Văn Giàu (2001) “Giá trị tinh thần truyền

thống của dân tộc Việt Nam” [43] Từ góc độ sử học, triết học và đạo đức

học, đã đưa ra những kiến giải sâu sắc và có hệ thống về nguồn gốc cũng nhưnội dung các giá trị truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam Các đức tính

tốt đẹp như yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì

nghĩa được tác giả luận giải sâu sắc, trình bày có hệ thống và khoa học với ý

nghĩa như một “hằng số”, một bảng giá trị tinh thần của người Việt Nhữnggiá trị đó, theo tác giả đã được định hình ngay từ thời dựng nước, phát triểnđộc lập, không bị đồng hóa bởi tác động từ bên ngoài

Trang 12

Tác giả Nguyễn Văn Huyên (1995) với công trình “Một số chuẩn mực giá

trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường” [65] Tác giả đã phân

tích sự chuyển đổi một số giá trị khi nền kinh tế nước ta chuyển từ mô hìnhquan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường Những nhận định này hiện nayvẫn tiếp tục diễn ra và có những biến đổi to lớn hơn Chẳng hạn sự chuyển biến

từ tư duy tiểu nông sang tư duy kinh tế hàng hóa, chủ nghĩa bình quân sang kiểuphân phối dựa trên tài năng và cống hiến, giá trị cá nhân không còn bị miệt thị

mà được đề cao bên cạnh giá trị cộng đồng, tồn tại hài hòa với giá trị cộng đồng.Đáng chú ý, tác giả nhận định: “Giờ đây cơ chế thị trường đã đề cao tiêu chí giátrị được bổ sung và thậm chí đề cao ý nghĩa thực tế, thực dụng; sự thiên lệch về

ý chí và tinh thần đang dần được chuyển ưu tiên cho hoạt động vật chất, đề caogiá trị kinh tế, từ chỗ chỉ trọng nông nay cả được trọng thương; sự giàu có vềtinh thần được gia tăng thêm sự giàu có về vật chất” [65, tr 10]

Các tác giả Nguyễn Văn Tài và Văn Đức Thanh (2010) với công trình “Hệ

giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử giữ nước của dân tộc” [115].

Các tác giả đã phân tích yếu tố đồng đại và lịch đại, khái quát hệ giá trị quân sựphong phú, có bề dày lịch sử, mang bản sắc dân tộc và đặc trưng Thăng Long -

Hà Nội Chỉ ra những chiến công, sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử tiêu biểu,những đóng góp có giá trị về mặt quân sự tiêu biểu Đặt giá trị văn hoá quân sựcủa Thăng Long Hà Nội trong tương quan với thủ đô các nước Từ đó, đề xuấtmột số vấn đề cơ bản về phát huy hệ giá trị văn hoá quân sự đó trong sự nghiệpbảo vệ thủ đô Hà Nội ngày nay

Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc xây dựng hệ giá trị Việt Nam trongthời gian dài chưa có sự quan tâm đầy đủ nên chưa hình thành được những

cơ sở khoa học cần thiết, gần đây, công trình “Hệ giá trị Việt Nam từ

truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai” của tác giả Trần

Ngọc Thêm (2016) [127] đã trình bày vấn đề nghiên cứu này có tính hệthống Tác giả nhận định việc xây dựng một hệ giá trị mới phù hợp hơn,

Trang 13

giúp cho quốc gia dân tộc có đủ khả năng miễn dịch, đảm bảo sự phát triểnkinh tế phải đi đôi với sự phát triển văn hóa - con người Theo quy luậtphát triển, hệ giá trị mới sẽ tự phát hình thành.

Kỷ yếu hội thảo khoa học “Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong đổi mới

hội nhập” (2013), [78] với 47 tham luận, trong đó có 16 tham luận đề cập

những vấn đề chung về hệ giá trị văn hóa Việt Nam, 31 tham luận đề cập đếnbiểu hiện của hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong những lĩnh vực cụ thể như đôthị, nông thôn, các loại hình nghệ thuật, văn hóa dân gian, gia đình, dòng họ,

cá nhân… bộc lộ sâu sắc bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam

Các công trình trên đã tiếp cận bản chất của giá trị văn hóa là sáng tạo, luôntồn tại và phát triển, khẳng định sức sống, trường tồn của văn hóa các dân tộc

Để không chệch khỏi quỹ đạo văn hóa dân tộc, đều nhất thiết phải nắm bắt vàkhôi phục lại tinh thần gốc của truyền thống trên tinh thần khoan dung văn hóa.Bằng cách tiếp cận khác nhau, dưới góc độ triết học, quan niệm của cáctác giả về giá trị và giá trị văn hóa có điểm thống nhất sau:

Thứ nhất, về thực chất giá trị văn hóa là toàn bộ sự đa dạng của hoạt

động người, của các quan hệ xã hội, bao gồm cả những hiện tượng tự nhiênliên quan, nhằm đem lại lợi ích cho con người

Thứ hai, giá trị văn hóa là toàn bộ thế giới bên trong và bên ngoài con

người được hiện hình trong tư duy và tình cảm của con người với tính cách làkhuôn thước của sự đánh giá Giá trị là sự đánh giá được nảy sinh trong quan

hệ giữa chủ thể với khách thể, mang ý nghĩa người ở trong đó và luôn mangtính khách quan, nhưng việc sắp xếp, đánh giá thang bậc giá trị lại do chủquan của con người

Thứ ba, giá trị văn hóa mang tính lịch sử và được hình thành trong hoạt

động của con người, đồng hành với đời sống của con người, giá trị luôn mangtính tích cực và có tính lịch sử bởi lẽ giá trị cũng biến đổi và không ngừngđược bồi đắp thêm

Trang 14

Thứ tư, giá trị văn hóa được coi là cái có ý nghĩa trong một cộng đồng xã

hội, trong những điều kiện nhất định đóng vai trò điều tiết mọi hoạt động củacon người theo hướng tiến bộ Giá trị xã hội, thể hiện sự phát triển trình độngười ngay trong con người và cộng đồng, thể hiện dấu ấn chân, thiện, mỹ trongtổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người và cộng đồng người sángtạo ra

Thứ năm, đưa ra quan niệm giá trị văn hóa như tổng thể các giá trị cuộc sống

và làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các giá trị chân, thiện, mỹ trong xã hội

Thứ sáu, đưa ra cấu trúc giá trị văn hóa gồm trình độ học vấn, trình độ

chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo, thế giới quan, văn hóa chính trị, kiến thức kinh

tế, thái độ lao động, kỷ luật lao động, các quy tắc đạo đức, sự phát triển năngkhiếu thẩm mỹ và thể lực

Đó là những luận cứ khoa học, là tiền đề có giá trị nghiên cứu, tiếp thu,vận dụng vào trong luận án, tuy nhiên còn nhiều quan điểm khác nhau, chưathống nhất về phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bềnvững Tây Nguyên Đó là những gợi ý cho luận án nghiên cứu

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề văn hoá dân tộc thiểu số Tây Nguyên và giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên

* Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề văn hóa dân tộc thiểu số

Tác giả Nguyễn Như Ý (1999) trong Đại từ điển tiếng Việt [159] dân tộc thiểu số được hiểu là: “Dân tộc chiếm số ít, so với dân tộc chiếm số đông nhất

trong một nước có nhiều dân tộc” Theo đó, văn hóa dân tộc thiểu số là tổng

hợp tất cả những giá trị về vật chất, tinh thần trong đời sống của cộng đồngngười dân tộc thiểu số, do cộng đồng dân cư của họ sáng tạo ra trong quátrình sinh tồn và phát triển, theo tiêu chí chân - thiện - mỹ

Có nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu

số, như: Nhóm tác giả Roy Ellen, Peter Parkes, Alan Bicker (2010) với công

trình “Tri thức bản địa về môi trường và những biến đổi Các quan điểm nhân

Trang 15

học phê phán” [44] Đã chỉ ra những đặc điểm phổ biến nhất của tri thức bản

địa như: Mang tính địa phương; Là tri thức được truyền miệng, hoặc đượctruyền qua hình thức mô phỏng hoặc mô tả; Là hệ quả của các gắn kết thực tếtrong đời sống hằng ngày và liên tục được củng cố bằng kinh nghiệm; Có xuhướng là loại kiến thức mang tính thực tiễn và giả thiết - kinh nghiệm nhiềuhơn là mang tính lý thuyết đúng nghĩa…

Nhiều tác giả (2009), trong tác phẩm “Tri thức bản địa và văn hóa sinh

thái của các dân tộc người thiểu số ở Việt Nam về môi trường và bảo vệ môi trường” [102] Bao gồm nhiều bài viết, chỉ ra quan niệm về dân tộc bản địa

trở thành một vấn đề nổi cộm khi nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu số,nhất là trong bối cảnh sự di cư, nhập cư, giao lưu tiếp biến văn hóa xảy ra nhưmột xu thế không thể cưỡng lại của tiến trình phát triển văn hóa

