1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình khoa học môi trường sức khỏe môi trường phần 1 trường đh võ trường toản

112 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường Phần 1
Tác giả ThS. Trần Đỗ Thanh Phong
Trường học Trường Đại Học Võ Trường Toản
Chuyên ngành Khoa học môi trường và sức khỏe môi trường
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hậu Giang
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG: Môi trường là tập hợp các thành phần vật chất bao quanh con người, được hình thành do các quá trình tự nhiên hay nhân tạo, có khả năng tác động đến sự tồn tại v

Trang 2

MỤC LỤC

01 ĐẠI CƯƠNG VỀ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG 1

02 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 18

03 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NƯỚC 48

04 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐẤT 96

05 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG BỆNH VIỆN 111

06 ĐẠI CƯƠNG Y HỌC LAO ĐỘNG 119

07 VI KHÍ HẬU NÓNG TRONG LAO ĐỘNG SẢN XUẤT 129

08 TIẾNG ỒN TRONG SẢN XUẤT VÀ ĐIẾC NGHỀ NGHIỆP 143

09 NHIỄM ĐỘC HÓA CHẤT TRONG LAO ĐỘNG 153

10 BỤI TRONG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG 161

11 VỆ SINH NHÀ Ở VÀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 179

12 QUẢN LÝ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG 192

TÀI LIỆU THAM KHẢO 207

Trang 3

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

1

Bài 1 ĐẠI CƯƠNG

VỀ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG

MỤC TIÊU:

1 Nêu được khái niệm sức khỏe, môi trường và sức khỏe môi trường

2 Trình bày được đại cương về các loại môi trường

3 Mô tả được những ảnh hưởng của môi trường lên sức khỏe và sự tác động trở lại môi trường của con người

4 Liệt kê được một số bệnh phổ biến có liên quan đến môi trường

NỘI DUNG:

I KHÁI NIỆM VỀ SỨC KHỎE, MÔI TRƯỜNG:

1 KHÁI NIỆM VỀ SỨC KHỎE:

Năm 1948, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra định nghĩa đầy đủ về sức khỏe là :

"Sức khỏe là một trạng thái lành mạnh về thể chất, thoải mái về tinh thần và đầy đủ

về phúc lợi xã hội, chứ không phải đơn thuần sức khỏe chỉ là không bệnh- tật" và lấy

Ngày 7 tháng 4 hàng năm là Ngày Sức khỏe Thế giới

Đây là một định nghĩa về sức khỏe được cộng đồng các nước chấp nhận và trích dẫn nhiều nhất

Như vậy, sức khỏe là sự phối hợp hài hòa cả 03 thành phần: thể lực, tinh thần

và xã hội Ba thành phần này có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau, hợp thành sức khỏe con người, người không có bệnh tật chưa đủ để nói là khỏe mạnh

II KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG:

Môi trường là tập hợp các thành phần vật chất bao quanh con người, được hình thành do các quá trình tự nhiên hay nhân tạo, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác

Môi trường tự nhiên: khí quyển, thủy quyển, thạch quyển

Môi trường nhân tạo: thành phố, vườn, đồng ruộng, công viên…

Trang 4

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

2

2.1 Môi trường là gì?

Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam (1993): "Môi trường bao gồm các yếu

tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"

2.2 Các thành phần của môi trường

Các yếu tố kể trên còn gọi là các thành phần của môi trường bao gồm: không khí, đất, nước, khí hậu, âm thanh, ánh sáng, sức nóng, bức xạ, động thực vật thuộc các hệ sinh thái, khu dân cư, khu sản xuất, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, khu vui chơi giải trí, v.v Tóm lại, các thành phần của môi trường bao gồm môi trường vật lý, môi trường sinh học và môi trường xã hội

Theo giải thích trong Luật bảo vệ môi trường (2005):

"Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác"

Thành phần môi trường cực kỳ phức tạp với sự có mặt của vô số các yếu tố vô sinh và hữu sinh

