1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu hỏi và đáp án môn thi viết, kỳ thi tuyển chức danh kiểm sát viên trung cấp

114 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu Hỏi Và Đáp Án Môn Thi Viết, Kỳ Thi Tuyển Chức Danh Kiểm Sát Viên Trung Cấp
Tác giả Các Đơn Vị Trong Ngành KSND
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Dân
Chuyên ngành Kiểm Sát Viên Trung Cấp
Thể loại tài liệu
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 878 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ghi rõ trong bảnyêu cầu về những vấn đề trên, nhằm bảo đảm cho việc đối chất lại hoặc đối chất bổ sung đạt kết quả, chất lượng02 điểm Trong trường hợp cần thiết mà Kiểm sát viên thấ

Trang 1

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN THI VIẾT, KỲ THI TUYỂN CHỨC DANH KIỂM SÁT VIÊN TRUNG CẤP

(Do các đơn vị trong ngành KSND biên soạn)

Chú thích: LTC = Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014; HS = Hình sự, Tố tụng hình sự; DS = Dân sự, Tố tụng dân sự;

điều tra (20 điểm)

Hoạt động đối chất, nhận dạng là những hoạt động điều tra quan trọng và cần thiết để giảiquyết những mâu thuẫn trong các lời khai của những người tham gia tố tụng hoặc để xác địnhngười, vật, ảnh của một người nào đó liên quan tới vụ án Qua nhận dạng, đối chất sẽ góp phần

làm sáng tỏ vụ án.(01 điểm)

* Về đối chất:

Theo quy định tại Điều 138 BLTTHS, Điều 22 Quy chế kiểm sát điều tra thì khi thực hiệncông tác kiểm sát hoạt động đối chất của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm sát một số

vấn đề sau(Viện dẫn được đúng quy định 01 điểm):

+ Trước khi tiến hành đối chất, nếu có người tham gia đối chất là người bị hại, người làmchứng, thì Điều tra viên phải giải thích về trách nhiệm của những người này Việc giải thích này

của Điều tra viên phải được ghi vào biên bản đối chất.(01điểm)

+ Trước khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ của những người tham giađối chất Sau đó, Điều tra viên mới hỏi về những vấn đề cần đối chất Việc đọc lời khai của họ ởnhững lần khai trước đây chỉ được tiến hành, sau khi những người tham gia đối chất đã trình

bày hết những vấn đề cần đối chất (01điểm)

+ Việc lập biên bản đối chất của Điều tra viên phải đảm bảo phán ánh trung thực những gì

đã được đối chất và theo quy định tại các điều 95, 125,132 BLTTHS (01điểm)

Nếu qua việc đối chất, Kiểm sát viên phát hiện thấy việc tiến hành đối chất của Cơ quanđiều tra không đúng quy định của pháp luật, thì tùy từng trường hợp cụ thể:

+ Kiểm sát viên có thể trực tiếp yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục, như biên bản đốichất chưa đúng với quy định của BLTTHS hoặc báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát để yêu cầu

Trang 2

Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm;(02 điểm)

+Hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành đối chất lại (nếu là vi phạm nghiêm trọng) hoặc tiến hành đối chất bổ sung, nếu việc đối chất chưa đạt được mục đích đề ra Trong bản yêucầu tiến hành đối chất lại hoặc đối chất bổ sung, Kiểm sát viên phải chỉ rõ vì sao và để làm rõvấn đề gì khi đối chất lại, đối chất bổ sung Nếu Kiểm sát viên thấy cần thiết tham gia việc đốichất, thì phải nói rõ trong bản yêu cầu đó để Cơ quan điều tra thực hiện Việc ghi rõ trong bảnyêu cầu về những vấn đề trên, nhằm bảo đảm cho việc đối chất lại hoặc đối chất bổ sung đạt kết

quả, chất lượng(02 điểm)

Trong trường hợp cần thiết mà Kiểm sát viên thấy tự mình có thể tiến hành việc đối chất,

thì báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát để thực hiện.(02 điểm)

*Về nhận dạng:

Theo quy định tại Điều 139 BLTTHS, Điều 22 Quy chế kiểm sát điều tra thì khi tiến hành

kiểm sát nhận dạng của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải lưu ý những vấn đề sau(Viện dẫn được đúng quy định 01 điểm):

+Đối tượng được triệu tập đến để nhận dạng chỉ có thể là bị can, người làm chứng, người

bị hại; (0,5 điểm)

+Nếu người nhận dạng là người làm chứng, là người bị hại, thì trước khi tiến hành nhận

dạng, Điều tra viên phải giải thích quyền và trách nhiệm của họ; cho họ biết là nếu họ từ chối

khai báo, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo sai sự thật sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự

theo các điều 307, 308 BLHS và việc giải thích này cũng phải được ghi rõ trong biên bản(01 điểm);

+ Điều tra viên phải đưa ra ít nhất ba người, ba vật hoặc ảnh (nếu việc nhận dạng làngười, vật hoặc ảnh) có bề ngoài tương tự giống nhau để nhận dạng (trừ trường hợp nhận dạng

tử thi) Trong trường hợp đặc biệt, thì có thể nhận dạng qua giọng nói; (0,5điểm)

+ Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải hỏi những người tham gia nhận dạng

về đặc điểm, tính chất, vết tích của người, vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng mà nhờ vào đó

họ có thể nhận dạng được; (0,5 điểm)

+ Khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được phép đặt những câu hỏi có tính chất

gợi ý người nhận dạng; (0,5 điểm)

+ Sau khi kết thúc việc nhận dạng, Điều tra viên phải hỏi người nhận dạng là họ đã dựa

vào đâu, vào đặc điểm nào để nhận dạng (0,5 điểm)

- Việc nhận dạng phải có người chứng kiến và ký vào biên bản Việc lập biên bản nhậndạng của Điều tra viên phải bảo đảm đúng thủ tục và hình thức biên bản được quy định tại các

điều 95, 125,132 BLTTHS.(0,5 điểm) Trong biên bản, Điều tra viên phải ghi đầy đủ về nhân

thân của người được đưa ra để nhận dạng và của những người nhận dạng; những đặc điểm của

vật, ảnh được đưa ra nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng(0,5 điểm) Nếu

Trang 3

Kiểm sát viên thấy cần thiết tham gia vào các hoạt động nhận dạng của Cơ quan điều tra, thì

phải thông báo cho Cơ quan điều tra biết trước để thực hiện (0,5 điểm)

Nếu qua hoạt động kiểm sát, Kiểm sát viên phát hiện thấy hoạt động nhận dang của Cơquan điều tra không phản ánh đúng những nội dung nêu trên, không đúng quy định của phápluật hoặc còn thiếu người, vật, ảnh cần nhận dạng, thì tùy trường hợp, Kiểm sát viên có thể trực

tiếp yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm; (01 điểm)

Nếu hoạt động nhận dạng vi phạm không nghiêm trọng hoặc tiến hành nhận dạng bổ sunghoặc báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát để yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục vi phạm, tiến hành

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác”.

Như vậy, xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật được

cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục

vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì một thông tin, tài liệu chỉ có thể được coi

là chứng cứ của vụ án khi nó có đủ ba thuộc tính sau:

-Tính khách quan: Là những gì có thật và phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra

-Tính liên quan: Có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án Nhưng cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng phải là mối quan hệ nội tại, có tính nhân quả, tức là chứng cứ phải là kết quả của một loại hành vi hoặc hành động hoặc một quan hệ nhất định, ngược lại, hành vi, hành động hoặc quan hệ đó là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các chứng cứ này.

Trang 4

-Tính hợp pháp: Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự do luật định Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ

Để đảm bảo việc sử dụng chứng cứ trong quá trình chứng minh vụ án hình sự một cáchhiệu quả, cần nắm rõ được mục đích của việc sử dụng chứng cứ đó là:

- Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, chứng cứ đã thu thập được trọng vụ án được sửdụng để phát hiện, thu thập chứng cứ mới

- Chứng cứ đã thu thập được trong vụ án dùng để nghiên cứu, kiểm tra và đánh giá tàiliệu, chứng cứ mới và ngược lại

- Trong quá trình chứng minh ở các giai đoạn tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng phải sử dụng chứng cứ để ra quyết định tố tụng

3 HS Đ/c cho biết Thủ trưởng

Cơ quan điều tra có quyền phân công hoặc thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra không?

Căn cứ điểm b, đ khoản 1 Điều 34 BLTTHS 2003; điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 36 BLTTHS 2015: Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:

Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, kiểm tra việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Quyết định phân công hoặc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên, Cán bộ điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Điều tra viên.

nêu và phân tích nhiệm

vụ của Kiểm sát viên khi được giao kiểm sát việc khám hiện trường

vụ tai nạn giao thông đường bộ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng?

(20 điểm)

- Căn cứ pháp lý: Thực hiện công tác Kiểm sát khám nghiệm hiện trường quy định tại Điều 14Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Điều 150 Bộ luật TTHS; Quy chế công tác kiểm sát việc khámnghiệm hiện trường ban hành kèm theo Quyết định số 421/QĐ-VKSTC ngày 17/11/2014 của Viện

trưởng VKSND tối cao (02 điểm).

- Khi thực hiện công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường kiểm sát viên cần thực hiện:

+ Trước khi khám nghiệm, phải chủ động nắm nội dung vụ việc, nghiên cứu lời khai củanhững người biết việc (nếu có); yêu cầu Điều tra viên mời đầy đủ các thành phần cần thiết đểtiến hành khám nghiệm; yêu cầu Kỹ thuật viên thuộc Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh tham

gia khám nghiệm để phục vụ cho việc giám định sau này (02 điểm);

+ Chủ động phối hợp với Điều tra viên để thống nhất nội dung, trình tự khám nghiệmhiện trường Quan sát toàn bộ hiện trường, khoanh vùng hiện trường; nhận định đặc điểm đoạnđường xảy ra tai nạn, các yếu tố liên quan đến phần đường, tốc độ, loại đường; quan sát hệthống biển báo đầu vào và đầu ra của hiện trường, đánh giá sơ bộ hướng di chuyển của các

7 Sơn La

Đề 1

Trang 5

phương tiện (hoặc người) có liên quan đến vụ tai nạn (02 điểm);

+ Xác định rõ điểm va chạm và vị trí, đặc điểm dấu vết, đánh giá quá trình hình thành các dấu vết

và chụp ảnh, đo vẽ, thu thập dấu vết, cùng Điều tra viên đặt ra các giả thuyết khác nhau để đánh giá các

dấu vết và mối liên hệ giữa chúng (02 điểm);

+ Kiểm sát viên có thể chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, xem xét tại chỗdấu vết, đồ vật, tài liệu có liên quan đến tội phạm để có cơ sở đối chiếu khi kiểm sát việc lập

biên bản của Điều tra viên (02 điểm);

+ Phối hợp cùng với Điều tra viên đánh giá các dấu vết trên hiện trường, vật chứng đã thulượm được để so sánh, đối chiếu, xác định tính có liên quan với các dấu vết trên các phươngtiện, trên nạn nhân để ghi nhận, thu thập, chụp ảnh hoặc có thể khám nghiệm ngay phương tiện

tại hiện trường để tránh việc mất dấu vết (02 điểm);

- Sau khi kết thúc khám nghiệm hiện trường, cần thực hiện các công việc sau đây:

+ Đánh giá đúng kết quả khám nghiệm để cùng Điều tra viên thống nhất, quyết định việckhám nghiệm bổ sung, khám nghiệm lại Nếu thấy cần thiết phải khám nghiệm bổ sung hoặckhám nghiệm lại, thì phải có biện pháp tiếp tục bảo vệ hiện trường và đề xuất ý kiến đó với lãnh

đạo (02 điểm).