Một nghiên cứu của Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (1984) “Các dân

tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)” [127] Bằng cách tiếp cận dân

tộc học và văn hóa học, cuốn sách đã thể hiện được những vấn đề cơ bản vềđiều kiện tự nhiên, dân cư, ngôn ngữ, lịch sử tộc người, thành phần dân tộc,kinh tế, xã hội, văn hóa, trình bày về từng dân tộc, quá trình các dân tộc thamgia chống chủ nghĩa đế quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiệnnhững yêu cầu thực tiễn của đất nước, nhất là những vùng dân tộc thiểu số, cụthể là những dân tộc ít người đã sinh sống lâu đời tại những tỉnh phía Nam,được quan niệm là cộng đồng người bản địa ở khu vực này

Tác giả Phan Hữu Dật (2018) với công trình “Một số vấn đề về dân tộc

học Việt Nam” [30]Công trình lý giải nguồn gốc của các dân tộc trên thế giới

và mối quan hệ đối với các dân tộc ở Việt Nam, lý giải các luồng di cư đểkiến tạo nên diện mạo một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa của nước ta quacác thời kỳ đến tận ngày nay Từ đó có cái nhìn sâu sắc về truyền thống vănhóa của các tộc người ở các địa phương Đặt văn hóa trong tương quan với sự

Trang 16

phát triển, liệu có phải việc lưu lại những giá trị cổ xưa sẽ kéo lùi sự phát triểnchung của xã hội?

Tác giả Trương Bi (2011), với cuốn “Lễ hội truyền thống dân tộc

Êđê”[15] nghiên cứu bài bản, công phu về hệ thống lễ hội truyền thống của dân

tộc Ê Đê Dù năng suất lao động không cao nhưng văn hóa nương rẫy là đặcđiểm nổi bật của gia đình mẫu hệ Ê Đê Nó là điều kiện cơ bản để tạo nên nghi lễ

- lễ hội vòng đời người và nghi lễ - lễ hội nông nghiệp độc đáo của cộng đồngngười Ê Đê trên cao nguyên Đắk Lắk Đáng chú ý là phần lớn nghi lễ ở TâyNguyên chỉ có lễ mà không có hội, như lễ bỏ mả, lễ hỏi, lễ cưới, lễ cúng sứckhỏe… Do đó, tính lễ ở đây được đề cao, tính hội rất mờ nhạt Về sau, cùng vớiquá trình di cư, tính hội ngày càng xâm nhập sâu vào văn hoá Tây Nguyên

Tác giả Buôn Krông Tuyết Nhung (2012), với cuốn “Văn hóa mẫu hệ qua

sử thi Ê đê”[104] Công trình trên cơ sở khảo sát văn hóa mẫu hệ Ê Đê trong

đời sống tộc người, đã tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa mẫu hệ Ê Đê được biểuhiện qua hệ thống đề tài, qua hệ thống nhân vật nữ để đối chiếu văn hóa mẫu hệqua văn học với thực tiễn, cũng như tìm hiểu, đánh giá sự tiếp nhận văn hóamẫu hệ của cộng đồng Khám phá thêm những nét độc đáo của văn hóa mẫu hệđược thể hiện trong sử thi, góp phần khẳng định thêm giá trị lịch sử - văn hóa

và chức năng văn hóa - nghệ thuật của sử thi Ê Đê trong xã hội Ê Đê hiện nay,làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Các công trình này đã nghiên cứu công phu, có chiều sâu về các vấn đềxoay quanh nguồn gốc, đời sống, văn hóa, phong tục, tập quán, hướng phát triển

và con người của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam trên cả nước Cụ thể:

Thứ nhất, nước ta có một nền văn hóa phong phú đa dạng, biểu hiện sâu

sắc qua đời sống văn hóa của hệ thống tộc người dân tộc thiểu số

Thứ hai, mỗi dân tộc đều có lối sống, phong tục tập quán, hình thức canh tác, tín

ngưỡng mang bản sắc riêng, gắn liền với cuộc sống, tập quán và địa hình cư trú

Trang 17

Thứ ba, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số đang đứng trước

nguy cơ bị “đồng hóa”, hòa tan và mai một Đặt ra một vấn đề cấp thiết vềbảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững

* Các công trình nghiên cứu liên quan đến giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Tác giả Nguyễn Tuấn Triết (2007), với công trình “Tây Nguyên những

chặng đường lịch sử văn hóa” [138] Dưới cái nhìn lịch sử - văn hóa, cuốn sách

mang đến những nhận định toàn diện, sâu sắc về những đặc điểm và quá trình lịch

sử - văn hóa của Tây Nguyên Tác giả Henri Maitre (1912) với công trình “Rừng

người Thượng - vùng rừng núi cao nguyên miền Trung Việt Nam” [55] Đến nay,

đây vẫn được xem là công trình khảo sát toàn diện và cơ bản nhất về Tây Nguyên.Thiên nhiên và con người Tây Nguyên, hệ thống núi non trùng điệp, hệ thốngsông ngòi chằng chịt, hệ thực vật và động vật hết sức phong phú, khí hậu và thờitiết, diện mạo và lịch sử con người… tất cả đều được quan sát bằng một con mắtchăm chú và tinh tế, được mô tả và bao quát tỉ mỉ, chi tiết đến kinh ngạc, hết sứckhách quan mà vẫn không kém phần bay bổng, chặt chẽ khoa học mà lại lôi cuốnnhư một bút ký dân tộc học dưới một giọng văn lão luyện

Nhiều tác giả (2009) trong cuốn sách “Vùng văn hóa cồng chiêng Tây

Nguyên” [101] với 54 bài viết đầy chất lượng về cồng chiêng Tây Nguyên, đã

khắc họa được các yếu tố đặc điểm lịch sử, văn hóa, tập tục và sinh kế gắnliền với cồng chiêng Cồng chiêng gắn liền với toàn bộ đời sống sản xuất,sinh kế và tinh thần của con người Tây Nguyên từ khi mới lọt lòng mẹ chođến khi trở về với Yang trong rừng thiêng

Nhóm tác giả Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu (2012)

với công trình “Luật tục Ê Đê (Tập quán pháp)” [129] Trong công trình, Luật

tục Ê Đê được chia làm 11 chương với 236 điều, trong đó vấn đề hôn nhân đượcchú trọng hàng đầu và có nhiều quy định nhất (48 điều) và cũng chặt chẽ nhất

Trang 18

Có thể nói: Bộ Luật tục là những trang sử truyền khẩu được ghi chép lại, nóphản ánh sắc nét chân dung một tổ chức xã hội mẫu hệ còn khá điển hình trêncao nguyên miền Trung nước ta vào những thập niên đầu của thế kỷ XX

Tác giả Trương Bi (2011) với công trình “Lễ hội truyền thống dân tộc Ê

Đê” [15] nghiên cứu bài bản, công phu về hệ thống lễ hội truyền thống của

dân tộc Ê Đê Dù năng suất lao động không cao nhưng văn hóa nương rẫy làđặc điểm nổi bật của gia đình mẫu hệ Ê Đê, cũng là tiền đề tạo nên hệ thốngnghi lễ - lễ hội của người Ê Đê

Tác giả Buôn Krông Tuyết Nhung (2012) với công trình “Văn hóa mẫu hệ

qua sử thi Êđê” [104], qua nghiên cứu các tác phẩm sử thi nổi tiếng của người Ê

Đê, đã tái hiện được đặc trưng văn hóa mẫu hệ tồn tại lâu đời nơi đây; cùngnhững nét độc đáo của văn hóa mẫu hệ được thể hiện trong sử thi, góp phầnkhẳng định thêm giá trị lịch sử - văn hóa và chức năng văn hóa - nghệ thuật của

sử thi Ê Đê, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.Những công trình này có nhiều cách tiếp cận về các biểu hiện giá trị văn hóadân tộc thiểu số Tây Nguyên, tựu chung lại đều có những quan niệm như sau:

Thứ nhất, khẳng định tính đa dạng, phong phú và độc đáo riêng có của

văn hóa tộc người ở Tây Nguyên

Thứ hai, khẳng định sức sống lâu bền của các giá trị văn hóa dân tộc

thiểu số Tây Nguyên suốt chiều dài lịch sử

Thứ ba, vấn đề bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc

thiểu số Tây Nguyên được đặt lên hàng đầu trong các công trình nghiên cứu

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển bền vững và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên

Trang 19

* Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển bền vững

và vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững Tây Nguyên

Tác giả Lê Hồng Lý (2014) với công trình “Vai trò của văn hóa và lối

sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên” [82] Đã sử dụng quan điểm tiếp

cận chỉnh thể (holistic approach) của ngành nhân học trong việc nghiên cứu

và đánh giá văn hóa của các tộc người ở Tây Nguyên, cũng như mối quan hệcủa văn hóa với phát triển Đây là hệ thống quan điểm đầy thuyết phục vềviệc ảnh hưởng của làn sóng di cư đến toàn bộ đời sống sinh kế, tập tục, vănhóa Tây Nguyên Tác giả cũng nhận định, làn sóng di cư đã đặt ra nhiều tháchthức đối với văn hóa Tây Nguyên, nhưng đồng thời cũng góp phần không nhỏvào việc làm thay đổi diện mạo vùng đất này