Dựa trên các đặc trưng cơ bản, các nhà khoa học đã chia thành phần môi

trường làm 5 quyển là khí quyển, thạch quyển, thuỷ quyển, sinh quyển và trí quyển

a Khí quyển

Khí quyển là lớp khí bao phủ quanh bề mặt Trái đất với chiều cao từ 0 đến 100

km đóng vai trò duy trì, bảo vệ cuộc sống của con người và sinh vật

Khí quyển được chia làm 5 tầng phân tách từ mặt đất lên bao gồm: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng trung gian, tầng nhiệt và tầng điện ly (hình 1.1) Ở tầng đối lưu, thành phần khí quyển gồm Nitơ, Oxi, khí Cacbonic, hơi nước và một số khí khác như Acgon, Heli, Hydro… và bụi

Trang 5

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

3

Hình 1.1 Cấu trúc khí quyển

Khí quyển duy trì sự sống bằng việc cung cấp O2 và CO2 cho quá trình hô hấp, quang hợp của con người và sinh vật Tham gia vào việc giữ cân bằng nhiệt lượng của Trái đất thông qua quá trình hấp thụ tia tử ngoại từ mặt trời và phản xạ tia nhiệt từ mặt đất

Bên cạnh đó, khí quyển còn ngăn chặn các tia tử ngoại, tia hồng ngoại và các tia nhìn thấy khác có những tác động nguy hại với con người và hệ sinh thái

b Thạch quyển

Thạch quyển (hay còn gọi là địa quyển) là lớp vỏ rắn ngoài trái đất có độ dày thay đổi theo vị trí địa lý từ 0 đến 100 km và có cấu tạo hình thái phức tạp Thạch quyển là cơ sở cho sự sống trên Trái đất với việc con người đang sống trong một phần rất mỏng manh, có thành phần phức tạp và rất linh động là mặt đất

Hình 1.2 Thành phần của thạch quyển

Trang 6

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

Tổng lượng nước trên hành tinh ước tính 1,38 tỷ km3 (chiếm khoảng 0,3% tổng khối lượng Trái đất)

Khoảng 97% nước của Trái đất là nước biển và đại dương (nước mặn), 2% nước tồn tại ở dạng băng nằm ở hai cực Trái đất và 1% là nước ngọt mà con người có thể sử dụng được (hình 1.3) Nước là thành phần vô cùng quan trọng trong việc duy trì cuộc sống của con người và sinh vật trên Trái đất

Khác với ba quyển trước đó, sinh quyển không có giới hạn rõ rệt vì nằm trong

cả ba thành phần môi trường kể trên và chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện

Trang 7

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

Chính vì vậy, khoa học hiện đại thừa nhận sự tồn tại của môi trường tri thức bao gồm các bộ phận trên trái đất mà tại đó có tác động của trí tuệ con người Môi trường tri thức này được gọi là trí quyển

Sự phân chia thành phần của môi trường thành các quyển như trên cũng chỉ có tính chất tương đối Các yếu tố, thành phần trong môi trường luôn liên quan đến nhau, tác động lẫn nhau và bổ xung cho nhau một cách chặt chẽ

Chính vì vậy, các tiêu chí phân loại cần được xác lập cho từng đối tượng nghiên cứu trong từng hoàn cảnh cụ thể Mối quan hệ giữa các quyển trong môi trường được khái quát tại hình 1.4

Hình 1.4 Mối quan hệ giữa các quyển trong môi trường

2.3 Phân loại môi trường

Tuỳ theo đối tượng và mục đích nghiên cứu cụ thể mà có thể nêu ra một số phương cách phân môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng như sau:

Trang 8

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

2.3.1 Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên tồn tại khách quan

bao quanh con người như: đất đai, không khí, nước, động thực vật Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho quá trình sản xuất nhằm tạo ra của cải, vật chất cho xã hội và tiếp nhận, đồng hoá các loại phế thải phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ

2.3.2 Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa con người với con

người, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự phát triển của các cá nhân hoặc từng cộng đồng dân cư Đó là các luật lệ, thể chế, cam kết, qui định nhằm hướng con người tuân theo một khuôn khổ nhất định tạo ra sự phát triển của xã hội và làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

2.3.3 Môi trường nhân tạo: là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con

người tạo nên và chịu sự chi phối của con người như nhà ở, môi trường đô thị, môi trường, môi trường nông thôn, công viên, trường học, khu giải trí

III ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN SỨC KHỎE CON NGƯỜI 3.1 Các thông tin chính