+ Yêu cầu điều tra xác định rõ những dấu vết, vật chứng nào cần được trưng cầu giám

định, nội dung cần trưng cầu để phục vụ cho công tác điều tra, giải quyết vụ án (02 điểm)

+ Kiểm sát viên đọc lại biên bản khám nghiệm hiện trường để bổ sung, chỉnh sửa nội dungbiên bản khám nghiệm để đảm bảo ghi nhận mô tả đúng kết quả khám nghiệm hiện trường, thulượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án đảm bảo

khách quan, toàn diện (02 điểm)

+ Làm báo cáo kết quả khám nghiệm hiện trường, báo cáo ban đầu trình lãnh đạo và Việnkiểm sát cấp trên theo dúng Quy chế về chế độ thông tin báo cáo trong ngành Kiểm sát nhân dân

Đối với Quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT:

Căn cứ pháp lý: Điều 15 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Căn cứ điều 37, điều 100

BLTTHS (1 điểm):

Kiểm sát viên phải kiểm tra các tài liệu, chứng cứ để xác định tính có căn cứ và hợp pháp

của quyết định khởi tố vụ án Phương pháp kiểm tra tiến hành như sau (6 điểm):

+ Vào sổ thụ lý vụ án hình sự Nghiên cứu các tài liệu dùng làm căn cứ để khởi tố vụ ánhình sự bao gồm: Các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các tài liệu kèm theo do

cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; các tài liệu kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạmcủa CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; biênbản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, cùng các tài liệu, dấu vết, tangvật đã được phát hiện thu giữ (đối với các vụ án có khám nghiệm hiện trường); đơn yêu cầu

Trang 6

khởi tố của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thànhniên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần (nếu có); biên bản và kết quả giám định,kết quả định giá tài sản (nếu có); biên bản ghi lời khai của người bị hại, người làm chứng.

+ Kiểm sát việc chấp hành các trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để thẩm tra, xácminh hoặc phát hiện các tài liệu đó, thẩm quyền của người thẩm tra, xác minh hoặc tiến hànhcác hoạt động điều tra để phát hiện, thu thập các tài liệu, chứng cứ; thẩm quyền của người raquyết định khởi tố, hình thức, nội dung của quyết định khởi tố

+ Kiểm tra, xem xét, đánh giá tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc ra quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự, tức là xác định có hay không vụ việc có tính chất hình sự xảy ra trên thựctế; nếu có thì các tài liệu, chứng cứ chứng minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không?Nếu có thì thuộc điều, khoản nào của BLHS

+ Xác định phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi, đánh giá tính chất mức độ thiệt hại

do hành vi đó gây ra

+ Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

+ Đối với các vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, khi kiểm sát việc khởi tố vụ

án, Kiểm sát viên được phân công cần phải nghiên cứu, xem xét quyết định khởi tố và các tàiliệu có liên quan để xác định việc khởi tố vụ án hình sự có thuộc các trường hợp khởi tố theoyêu cầu bị hại hay không? Trong trường hợp người bị hại rút đơn yêu cầu thì phải làm rõ tínhkhách quan, tính đúng đắn trong nội dung đề nghị rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án

* Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố, Kiểm sát viên phảibáo cáo kết quả nghiên cứu với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát

điều tra để xem xét xử lý (6 điểm):

+ Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân côngKiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án, Kiểm sát viên thụ lývào sổ thụ lý án hình sự của VKS, đề ra yêu cầu điều tra và hoàn trả lại hồ sơ cho CQĐT Nếuthấy căn cứ để khởi tố chưa đầy đủ thì yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm

rõ căn cứ khởi tố;

+ Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án rõ ràng là không có căn cứ thì VKS ra văn bản yêucầu cơ quan đã khởi tố ra quyết đinh huỷ bỏ; nếu cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì ra quyếtđinh huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại Mục 7 Thông tư liên tịch số 05

+ Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra hoặc còn cótội phạm khác chưa được khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết địnhthay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan đã khởi tố không nhất tríthì ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong thời hạn 24 giờ

kể từ khi thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố, Kiểm sát viên gửi các quyết định này cho cơquan đã khởi tố để tiến hành điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 156 BLTTHS;

Trang 7

+ Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơquan đã ra quyết định là không có căn cứ thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đã ra quyết địnhhủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định huỷ bỏ quyết định đó.

Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử (7 điểm):

Kiểm sát viên thụ lý vụ án phải kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố đó và báocáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xử lý nhưsau:

+ Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ thì chuyển quyết định khởi tố vụ ánhình sự kèm theo các tài liệu có liên quan đến CQĐT có thẩm quyền để tiến hành điều tra;

+ Nếu định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo viện kháng nghịlên Tòa án trên một cấp

tích quyền và trách nhiệm của Kiếm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường (20điểm)

Để nhận thức đúng và đầy đủ quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viêntrong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường thì cần lưu ý đến một số vấn đề sau:

Thứ nhất, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều

tra thì Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường tại hiện trường vụ

án trong tất cả các vụ khám nghiệm hiện trường, hay nói cách khác, trong mọi trường hợp Cơquan điều tra (kể cả trường hợp cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra) tiến hànhkhám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên đều phải có mặt để trực tiếp kiểm sát việc khámnghiệm hiện trường

Thứ hai, để thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế

kiểm sát điều tra về hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường thì yêu cầu đặt ra đối vớiKiểm sát viên là cần nhận thức đúng và đầy đủ địa vị pháp lý cũng như nhiệm vụ, quyền hạn vàtrách nhiệm của Kiểm sát viên trước, trong và sau khi khám nghiệm hiện trường

Trước khi khám nghiệm hiện trường: Quy chế kiểm sát điều tra yêu cầu trước khi khámnghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải chủ động nắm tình hình, yêu cầu Cơ quan điều trathông báo sự việc xảy ra để tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm Việc nắm chắc tìnhhình ban đầu về diễn biến sự việc xảy ra giúp cho Kiểm sát viên hình dung được khối lượngcông việc, phương pháp, trình tự, phạm vi công việc cần phải tiến hành, đồng thời để tham gia ýkiến đối với Cơ quan điều tra trong quá trình chuẩn bị tiến hành khám nghiệm Thực tế cho thấyyêu cầu nêu trên của Quy chế kiểm sát điều tra chưa được một số địa phương quan tâm để yêucầu Kiểm sát viên thực hiện Một số Kiểm sát viên do không nắm được tình hình ban đầu vềdiễn biến sự việc nên trong quá trình khám nghiệm hiện trường còn rất lúng túng, bị động,không xác định được phạm vi, trình tự tiến hành công việc, những vật chứng, dấu vết cần thugiữ tại hiện trường…và như vậy đã không thực hiện được đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm củamình trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm

Để bảo đảm hoạt động khám nghiệm hiện trường được thực hiện đúng thẩm quyền và

Trang 8

thành phần theo quy định của pháp luật thì Kiểm sát viên cần kiểm tra tư cách pháp lý của cácthành viên trong Hội đồng khám nghiệm (Điều tra viên hoặc người có thẩm quyền của cơ quankhác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Giám định viên, Kỹ thuật viên)

và những người tham gia khám nghiệm (người chứng kiến, bị can, người làm chứng, người bịhại…)

Để lựa chọn phương pháp khám nghiệm hiện trường một cách khoa học, phù hợp và cóhiệu quả, phục vụ tốt cho các hoạt động điều tra tiếp theo thì trước khi tiến hành khám nghiệm,Kiểm sát viên cần chủ động trao đổi, thống nhất với Điều tra viên về đánh giá tính chất của hiệntrường vụ án xem hiện trường đó còn nguyên vẹn hay đã bị xáo trộn, hiện trường giả hay thật…,trên cơ sở đó, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thực hiện việc phân công nhiệm vụ cụ thểcho từng thành viên tham gia hoạt động khám nghiệm

Trong quá trình khám nghiệm hiện trường: Khi tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiệntrường, Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ và chủ động yêu cầu Điều tra viên tiếnhành khám nghiệm hiện trường theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 Đểthực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình thì Kiểm sát viên cần phải luôn chủ động

để có thể kiểm sát chặt chẽ toàn bộ hoạt động khám nghiệm hiện trường của Điều tra viên, Giámđịnh viên, Kỹ thuật viên từ khi bắt đầu đến khi kết thúc để bảo đảm hoạt động này được thựchiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đồng thời kịp thời phát hiện những viphạm, thiếu sót trong quá trình thực hiện khám nghiệm để yêu cầu khắc phục

Quá trình phát hiện, thu giữ dấu vết, vật chứng tại hiện trường cần được Kiểm sát viênkiểm sát chặt chẽ để bảo đảm việc thu giữ đúng pháp luật Trong trường hợp không thể xem xétngay được đồ vật và tài liệu tại hiện trường thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hànhbảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong để đưa về nơi tiến hành điều tra nhằm tránh mấtmát, hư hỏng hoặc bị thay đổi Việc chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng môhình hiện trường… cần được Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ để bảo đảm tính chính xác, kháchquan và hợp pháp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Quy chế kiểm sát điều tra thì khi kiểm sát việc khámnghiệm hiện trường, Kiểm sát viên có thể chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, xem xét tại chỗ dấuvết, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người bị hại, ngườilàm chứng…, các tài liệu này được lưu trong hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án Đây là quy địnhkhông mang tính bắt buộc đối với Kiểm sát viên, do vậy tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Kiểmsát viên có thể thực hiện một hoặc một số hoạt động nêu trên Vấn đề Kiểm sát viên cần chú ýkhi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là cần ghi chép tỉ mỉ các số liệu đo đạc tại hiệntrường, các hoạt động của Điều tra viên, Giám định viên, kỹ thuật viên… để đưa vào biên bảnkhám nghiệm hiện trường một cách chính xác

Về việc kiểm sát biên bản khám nghiệm hiện trường, Quy chế kiểm sát điều tra chỉ quy

Trang 9

định mang tính nguyên tắc là phải kiểm sát chặt chẽ và chủ động yêu cầu Điều tra viên làm đầy

đủ các nội dung được quy định tại Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự Tuy nhiên, cần lưu ý làtrước khi ký xác nhận vào biên bản khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên cần xem xét kỹ nộidung biên bản xem có phản ánh đầy đủ, khách quan, toàn diện kết quả khám nghiệm hiệntrường không? Trong trường hợp phát hiện biên bản ghi không chính xác thì Kiểm sát viên phải

có ý kiến, yêu cầu bổ sung, khắc phục

Sau khi khám nghiệm hiện trường: Theo quy định của Quy chế kiểm sát điều tra thì saukhi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng kếtquả kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường Đây là quy định mang tính bắt buộc đối với Kiểmsát viên phải thực hiện trên cơ sở đó để Lãnh đạo Viện có hướng chỉ đạo các hoạt động nghiệp

vụ tiếp theo trong quá trình điều tra, phá án Nếu trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trườngxác định có dấu hiệu của tội phạm mà Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án thì Kiểm sát viênbáo cáo với Lãnh đạo Viện để yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án để tiến hành điều tra

những điểm mới trong

Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015 về nhiệm vụ,quyền hạn và tráchnhiệm của Viện kiểmsát trong giai đoạn điềutra? (20 điểm)

Để Viện kiểm sát nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, theo sát quá trình điều tra và kiểm sáttốt việc lập hồ sơ vụ án, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung qui định tại khoản 5 Điều 88:

“Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án.

Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày.

Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này”.

Bảo đảm chủ động hơn trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015 bổ sung một số quy định như:

- Trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động điều tra, xác minh tốgiác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát

đã yêu cầu nhưng không được khắc phục thì Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm, kiến nghị khởi tố đó (Điều 145)

- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp cần kiểm tra, bổ sung tàiliệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn, các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai,

bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phụchoặc trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố (Điều

11 Lào Cai

Trang 10

- Viện kiểm sát quyết định chuyển vụ án nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra khôngthực hiện (mà không phụ thuộc vào đề nghị của Cơ quan điều tra mới có quyền quyết địnhchuyển vụ án như hiện nay) (Điều 169).

Để khắc phục những khó khăn hiện nay do thời hạn phê chuẩn các lệnh, quyết định tốtụng của Cơ quan điều tra ngắn, nhất là đối với những vụ việc chưa đầy đủ chứng cứ, tài liệu,

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung như sau:

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát

phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể

từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can (Điều 179).

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết địnhthay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn

cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra Trường hợp Viện kiểm sátyêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ,tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị

can (Điều 180).

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với những vụ án

do Trung ương ủy quyền cho Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới như sau: “Đối với những vụ án

do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử

sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án Ngay khi quyết định truy

tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của

Bộ luật này” (Điều 239).