Tác giả Hà Huy Thành (2014) với công trình “Xây dựng luận cứ khoa học

cho việc bổ sung và đổi mới hệ thống thể chế cho phát triển bền vững Tây Nguyên” [124] Đã tổng hợp, phân tích quy trình ban hành, thực thi và giám sát

đánh giá hiệu quả của văn bản chính sách của Trung ương và địa phương vềkinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường - an ninh quốc phòng cho 5 tỉnh TâyNguyên

Đề tài cấp nhà nước của tác giả Nguyễn Văn Tài (2014) về “Vấn đề

quốc phòng và an ninh trong phát triển bền vững Tây Nguyên” [116] Đã

khẳng định tiến trình quốc phòng và an ninh trong mối quan hệ với phát triểnkinh tế - xã hội ở Tây Nguyên từ 1986 đến nay đạt những thành tựu to lớn,song so với tiêu chí phát triển bền vững còn bộc lộ không ít bất cập Để đảmbảo, tăng cường quốc phòng an ninh trong phát triển bền vững Tây Nguyênthời kỳ mới phải dựa trên sự xác định quan hệ quan điểm, mô hình được thamchiếu từ lược khảo kinh nghiệm lịch sử và phù hợp với tính đặc thù của vùng

Tác giả Nguyễn Văn Thanh (2012) với bài báo “Tư tưởng của các nhà

sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” [120] Đã khẳng định tư

tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa con

Trang 20

người, xã hội và tự nhiên là tư tưởng mang tầm thế giới quan và phương phápluận triết học đối với lý luận về phát triển bền vững.

Hai tác giả Lê Văn Khoa với Phạm Quang Tú (2014) với công trình

“Hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên”[69] Khẳng định tất cả những

hoạt động từ kinh tế, chính trị, văn hóa, tập tục của Tây Nguyên đều có khảnăng ảnh hưởng lâu dài đến một vùng rộng lớn Công trình cũng khẳng địnhđây là vùng đất giàu có và trù phú về tài nguyên, nhưng chính điều đó đã đẩytới thực trạng ảo tưởng về sự “vô cùng vô tận” của tài nguyên thiên nhiên, dẫntới thực tế khai thác vô tội vạ và huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên ở đây Đặcbiệt là từ sau năm 1975, Tây Nguyên đã trải qua một giai đoạn biến đổi chưatừng có trong lịch sử Đó là những biến đổi nhanh chóng, dữ dội, thậm chí làđảo lộn so với trật tự đã được thiết lập lâu đời tại vùng đất này về dân cư, về

sử dụng đất Tây Nguyên khởi sắc về kinh tế, về sự đa dạng phong phú tộcngười, nhưng lại đang loay hoay trong việc cân bằng giữa phát triển và đảmbảo không đánh mất bản sắc văn hóa của mình

Các công trình này đã đúc kết những giá trị văn hóa - lịch sử truyền

thống và điều kiện tự nhiên xã hội của vùng Tây Nguyên, đúc kết nhữngnét bản sắc phong phú của từng tộc người cũng như phong tục, tập quán tốtđẹp của đồng bào các dân tộc - một trong những nhân tố cốt lõi mà pháttriển bền vững phải tính đến

Có nhiều công trình bàn về chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với phát

triển Tây Nguyên, như: Tác giả Bạch Hồng Việt (2011) với “Một số vấn đề

phát triển kinh tế Tây Nguyên theo hướng bền vững” [156]; Tác giả Hà Huy

Thành (2014) với công trình “Thực trạng thể chế phát triển bền vững vùng

Tây Nguyên: những phát hiện bước đầu” [124]; Tác giả Mai Thanh Sơn

(2011) với công trình “Chính sách đất đai và văn hóa tộc người - nghiên cứu

trường hợp tại Đắk Lắk” [114]; Kỷ yếu hội thảo khoa học (2014) “Tây Nguyên: thực trạng và thách thức trong phát triển bền vững” [79]; Các

Trang 21

công trình đã khẳng định Tây Nguyên là một trong những địa bàn chiến lược

mà Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; đồng thời khẳng định tính đúngđắn, sát thực, hiệu quả của những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước nhằm phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số

* Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên

Ban chỉ đạo Tây Nguyên (2016) với công trình “Giá trị văn hóa truyền

thống Tây Nguyên với phát triển bền vững” [4] đã tập hợp các bài viết của các

nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích về thực trạng của việc bảo tồn và

đề ra giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên tronggiai đoạn hiện nay vì sự phát triển bền vững

Tác giả Đào Duy Quyền (2014) với bài báo:“Văn hóa cổ truyền Tây

Nguyên trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” [101] nhận

định việc những giá trị văn hóa cổ truyền Tây Nguyên thay đổi trong thời kỳ hộinhập là một tất yếu khách quan Tuy nhiên sự thay đổi đó đang ở mức báo động,khi mà văn hóa truyền thống Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ sẽ biến mất

Tác giả Đỗ Hồng Kỳ (2012) qua công trình “Văn hóa cổ truyền ở Tây

Nguyên trong phát triển bền vững”[77], đã khái quát lại khái niệm phát triển

bền vững, qua đó nêu vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững Tác giảcho rằng cần phải để cho những người dân tộc thiểu số tại chỗ ý thức đượcnhững giá trị, những mất mát, thì mới có khả năng gìn giữ được những nétvăn hóa truyền thống nơi đây, chứ không thể trông chờ một chiều vào chínhsách, vào những sự tác động từ bên ngoài

Viện nghiên cứu văn hoá (2019), với công trình “Văn hoá các tộc người

thiểu số tại chỗ Tây Nguyên: truyền thống, biến đổi và các vấn đề đặt ra”

[155] Nhóm tác giả, đã chỉ ra và đánh giá quá trình biến đổi của văn hoá Tây

Nguyên từ truyền thống đến hiện đại Chỉ ra nền văn hoá gắn truyền thốngcủa người Tây Nguyên có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường sống Đồng

Trang 22

thời, tập trung vào khai thác một số di sản biểu tượng của văn hoá TâyNguyên như: nhà rông, nhà dài, nhà mồ và cồng chiêng, làm nên sự hùngtráng, đặc sắc của văn hoá Tây Nguyên Hơn thế, còn làm rõ những hệ quảcủa sự biến đổi đó đối với đời sống, sinh kế, văn hoá xã hội của người dân tộcthiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên ngày nay Trên cơ sở nhận định, đánh giá vaitrò của văn hoá trong phát triển bền vững Tây Nguyên đã chỉ ra những giảipháp khả thi, để phát huy vai trò của văn hoá trong phát triển vùng

Tựu chung lại, tất cả những công trình này, đều tập trung nghiên cứu cácvấn đề nổi cộm ở Tây Nguyên, như:

Một là: văn hóa, văn hóa tộc người, các yếu tố cấu thành văn hóa Tây Nguyên,

việc phát huy giá trị của những mặt đó vào phát triển bền vững Tây Nguyên;

Hai là: kinh tế, chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng và những tác động của nó

đối với phát triển bền vững Tây Nguyên

Ba là: vấn đề phát huy những giá trị kinh tế, chính trị, văn hóa đối với

công cuộc phát triển bền vững Tây Nguyên, luôn được coi trọng và đặt làmnhiệm vụ cấp bách

1.2 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công

bố và những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả chủ yếu các công trình khoa học tiêu biểu đã công bố có liên quan đến đề tài luận án

Từ việc nghiên cứu kết quả các công trình khoa học đã công bố, tác giảluận án đi đến nhận xét:

Thứ nhất, các công trình khoa học đã luận giải một số vấn đề về vai trò, quan niệm, nội dung, quá trình hình thành, phát triển, thực chất phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay

Các công trình đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận, về giá trị văn hóadân tộc thiểu số Tây Nguyên dưới nhiều góc độ, cấp độ và phương pháp tiếpcận khác nhau, trong đó chủ yếu là phương pháp thực tiễn, lịch sử - lôgic, tiếp