• Trong vòng 50 năm qua, mức độ ô nhiễm môi trường đã tăng lên ở Việt Nam

do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự phát triển của phương tiện giao thông

cơ giới diễn ra với tốc độ nhanh, tạo ra ô nhiễm không khí đô thị, phát sinh chất thải rắn và chất thải nguy hại cũng như một loạt các thảm họa và tình huống khẩn cấp do con người gây ra,

Trang 9

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

7

• Ô nhiễm trong khu vực đô thị chủ yếu là do các hạt rắn lơ lửng, khí đi-ô xýt lưu huỳnh (SO2), đi ô-xýt ni-tơ (NO2) và ô-xýt các-bon (CO), xăng, chì và tiếng ồn

• Các mối lo ngại về sức khỏe đối với tác động từ các hạt bụi, bao gồm:

o ảnh hưởng tới quá trình hô hấp và hệ thống hô hấp

• Ở Hà Nội, các chất gây ô nhiễm không khí xung quanh đã đạt tới mức báo động Nồng độ ô-xít các-bon cao hơn từ 1,5 đến 1,7 lần so với mức cho phép, đi ô-xýt ni-tơ cao hơn từ 2,5 đến 2,9 lần, các hạt rắn có thể lắng được có hàm lượng cao hơn từ 43 đến 60 lần và hàm lượng các hạt rắn lơ lửng cao hơn từ 5 đến 10 lần

• Tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh ở Việt Nam vào khoảng 47 tấn/ngày Nước thải phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 125,000 m3/ngày (Nguồn: Kế hoạch thực hiện Quy hoạch Xử lý Chất thải Y tế trong giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020)

• Việc tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm không khí vượt quá tầm kiểm soát của các cá nhân và đòi hỏi chính quyền các cấp, từ quốc gia tới khu vực và quốc tế phải hành động

• Mức ô nhiễm không khí mà càng thấp thì càng tốt cho sức khỏe đường hô hấp và tim mạch (cả trước mắt và về lâu dài) của người dân

3.2 Đánh giá tác động sức khỏe

• Đánh giá tác động sức khỏe (ĐTS) là một công cụ đánh giá các tác động về mặt sức khỏe của các chính sách, kế hoạch và các dự án trong các ngành kinh tế khác nhau, sử dụng các kỹ thuật định lượng, định tính và có sự tham gia của người dân

Trang 10

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

8

• Đánh giá tác động sức khỏe (ĐTS) giúp các nhà ra quyết định lựa chọn các giải pháp thay thế và các biện pháp cải thiện để phòng ngừa bệnh tật, chấn thương thương tích và chủ động tăng cường sức khỏe

• WHO hỗ trợ các công cụ và sáng kiến trong lĩnh vực ĐTS để cải thiện một cách năng động sức khỏe và phúc lợi trong tất cả các ngành

3.3 Khuyến nghị các biện pháp giảm thiểu:

- Để tăng tối đa các tác động có lợi và giảm thiểu các tác động có hại cho sức khỏe; và

- Để gắn kết các nhà ra quyết định sao cho họ phải cân nhắc các tác động sức khỏe và các yếu tố quyết định sức khỏe trong quá trình đưa ra quyết định

3.4 Các thách thức

• Sau một số năm được Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Y Tế phối hợp xây dựng, bản Kế hoạch hành động quốc gia về Sức khỏe Môi trường đã được trình lên chính phủ để phê duyệt, tuy nhiên bản kế hoạch này đã không được phê duyệt vào đầu năm 2012

• Do vậy, Việt Nam sẽ phải đương đầu với các vấn đề sức khỏe môi trường mà không tuân theo một kế hoạch toàn diện và mang tính chất hệ thống nào

• Hiện tại, 53,6% các cơ sở y tế đã có hệ thống xử lý nước thải 95,6% chất thải y tế rắn được phân loại và thu gom 69,2% bệnh viện có chất thải nguy hại được

xử lý bằng lò đốt 2 buồng hoặc bằng các công nghệ thay thế không đốt hoặc thông qua hợp đồng xử lý với các dịch vụ bên ngoài

• Hầu hết các lò đốt rác gây ô nhiễm không khí (khí đi ô-xin và fu-ran) do thiếu hệ thống làm sạch khí thải hoặc do vận hành không đúng quy trình quy phạm (nhiệt độ thấp) Nước thải y tế chưa qua xử lý trong nhiều trường hợp được thải bỏ trực tiếp ra ruộng lúa, sông ngòi, ao hồ, gây ô nhiễm và ảnh hưởng tới chuỗi thức ăn