- Bổ sung trách nhiệm của Kiểm sát viên bắt buộc phải có mặt trong 05 hoạt động: Đối

Trang 11

chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét (các Điều 189, 190, 191,

193, 204)

mục đích của hìnhphạt? Nguyên tắc xử lýđối với người phạm tội

là gì? (20 điểm)

Theo Điều 30 Bộ luật hình sự năm 2015: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắcnhất của Nhà nước được quy định trong BLHS do Tòa án quyết định áp dụng đối với ngườihoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, phápnhân thương mại đó

Theo Điều 31 BLHS năm 2015: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhânthương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộcsống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng phápluật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội: Theo Điều 3 BLHS năm 2015, nguyên tắc xử lýđối với người phạm tội là:

a, Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanhchóng, công minh theo đúng pháp luật;

b, Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc,tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

c, Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạmnguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d, Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyênnghiệp, cố ý gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lậpcông chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

đ, Đối với người phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơnhình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e, Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ,phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do BLHSquy định thì có thể xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g, Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện,hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật đình thì được xóa án tích

Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc giữngười trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm gữ, tạm giam điều 474 bộ luật tố tụng hình sự quyđịnh

1.Khiếu nại đối với lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt, quyết định tạmgiữ, lệnh tạm giam, quyết định tạm giam, quyết định phê chuẩn việc bắt, quyết định gia hạn tạmgiữ, quyết định gia hạn tạm giam và khiếu nại các hành vi thực hiện các lệnh và quyết định đóphải được giải quyết ngay trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại Trường hợp cần

Trang 12

phải có thời gian để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 3 ngày kể từ ngàynhận được khiếu nại.

2 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định,hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam tronggiai đoạn điều tra, truy tố Cơ quan, người thẩm quyền trong việc giữa người trong trường hợpkhẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam phải chuyển ngay cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố

và kiểm sát điều tra vụ án, vụ việc khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ,người bị tạm giam trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại

Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điềutra, điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Quyết định giảiquyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân TốiCao là quyết định có hiệu lực pháp luật

Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trongviệc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát thìtrong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại cóquyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Viện trưởng Viên kiểmsát nhân dân Tối Cao nếu việc giải quyết khiếu nại lần đầu do Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân câp tỉnh giải quyết Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại Viện trưởngViện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao phải xem xét, giảiquyết Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân Tối Cao là quyết định có hiệu lực pháp luật

Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát trong việcbắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết hoặcViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao xem xét, giải quyết nếu quyết định, hành vi tốtụng bị khiếu nại là của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân câp tỉnh Trong thời hạn 7 ngày kể

từ ngày nhận được khiếu nại Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân Tối Cao phải xem xét, giải quyết Quyết định giải quyết của Viện trưởngViện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao là quyết định cóhiệu lực pháp luật

3.Tòa án có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định bắt, tạm giam trong giai đoan xétxử

Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của phó Chánh án trong việc bắt, tạm giam

do Chánh án Tòa án xem xét, giải quyết Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nạicủa Chánh án thì trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải khiếu nại, người

Trang 13

khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án cấp trên một cấp Trong thời hạn 7 ngày kể

từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án cấp trên một cấp phải xem xét, giải quyết Quyếtđịnh giải quyết của Chánh án Tòa án cấp trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án trong việc bắt, tạmgiam do, Chánh án Tòa án cấp trên một cấp xem xét, giải quyết Trong thời hạn 7 ngày kể từngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án cấp trên một cấp phải xem xét, giải quyết Quyếtđịnh giải quyết của Chánh án Tòa án cấp trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật

Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo tại điều 481 bộ luật tố tụng hình sự quy định:

1 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có thẩm quyền giảiquyết

Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sátthì Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyềngiải quyết

Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa ánquân sự khu vực thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu

có thẩm quyền giải quyết

Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân

sự cấp quân khu thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương cóthẩm quyền giải quyết

Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sựtrung ương thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết

Tố cáo hành vi tố tụng của người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

do Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra có thẩm quyền xem xét, giải quyết

2 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì được giải quyết theo quyđịnh tại Điều 145 của Bộ luật này

3 Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo; đối với vụviệc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày

4 Tố cáo liên quan đến hành vi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạmgiam trong giai đoạn điều tra, truy tố phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Việntrưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhậnđược tố cáo Trường hợp phải xác minh thêm thì thời hạn không quá 03 ngày kể từ ngày nhậnđược tố cáo

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáođược quy định tại điều 483 bộ luật tố tụng hình sự:

1 Viện kiểm sát kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, cơ quan

Trang 14

được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới.

2 Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyềnhạn:

a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra ra quyết định giải quyết khiếu nại, ra văn bản giải quyết tố cáo theo quy định tạiChương này;

b) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới; thông báokết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát;

c) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Việnkiểm sát;

d) Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Cơ quan điều tra, cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới;

đ) Ban hành kết luận kiểm sát; thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quanđiều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục viphạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

3 Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tốcáo của Viện kiểm sát cấp dưới Viện kiểm sát nhân dân tối cao thanh tra, kiểm tra việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát các cấp

11 HS Anh (chị) hãy trình bày

nhiệm vụ quyền hạn

của KSV khi được

phân công thực hànhquyền công tố và kiểmsát việc tuân theo phápluật trong hoạt động tốtụng đối với vụ án hìnhsự

Theo quy định tại Điều 8 thì nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên

1 Việc phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo phápluật đối với từng vụ án cụ thể phải thể hiện bằng văn bản; văn bản này phải lưu vào hồ sơ vụ án

b) Đề ra yêu cầu điều tra;

c) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bịhại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đốichất, thực nghiệm điều tra;

d) Kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam (trừ những hoạt động thuộc thẩm quyền củacông tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam);

đ) Lập hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án hình sự; báo cáo đề xuất với Viện trưởng, Phó Viện

Trang 15

trưởng, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra, xem xét, quyết định đối với những vấn đề liên quanđến thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đốivới vụ án hình sự thuộc thẩm quyền quyết định của những người này.

2 Thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo

sự phân công của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra

các căn cứ trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung theoquy định của Bộ luật tốtụng hình sự ? Nhữnggiải pháp nhằm hạn chếviệc trả hồ sơ để điềutra bổ sung giữa các cơquan tiến hành tố tụng

20 điểm

* Căn cứ quy định tại Điều 168 và khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự Viện kiểmsát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ ánphát hiện thấy: 2đ

+ Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tựmình bổ sung được; 1đ

+ Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; 1 đ+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng 1đ

- Khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTHS quy định Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Việnkiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây 2đ:

+ Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sungtại phiên tòa được; 1đ

+ Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; 1đ+ Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng 1đ

* Giải pháp 10 điểm

- Thứ nhất: Quán triệt và thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị của Viện trưởng Viện KSND

tối cao trong lĩnh vực hình sự Nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ Lãnh đạo, cán bộ, Kiểmsát viên trong việc thực hiện Quy chế nghiệp vụ của ngành như Quy chế THQCT, kiểm sát điềutra án hình sự, Quy chế THQCT, kiểm sát xét xử hình sự; kiểm tra chặt chẽ việc lập hồ sơ kiểmsát theo quy định của ngành

- Thứ hai: Tăng cường công tác kiểm sát điều tra ngay từ đầu, nắm chắc tiến độ điều tra

của Cơ quan điều tra, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án; kịp thời định hướng và đề ra các yêu cầu điềutra; các yêu cầu điều tra phải được thể hiện bằng văn bản, đảm bảo giá trị pháp lý và trong thờihạn điều tra

- Thứ ba: Tăng cường công tác lãnh đạo, hướng dẫn công tác THQCT và kiểm sát hoạt

động tư pháp, đặc biệt là công tác hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ của cấp trên đối với cấp dưới

Tổ chức quán triệt, nghiên cứu sâu những quy định mới của BLHS, BLTTHS để đáp ứng yêucầu trong công tác nghiệp vụ

- Thứ tư: Tiếp tục xây dựng và thực hiện các chuyên đề nghiệp vụ về hình sự, trong đó

có chuyên đề án trả hồ sơ để điều tra bổ sung; thông qua đó quản lý chặt chẽ công tác giải quyết

án, kịp thời khắc phục vi phạm, tổ chức thông báo rút kinh nghiệm chung

- Thứ năm: Khi phân công Kiểm sát viên THQCT và KSĐT đối với vụ án phải căn cứ

Trang 16

vào năng lực, trách nhiệm và yêu cầu nghiệp vụ đối với từng vụ án để phân công, tránh tình cảm

cá nhân, nể nang dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ

- Thứ sáu: Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện

tốt chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp Thực hiện nghiêm túc Thông tư liên tịch số01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của Viện KSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ công anhướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung Duy trì chế độlãnh đạo liên ngành giao ban thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất bàn giải quyết kịp thời những

vụ án phức tạp có nhiều vướng mắc, đảm bảo vụ án phải được giải quyết trong thời hạn luậtđịnh, tránh tình trạng đùn đẩy, kéo dài thời hạn điều tra, dẫn tới việc trả hồ sơ để điều tra bổsung

biết theo quy định của

Bộ luật tố tụng hình sựtạm giữ có thể được ápdụng trong trường hợpnào? Nêu căn cứ, thẩmquyền ra lệnh bắt ngườitrong trường hợp khẩncấp? Những giải phápnhằm hạn chế thấp nhấtviệc tạm giữ hình sựsau phải xử lý hànhchính vì hành vi khôngcấu thành tội phạm?

10đLiên hệ thực tiễntại đơn vị đồng chí mốiquan hệ phối hợp côngtác nhằm hạn chế thấpnhất việc tạm giữ hình

sự sau phải xử lý hànhchính vì hành vi khôngcấu thành tội phạm?

10đ

* Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 86 và khoản 1,2 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự

- Khoản 1 Điều 86 Bộ luật TTHS quy định 2đ

Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy

nã 1đ

- Khoản 1,2 Điều 81 Bộ luật TTHS quy định 1đ

1 Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:

a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọnghoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; 1đ

b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xácnhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;1đ

c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tộiphạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ 1đ

2 Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; 1đb) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huyđồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; 1đ

c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng 1đ

* Giải pháp 10đ Thứ nhất: Tiếp tục quán triệt các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự

(đặc biệt là những quy định mới); các Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;các hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên về lĩnh vực hình sự như Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công

tố với hoạt động điều tra; Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 10/7/2015 về tăng cường các biệnpháp phòng, chống oan, sai Qua đó để lãnh đạo và các kiểm sát viên có nhận thức rõ về tầm

Trang 17

quan trọng của hoạt động kiểm sát việc bắt giữ hình sự; vì đây là biện pháp ngăn chặn nghiêmkhắc nhất, liên quan đến quyền tự do của công dân Chỉ có nắm chắc được các quy định nàychúng ta mới thực hiện được tốt hoạt động kiểm sát việc bắt giữ hình sự.

Thứ hai: Đề cao vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo các đơn vị trong việc ký các quyết định

phê chuẩn các quyết định bắt, giữ của cơ quan điều tra; đảm bảo các quyết định phê chuẩn (đặcbiệt là quyết định phê chuẩn bắt khẩn cấp) đều đảm bảo có căn cứ rõ ràng và đúng quy định củapháp luật Đối với trường hợp cơ quan điều tra bắt giữ không có căn cứ hoặc không cần thiếtphải áp dụng biện pháp ngăn chặn này thì kiên quyết yêu cầu cơ quan điều tra phải hủy bỏ;trường hợp cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ Cùng với

đó, lãnh đạo các đơn vị phải tăng cường công tác kiểm tra đối với kiểm sát viên được phân côngkiểm sát việc bắt, giữ để kịp thời phát hiện những thiếu sót trong quá trình kiểm sát để rút kinhnghiệm, chấn chỉnh và khắc phục ngay

Thứ ba: Đối với Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc bắt, tạm giữ hình sự thì phải

nêu cao tinh thần trách nhiệm, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật đặc biệt là luậthình sự và luật tố tụng hình sự; phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên để nắm bắt được toàn bộ nộidung vụ việc và những thông tin, tài liệu liên quan đến người bị bắt Từ đó kịp thời đề xuất vớilãnh đạo đơn vị về căn cứ việc bắt, tạm giữ của cơ quan điều tra Trường hợp qua kiểm sát thấycăn cứ bắt giữ của cơ quan điều tra là không đúng hoặc không cần thiết thì kiểm sát viên kịpthời thể hiện quan điểm của mình và báo cáo lãnh đạo đơn vị có hướng giải quyết

Thứ tư: Tăng cường công tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát ngay từ

khi Cơ quan điều tra bắt giữ; Cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát khi bắtgiữ đối tượng, tạo điều kiện thuận lợi để kiểm sát viên gặp hỏi người bị bắt; đồng thời thườngxuyên trao đổi, thống nhất để đảm bảo việc bắt giữ là có căn cứ và phấn đấu tất cả các trườnghợp bắt, giữ phải bị xử lý hình sự (trừ những trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại)

Ở đây chúng ta phải xác định công tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có ýnghĩa quan trọng, có tính quyết định đến việc bắt giữ sau đó xử lý hình sự hay xử lý hành chính.Chính vì vậy đòi hỏi hai cơ quan phải có sự phối hợp thực chất trên cơ sở chức năng nhiệm vụcủa mỗi ngành thông qua các vụ việc cụ thể, thông qua các cuộc họp liên ngành để cả hai đơn

vị đều có sự thống nhất từ nhận thức đến việc thực hiện những hoạt động tố tụng cụ thể

Thứ năm: Xử lý nghiêm đối với cán bộ, lãnh đạo đơn vị nào để xảy ra vi phạm trong bắt,

giữ hình sự Đồng thời tăng cường công tác thông báo rút kinh nghiệm trong toàn ngành đối vớinhững vi phạm trong công tác bắt, giữ hình sự để các đơn vị rút kinh nghiệm tránh mắc phải

Thứ sáu: Các đơn vị phải lấy kết quả công tác kiểm sát việc bắt, giữ hình sự làm tiêu chí

cho việc đánh giá, bình xét thi đua đối với tập thể và cá nhân vào dịp cuối năm

Trình bày các hoạt động

a Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi khám nghiệm tử thi:

Việc khám nghiệm tử thi được quy định tại Điều 202 BLTTHS:

Trang 18

của Kiểm sát viên khi

để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm tử thi

2 Giám định viên kỹ thuật hình sự có thể được mời tham gia khám nghiệm tử thi để phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định.”