Trang 23

cận giá trị Các công trình khoa học cơ bản coi văn hóa dân tộc thiểu số là nétđặc trưng bao trùm lên hệ thống văn hóa Tây Nguyên, đề cao những giá trịvăn hóa đó, khẳng định vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững TâyNguyên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Các công trình khoa học đã đề cập đến vai trò, quan niệm, nội dung của giátrị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên, với nhiều cách khái quát, song đều chủyếu đề cập đến hai khía cạnh: Các giá trị và sự dịch chuyển của văn hóa dân tộcthiểu số Tây Nguyên trước và sau sự kiện di dân năm 1975 và ảnh hưởng, tácđộng của các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số đến các mặt, các khía cạnh khác củaTây Nguyên Một số công trình đã đề cập đến nhu cầu phát huy giá trị văn hóadân tộc thiểu số Tây Nguyên, như là một tất yếu khách quan Phần lớn các côngtrình đều cho rằng: thực chất vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộcthiểu số Tây Nguyên là quá trình tích cực, tự giác của các chủ thể, với tổng hợpcác cách thức, biện pháp làm gia tăng vai trò, làm cho giá trị văn hóa dân tộcthiểu số được bảo tồn, phát triển và phát huy giá trị trong phát triển bền vữngTây Nguyên Tuy nhiên, các công trình chủ yếu nghiên cứu về vai trò của cácgiá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên và khẳng định cần phát huy giá trị

đó trong bối cảnh hiện nay; hơn nữa, khi nghiên cứu về thực chất lý luận của vấn

đề phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số đối với phát triển bền vững TâyNguyên, chưa có công trình nào đề cập đến một cách hệ thống, sâu sắc

Thứ hai, các công trình khoa học đã đánh giá tương đối sâu sắc, toàn diện một số vấn đề thực tiễn phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay

Các công trình đã khái quát, phân tích một số vấn đề thực tiễn về vai trò vàgiá trị của văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên Thực tiễn về tính tất yếu củaviệc phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số, trong phát triển bền vững và bướcđầu có những nghiên cứu cơ bản về phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số TâyNguyên Những nội dung khái quát, đánh giá tương đối phong phú, tạo nên cái

Trang 24

nhìn tổng thể, toàn diện về tiến trình phát triển và những đặc trưng cơ bản làmnên giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên Đồng thời, phân tích những đặctrưng cơ bản về địa lý, dân cư và hoạt động sinh kế của Tây Nguyên, từ đó chỉ rađược mối liên hệ giữa những yếu tố này đối với văn hóa Hơn thế, khẳng địnhvăn hóa có thể ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ trở lại tất cả các yếu tố đó Đặcbiệt, có một số công trình đã chỉ ra được những nguyên nhân trực tiếp và giántiếp, dẫn tới nguy cơ mai một văn hóa truyền thống của người Tây Nguyên Các công trình đã công bố, đánh giá một cách toàn diện cả mặt tích cực

và hạn chế, nguyên nhân của thực trạng nhận thức vai trò, giá trị văn hóa dântộc thiểu số Tây Nguyên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa.Các công trình đó bước đầu, đã nghiên cứu quá trình phát huy giá trị văn hóadân tộc thiểu số Tây Nguyên, vào một số lĩnh vực cụ thể

Thứ ba, các công trình khoa học đã đề cập đến một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển toàn diện Tây Nguyên

Đã chỉ ra những vấn đề có tính nguyên tắc, cốt lõi và nhiều cách nhìnkhác nhau về giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên,

phát triển bền vững Tây Nguyên, với đặc thù của từng lớp khách thể mà các

đề tài nghiên cứu Nhìn chung, các tác giả chủ yếu đề xuất những giải pháp

như: tăng cường hoạt động giáo dục, tuyên truyền, tổng kết lý luận thực tiễn,xây dựng môi trường, xây dựng thiết chế, cơ chế chính sách thông thoáng,phát huy tính tích cực, năng động của chủ thể… Tuy nhiên, hệ thống giảipháp của các công trình đã nghiên cứu, đề xuất và luận giải cơ bản xuất phát

từ cách tiếp cận ở nội hàm của các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số TâyNguyên, với mỗi lớp khách thể nghiên cứu

1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết

Qua các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, cùng nhữngkết quả đã được khái quát trên đây, luận án cần tập trung giải quyết nhữngvấn đề cơ bản sau:

Trang 25

Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về phát huy giá trị văn hoá dân

tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên Bổ sung và phát triển sâu

sắc hơn cách tiếp cận triết học vấn đề văn hóa dân tộc thiểu số ở khía cạnh giátrị, nội dung, bản chất; đồng thời đưa ra quan niệm về giá trị văn hóa dân tộcthiểu số Tây Nguyên, làm rõ thực chất và nhân tố cơ bản quy định phát huy

giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay Các quan niệm về giá

trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên, cấu trúc, nội hàm, nội dung chủ yếu

có sự luận giải, phân tích khác nhau, nhưng chưa đưa ra quan niệm và kháiquát những giá trị tiêu biểu của văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bềnvững Tây Nguyên Vì vậy, vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục giải quyết, làphải nghiên cứu, luận giải những vấn đề bản chất, những giá trị tiêu biểu, nộidung cốt lõi, xuyên suốt của giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triểnbền vững Tây Nguyên Đây là cơ sở lý luận khoa học, để nhận diện nhữngbiểu hiện về mặt thực tiễn, qua đó định hướng nội dung phát huy và xây dựnggiải pháp phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số, có tính khả thi cao trongphát triển bền vững Tây Nguyên

Hai là, khảo sát, đánh giá tình hình phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay bằng phương pháp mới, góc tiếp cận mới Các công trình khoa học mới chỉ dừng lại luận giải chi

tiết, sâu sắc cơ sở thực tiễn và vai trò của giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trongphát triển Tây Nguyên Vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đánh giá kháiquát, toàn diện việc phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triểnbền vững Tây Nguyên hiện nay Vì vậy, xuất phát từ sự đòi hỏi của thực tiễn

và sự trống vắng của những công trình khoa học, trên cơ sở nền tảng lý luậnthực chất và nhân tố cơ bản quy định quá trình phát huy giá trị văn hóa dântộc thiểu số Tây Nguyên Cần khảo sát, đánh giá thực tiễn phát huy giá trị vănhóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay

Trang 26

Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính khả thi cao nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay.

Do đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu khác nhau, nên các công trìnhchỉ tập trung luận chứng và đưa ra các giải pháp toàn diện, có chiều sâu, mangtính khả thi, đối với việc nhìn nhận vai trò của văn hóa truyền thống với pháttriển bền vững Tây Nguyên Chưa công trình nào đi sâu vào một lát cắt cụ thể,

để xác định giải pháp phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triểnbền vững Tây Nguyên Do đó, từ đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu vàxuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, cần đề xuất những giải pháp có tính đặc thù,

có ý nghĩa thực tiễn cao, mang định hướng phương pháp luận dưới góc độ triếthọc

Trang 27

Kết luận chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát huy giá trị văn hóa dân tộcthiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay có ý nghĩa quantrọng với đề tài luận án Các công trình đã chỉ ra cái nhìn toàn cảnh về vănhóa, văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên, giá trị, giá trị văn hóa dân tộcthiểu số Tây Nguyên Các nhà khoa học khi nghiên cứu về văn hóa dân tộcthiểu số Tây Nguyên đều cơ bản cho rằng, Tây Nguyên là một vùng văn hóaphong phú, huyền bí với sự chung sống hài hòa của nhiều dân tộc, tôn giáo,nhưng nền văn hóa đó đang đứng trước nguy cơ biến đổi và mai một Đây lànhững nội dung quan trọng sẽ được tác giả kế thừa và phát triển sâu sắc hơn

trong quá trình hoàn thành luận án Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ, phạm

vi nghiên cứu của mỗi công trình không giống nhau mà các tác giả chỉ khaithác về văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên, xu thế phát triển và những tácđộng ngoại cảnh đối với văn hóa Tây Nguyên Cho đến nay, dưới góc độtriết học vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, bài bản và hoàn

chỉnh về “Phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền

vững Tây Nguyên hiện nay” thành một công trình cụ thể

Góc độ tiếp cận của luận án là bằng phương pháp luận triết học: phântích thực chất phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số trong phát triển bềnvững Tây Nguyên Với các đối tượng là phát huy giá trị đời sống sản xuấtsinh kế, đời sống sinh hoạt tinh thần, phong tục, tập quán của người dân tộcthiểu số vào trong thực tiễn phát triển bền vững Tây Nguyên Trên cơ sở lýluận và đánh giá thực trạng, chỉ ra những yếu tố quy định và giải pháp pháthuy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyênmột cách hoàn chỉnh

Trang 28

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC

THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TÂY NGUYÊN

2.1 Quan niệm phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số trong phát triển bền vững Tây Nguyên

2.1.1 Quan niệm về giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên và phát triển bền vững ở Tây Nguyên

* Dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Tây Nguyên là một vùng cao nguyên rộng lớn, gồm năm tỉnh của ViệtNam: Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Lâm Đồng, với tổng diện tích54.508,3 km² [phụ lục 2k] Có hệ sinh thái rừng phong phú, đa dạng, với trữlượng tài nguyên, sản vật phong phú Tây Nguyên có lịch sử phát triển lâu dàitrải suốt hàng trăm năm từ thời tiền nhà nước, tiền giai cấp đến nay Xã hội TâyNguyên duy trì sự ổn định trong thiết chế buôn làng tự quản, dựa vào luật tục vàngười có uy tín trong cộng đồng là chủ yếu Người Tây Nguyên cổ truyền có nềnkinh tế dựa vào thiên nhiên, tự cấp tự túc là chính Với nền văn hoá nổi trội là vănhoá rừng, văn hoá làng và văn hoá tộc người Vùng là địa bàn chung sống củangười dân tộc thiểu số tại chỗ, người Kinh và người dân tộc thiểu số mới đến.Trong đó, người dân tộc thiểu số tại chỗ là nhóm người sinh sống lâu đời nhất ởđây