Trang 11

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

9

• Việt Nam thiếu số liệu về các nguồn thủy ngân trong các cơ sở y tế và nhận thức của cán bộ công nhân viên y tế và công chúng về tác hại của thủy ngân còn hạn chế

• Chưa cơ sở y tế nào có quy trình chuẩn để phân loại chất thải có chứa thủy ngân

• Chất thải thủy ngân thông thường được thu gom và đốt cùng với các chất thải

y tế khác trong lò đốt rác bệnh viện hoặc các lò đốt trung tâm, hoặc được đem đi chôn lấp trong bãi chôn lấp rác đô thị

3.5 Hoạt động của WHO

• WHO đã hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Y Tế xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về Sức khỏe Môi trường (NEHAP) để trình lên chính phủ phê duyệt

• Tuy nhiên, kế hoạch hành động này đã không được phê duyệt, một phần vì khái niệm sức khỏe môi trường và NEHAP còn mới lạ đối với các nhà hoạch định chính sách và phần khác là do kế hoạch này có phần trùng lắp với các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường

• Cách tiếp cận sắp tới sẽ là giải quyết vấn đề sức khỏe môi trường một cách toàn diện, trong đó, kế hoạch trên đây cần phải được chỉnh sửa và trình phê duyệt lại trong thời gian tới

• WHO đã và đang ủng hộ những nỗ lực nhằm xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà, tiến hành nghiên cứu tác động sức khỏe của ô nhiễm không khí tại các nút giao thông ở thành phố lớn cũng như nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại sức khỏe của ô nhiễm không khí

• WHO đã hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý chất thải y tế, bao gồm kế hoạch hành động quốc gia, tiến hành đào tạo tập huấn cho cán bộ y tế Các hướng dẫn về xử

lý chất thải y tế và nước thải bệnh viện đã được xây dựng và đưa vào áp dụng

• Với sự hỗ trợ của WHO, nghiên cứu thay thế công nghệ lò đốt rác thải y tế bằng các công nghệ thay thế như xử lý bằng lò vi sóng đã được tiến hành thử nghiệm

Trang 12

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

IV KHÁI NIỆM VỀ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sức khỏe môi trường đề cập đến các yếu

tố vật lý, hóa học, và sinh học bên ngoài con người và tất cả các yếu tố liên quan ảnh hưởng lên hành vi Nó bao gồm việc đánh giá và kiểm soát các yếu tố môi trường có khả năng tác động sức khỏe nhằm phòng bệnh và tạo một môi trường có lợi cho sức khỏe định nghĩa này loại trừ các hành vi không liên quan môi trường cũng như hành

vi liên quan liên quan đến xã hội, môi trường văn hóa, và yếu tố di truyền

4.1 Định nghĩa sức khỏe môi trường:

"Sức khỏe môi trường là tạo ra và duy trì một môi trường trong lành, bền vững

để nâng cao sức khỏe cho cộng đồng"

Một cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một

môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung Trong cộng đồng người đó là

kế hoạch,niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể

có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng

Theo Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau:

(1) tương quan cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân;

(2) có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể;

(3) có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ;

(4) có ý thức đoàn kết tập thể

Trang 13

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

11

Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể

dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng thành văn,

mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như kà một hằng số văn hóa

Ba yếu tố di tuyền, môi trường và lối sống quyết định sức khỏe của con

người Trong đó, môi trường và lối sống liên quan mật thiết với sức khỏe và chúng

có mối quan hệ tương tác lẫn nhau

Lối sống làm mạnh có tác động tích cực đến sức khỏe như: sinh hoạt điều độ,

ăn uống hợp lý, đầy đủ chất theo chế độ dinh dưỡng và khẩu phần ăn, duy trì nếp sống lành mạnh (ví dụ như: không dùng quá nhiều rượu bia, thuốc lá hay chất kích thích, khám kiểm tra sức khỏe định kỳ, duy trì chế độ sinh hoạt lành mạch, luyện tập thể thao….) đề có tác dụng tốt đối với việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe

Hiện nay, việc tác động trực tiếp lên yếu tố di truyền của con người để bảo vệ, nâng cao sức khỏe còn rất hạn chế Nhưng chúng ta có thể chủ động tác động lên môi trường (phòng, chống ô nhiễm môi trường, chăm sóc môi trường cơ bản) xây dựng