Khi nhận được tin báo từ Cơ quan Điều tra về việc khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên phải báo ngay cho lãnh đạo đơn vị Theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Quy chế THQCT và KSĐT thì trong mọi trường hợp khám nghiệm tử thi, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phải phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi Khi thấy cần thiết, Viện trưởng, Phó Viện trưởng có thể trực tiếp hoặc cùng Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi Khi được phân công kiểm sát việc khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên cần chủ động tiến hành các việc sau:

- Nắm bắt tình hình sự việc xảy từ các thông tin ban đầu, xác định vụ việc thuộc loại nào; tình hình phong tục, tập quán của địa phương, khu vực xảy ra sự việc, nhất là vùng dân tộc ít người, vùng có tôn giáo phức tạp… Có dấu hiệu nào biểu hiện cản trở việc khám nghiệm tử thi không? Có người lợi dụng để gây rối, hoặc có hiện tượng quá khích của thân nhân nạn nhân không?

- Trao đổi với Điều tra viên để nắm được tình hình về hiện trường nơi phát hiện tử thi, nơi

tử thi đang được lưu giữ, về lý do phát hiện, tung tích, lai lịch tử thi và những vấn đề khác liên quan đến việc thay đổi, di chuyển tử thi Nếu có những vấn đề phức tạp thì phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện để có hướng chỉ đạo phù hợp

- Theo quy định tại Điều 21 Quy chế THQCT và KSĐT, trường hợp phải khai quật tử thi

để khám nghiệm thì Kiểm sát viên phải kiểm tra về sự cần thiết phải khai quật; trình tự, thủ tục tiến hành khai quật, khám nghiệm Theo quy định tại Điều 151 BLTTHS thì trong trường hợp cần phải khai quật tử thi thì phải có quyết định của Cơ quan Điều tra và phải thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành Việc khai quật tử thi phải có Giám định viên là Bác sỹ pháp y tham gia Do đó, Kiểm sát viên phải kiểm tra lại thông tin về việc Cơ quan Điều tra đã thông báo như thế nào với gia đình nạn nhân, phối hợp với Điều tra viên trong việc yêu cầu đại diện gia đình nạn nhân chỉ phần mộ Việc xác nhận phần mộ phải được đưa vào biên bản và phải chụp ảnh như chụp ảnh hiện trường về việc xác nhận phần mộ

b Hoạt động của Kiểm sát viên trong quá trình khám nghiệm tử thiTrong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng khám nghiệm xem xét đầy đủ các dấu vết, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ nguyên nhân chết, tung tích của nạn nhân Kiểm sát viên cần chú ý những vấn đề sau: Quan sát, theo dõi quá trình

Trang 19

khám nghiệm tử thi của Bác sỹ pháp y, theo dõi quá trình mô tả, ghi chép, sự trao đổi giữa bác

sỹ pháp y và Điều tra viên; trực tiếp quan sát và tự ghi chép đầy đủ những thông tin, dấu vết do Bác sỹ pháp y phát hiện Trong quá trình kiểm sát, nếu phát hiện thấy còn thiếu sót, Kiểm sát viên phải có ý kiến với bác sỹ pháp y để khắc phục Đối với những thuật ngữ chuyên môn theo

y học mà Kiểm sát viên chưa hiểu, chưa rõ hoặc với những dấu vết cần phân biệt, những nghi vấn, thắc mắc của Kiểm sát viên về việc khám nghiệm tử thi cũng cần phải yêu cầu Bác sỹ pháp

y giải thích ngay

c Hoạt động của Kiểm sát viên sau khi kết thúc khám nghiệm tử thiSau khi kết thúc việc khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên cần trao đổi và thống nhất với các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm về việc giao cho gia đình nạn nhân hoặc chính quyền địa phương tiến hành các thủ tục mai táng tử thi; kiểm sát việc lập biên bản khám nghiệm

tử thi để phát hiện những thiếu sót trong biên bản Trước khi ký vào biên bản, phải so sánh nội dung biên bản với những gì mà Kiểm sát viên ghi chép được, hoặc nắm bắt được trong quá trìnhkhám nghiệm Nếu thấy còn thiếu phải yêu cầu bổ sung vào biên bản khám nghiệm tử thi.Theo quy định tại Khoản 3 Điều 21 Quy chế THQCT và KSĐT thì sau khi khám nghiệm, Kiểm sát viên vào sổ thụ lý khám nghiệm, đồng thời báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra về kết quả khám nghiệm tử thi để có ý kiến chỉ đạo Nếuviệc khám nghiệm vi phạm quy định tại các điều 201, 202 BLTTHS, Kiểm sát viên trao đổi với Điều tra viên khắc phục vi phạm hoặc báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan Điều tra khắc phục kịp thời

hành vi liên quan đến tội phạm cấu thành tội độc lập ?

Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm (điều 20 BLHS ) Đồng phạm có dấu hiệu bắt buộc là :

+ có từ hai người trở lên ( họ đều có đủ các dấu hiệu của chủ thể của tội phạm )+ Họ cùng thực hiện một tội phạm

+ Họ cùng có lỗi cố ý khi thực hiện tội phạm đó

Những hành vi tuy có liên quan đến tội phạm nhưng lại không phải hành vi đồng phạm bởi những hành vi đó không thỏa mãn dấu hiệu “ cùng thực hiện một tội phạm” và gọi là những hành vi liên quan đến tội phạm cấu thành độc lập

Hành vi liên quan đến tội phạm cấu thành độc lập có thể là:

Hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có “ điều 250 BLHS” Hành vi này có thể cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nếu người chứa chấp hoặc tiêu thụ không có sự hứa hẹn, thỏa thuận trước với người phạm tội ( nếu có sự hứa hẹn, thỏa thuận trước hoặc do đã quen biết nhau từ trước mà mặc nhiên thỏa thuận, thì người chứa chấp hoặc tiêu thụ đó trở thành người giúp sức trong vụ án đồng phạm )

Hành vi che dấu tội phạm:

Hành vi này có thể cấu thành tội che dấu tội phạm ( được quy định tại điều 21 và điều

Trang 20

313 BLHS ) nếu thỏa mãn các dấu hiệu :

Người có hành vi che dấu không có sự hứa hẹn trước với người phạm tội ( nếu có sự hứa hẹn trước thì người đó trở thành đồng phạm với vai trò giúp sức

Hành vi che dấu được thực hiện khi tội phạm đã kết thúc Hành vi không tố giác tội phạm:

+ Hành vi không tố giác tội phạm có liên quan đến tội phạm ở chỗ “ biết có tội phạm xảy

ra Hành vi này có thể cấu thành tội không tố giác tội phạm bởi tính nguy hiểm cho xã hội của

nó thể hiện ở việc từ chối thực hiện nghĩa vụ của công dân trong đấu tranh tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều tra xử lý tội phạm ( được quy định cụ thể tại điều 22 và điều 314 BLHS)

Lưu ý: Hành vi không tố giác tội phạm mặc dù được thực hiện với lỗi cố ý, nhưng khôngthể là hành vi đồng phạm bởi nó luôn được thực hiện bằng việc không hành động, còn hành vi đồng phạm luôn được thực hiện bằng hành vi hành động

vụ, quyền hạn của Việnkiểm sát khi thực hànhquyền công tố và kiểmsát việc tuân theo phápluật trong giai đoạn xét

xử vụ án hình sự

1 Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình

sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khigiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra,

truy tố, xét xử vụ án hình sự.(3 điểm)

2 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự là hoạt độngcủa Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,

tổ chức, cá nhân trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (3 điểm)

3 Theo quy định tại Điều 266 BLTTHS năm 2015, khi thực hành quyền công tố tronggiai đoạn xét xử, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về

việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa;(1 điểm) b) Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; (1 điểm)

c) Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác

bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; (1 điểm)

d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm,

người phạm tội; (1 điểm) đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội tại phiên tòa (1 điểm)

4 Theo quy định tại Điều 267 BLTTHS năm 2015, khi kiểm sát xét xử, Viện kiểm sát cónhững nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các VAHS (1 điểm)

b) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ

quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật (1 điểm)

Trang 21

c) Kiểm sát bản án, quyết định và các văn bản tố tụng khác của Tòa án (1 điểm)

d) Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định

việc kháng nghị (1 điểm)

e) Kháng nghị bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng

của Tòa án (1 điểm)

g) Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân và một số quy định khác như:tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; Phòng xử án; Giao, gửi bản án; Phiêndịch tại phiên tòa; Kiến nghị sửa chữa thiếu sót, vi phạm trong công tác quản lý; Kiến nghị cơ

quan có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản pháp luật (3 điểm)

5 Nêu được căn cứ pháp lý, điều luật chính xác (1 điểm)

17 HS a) Đồng chí hãy

nêu kỹ năng của Kiểmsát viên trong việc đề rayêu cầu điều tra? Nêunhững giải pháp đểnâng cao chất lượng

yêu cầu điều tra? (20 điểm)

b) A lừa em Hsinh năm 2002 đemgiao cho B chủ nhànghỉ, được B trả cho 15

triệu đồng Hỏi: (30 điểm)

2 Tại sao?

3 Phân tích cácyếu tố cấu thành của tội

a) Kỹ năng của Kiểm sát viên trong việc đè ra yêu cầu điều tra;

* Căn cứ pháp lý của việc đề ra yêu cầu điều tra:

- Nêu căn cứ tại Điều 37, 112 Bộ luật tố tụng hình sự (1 điểm)

- Nêu căn cứ tại Điều 15 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT ngày 7/9/2005 (1 điểm)

- Nêu căn cứ tại Điều 19 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân

theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (1 điểm)

* Kỹ năng của Kiểm sát viên trong việc đề ra yêu cầu điều tra: (12 điểm)

- Nêu các bước/quy trình xây dựng yêu cầu điều tra: (2 điểm)

Để có một văn bản yêu cầu điều tra có chất lượng, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ

sơ vụ án, trên cơ sở những chứng cứ tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, định hướng nộidung cần phải điều tra theo quy định của pháp luật, logic, không suy đoán hoặc suy diễn mộtcách tùy tiện dẫn đến việc đề ra yêu cầu điều tra một cách thiếu căn cứ, gây khó khăn cho quátrình điều tra

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, Kiểm sát viên đối chiếu các hoạt động điềutra, các điều luật đã được Cơ quan điều tra áp dụng và cần phải áp dụng với các quy định củapháp luật hiện hành xem có phù hợp hay không?