Hiện nay tại Tây Nguyên có 47 dân tộc anh em cùng sinh sống [17],trong đó có dân tộc Kinh và 46 dân tộc thiểu số Cộng đồng các dân tộc sinh

sống lâu đời nhất ở đây, gọi là dân tộc thiểu số tại chỗ (luận án sẽ thống nhất

gọi là dân tộc thiểu số) Dân tộc thiểu số tại chỗ mà đề tài luận án nghiên cứu

cũng chính là cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ của Tây Nguyên

Dân tộc thiểu số Tây Nguyên là cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ được hình thành trong lịch sử của Tây

Trang 29

Nguyên, họ chính là chủ thể sáng tạo ra nền văn hoá phong phú đa dạng và mang sắc thái của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên gồm 12 tộc ngườichiếm 26,58% tổng dân số [69, tr 147], bao gồm: Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, RaGlai, Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Rơ Măm, Mạ, M’Nông, Cơ Ho và Brâu(trước đây thường gọi là người Thượng) Đây là cộng đồng dân cư lâu đờinhất ở Tây Nguyên, sinh sống dọc các sườn núi, rải rác khắp 5 tỉnh của vùng.Trong suốt quá trình sinh tồn và phát triển, họ đã sáng tạo ra nền văn hoá độcđáo, đa sắc màu của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Trước sự dịch chuyển cơ cấu dân cư, người dân tộc thiểu số tại chỗ cónhiều thay đổi về địa bàn cư trú Có một bộ phận sinh sống ở thị xã, thị trấn,nhưng đa số sống ở vùng ven, và sống bằng nghề nông là chủ yếu Một bộphận khác di tản vào những vùng núi cao, vùng xa, quy tụ nhau lại, duy trì tậptục cũ Cũng có những người sau khi bán hoặc nhường đất cho những ngườimới đến, không có nghề nghiệp sinh sống ổn định, lại quay lại làm thuê trênchính mảnh đất trước đây là của mình Có thể nói, cùng với làn sóng di cư ồ

ạt từ các vùng miền trên cả nước, là sự gia tăng đột biến cơ cấu dân cư vàthành phần dân tộc tôn giáo ở Tây Nguyên Người đồng bào dân tộc thiểu sốtại chỗ ở Tây Nguyên đang trở thành thiểu số ngay trên chính mảnh đất chaông mình, đặt ra nhiều vấn đề về biến đổi văn hóa và sinh kế

* Văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Đến nay đã có rất nhiều quan niệm khi nghiên cứu về văn hoá, tuỳ vàotừng góc độ tiếp cận, từng ngành nghề nghiên cứu, mà có những quan điểmkhác nhau khi nghiên cứu về nội dung có nội hàm rất rộng lớn này

Tiếp cận dưới góc độ giá trị, thì "văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất

và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội” [142, tr 368-369].

Trang 30

Quan niệm này nhấn mạnh văn hoá chính là những giá trị vật chất và tinh

thần được hình thành thông qua hoạt động sống của con người

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc

sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày

về ăn mặc ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh

đó tức là văn hoá” [51, tr 458] Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá khá sâu

sắc và toàn diện Người đã chỉ ra văn hoá là sản phẩm của hoạt động sáng tạo củacon người, hoạt động sáng tạo đó tạo nên những giá trị vật chất và giá trị tinh thần.Trong Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa tại Vơ-ni-dơ (I-ta-li-a), năm 1970, nguyên Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, ông FedericoMayor đã đưa ra một khái niệm về văn hóa, được cộng đồng quốc tế công

nhận Đó là: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các

cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động

sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (tác giả nhấn

mạnh) Đây là một quan niệm rất rộng và bao quát, khi xem xét văn hoá ở ba

yếu tố cốt lõi là: thứ nhất, nhấn mạnh văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người trong suốt chiều dài lịch sử, từ quá khứ đến hiện tại; thứ hai, nhấn mạnh hệ thống các giá trị do con người sáng tạo ra Đó là những giá trị vật

chất và giá trị tinh thần Điều này cũng tách văn hoá ra khỏi những gì phản

giá trị, không nhân văn và không phụng sự con người.; thứ ba, nhấn mạnh bản sắc riêng của dân tộc (đặc tính riêng của mỗi dân tộc) Văn hoá xét đến cùng

chính là những gì riêng có, những đặc trưng không thể trộn lẫn Chính nhờ cóvăn hoá, mà có thể phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia nàyvới quốc gia khác Hay nói cách khác, văn hoá làm nên bản sắc dân tộc

Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng tựu chung lại, văn hoá lànhững gì liên quan đến con người, do con người sáng tạo ra suốt tiến trình

Trang 31

lịch sử Khẳng định ở đâu có hoạt động sáng tạo của con người thì ở đó sẽhình thành nên các giá trị văn hoá

Trên cơ sở đó, có thể quan niệm: Văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên là

tổng thể các hoạt động sáng tạo của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ trong suốt tiến trình lịch sử, hình thành nên một hệ giá trị vật chất và tinh thần mang bản sắc của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn Tây Nguyên

Văn hoá dân tộc thiếu số Tây Nguyên theo cách định nghĩa này, là tập

hợp các hoạt động sáng tạo của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên Hoạt động sáng tạo đó là cơ sở của hệ thống giá trị mang bản sắc của văn hoá dân tộc thiểu số Tây Nguyên Bao gồm các hoạt động sáng tạo cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hoạt động sáng tạo trong sản xuất và tổ chức đời sống vật chất gắn liền với việc khai thác và giữ gìn rừng trên địa bàn Tây Nguyên

Sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên chủ yếu là canh tácnương rẫy, trồng lúa nương và các loại hoa màu cung cấp cho đời sống tự cấp

tự túc Việc canh tác của họ vừa khai thác vừa giữ gìn được rừng Tại mô hìnhsản xuất này, người đồng bào thực hiện khai hoang, mở rộng nương rẫy trongnhững khu rừng được cộng đồng cho phép sản xuất Có một đặc trưng riêng làphương thức sản xuất hưu canh luân khoảnh, vừa khai thác vừa giữ gìn rừng.Trong quá trình khai thác, nếu thấy đất có dấu hiệu bạc màu, thì thu hoạchxong người đồng bào sẽ dừng lại, chuyển sang canh tác ở thửa rừng khác, đểcho thửa rừng đã bạc màu khoảng thời gian từ năm đến mười năm để tự phụchồi Nhờ thế, dù khai thác suốt cả hàng trăm năm nay nhưng người TâyNguyên vẫn giữ được gần như nguyên trạng sự trù phú của rừng

Thứ hai, hoạt động sáng tạo ra các thiết chế buôn làng tự quản, tổ chức xã hội cộng đồng mang đặc trưng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Trải suốt một thời kỳ lịch sử lâu dài, xã hội truyền thống của người Tây

Nguyên được vận hành bằng luật tục và thiết chế buôn làng tự quản qua toà án

phong tục Luật tục là một sáng tạo độc đáo của người Tây Nguyên, tất cả các

Trang 32

vấn đề của đời sống xã hội được nhắc đến với từng điều cấm cụ thể Từ ngườiphụ nữ, người già, trẻ em, người yếu thế trong xã hội đều được bảo vệ, phòngngừa các rủi ro Mỗi người đều bắt buộc phải có trách nhiệm với cộng đồng, vớigia đình mình, với những người đã chết và thần linh Không được xâm phạmthân thể, tài sản của người khác, không được xúc phạm thần linh và những vùngđất cấm như rừng thiêng, rừng mộ địa, rừng đầu nguồn Cả những người có vai

vế, có tiếng nói trong cộng đồng, như già làng, trưởng bản cũng không đượcnằm trong “vùng an toàn”, nếu vi phạm điều cấm trong luật tục sẽ bị xử phạtcông khai tại toà án phong tục Nhờ vậy, xã hội Tây Nguyên trải suốt hàng thế

kỷ phát triển, dù chưa có nhà nước, chưa có pháp luật chính thức nhưng vẫn cóthể vận hành trong trật tự ổn định

Thứ ba, hoạt động sáng tạo trong nghệ thuật và tổ chức đời sống tinh

thần với những hình thức văn hoá nghệ thuật đặc sắc của dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên gắnvới rất nhiều loại hình nghệ thuật dân gian phong phú, tiêu biểu như cồngchiêng, đàn đá, sử thi…

Không gian văn hoá cồng chiêng là một di sản văn hóa đồ sộ của người

dân tộc thiểu số Tây Nguyên Cồng chiêng không tồn tại đơn thuần như mộtnhạc khí, hơn thế nó còn xuất hiện trong hầu khắp các nghi lễ, lễ hội quantrọng của người Tây Nguyên Từ lễ mùa vụ đến lễ vòng đời, từ lúc sinh ra chođến lúc chết đi, các hoạt động sống của họ đều có sự tham gia của cồngchiêng, dưới sự chở che của rừng già Trong sâu thẳm nền văn hóa đầy bí ẩnnày, gần như toàn bộ các hoạt động sống của họ đều âm vang những thanh âmtrầm hùng của cồng chiêng Bộ cồng chiêng được người đồng bào lưu giữ nhưmột tài sản Mỗi bộ phận của bộ cồng chiêng đều được đúc thủ công, tinhchỉnh, thẩm âm cẩn thận, dù thế, các thanh âm của cồng chiêng đều phản ánhđặc trưng riêng của từng dân tộc Người dân tộc thiểu số Tây Nguyên chỉ cần

Trang 33

nghe tiếng cồng chiêng, là biết của dân tộc nào, biết rõ trong tiếng chiêng đómuốn chuyển tải thông điệp gì

Đàn đá là một sáng tạo độc đáo của người Tây Nguyên trong quá trình

chinh phục tự nhiên, nó phản ánh đặc trưng sản xuất nguyên thủy cổ xưa tạivùng đất này Thoạt nhìn, đàn đá được chế tác thô sơ, nhưng lại phản ánhđược sự tinh tế và năng lực thẩm âm của những nghệ nhân, với kích thướcdài, ngắn, dày, mỏng khác nhau, những thanh đá cũng mang lại những âmthanh khác biệt hoàn toàn Khi âm thanh của đàn đá cất lên, qua mỗi quãng

âm là những thanh âm đơn sơ, thuần khiết nhất, là tiếng thánh thót của âmvực cao, là như tiếng của ngàn xa vọng về của âm vực trầm Ban đầu, đàn đáđược sáng tạo để phục vụ cho quá trình sản xuất, đuổi chim thú, bảo vệ mùamàng, về sau nó còn được sử dụng tại các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, cácnghi lễ thờ cúng của người Tây Nguyên

Sử thi Tây Nguyên gắn liền với những tên tuổi thần thoại, những người

anh hùng có công lớn với con người nơi đây như Đăm San, Đăm Di,Dyông… mà đồng bào Tây Nguyên kính trọng, tôn sùng Sử thi Tây Nguyênchuyển tải những trang sử sống động từ thủa xa xưa của miền đất này, hơn thế

nó được lưu giữ bằng hình thức truyền khẩu từ đời này sang đời khác Cókhoảng hơn hai trăm pho sử thi được sưu tầm, lưu giữ, đây là một nguồn tưliệu phong phú để nghiên cứu lịch sử, văn học dân gian và văn hóa TâyNguyên, nhất là trải suốt một thời kỳ dài, nhiều dân tộc chưa có chữ viết,không ghi chép sử sách Dù có một dung lượng đồ sộ nhưng sử thi TâyNguyên lại đặc biệt dễ nhớ do được kể bằng lối văn vần, điều này là một yếu

tố đảm bảo việc lưu truyền sử sách của con người nơi đây Hằng đêm, bênbếp lửa của nhà Rông, nhiều thế hệ người đồng bào ngồi quây quần bên nhau,nghe già làng hoặc nghệ nhân hát Khan kể về những áng sử thi anh hùng Khiđêm đã tàn, buổi kể chuyện được khép lại để lại những háo hức, tò mò chongười nghe vào những đêm sau đó Trong những lần đó, không gian, bối cảnh

Trang 34

của những trang sử lần lượt được tái hiện một cách sinh động, điều này tướitắm vào lớp trẻ tình yêu, niềm tự hào về cha ông mình, đồng thời sẽ lưu giữlại những giá trị đó tiếp tục truyền lại cho đời sau Bằng lối kể chuyện độcđáo, những pho sử đặc biệt của Tây Nguyên tạo nên niềm hứng khởi, thíchthú, tò mò cho thế hệ trẻ Có lẽ đây là điều mà giới học giả cần phải kế thừa

nếu muốn giáo dục truyền thống, để không biến những giá trị thiêng liêng

trong lịch sử, văn hóa dân gian thành những thứ khô khan bị chính hậu nhâncủa mình chối bỏ

Thứ tư, hoạt động sáng tạo làm nên một đời sống tâm linh và tín ngưỡng mang bản sắc độc đáo của các cộng đồng người dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội, ở Tây Nguyên ra đời trên cơ sở

phương thức canh tác nương rẫy và tín ngưỡng vạn vật hữu linh, dẫn tới các

lễ hội ở Tây Nguyên nặng về tính lễ hơn tính hội Các nghi lễ gắn liền vớivòng đời và lịch mùa vụ của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên Từ lúc chàođời cho đến lúc chết đi, đều gắn liền với các nghi lễ thiêng liêng Từ lễ thổi tai

để đón chào sự ra đời của một đứa bé, đến lễ cúng trưởng thành, cúng sứckhoẻ, lễ thành hôn, lễ tang, lễ bỏ mả Mỗi nghi lễ đều được chăm chút cẩnthận, có người đứng ra làm chủ lễ để giao tiếp với thần linh, cầu mong nhữngđiều tốt đẹp nhất đến cho người được làm lễ Điều này thể hiện sự trân trọngcon người, trân trọng cuộc sống của người Tây Nguyên

Bên cạnh các nghi lễ cúng vòng đời, là một hệ thống nghi lễ, lễ hộiquanh năm theo lịch mùa vụ ở các đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.Như lễ cúng bến nước, lễ cúng mừng lúa mới, lễ đâm trâu, lễ cúng thần lúa, lễcúng giống lúa, lễ cúng thần cây… Điểu này thể hiện tín ngưỡng phong phú,vạn vật hữu linh của người đồng bào Các đồ vật trong lễ cúng đều là sản vật,vật nuôi gắn liền với đời sống của họ

Từ những hoạt động sáng tạo trong sản xuất trong đời sống vật chất,trong thiết chế buôn làng tự quản, trong nghệ thuật và tổ chức đời sống tinh

Trang 35

thần, trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng Các cộng đồng dân tộc thiểu số

đã hình thành nên các giá trị văn hoá dân tộc thiểu số Tây Nguyên

* Giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về giá trị văn hoá,như: giá trị văn hoá chính là tổng thể các giá trị bao trùm, phổ biến nhất của

xã hội, và của con người trong xã hội đó, là những phẩm chất đặc trưng, tiêu

biểu nhất của văn hoá Dù tiếp cận bằng nhiều cách, nhưng tựu chung lại, giá

trị văn hoá phổ quát nhất của loài người là chân, thiện, mỹ Chân được hiểu

là những cái gì đúng đắn, bền vững, đã được kiểm nghiệm trong tri thức, lý

luận và thực tiễn đời sống con người Thiện là những điều tốt đẹp như đạo

đức, lẽ phải của con người, vì con người, phục vụ cho sự sinh tồn và phát

triển của con người Mỹ chính là cái đẹp Nhưng không chỉ dừng lại ở cái đẹp

theo cách hiểu thông thường, mà còn là những điều lớn lao, vĩ đại, trác tuyệt,

lý tưởng, nhân văn đẹp đẽ trong đời sống xã hội Giá trị văn hoá chứa đựng tất

cả các thành tựu vật chất và tinh thần của văn hoá, thông qua giá trị văn hoá

có thể đo lường được trình độ phát triển nhất định của xã hội Giá trị văn hoáđược con người sáng tạo ra trong lịch sử phát triển lâu dài của mình

Đối lập với giá trị văn hoá thì còn có cả những yếu tố phản giá trị Đó là nhữngyếu tố đi ngược lại với lẽ sinh tồn, không phụng sự cho những nhu cầu chân chính của

xã hội loài người Là những điều không đúng đắn, không hướng thiện, không làm chocon người sống tốt hơn, có ích hơn trong tiến trình phát triển của mình

Như vậy, giá trị văn hoá dân tộc thiểu số Tây Nguyên là cụ thể hoá các giátrị chân, thiện, mỹ phổ quát nhất trong đời sống sáng tạo của người Tây Nguyên

Từ đó có thể đi đến quan niệm: Giá trị văn hoá dân tộc thiểu số Tây Nguyên là

những cái đúng, cái tốt, cái đẹp mang sắc thái của cộng đồng các dân tộc thiểu

số tại chỗ, phản ánh hoạt động sáng tạo của người dân tộc thiểu số, tạo nên nền tảng tinh thần cho sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn Tây Nguyên trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Trang 36