Dự thảo bản yêu cầu điều tra báo cáo lãnh đạo chỉ đạo kiểm sát điều tra vụ án để xin ýkiến chỉ đạo (đối với những vụ án không quá phức tạp thì Kiểm sát viên quyết định) sau đó kýban hành bản yêu cầu điều tra

- Về hình thức: (2 điểm)

Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói hoặc bằng văn bản trong quá trìnhtrực tiếp kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làmchứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra Đối với các trường hợp khác, khi đề ra yêucầu điều tra, Kiểm sát viên phải có văn bản yêu cầu điều tra, nêu rõ những vấn đề cần điều tra

để thu thập, củng cố chứng cứ; hoàn thiện các thủ tục tố tụng hoặc để làm rõ những tình tiết liênquan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 Bộ luật

Trang 22

Việc ban hành và thực hiện các quyết định tố tụng để giải quyết vụ án hoặc định hướnggiải quyết vụ án như: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định thay đổi, bổ sung quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự; quyết định nhập, tách, chuyển vụ án hình sự, các quyết định tạm đình chỉ,đình chỉ điều tra, quyết định bổ sung, thay đổi quyết định khởi tố bị can; lệnh tam giam, lệnh bắt

bị can để tạm giam… phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật, vì các biện pháp này liênquan trực tiếp đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân

Ngoài ra còn những vấn đề khác như xác minh lý lịch bị can, trích lục tiền án, tiền sự,giao nhận các quyết định tố tụng, bảo quản, xử lý vật chứng…, trong khi tiến hành kiểm sát điềutra nếu phát hiện Điều tra viên chưa làm, chưa thực hiện, thì phải có yêu cầu điều tra kịp thời, vìđây cũng là vấn đề không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

+ Về chứng cứ vụ ánThứ nhất: Yêu cầu cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp điều tra để thu thập chứng cứnhư: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; thực nghiệm điều tra; khám xét dấu vếttrên thân thể; trưng cầu giám định; giám định bổ sung; giám định lại; khám xét, thu giữ đồ vậttài sản; yêu cầu lấy lời khai người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can về những nội dung cầnchứng minh, làm rõ; yêu cầu tiến hành đối chất, nhận dạng

Thứ hai: Làm rõ có hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành

vi phạm tội; người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; cónăng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng,tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can và những đặc điểm về nhân thân của bị can;tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Chỉ yêu cầu tiến hành điều tra những tình tiết của vụ án chưa được điều tra hoặc đã đượcđiều tra nhưng chưa rõ; chứng minh tính có căn cứ của những chứng cứ do Cơ quan điều tra đãthu thập; giải quyết các mâu thuẫn giữa các chứng cứ; định hướng điều tra cho sát đúng với nộidung luật định; xác định diện đối tượng cần làm rõ để khởi tố mở rộng điều tra vụ án

+ Đối với vụ án có tính chất phức tạp, có nhiều bị can tham gia, có bị can không nhận

Trang 23

tội, Kiểm sát viên phải đánh giá, phân hóa từng vấn đề cần chứng minh làm rõ Trên cơ sở đó đề

ra yêu cầu điều tra từng vấn đề liên quan tới từng bị can, chú trọng yêu cầu củng cố tài liệuchứng cứ vật chất, chứng cứ có tính khách quan và các biện pháp điều tra Những vụ án được dưluận đặc biệt quan tâm và những trường hợp thấy có thể phải thay đổi, bổ sung quyết định khởi

tố vụ án, khởi tố bị can thì Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng, PhóViện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền trước khi ký văn bản yêu cầu điềutra

Văn bản yêu cầu điều tra phải được lưu vào hồ sơ kiểm sát một bản

+ Sau khi đã đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động điềutra của Điều tra viên, bảo đảm các yêu cầu điều tra được thực hiện đầy đủ Khi thấy có vấn đềcần phải điều tra thêm, Kiểm sát viên kịp thời bổ sung yêu cầu điều tra; nếu Điều tra viên đềnghị, Kiểm sát viên có trách nhiệm giải thích rõ nội dung những yêu cầu điều tra Trường hợpĐiều tra viên không nhất trí thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểmsát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, kiến nghị với Thủ trưởng Cơ quan điều tra giảiquyết Nếu do điều kiện khách quan mà Cơ quan điều tra không thực hiện được đầy đủ các yêucầu điều tra thì phải nêu rõ lý do trong Bản kết luận điều tra vụ án

* Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả yêu cầu điều tra trong vụ án hình sự (5 điểm, mỗi giải pháp 1 điểm)

- Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ban hành yêu cầu điều tra, xácđịnh việc ban hành yêu cầu điều tra là nhiệm vụ bắt buộc trong quá trình thực hành quyền công

tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự

- Nâng cao năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm của Kiểm sát viên

- Trước khi để ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án

- Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cần chú trọng quan tâm việc kiểm tra, hướng dẫn, chỉđạo Kiểm sát viên đối với việc ra yêu cầu điều tra, trường hợp cần thiết phải duyệt văn bản nàytrước khi ban hành; thường xuyên tiến hành rút kinh nghiệm trong đơn vị; tăng cường công tácbồi dưỡng tại chỗ cho Kiểm sát viên về kỹ năng xây dựng bản yêu cầu điều tra Thường xuyên

tổ chức tập huấn để nâng cao trình độ của Kiểm sát viên trong việc ban hành yêu cầu điều tra.Tập hợp những bản yêu cầu điều tra có chất lượng để nhân rộng cho các Kiểm sát viên đồngnghiệp nghiên cứu, học tập

- Tăng cường sự phối kết hợp giữa Kiểm sát viên và Đều tra viên, giữa Cơ quan điều tra

và Viện kiểm sát để có sự nhận thức chung đúng đắn về hoạt động yêu cầu điều tra cũng nhưtrách nhiệm của việc thực hiện yêu cầu điều tra theo quy định của pháp luật

b) Đáp án bài tập tình huống phần hình sự:

1 A không phạm tội “Mua bán người” được quy định tại Điều 119 Bộ luật hình sự năm

1999 sửa đổi, bởi vì em H chưa đủ 16 tuổi, theo Luật trẻ em người chưa đủ 16 tuổi là trẻ em (5

Trang 24

2 Trường hợp này A lừa em H dưới 16 tuổi (là trẻ em) giao cho B chủ nhà nghỉ để lấy

tiền 15 triệu đồng nên A phạm tội “Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em” được quy định tại Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999 (5 điểm)

3 Phân tích yếu tố cấu thành của tội phạm: (10 điểm)

- Mặt khách thể của tội phạm: Xâm phạm vào quyền được bảo vệ về thân thể, danh dự,nhân phẩm, quyền tự do của con người, xâm hại đến các quyền được chăm sóc giáo dục và bảo

vệ trẻ em được Hiến pháp và pháp luật quy định Bên cạnh đó còn xâm hại nghiêm trọng đến

trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang trong dư luận Đối tượng tác động của tội phạm Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em bao gồm những người (cả nam và nữ) dưới 16 tuổi (2,5 điểm)

- Mặt khách quan của tội phạm: (2,5 điểm)

+ Tội phạm thể hiện ở hành vi mua bán người dưới 16 tuổi Mua bán là hành vi dùng tiềnhoặc các lợi ích vật chất khác mua bán, trao đổi một con người cụ thể

+ Hậu quả của tội phạm là người dưới 16 tuổi bị đưa ra để mua bán, danh dự, nhân phẩmcủa họ bị xâm phạm, thực tế nạn nhân có thể bị bóc lột sức lao động, bị bóc lột tình dục, bị đày

ải, bị đánh đập và có thể bị sử dụng vào những mục đích trái pháp luật khác Hậu quả của tộiphạm là một trong những tiêu chí để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

và là cơ sở để xem xét áp dụng hình phạt đối với người phạm tội

Hành vi mua bán đã được thực hiện hay chưa không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ

có ý nghĩa trong việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm Tội phạm được coi là hoàn thànhkhi hành vi mua bán người dưới 16 tuổi được thực hiện, khi đó danh dự, nhân phẩm của conngười đã bị xâm hại

- Chủ thể của tội phạm: Là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo

quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 (2,5 điểm)

- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em đượcthực hiện với hình thức lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức được hành vi mua bán người dưới

16 tuổi là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện Động cơ mục đích chủ yếu của tội phạmMua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là vì vụ lợi, song đó không phải là dấu hiệu bắtbuộc, người phạm tội có thể thực hiện tội phạm vì nhiều động cơ mục đích khác nhau như trả

thù cá nhân, bóc lột sức lao động (2,5 điểm)

hiện trường vụ án “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, là

Khám nghiệm hiện trường là một trong những hoạt động thu thập chứng cứ hay còn gọi làbiện pháp điều tra, nhằm xác định có tội phạm hay không có tội phạm xảy ra, để từ đó cơ quan

có thẩm quyền ra quyết định giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật

Nếu trong hoạt động khám nghiệm hiện trường có sai sót hoặc thiếu việc thu thập cácchứng cứ, dấu vết ban đầu trên các phương tiện, hiện trường rất dễ dẫn đến việc bỏ lọt dấu vết,

Trang 25

kiểm sát viên thì anh chị phải làm gì? chứng cứ khó có thể tìm lại, phục hồi được và gây khó khăn nhiều cho việc lập kế hoạch điềutra, định hướng điều tra tội phạm.

Điều 150 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định trách nhiệm trong mọitrường hợp trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên (ĐTV) phải thông báo cho Việnkiểm sát (VKS) cùng cấp biết Khi được lãnh đạo Viện phân công Kiểm sát viên phải có mặt đểkiểm sát việc khám nghiệm hiện trường để kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, hợp lý trong hoạtđộng khám nghiệm hiện trường của Cơ quan điều tra, cụ thể là ĐTV

Với chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, thì KSV có mặt tại nơi khám nghiệm giữ vaitrò kiểm sát việc khám nghiệm của ĐTV Trên cơ sở của pháp luật tố tụng hình sự, KSV phảikiểm sát tính hợp pháp của hoạt động khám nghiệm, kiểm sát việc chấp hành các thủ tục, trình

tự khám nghiệm, kiểm sát các hoạt động khám nghiệm, kiểm sát việc thu thập, bảo quản dấuvết, đúng quy định của BLTTHS và đạt hiệu quả, mục đích của hoạt động khám nghiệm

Khi khám nghiệm phải có người chứng kiến có thể để cho người gây ra tai nạn, người bịhại hoặc đại diện gia đình người bị hại, người làm chứng trong trường hợp cần thiết mời nhàchuyên môn tham dự việc khám nghiệm hiện trường

Yêu cầu ĐTV phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng môhình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết để lại trên hiện trường, thu thập các đồ vật, tài liệu cóliên quan đến vụ tai nạn và lập biên bản khám nghiệm hiện trường và ghi rõ kết quả xem xét vàobiên bản khám nghiệm hiện trường

Do đặc thù của hiện trường giao thông đường bộ thường bị xáo trộn và dễ mất dấu vếtnhất do sự lưu thông của nhiều phương tiện cho nên KSV yêu cầu ĐTV có kế hoạch bảo vệchặt chẽ hiện trường Khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoạt động khám nghiệm của Cơ quanđiều tra thì KSV sẽ yêu cầu khắc phục, bổ sung kịp thời để việc khám nghiệm được thực hiệntheo pháp luật để làm căn cứ xử lý theo đúng quy định của pháp luật

Sau khi kiểm sát xong hoạt động khám nghiệm, KSV phải vào sổ theo dõi hoạt độngkhám nghiệm, làm báo cáo đồng chí Viện trưởng hoặc phó viện trưởng phụ trách để nắm và chỉđạo Thường xuyên bám sát quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, phối hợp với Cơ quan điều tralàm rõ nếu có dấu hiệu hình sự phải báo cáo ngay Lãnh đạo Viện để xử lý kịp thời Đối vớinhững vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm ngay sau khi khám nghiệm hiện trường, khámnghiệm phương tiện, Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện để tiến hành họp hội ý tập thể

để xác định các căn cứ phê chuẩn các quyết định

KSV trung cấp khi tham gia xét hỏi trong trường hợp vụ án hình

Trang 26

thẩm có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt? - Phương pháp xét hỏi:+ Nếu bị cáo có kháng cáo thì bị cáo phải được hỏi trước, sau đó mới xét hỏi đến người

bị hại Xét hỏi bị cáo trước để bị cáo khai rõ những nội dung, yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt Tiếp sau, KSV xét hỏi người bị hại để xem xét yêu cầu của họ có mâu thuẫn với bị cáo hay không, nếu có mấu thuẫn thì giải quyết cho hợp lý

+ Nếu bị hại kháng cáo thì hỏi bị hại trước, sau đó xét hỏi đến bị cáo Khi xét hỏi người

bị hại cần làm rõ lý do của việc xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo? Tiếp đó xét hỏi bị cáo về yêu cầu kháng cáo của bị hại Nếu giữa kháng cáo của bị hại và yêu cầu kháng cáo của bị cáo cómâu thuẫn, thì cần xét hỏi để làm rõ động cơ, mục đích của kháng cáo

+ Nếu người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại thực hiện việc kháng cáo, thì KSV xét hỏi người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại về lý do của việc kháng cáo, sau

đó mới xét hỏi đến những người tham gia tố tụng khác

- Nội dung xét hỏi:

+ KSV phải xét hỏi về căn cứ, lý do xin giảm nhẹ hình phạt, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đã được làm rõ và áp dụng ở cấp sơ thẩm, đặc biệt là các tình tiếp giảm nhẹ TNHS đã được làm rõ nhưng chưa được áp dụng ở cấp sơ thẩm hoặc các tình tiết giảm nhẹ mới xác minh, thu thấp sau khi xét xử sơ thẩm

+ Trong trường hợp kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại Tòa bị cáo xuất trình các chứng cứ thể hiện việc vô tội của bị cáo mà cấp sơ thẩm chưa xem xét, thì KSV áp dụng phương pháp và nội dung xét hỏi cần được làm rõ xem bị cáo có oan hay không

trình bày những ngườibào chữa và quyền,nghĩa vụ của người bàochữa?

1 Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Bào chữa viên nhân dân

2 Người bào chữa có quyền:

a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viênđồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác;xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liênquan đến người mà mình bào chữa;

b) Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặtkhi hỏi cung bị can;

c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quyđịnh của Bộ luật này;

d) Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêucầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;

Trang 27

đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

g) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữasau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

h) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

i) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng;

k) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặcngười có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộluật này

3 Người bào chữa có nghĩa vụ:

a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác địnhngười bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,

bị cáo

Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thìngười bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Việc giaonhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biênbản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này;

b) Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của họ;

c) Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảmnhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng;

d) Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục ngườikhác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Toà án;

e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa;không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợiích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân

21 HS 1 Về tội danh: Việc truy tố bị can A về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104

Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104

“Dùng hung khí nguy hiểm” là chính xác Riêng hành vi chiếm đoạt tài sản trong trường hợp

này là truy tố tội “Cướp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự

2 Đề xuất với Lãnh đạo Viện báo cáo VKS cấp cao đề nghị kháng nghị theo thủ tụcgiám đốc thẩm đối với bản án của Tòa án nhân dân huyện H

Trang 28

22 HS Anh (chị) hãy

trình bày như thế nào làtái phạm, tái phạm nguyhiểm?

- Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặcphạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý

- Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá

án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý

bày kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sátđiều tra và kiểm sát xét

xử các vụ án có yếu tố nước ngoài

- Nêu các khái niệm: THQCT, KSĐT, KSXX vụ án hình sự(2 điểm)

- Nêu nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 28 Bộ luật Tố tụnghình sự năm 2003).(2 điểm)

- Trình bày các trường hợp cụ thể về yếu tố nước ngoài trong vụ án: Căn cứ Điều 7 Nghịquyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 qui định cụ thể về các trường hợp thế nào làđương sự ở nước ngoài (2 điểm)

- Xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài: căn cứ vềtính chất tội phạm theo qui định của BLHS và BLTTHS và căn cứ thẩm quyền xét xử các vụ ándân sự theo qui định của BLTTDS

Thẩm quyền cấp tỉnh: các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh và cáctrường hợp tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện nhưng những vấn đề dân

sự trong vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh.(2 điểm)

Thẩm quyền cấp huyện: các trường hợp còn lại (2 điểm)

- Kỹ năng THQCT, KSĐT, KSXX cụ thể: trình bày nhiệm vụ, quyền hạn theo quy địnhcủa Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật tổ chức chức Viện kiểm sát nhân dân.(4 điểm)

- Một số vấn đề cần lưu ý:

Đảm bảo về tiếng nói và chữ viết trong tố tụng: dịch thuật văn bản, phiên dịch lời nói…(Điều 24 BLTTHS) (2 điểm)

Hợp tác tư pháp quốc tế: tương trợ tư pháp; ủy thác tư pháp (2 điểm)

Đảm bảo thời hạn điều tra; tách vụ án…(2 điểm)

bày kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sátđiều tra và kiểm sát xét

xử các vụ án có hành vitội phạm thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng

- Các khái niệm: THQCT, KSĐT, KSXX vụ án hình sự (2 điểm)

- Định nghĩa tội phạm quy định tại BLHS (2 điểm)

- Thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử các vụ án đặc biệt nghiêm trọng.(4 điểm)

- Kỹ năng THQCT, KSĐT, KSXX cụ thể: trình bày nhiệm vụ, quyền hạn theo quy địnhcủa Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật tổ chức chức Viện kiểm sát nhân dân.(4 điểm)

- Một số vấn đề cần lưu ý:

Đảm bảo khả năng thi hành án tử hình (2 điểm)

Giải quyết toàn diện các vấn đề dân sự sau khi thi hành án hình sự (2 điểm)

Trang 29

Vấn đề đảm bảo thời hạn khi phải gia hạn điều tra lần thứ ba theo Điều 119 BLTHS (2điểm)

Đảm bảo có sự tham gia của người bào chữa trong suốt quá trình tố tụng vụ án.(2 điểm)

khám nghiệm hiệntrường tai nạn giaothông đường bộ

Cần làm rõ những nội dung sau:

1.Cơ sở pháp lý: Căn cứ vào Điều 150, 151 BLTTHS 2003, Điều 202, 202 BLTTHS

2015 qui định về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi

2.Thành phần khám nghiệm

3.Nhận tin, xử lý tin

4.Những việc cần làm ngay khi đến hiện trường

5.Nội dung kiểm sát khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ

5.1 Những việc phải làm tại hiện trường trước khi khám nghiệm (tiếp nhận các côngviệc, nghe báo cáo tình hình; mời người chứng kiến việc khám nghiệm; quan sát toàn bộ địađiểm xảy ra tai nạn, nhận định hiện trường; xác định phạm vi khám nghiệm; phương pháp;chiến thuật khám nghiệm; các phương tiện kỹ thuật phục vụ khám nghiệm

5.2 Tiến hành khám nghiệm:

- Quan sát hiện trường;

- Khám nghiệm tỉ mỉ;

- Khám nghiệm dấu vết, thương tích trên người nạ n nhân;

- Khám nghiệm phương tiện gây tai nạn

6 Kết thúc khám nghiệm:

- Tổ chức đánh giá sơ bộ dấu vết, vật chứng đã phát hiện, thu thập được tại hiệntrường nhằm khai thác thông tin phục vụ hoạt động điều tra Thông qua và ký biên bản khámnghiệm

nhau giữa tình tiết tăngnặng trách nhiệm hình

sự và tình tiết địnhkhung tăng nặng?

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm HS Đ 48 BLHS

- Được quy định tại điều luật phần chung

- Được áp dụng đối với mọi tội phạm

- Làm tăng hình phạt trong một khung

Tình tiết định khung tăng nặng

- Được quy định tại điều luật phần các tội phạm

- Được áp dụng đối với tội phạm có quy định tình tiết đó

- Trong việc định tội danh, tình tiết này được xác định sau khi đã xác định được tình tiếtđịnh tội và tình tiết định khung

hiệu (đặc điểm) của tộiphạm (20đ)

- Các dấu hiệu của tội phạm:

Điều 8 BLHS năm 2015 đã xác định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi bịcoi là tội phạm có các dấu hiệu: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái PLHS và tínhphải chịu hình phạt (2 điểm)

Trang 30

+ Tính nguy hiểm cho xã hội:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội Đồngthời, khoản 2 Điều 8 BLHS còn quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưngtính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằngcác biện pháp khác” Căn cứ quy định tại Điều 8 BLHS, có thể thấy, theo quy định của luật hình

sự Việt Nam, tội phạm phải là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội (2 điểm)

Nguy hiểm đáng kể cho xã hội cho xã hội nghĩa là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hạiđáng kể cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Thiệt hại do tội phạm gây ra có thể

là thiệt hại về thể chất, về vật chất hoặc các thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, những tác hại gây

ra cho an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (1 điểm)

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, nghĩa là nó tồn tại độc lập,khách quan, không phụ thuộc vào sự áp đặt chủ quan của con người (1 điểm)

Trong BLHS quy định nhiều tội phạm mà tự bản thân việc thực hiện hành vi được quyđịnh trong BLHS đã là nguy hiểm đáng kể cho xã hội và bị coi là tội phạm Trong nhiều trườnghợp điều luật Phần các tội phạm của BLHS không quy định cụ thể các tiêu chí để xác định hành

vi như thế nào là nguy hiểm đáng kể cho xã hội mà chỉ quy định những dấu hiệu định tính (1điểm)

Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội không chỉ là căn cứ để phân biệt hành viphạm tội với những hành vi vi phạm pháp luật khác, mà còn là cơ sở để nhà làm luật phân hóaTNHS, làm cơ sở để cá thể hóa TNHS khi áp dụng (1 điểm)

+ Tính có lỗi:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội dongười có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Nhưvậy, dấu hiệu tính có lỗi là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm (2 điểm)

Việc thừa nhận nguyên tắc trách nhiệm do lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản củaluật hình sự xuất phát từ việc coi lỗi là thái độ phủ định chủ quan của người hoặc pháp nhânthương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trước các yêu cầu và đòi hỏi của xã hội vàcoi mục đích của TNHS, của hình phạt là nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội (1 điểm)+ Tính trái PLHS:

Theo luật hình sự Việt Nam, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sựquy định Tính trái PLHS của tội phạm được thể hiện tại Điều 2, khoản 1 Điều 8 và các điều luật

cụ thể Phần các tội phạm của BLHS Có thể hiểu rằng, những hành vi nguy hiểm được quy địnhtrong Bộ luật hình sự, nếu ai thực hiện những hành vi đó thì là trái pháp luật hình sự.(2 điểm) Tính trái PLHS và tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có mối quan hệ biện chứng,gắn bó với nhau về mặt hình thức pháp lý và nội dung chính trị - xã hội Tính nguy hiểm cho xãhội của tội phạm thể hiện nội dung có tính chính trị - xã hội của tội phạm, còn tính trái PLHS là

Trang 31

thể hiện về mặt hình thức pháp lý của tội phạm Trong mối quan hệ hai mặt đó, tính nguy hiểmcho xã hội của tội phạm là thuộc tính bên trong của tội phạm quy định tính trái PLHS của tộiphạm Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cụ thể, nhà làm luật mới phản ánhhành vi đó vào luật hình sự để quy định đó là tội phạm và hành vi đó mang tính trái PLHS (2điểm)

+ Tính phải chịu hình phạt:

Tội phạm luôn chứa đựng khả năng bị đe dọa áp dụng biện pháp cưỡng chế Nhà nướcnghiêm khắc nhất là hình phạt Do vậy, có thể nói tội phạm mang tính phải chịu hình phạt (2điểm)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, tính phải chịu hình phạt của tội phạm tuy khôngphải là thuộc tính bên trong của tội phạm nhưng là hệ quả của việc thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội, có lỗi và trái PLHS và bị coi là tội phạm (1 điểm)

Nói đến tội phạm là nói đến hình phạt, với tính cách là biện pháp cưỡng chế Nhà nướcnghiêm khắc nhất trong số các biện pháp cưỡng chế Nhà nước để áp dụng đối với người hoặcpháp nhân thương mại phạm tội (1 điểm)

Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là cơ sở để phân hóa hình phạt khinhà làm luật quy định các điều khoản về tội phạm trong BLHS và là cơ sở để cá thể hóa hìnhphạt khi áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội trong từng trường hợp cụthể (1 điểm)

có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quyđịnh (2đ)

- Đặc điểm của trách nhiệm hình sự: (4đ)

Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm

Đặc điểm thứ hai: trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân người phạm tội

Đặc điểm thứ ba: trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu

lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định

Đặc điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trước Nhà nước, kết quả của việc áp

dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặcbiệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định

- Cơ sở của trách nhiệm hình sự: (2đ)+ Cơ sở triết học của trách nhiệm hình sự + Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự

Trang 32

- Miễn trách nhiệm hình sự là miễn hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội, thể hiện ởchỗ người phạm tội không phải chịu sự kết tội của Tòa án, không bị coi là có tội, không phảichịu hình phạt và không phải mang án tích (2đ)

- Điều kiện miễn trách nhiệm hình sự : (10đ)Luật hình sự Việt Nam đã quy định những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự sau:

- Một là, khi tiến hành điều tra, trúy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp

luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1 Điều 29 Bộ luậthình sự);

- Hai là, khi có quyết định đại xá (khoản 1 Điều 29 Bộ luật hình sự);

- Ba là, khi tiến hành điều tra hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà người phạmtội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 2 Điều 29 Bộ luật hình sự);

- Bốn là, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫnđến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa ;

- Năm là, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc pháthiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập cônglớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận (khoản 2 Điều 29 Bộ luậthình sự);

- Sáu là, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16 Bộ luật hình sự);

- Năm là, người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hạikhông lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát,giáo dục (khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự);

- Sáu là, người phạm tội đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ đượcgiao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 4 Điều 110 Bộluật hình sự);

- Bảy là, người phạm tội đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báotrước khi bị phát giác (khoản 7 Điều 364 Bộ luật hình sự);

- Tám là, người môi giới hối lộ đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác (khoản 6 Điều

365 Bộ luật hình sự);

- Chín là, người phạm tội không tố giác tội phạm nhưng đã có các hành động can ngănngười phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm (khoản 2 Điều 390 Bộ luật hình sự)

nêu vai trò của chứng

cứ trong họat động điềutra các vụ án hình sự

Theo anh (chị) trongcác thuộc tính của

+ Khái niệm chứng cứ: theo khoản 1 Điều 64 BLTTHS “Chứng cứ là những gì có thật,được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành

vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án

+ Chứng cứ được xác định bằng

- Vật chứng;

Trang 33

- Khái niệm chứng cứ là xuất phát để xác định các quy phạm khác của chế định chứng

cứ như những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự

- Chứng cứ là căn cứ để xác định sự thật khách quan đồng thời phản ánh quá trình xácđịnh sự thật khách quan

- Chứng cứ là phương tiện để khẳng định các sự kiện, hiện tượng nhằm giải quyết đúngđắn vụ án

+ Các thuộc tính của chứng cứ

Một là, tính khách quan: Chứng cứ phải là những gì có thật và phản ánh trung thực những

tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra

Hai là, tính liên quan: Chứng cứ phải có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án.