Giá trị văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên là những nội dung cơ bảnmang tính chuẩn mực, độc đáo, cốt lõi của văn hóa dân tộc thiểu số TâyNguyên Đó là kết tinh của hoạt động sáng tạo trong suốt quá trình sinh tồn vàphát triển của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Giá trị đó mang những đặctrưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, khai thác và ứng xử hài hoà với môi trường tự nhiên, có sự thích ứng cao với các điều kiện, hoàn cảnh sống, biểu hiện qua tâm thức rừng

và phương thức canh tác vừa khai thác vừa giữ gìn được rừng của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Tâm thức rừng là yếu tố bao trùm, xuyên suốt trong văn hoá của ngườidân tộc thiểu số Tây Nguyên Rừng một mặt là không gian sinh tồn chủ yếucủa người Tây Nguyên, cũng là gốc rễ, linh hồn và là trung tâm của văn hóaTây Nguyên Chính vì điều đó, người đồng bào trân quý từng tấc đất, tấc rừng,nâng niu từng gốc cây, từng hòn đá, từng dòng nước chảy từ trong mạch rừng

đó Suốt tiến trình lịch sử của mình, người Tây Nguyên vừa khai thác vừa dungdưỡng, tái tạo rừng liên tục, nên gần như vẫn giữ được rừng nguyên trạng với

độ bao phủ của hệ sinh thái động thực vật phong phú, hiếm có Bên cạnh đó,phương thức canh tác hưu canh luân khoảnh giúp người đồng bào có thể giữđược rừng, ngăn chặn tình trạng rừng bị thoái hoá, bạc màu Nhờ đó, suốt cảnhiều thế kỷ chung sống, người Tây Nguyên vẫn giữ được rừng nguyên vẹn

Sự thay đổi, dịch chuyển thường xuyên khi luân khoảnh đó, mang lại chongười đồng bào sự khoáng đạt, dễ thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh sống Song song với những khoảnh rừng phục vụ cho sinh kế, người đồng bàoTây Nguyên còn có những khu rừng chuyên biệt không ai được đụng đến trongmọi hoàn cảnh, đó là khu rừng phục vụ cho đời sống tâm linh, như rừng thiêng,rừng cấm, khu rừng mộ địa và rừng đầu nguồn Như vậy, có thể khẳng định,rừng một mặt đảm bảo các yếu tố vật chất nuôi sống con người Tây Nguyên,mặt khác giúp nuôi dưỡng, bồi đắp đời sống tinh thần của họ Điều đó nói lênrằng, với người Tây Nguyên, việc gìn giữ rừng không chỉ đơn thuần là gìn giữ

Trang 37

môi trường sống, đó còn là bảo vệ cội nguồn của văn hóa Tây Nguyên, để cóthể phát triển bền vững.

Thứ hai, điều tiết các quan hệ xã hội trong sự ổn định hài hoà, biểu hiện

qua thiết chế buôn làng tự quản với hệ thống luật tục và toà án phong tục của tộc người dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Ở thời kỳ tiền nhà nước, tiền giai cấp, trật tự xã hội Tây Nguyên được vận

hành ổn định dựa vào hệ thống luật tục và tòa án phong tục Luật tục phản ánh

mọi khía cạnh của đời sống cộng đồng, quan tâm đến đạo đức, luân lý, sự côngbằng cho tất cả các đối tượng trong xã hội, từ rất sớm đã xuất hiện một thiết chế

xã hội có tầm nhìn phổ quát đáng kinh ngạc Luật tục được lưu giữ bằng hìnhthức truyền khẩu, ở Ê Đê thì chủ đất (Pô Lăn) và chủ nước (Pô Pin Êa) là người

có trách nhiệm giữ gìn luật tục Khi trong cộng đồng có người vi phạm các điềucấm kị, pô phat kđi sẽ trực tiếp dùng hệ thống luật tục của cộng đồng mình, đứng

ra xử kiện, dưới sự chứng kiến và tham gia của cả buôn làng Người thua kiện sẽchịu các hình phạt của cộng đồng tùy theo các mức nặng nhẹ, vật nộp phạt sẽđược đem ra mời cả buôn làng, để cả làng cùng chứng kiến đã xử phạt thànhcông Sau khi xử phạt, mọi thù oán được hóa giải, không còn thù hằn, hiềmkhích, họ lại tiếp tục chung sống hòa thuận với nhau Nhờ đó, xã hội xã hội TâyNguyên được duy trì ổn định suốt chiều dài lịch sử

Thứ ba, tính phong phú, đa dạng, độc đáo, sáng tạo, biểu hiện qua các hoạt động nghệ thuật dân gian đa sắc màu và tay nghề thủ công khéo léo của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Tây Nguyên có một nền nghệ thuật dân gian độc đáo, phong phú vềchủng loại, phản ánh đầy đủ đời sống tinh thần và những sáng tạo độc đáo củangười đồng bào Nghệ thuật dân gian của người Tây Nguyên đều dung dị,nguyên sơ, đơn thuần, dễ chạm đến mọi ngóc ngách xúc cảm của người đónnhận, như những tiếng vọng từ chính những chất liệu mộc mạc tại cuộc sống

Trang 38

của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên Biểu hiện trong sử thi, cồng chiêng,đàn đá, nghề thủ công truyền thống, nhà mồ và tượng nhà mồ…

Với nghệ thuật diễn xướng mang đặc trưng của văn hóa dân gian truyềnkhẩu, sử thi Tây Nguyên được đánh giá là một kho tàng vô cùng đồ sộ, vàoloại bậc nhất khu vực và thế giới Đây là những nét phác thảo về thủa sơ khaicủa loài người ở Tây Nguyên, phản ánh những đặc trưng cơ bản của các sinhhoạt đời thường, cùng đời sống tinh thần của họ, qua đó chuyển tải ước mơ,khát vọng về một cuộc sống lý tưởng, về các thiên anh hùng ca chiến thắngcường bạo, đảm bảo cuộc sống ấm no hạnh phúc cho buôn làng Tuy nhiênmới chỉ dừng lại ở cách phản ánh chất phác, còn nặng về tư duy huyền thoạikhi giải thích về nguồn gốc hình thành của thế giới

Cồng chiêng được sử dụng trong hầu hết các nghi lễ, lễ hội ở TâyNguyên, như một ngôn ngữ đặc biệt giúp con người có thể giao tiếp được vớithần linh Qua ngôn ngữ đó, những khát vọng về một cuộc sống lý tưởng, ấm

no, hạnh phúc được người dân tộc thiểu số gửi đến thần linh Trong khônggian núi rừng, nhà rông, nhà dài, nương rẫy, những thanh âm của cồng chiêngtrở thành một đặc trưng, phản ánh đầy đủ đời sống tinh thần của người dântộc thiểu số Tây Nguyên Đồng thời, cồng chiêng còn xuất hiện trong các sinhhoạt văn hóa cộng đồng để thỏa mãn nhu cầu văn nghệ, giải trí của người dân.Cồng chiêng gắn liền với nền sản xuất nương rẫy, thể hiện được sự thuần hậuchất phác nhưng đầy hào sảng, quảng đại trong tính cách của người TâyNguyên Tuy nhiên, ngày nay không gian để diễn xướng cồng chiêng đã thayđổi nhiều, không còn thuần khiết như trước

Tính sáng tạo độc đáo của nhạc cụ đàn đá được xem như một trong

những loại hình nhạc cụ cổ xưa nhất của con người, là một nhạc cụ độc nhất

vô nhị ở Việt Nam Ra đời từ thủa sơ khai, nhưng đàn đá đạt được trình độgọt đẽo trau chuốt, tỉ mỉ, thẩm âm tinh tế, phản ánh được sự khéo léo của đôi

Trang 39

tay nghệ nhân người dân tộc thiểu số Tây Nguyên từ hàng trăm năm trước.Thanh âm của đàn đá chân thật, như tiếng đại ngàn, tiếng suối chảy Đàn đáđược xem là một khí cụ thiêng liêng, là thanh âm nối liền giữa quá khứ vàhiện tại, giữa người sống và người chết, giữa con người trần tục với đấng thầnlinh Đàn đá là một loại hình âm nhạc thuần khiết, nảy sinh trong quá trìnhsinh tồn của con người, phản ánh trình độ sáng tạo, chinh phục tự nhiên củacon người Chính vì lẽ đó, nhạc cụ này như chính là linh hồn của con ngườiTây Nguyên, trong trẻo, thuần khiết và đầy nội lực Đây là một nguồn tư liệuhiếm hoi để nghiên cứu về đời sống sản xuất, sinh hoạt tinh thần của conngười từ thời nguyên thủy, cũng là hiện thân của một nét văn hóa đặc trưngđầy bí ẩn, nhiều trầm tích của Tây Nguyên Nhạc cụ này sau đó đượcUNESCO chọn là một trong các nhạc cụ độc đáo thuộc không gian văn hóaCồng chiêng Tây Nguyên, là kiệt tác truyền khẩu, phi vật thể của nhân loại.