Nhưng cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng phải là mối quan hệ nội tại, có tính nhânquả, tức là chứng cứ phải là kết quả của một loại hành vi hoặc hành động hoặc một quan hệ nhấtđịnh, ngược lại, hành vi, hành động hoặc quan hệ đó là nguyên nhân dẫn đến việc hình thànhcác chứng cứ này

Ba là, tính hợp pháp: Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu,

bảo quản theo một trình tự do luật định Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh củachứng cứ

Trong ba thuộc tính trên tính hợp pháp là quan trọng nhất

Vấn đề đầu tiên phải xác định khi đánh giá từng chứng cứ là kết luận về tính chính xác,tính khách quan của từng chứng cứ, đây là vấn đề có tính tiên quyết trong khâu đánh giá chứng

cứ, vì nếu không kết luận được tính xác thực của chứng cứ thì không thể nói tới giá trị chứngminh của nó Vì vậy, trong hoạt động điều tra phải xác định xem chứng cứ được sử dụng ởnguồn nào, có nằm trong tổng hợp hệ thống các chứng cứ trong vụ án hay không Đồng thờiphải xem chứng cứ đó có mối liên hệ với các chứng cứ khác như thế nào Việc xác định mốiquan hệ giữa các chứng cứ là một nhiệm vụ quan trọng của những người tiến hành tố tụng Nó

là điều kiện cần thiết và bảo đảm để xác định sự thật của vụ án

Sau khi đã xác định được tính chính xác của chứng cứ, việc tiếp theo là phải kết luận giátrị chứng minh của từng chứng cứ Tức là xác định xem chứng cứ đó có khả năng làm rõ đượctình tiết nào trong vụ án, mức độ tin cậy của chứng cứ đó ở chừng mực nào, giới hạn đến đâu,

Trang 34

chứng cứ đó có giá trị chứng minh một phần hay toàn bộ vụ án, chứng cứ đó đã đủ cơ sở để đưa

ra những kết luận và quyết định cuối cùng hay không Nếu nhận thức sự việc đúng sẽ dẫn tới kếtluận định tội danh và quyết định hình phạt đúng, còn nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới những kếtluận sai

Chính vì vậy, việc đánh giá và xác định giá trị chứng minh của chứng cứ có vai trò rấtquan trọng Ngoài các yêu cầu nói trên, khi đánh giá chứng cứ phải xem xét về giá trị pháp lýcủa từng chứng cứ, tức là đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ, chứng cứ phải được phản ánh từcác nguồn do pháp luật thừa nhận và bằng các biện pháp phù hợp với các quy định của phápluật Thông tin dù có đủ các thuộc tính khách quan và liên quan nhưng những nguồn và biệnpháp thu thập thông tin không phù hợp với quy định của pháp luật, thì những tài liệu thông tin

đó không được dùng làm căn cứ chứng minh trong vụ án hình sự

Để việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ hợp pháp, có tính thuyết phục cao khôngchỉ đối với người tiến hành tố tụng mà cả những người tham gia tố tụng phải đảm bảo các yêucầu sau:

- Chứng cứ phải được phát hiện kịp thời nhằm xác định các sự kiện cơ bản của vụ án và

nó phải tương ứng với sự kiện xảy ra;

- Chứng cứ được phát hiện cần được thu thập theo trình tự do BLTTHS quy định và ghinhận dưới những hình thức pháp lý nhất định;

- Chứng cứ làm cơ sở cho cơ quan tiến hành tố tụng kết luận cần phải được kiểm tra tínhxác thực, đúng đắn của nó thông qua việc nghiên cứu chứng cứ, phát hiện những chứng cứ mới,củng cố hoặc bác bỏ chứng cứ đó cũng như đối chiếu, so sánh các chứng cứ với chứng cứ khác

sự sơ thẩm (20 điểm)

1 Yêu cầu của tranh luậnTheo quy định tại Điều 18 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Điều322 BLTTHS, Điều 24Quy chế THQCT và KSXX thì khi tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Kiểm sátviên phải thực hiện việc tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia

tố tụng khác, nếu những người này trình bày ý kiến tranh luận phản bác lại một phần hoặc toàn

bộ lời luận tội và đưa ra đề nghị của mình Khi tranh luận, đối đáp, Kiểm sát viên phải đưa ralập luận của mình đối với từng ý kiến Trường hợp Kiểm sát viên trình bày luận tội có tínhthuyết phục cao mà bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác “tâm phục,khẩu phục” không có ý kiến trình bày và đưa ra đề nghị gì thêm thì Kiểm sát viên không phảitranh luận, đối đáp nữa Như vậy, việc tranh luận, đối đáp và nội dung của tranh luận, đối đápcủa Kiểm sát viên phụ thuộc vào việc bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụngkhác có đưa ra ý kiến đề nghị tranh luận hoặc phản bác lại luận tội hay không

2 Kỹ năng tranh luận

Trang 35

Sau lời luận tội của Kiểm sát viên, Chủ tọa phiên tòa sẽ điều hành việc tranh luận theotrình tự của Điều 320 và Điều 321 BLTTHS Trong suốt quá trình tranh luận, đối đáp, Kiểm sátviên phải có trách nhiệm bảo vệ quan điểm luận tội của mình, bảo vệ cáo trạng của Viện kiểmsát đã truy tố bị cáo tại phiên tòa Để bảo đảm cho việc tranh luận, đối đáp tại phiên tòa đượcchủ động, tự tin đòi hỏi Kiểm sát viên khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểmsát xét xử tại phiên tòa, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cần phải chuẩn bị dự thảo đề cươngtranh luận, đối đáp, dự kiến những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa và những người tham gia

tố tụng khác có thể đưa ra ý kiến và đề nghị đối đáp Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chú ý theodõi, ghi chép những nội dung xét hỏi của Hội đồng xét xử đối với bị cáo, những người tham gia

tố tụng khác, các câu hỏi của người bào chữa và nội dung trả lời của từng người được xét hỏi đểnắm được cơ sở lập luận của từng người cũng như tâm lý của họ sẽ được thể hiện trong phầntranh luận để kịp thời bổ sung cho đề cương tranh luận, đối đáp

Khi bước vào tranh luận, Kiểm sát viên phải chú ý lắng nghe các bên trình bày quan điểm,

ý kiến của họ, vừa nghe vừa ghi lại tóm tắt để nắm được nội dung vấn đề Trường hợp họ trìnhbày không rõ thì Kiểm sát viên yêu cầu họ nói rõ thêm để nắm được luận điểm, luận cứ mà họđưa ra Nếu vụ án có nhiều người cùng bào chữa cho một bị cáo thì Kiểm sát viên có thể nghetừng người để tham gia đối đáp, hoặc tổng hợp ý kiến chung của tất cả những người bào chữa đểphản biện Trong quá trình nghe, Kiểm sát viên cần phân tích nội dung của vấn đề, đồng thờixác định nhanh nội dung cần đối đáp Kiểm sát viên cần lưu ý, những nội dung, vấn đề mà cácbên đưa ra phải là những nội dung liên quan đến vụ án và phải có trong hồ sơ Trường hợp tàiliệu mới phát sinh thì cũng phải là tài liệu có liên quan đến vụ án và phải kiểm tra nguồn gốc,tính hợp pháp của tài liệu đó để có lập luận đối đáp Kiểm sát viên có thể đề nghị Hội đồng xét

xử cắt những ý kiến của các bên không có liên quan đến vụ án để không phải đối đáp lại

Kiểm sát viên cần chủ động đề nghị Chủ tọa phiên tòa cho tranh luận; tuỳ theo từngtrường hợp cụ thể, từng nội dung cụ thể để lựa chọn nội dung nào, vấn đề nào cần đối đáp, tranhluận trước v.v Thông thường, Kiểm sát viên nên chọn những vấn đề mà trong hồ sơ vụ án đãđược khẳng định phù hợp với kết quả thẩm tra công khai tại phiên tòa để phản bác ý kiến củangười bào chữa hoặc bị cáo.v.v

Khi tranh luận, Kiểm sát viên cần căn cứ vào lý luận của cấu thành tội phạm, lý luận vềchứng cứ để lập luận theo lôgic từng vấn đề, từ đó phản bác ý kiến của phía tham gia tranh luận.Thực tế hiện nay cho thấy, người bào chữa thường tập trung vào những vi phạm về thủ tục tốtụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong quá trình giải quyết vụ án, như thiếu chữ

ký, có sự tẩy xoá, sửa chữa, ghi ngày, tháng, năm hoặc triệu tập người tham gia tố tụng tham giaphiên tòa không đầy đủ từ đó đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận những nội dung trong

hồ sơ, tài liệu, đề nghị Hội đồng xét xử cho trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đề nghị hoãnphiên tòa để thẩm tra, xác minh những tài liệu đó Trong những trường hợp như vậy, Kiểm sát

Trang 36

viên phải nắm vững những quy định của BLTTHS để khẳng định tính có căn cứ, tính hợp phápcủa tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đồng thời chú ý thẩm tra, xác minh công khai tại phiên tòanhững thiếu sót về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra để khẳng định bản chất của vụ việcđang được xem xét và phản bác những ý kiến của người bào chữa.

Kiểm sát viên cần chú ý những mâu thuẫn trong tranh luận của người bào chữa và giữanhững người bào chữa với nhau, giữa người bào chữa với người bảo vệ quyền lợi của các đươngsự… trong quá trình tham gia phiên tòa Có thể do nhiều nguyên nhân, ví dụ: Họ không thamgia phiên tòa từ đầu cho đến khi kết thúc, hay đi ra đi vào trong quá trình thẩm vấn, không chú ýlắng nghe ý kiến của luật sư đồng nghiệp hoặc chỉ đọc nguyên văn bài bào chữa đã chuẩn bịsẵn song Kiểm sát viên có thể dựa vào đó để làm cơ sở phản bác lại những ý kiến tham giatranh luận Việc tranh luận, đối đáp không nên dài dòng, miên man, Kiểm sát viên cần đi thẳngvào trọng tâm, nội dung của vấn đề cần tranh luận, đối đáp

Trong quá trình tranh luận, đối đáp, Kiểm sát viên cần bình tĩnh, linh hoạt, văn phong,ngôn ngữ sử dụng khi đối đáp phải trong sáng, dễ hiểu, chính xác, ngắn gọn, đi thẳng vào vấn

đề, những khẳng định, phản bác phải sinh động, có tính thuyết phục cao, có lý, có tình trên cơ

sở tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, để cho bị cáo, người bào chữa nhận thức được hành

vi phạm tội của bị cáo là nguy hại cho xã hội và quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật Mặt khác, Kiểm sát viên phải tôn trọng quyền bào chữa của bịcáo và quyền của những người tham gia tố tụng khác, tránh thái độ định kiến, bảo thủ, khôngthừa nhận những yếu kém, thiếu sót của mình Để thực hiện tốt việc tranh luận, đối đáp, Kiểmsát viên phải kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nắm chắccác chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, am hiểu kỹ năng nghiệp vụ, vận dụng linh hoạt nhanh nhạyvào việc xử lý tình huống tại phiên tòa

vấn đề KSV cần xử lý:

- Khi Luật sư bào chữa cho bị cáo yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng;

- Việc Luật sư tự

ý rời khỏi phòng xử án khi cho rằng HĐXX không triệu tập thêm người làm chứng sẽ

làm ảnh hưởng đến kết quả xét xử sơ thẩm?