Sự sáng tạo của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên còn được biểu

hiện trong những độc đáo của nghề thủ công truyền thống của họ Đó là

nghề dệt thổ cẩm, đan lát, rèn, đúc nhẫn bạc độc đáo của người đồng bàodân tộc thiểu số Tây Nguyên Qua khảo sát các di chỉ khảo cổ, các nhàkhoa học thu được một số lượng phong phú các nông cụ trong đời sống sảnxuất Đó là một số công cụ bằng đồ kim khí, đồ đồng, còn lại phần lớn làbằng đá, xương thú, ngà voi Với nhiều khuôn đúc, hình mẫu khác nhau,phản ánh sự đa dạng trong phương thức sản xuất của đồng bào dân tộcthiểu số Tây Nguyên Đây là một kho tàng đồ sộ để nghiên cứu về xã hộithời nguyên thủy, về những dấu tích đã bị mai một ở nhiều nơi khác

Một nét đặc sắc trong những tạo tác thủ công của người đồng bào dân

tộc thiểu số Tây Nguyên là nhà mồ và tượng nhà mồ Nhà mồ là nơi trú ngụ

của người đã mất, họ sẽ được ở đây với đầy đủ vật dụng khi còn sống cho đếnkhi mãn tang, để trở về với thần linh nơi rừng cấm Nhà mồ và tượng nhà mồ

Trang 40

thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của người Tây Nguyên Tượngnhà mồ không nặng về tả thực, mà là những nét chạm khắc tượng trưng môphỏng, giúp phát huy trí tưởng tượng cho người xem, những tạo tác đó gầngũi với nghệ thuật thô sơ thời nguyên thủy, đó là nền nghệ thuật gối đầu lênthực tiễn, đơn sơ nhưng lâu bền Hệ thống tượng nhà mồ rất phong phú, ngoàinhững bức tượng lặng lẽ ôm đầu đầy bí ẩn, còn có những bức mô phỏngngười phụ nữ đang mang bầu, cảnh sinh hoạt vợ chồng Điều đó phản ánh tínngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa, thể hiện ước mơ sinh sôi nảy nở,

kế thế đời đời của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Thứ tư, tính cố kết cộng đồng, đề cao buôn làng trong hoạt động tín ngưỡng, lễ hội phong phú và trong hệ thống kiến trúc của người dân tộc thiểu

số Tây Nguyên

Tính cố kết cộng đồng là một giá trị của văn hoá dân tộc thiểu số Tây

Nguyên biểu đạt qua hoạt động tín ngưỡng, lễ hội phong phú Cộng đồngbuôn làng có sức ảnh hưởng rất lớn đối với tâm thức của người Tây Nguyên, toàn

bộ quy định của cộng đồng, chính là chuẩn mực để tất cả thành viên hành động,ứng xử “Nên cõng ôm nhau/ Đừng xẻ đôi chia lìa/ Nên xích lại gần nhau, đùmbọc lại nhau/ Đừng đánh vào đầu, đừng lao bằng chày/ Đừng làm khổ cho nhau”[105, tr.392-393] Ở Tây Nguyên, nổi lên vai trò của cộng đồng, của tập thể, thaythế cho vai trò của mỗi cá nhân Kể cả người đứng đầu buôn làng, cũng chỉ đúngnghĩa là người đại diện cho tiếng nói của buôn làng Người đó sẽ nhận được sựtôn trọng tuyệt đối, nếu tuân thủ các quy định, thực hiện hết các trách nhiệm vàquyền hạn của mình đối với cộng đồng Nhưng chỉ cần người này vi phạm cácđiều cấm kỵ, làm phương hại đến niềm tin của cộng đồng, sẽ có những điều luật

hà khắc để xử phạt nghiêm khắc “Ông ta là cây đa đầu suối, cây sung đầu làng, làngười trông nom anh em, con cháu trong làng/ Thế mà ông ta lấn át, chà đạp, ápbức họ/… Vì vậy là có việc phải đưa ông ta ra xét xử” [120, tr 262]

Bên cạnh đó, hoạt động nghi lễ, lễ hội diễn ra quanh năm, trải suốt vòngđời của người Tây Nguyên Đó là nơi cả buôn làng cùng chung tay tổ chức, thể

Ngày đăng: 22/06/2023, 16:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2013) Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2013
2. Anne, Dehauteclocque (2004), Người Êđê một xã hội mẫu quyền, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Êđê một xã hội mẫu quyền
Tác giả: Anne, Dehauteclocque
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
3. Ban chấp hành Trung ương (2016), Chỉ thị 05-CT/TW Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, ngày 15/5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 05-CT/TW Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương
Năm: 2016
4. Ban chỉ đạo Tây Nguyên (2016), Giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên với phát triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên với phát triển bền vững
Tác giả: Ban chỉ đạo Tây Nguyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2016
5. “Bản Thỉnh nguyện của Đại hội các sắc tộc thiểu số toàn quốc về quy chế riêng biệt cho đồng bào thiểu số”, Đại hội các sắc tộc Thiểu số Việt Nam tại Pleiku ngày 25 và 26/6/1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản Thỉnh nguyện của Đại hội các sắc tộc thiểu số toàn quốc về quy chếriêng biệt cho đồng bào thiểu số”, "Đại hội các sắc tộc Thiểu số ViệtNam tại Pleiku
6. Vũ Văn Bách (2019), Phát triển hệ giá trị văn hóa của thanh niên quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ giá trị văn hóa của thanh niên quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới
Tác giả: Vũ Văn Bách
Nhà XB: Học viện Chính trị
Năm: 2019
7. Hoàng Chí Bảo (2010), “Thanh niên với việc chọn nghề để lập thân, lập nghiệp”, Tạp chí Cộng sản, số (809), tr. 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên với việc chọn nghề để lập thân, lập nghiệp
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2010
8. Báo Nhân dân (2008), Sử thi Tây Nguyên trước nguy cơ thất truyền, ngày 17/3/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi Tây Nguyên trước nguy cơ thất truyền
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2008
9. Báo Biên phòng (2012), Tà đạo Hà Mòn và những hệ luỵ, ngày 03/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tà đạo Hà Mòn và những hệ luỵ
Nhà XB: Báo Biên phòng
Năm: 2012
9. Nguyễn Duy Bắc (Chủ biên), (2008), Sự biến đổi của các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi của các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2008
10. Phan Văn Bé (1993), Tây Nguyên sử lược, tập 1 (từ thời nguyên thuỷ đến Cách mạng tháng Tám 1945), Hội giáo dục Lịch sử (thuộc Hội Sử học Việt Nam), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Nguyên sử lược, tập 1 (từ thời nguyên thuỷ đến Cách mạng tháng Tám 1945)
Tác giả: Phan Văn Bé
Nhà XB: Hội giáo dục Lịch sử (thuộc Hội Sử học Việt Nam)
Năm: 1993
11. Trương Bi, Kna Y Wơn (2002), Sử thi Dăm Tiông, Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi Dăm Tiông
Tác giả: Trương Bi, Kna Y Wơn
Nhà XB: Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk
Năm: 2002
12. Trương Bi, Y Wơn (2003), Đăm Trao Đăm Rao, Sử thi Êđê Mdhur, Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đăm Trao Đăm Rao, Sử thi Êđê Mdhur
Tác giả: Trương Bi, Y Wơn
Nhà XB: Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk
Năm: 2003
13. Trương Bi, Bùi Minh Vũ, Điểu Kâu (2003), Tiăng Tăch Krăk (chàng Tiăng bán tượng gỗ), Sử thi M’nông, Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiăng Tăch Krăk (chàng Tiăng bán tượng gỗ)
Tác giả: Trương Bi, Bùi Minh Vũ, Điểu Kâu
Nhà XB: Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk
Năm: 2003
14. Trương Bi (Chủ biên), Đỗ Hồng Kỳ, Nguyễn Văn Kha (2003), Văn học dân gian Êđê - Mnông, Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Êđê - Mnông
Tác giả: Trương Bi, Đỗ Hồng Kỳ, Nguyễn Văn Kha
Nhà XB: Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk
Năm: 2003
15. Trương Bi (2011), Lễ hội truyền thống dân tộc Ê Đê, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống dân tộc Ê Đê
Tác giả: Trương Bi
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2011
16. Trương Bi (2019), Bảo tồn giá trị không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, Báo Đắk Lắk, ngày 14/02/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn giá trị không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên
Tác giả: Trương Bi
Nhà XB: Báo Đắk Lắk
Năm: 2019
17. Uông Thái Biểu (2019), Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên, Báo Nhân dân, ngày 30/4/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên
Tác giả: Uông Thái Biểu
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2019
18. Trần Văn Bính (Chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
108. Quốc hội (2014), Luật số: 55/2014/QH13 về Bảo vệ môi trường, (https://thuvienphapluat.vn/van-ban/tai-nguyen-moi-truong/Luat-bao-ve-moi-truong-2014-238636.aspx, truy cập ngày 12/9/2019) Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w