- Khi luật sư bào chữa cho bị cáo yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng:

KSV cần chú ý khi kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng:

Trường hợp có nhiều người làm chứng: Xem xét lời khai của người làm chứng đó có phùhợp với lời khai của những người làm chứng khác hay không, có phù hợp với những chứng cứ

có trong hồ sơ vụ án hay không, nếu phù hợp thì không cần phải triệu tập họ và đề nghị Hộiđồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử

Trong trường hợp nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng của vụ án (chỉ có lờikhai của họ chứng minh hành vi phạm tội) hoặc là mấu chốt để xem xét đánh giá các chứng cứkhác hoặc lời khai của những người làm chứng mâu thuẫn với nhau cần đối chất để làm rõ thìcăn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 297 đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để triệu tập ngườilàm chứng hoặc dẫn giải họ đến phiên tòa (cố tình vắng mặt mà không vì lý do bất khả khánghoặc không do trở ngại khách quan)

- Việc luật sư tự ý rời khỏi phòng xử án khi cho rằng HĐXX không triệu tập thêm người

Trang 37

làm chứng sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả xét xử sơ thẩm:

+ Trường hợp người bào chữa cho người đã thành niên, mà luật sư tự ý rời khỏi phòng xử

án thì Tòa án vẫn mở phiên tòa sơ thẩm (khoản 1 Điều 291)

+ Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của BLTTHS màngười bào chữa rời bỏ khỏi phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bịcáo hoặc đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt (khoản 2 Điều 291)

Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặcthể chất mà cả bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến từ chốingười bào chữa thì cần phải ghi vào biên bản phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tụcchung mà không có sự tham gia của người bào chữa đã dược cử

Nếu chỉ có bị cáo từ chối người bào chữa, còn người đại diện hợp pháp của bị cáo không

từ chối người bào chữa hoặc chỉ có người đại diện hợp pháp của bị cáo từ chối người bào chữa,còn bị cáo không từ chối người bào chữa, thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung (hướngdẫn tại mục 3 Phần II của Nghị quyết 03/2004)

Theo quy định tại khoản 3 Điều 73 Bộ luật TTHS, luật sư đã vi phạm nghĩa vụ phải thamgia phiên toà Nên sau đó, KSV cần tham mưu cho lãnh đạo Viện kiến nghị Đoàn luật sư xử lýluật sư theo quy chế hành nghề luật sư

khó khăn trong việc

Kiểm sát tviệc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm về tội phạm

ma túy? Giải pháp?

– Tội phạm ma túy là loại tội phạm mà người phạm tội thường chì có những người thựchiện tội phạm với nhau biết, nên vụ án sẽ không có nhân chứng, người bị hại do đó những ngườiliên quan sẽ không trực tiếp biết và nắm rõ vụ việc để tố cáo những hành vi đó

– Ngoài các vụ việc bắt quả tang thu giữ vật chứng thì các dấu vết vật chất của tội phạm

ma túy hầu như không có– Thông tư liên tịch số 06 về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật TTHS về tiếpnhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và Quy chế số 422 ngày17/10/2014 của Viện trưởng VKSNDTC không đề cập giải quyết một số khó khăn vướng mắckhi thực hiện công tác này, như: Chưa quy định việc tạm đình chỉ giải quyết tin báo tố giác tộiphạm đối với trường hợp hết thời hạn nhưng chưa có đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh có haykhông có hành vi thực hiện tội phạm xảy ra hay không và việc phục hồi khi lý do tạm đình chỉkhông còn được quy định

– Với quy định của pháp luật hiện nay, Viện kiểm sát chưa thể nắm và quản lý đầy đủ số

tố giác, tin báo về tội phạm được CQĐT tiếp nhận, giải quyết do trên thực tế Cơ quan điều travẫn tiếp nhận theo nhiều kênh thông tin khác nhau như: Qua điên thoại, báo chí, trực ban hìnhsự…

Từ thực tế nêu trên, đã đưa ra một số kỹ năng và giải như sau:

Một là, về kỹ năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm về ma túy– Phải nắm chắc các quy định của Bộ luật TTHS và các văn bản có liên quan đến công tác

Trang 38

giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố trong án ma túy.

– Kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận tin báo của Cơ quan điều tra, đặc biệt là các thông tinnặc danh liên quan đến loại tội phạm này, vì loại tội này không liên quan và xâm phạm trực tiếpđến quyền lợi của người dân và tâm lý sợ bị trả thù cũng như tính chính xác không cao của việc

tố giác do không phải là người chứng kiến trực tiếp mà chỉ bằng quan sát thông qua biểu hiệnnghi vấn đối với những người có hành vi liên quan đến ma túy

– Khi có những thông tin về tội phạm ma túy thì cần phối hợp với Cơ quan điều tra, đểphân loại và xử lý kịp thời; đặc biệt là những vụ việc phức tạp, mang tính ổ nhóm, liên tỉnh,xuyên quốc gia …

– Kiểm sát chặt chẽ việc tổ chức xác minh tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điềutra, bảo đảm kịp thời, khách quan, toàn diện và triệt để Trong quá trình Điều tra viên tiến hànhxác minh, Kiểm sát viên phải thường xuyên bám sát tiến độ và kết quả xác minh, kịp thời đề racác yêu cầu xác minh để Điều tra viên thực hiện

– Tiến hành nắm tin tại các đơn vị đã ký quy chế phối hợp trong việc giải quyết tin báo, tốgiác tội phạm như tại Công an các xã trên địa bàn, các Đồn biên phòng Hải quan, Kiểm lâm…

để chủ động thông tin, kiểm sát chặt chẽ và triệt để

– Hàng tuần phải đối chiếu, phân loại cùng Điều tra viên các tố giác, tin báo tội phạmthuộc thẩm quyền để thụ lý giải quyết, những tin không thuộc thẩm quyền phải chuyển cơ quan

có thẩm quyền giải quyết Hàng tháng phải kiểm tra toàn bộ tin báo, tố giác tội phạm đã thụ lýtrong tháng để chốt số liệu và báo cáo

– Xây dựng mối quan hệ phối hợp tốt với Cơ quan điều tra cùng cấp và các cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đảm bảo mọi tố giác, tin báo tội phạm đềuđược thông báo kịp thời đến Viện kiểm sát

Hai là, một số giải pháp kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm về ma túy :

– Tăng cường việc nắm thông tin từ người dân thông qua các hình thức hiện đại nhưInternet, các mạng xã hội để từ đó tiến hành rà soát xác minh

– Để tránh việc bỏ lọt tin báo và đảm bảo việc phân loại, giải quyết kịp thời các tin báo thìViện kiểm sát các cấp cần chủ động tìm nguồn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiếnnghị khởi tố để tiếp nhận và đối chiếu nguồn tin, không đươc coi việc nắm bắt thông qua Cơquan điều tra là phương thức duy nhất;

– Mỗi Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm và kiến nghị khởi tố phải nhận thức đúng đắn về đối tượng, phạm vi, nội dung củacông tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.– Kiểm sát viên phải thường xuyên cập nhật các thông tin về tiến độ xác minh tố giác, tinbáo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kịp thời đưa ra các yêu cầu xác minh khi cần thiết

– Viện kiểm sát các cấp cần chú trọng tổng kết thực tiễn, xây dựng chuyên đề, tổ chức tập

Trang 39

huấn công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm

nêu nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao theo thủ tục Giám đốc thẩm

vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS năm 2015?

1 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao trong việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Theo quy định tại Điều 373 BLTTHS năm 2015, Viện trưởng VKSND cấp cao có quyềnkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TANDcấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Như vậy, BLTTHS năm

2015 đã bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Viện trưởng VKSND tốicao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh và bỏ thẩm quyềnkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh đối với bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện Thẩm quyền này được chuyển giao choViện trưởng VKSND cấp cao

Theo quy định tại Điều 372 BLTTHS năm 2015, nguồn phát hiện căn cứ kháng nghị cóthể xuất phát từ đơn đề nghị của người bị kết án, thông báo của cơ quan, tổ chức và mọi cá nhânkhác khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực phápluật Ngoài ra, thông qua công tác kiểm sát việc xét xử, kiểm sát bản án, VKSND cấp dưới pháthiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có tráchnhiệm thông báo bằng văn bản cho Viện trưởng VKSND cấp cao

Theo quy định tại Điều 371 BLTTHS năm 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệulực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ sau:

1) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết kháchquan của vụ án;

2) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầmnghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;

3) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

So sánh với BLTTHS năm 2003, có thể thấy BLTTHS năm 2015 đã bỏ căn cứ “việc điềutra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ”, đồng thời quy định rõ những “vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử” phải “dẫn đến sai lầm nghiêm trọngtrong việc giải quyết vụ án” mới trở thành căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm Ngoài ra BLTTHSnăm 2015 cũng mở rộng căn cứ kháng nghị, không chỉ giới hạn ở “những sai lầm nghiêm trọngtrong việc áp dụng BLHS” mà mở rộng căn cứ kháng nghị khi “có sai lầm nghiêm trọng trongviệc áp dụng pháp luật”

2 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao trong việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm.

Trong một số trường hợp, việc tiếp tục thi hành bản án hoặc quyết định đã có hiệu lựcpháp luật trong thời gian chờ xét xử giám đốc thẩm có thể gây thiệt hại cho người phải thi hành

án hoặc có thể gây những khó khăn, bất lợi nhất định cho việc giải quyết lại vụ án nếu sau này

Trang 40

kháng nghị được chấp nhận; do vậy BLTTHS năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định của BLTTHSnăm 2003 về việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm Theo quy định tại Điều 377 BLTTHS năm 2015, người ra quyết định kháng nghị giámđốc thẩm (trong đó có Viện trưởng VKSND cấp cao) có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hànhbản án, quyết định bị kháng nghị.

3 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao khi tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, phát biểu ý kiến của VKSND về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.

Trong thủ tục giám đốc thẩm, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao thể hiện rõ nét ởviệc xem xét, quyết định kháng nghị hay không kháng nghị Sau khi đã có quyết định khángnghị thì nhiệm vụ còn lại là tham gia phiên tòa giám đốc thẩm để bảo vệ kháng nghị của Việntrưởng VKSND cấp cao, thể hiện ở nhiệm vụ, quyền hạn trong việc phát biểu ý kiến củaVKSND về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án

Điều 386 BLTTHS năm 2015 quy định về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm, theo đó phiêntòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp Tuy nhiên, khi tham giaphiên tòa, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn: “phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giảiquyết vụ án” kế thừa từ BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 còn quy định Kiểm sát viênphải tranh tụng với người tham gia tố tụng về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án.Quy định mới này đòi hỏi trách nhiệm của Viện kiểm sát cao hơn, phải tham gia tranh tụng đểbảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án

Ngoài nhiệm vụ phát biểu và tranh tụng để bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát về việcgiải quyết vụ án, Kiểm sát viên còn có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật về trình tự,thủ tục giám đốc thẩm Bao gồm kiểm sát về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,nội dung Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm việc gửi quyết định kháng nghị (trong trườnghợp Tòa án kháng nghị); kiểm sát việc triệu tập người tham gia phiên tòa (nếu có), việc chuẩn bịphiên tòa giám đốc thẩm, thời hạn mở phiên tòa; kiểm sát thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm vềthành phần giám đốc thẩm, trình tự xét xử giám đốc thẩm, việc biểu quyết của Hội đồng xét xửgiám đốc thẩm và việc ra quyết định giám đốc thẩm, gửi quyết định giám đốc thẩm Sau khi kếtthúc phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải báo cáo lãnh đạo viện về kết quả xét xử và

đề xuất những vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết, phải làm thông báo kết quả xét xử gửi cho cácViện kiểm sát đã tham gia xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án biết

điểm mới về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của BLHS 2015 so với BLHS 1999?

1 BLHS năm 2015 quy định cụ thể hơn về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chủ yếu là đốivới người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi; Quy định theo phương pháp liệt kê những trườnghợp người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự khi chuẩn bị phạm tội Đây là điều khác biệt

so với qui định của BLHS 1999, cụ thể:

Tại Điều 12 BLHS 2015 quy định:

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những

Ngày đăng: 22/06/2023, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w