Tác nhân ô nhiễm có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hay dưới dạng năng lượng như tiếng ồn, nhiệt độ

Các tác nhân này luôn có trong môi trường tự nhiên, nhưng chỉ gọi là ô nhiễm khi nồng độ đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật, vật liệu Nồng độ tối đa của một chất thải nào đó được xây dựng dưa trên các thử nghiệm chất

đó trên cơ thể một số động vật như chó, mèo,…và trên cơ thể người tình nguyện các thử nghiệm này được tiến hành trên thời gian dài với sự giám sát chặt chẽ của các huyên gia dịch tễ, y khoa, sinh thái

Trang 14

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

12

Để giữ gìn môi trường trong lành, các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia đã xây dựng các Bộ tiêu chuẩn môi trường, nồng độ giới hạn tối đa các chất ô nhiễm cho phép trong môi trường hoặc được phép thải ra môi trường

4.2.2 Các yếu tố gây hại lên sức khỏe từ môi trường

a Các nguồn gây ô nhiễm

Ô nhiễm và suy thoái môi trường có tác động rất lớn đến cuộc sống con người Hàng năm có hàng trăm triệu người mắc bệnh hô hấp và bệnh liên quan ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà Có 4 triệu trẻ em chết do các bệnh về tiêu chảy,

do ô nhiễm nước hoặc do nhiễm bẩn thực phẩm nứa triệu người tử vong do các tai nạn trên các tuyến đường có 2 triệu ca tử vong do sốt rét, với 267 triệu người mắc sốt rét Có 3 triệu người chết do lao và 20 triêu người mắc lao Các vấn đề sức khỏe trên đều có thể phòng tránh được

b Ô nhiễm không khí:

Chủ yếu là oxit cacbon, oxit lưu huỳnh, oxit nitoe, hydro-cacbon và bụi công nghiệp nguồn ô nhiễm chính là từ vận tải (70%), các ngành công nghiệp, máy nhiệt điện với 200 triệu xe hoạt động, trong khí thải của chúng có chứa hydro-cacbon tetraetil chì và 200 chất độc hại khác như oxit, clorua, nitrat, sulfat chì Đa số các thành phố lớn, ô nhiễm các chất trong không khí thường vượt mức giới hạn đến 10 lần

Sinh quyển ô nhiễm các kim loại nặng do đốt than và luyện kim, chúng tích tụ trong nước, đất và thực vật và xâm nhập qua cơ thể con người qua thực phẩm, nước uống và không khí

Chất phóng xạ là nguồn ô nhiễm nguy hiểm, xuất phát từ các vụ thử nghiệm hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, sự cố cháy nổ của lò phản ứng hạt nhân

Chất ô nhiễm không khí cùng với mưa quay lại trái đất rơi vào nguồn nước và đất

c Ô nhiễm nước:

Chủ yếu từ nước thải các nhà máy công nghiệp và nước từ nguồn nông nghiệp chất ô nhiễm là muối kim loại, phân bón, thuốc trừ sâu, bột giặt, dầu nhờn, sản phẩm dầu khí, chất phóng xạ

Trang 15

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

13

Các kim loại nặng như chì, thủy ngân, kẽm, đồng, cadimi sẽ được động vật hấp thụ mạnh, nhất là cá, làm cho chúng chết Người sẽ ngộ độc khi ăn thịt chúng Thí dụ ngộ độc thủy ngân khi ăn cá nhiễm độc thủy ngân

Khoảng 1/5 bề mặt biển thế giới ô nhiễm do dầu và các sản phẩm dầu khí Mỗi năm 12-15 triệu tấn dầu rơi vào nước biển có nguồn gốc từ dò rỉ dầu khai thác, hư hỏng các tàu chở dầu, rửa các thùng chứa dầu mỗi tấn dầu tạo một màng mỏng loáng đến 12 km2 bề mặt nước và làm ô nhiễm hàng triệu tấn nước

d Ô nhiễm đất:

Một lượng lớn chất thải rơi vào đất mà quá trình tự hủy xảy ra rất chậm hoặc không phân hủy các chất độc này tích lũy và thay đổi thành phần hóa học của đất đất tích tụ các kim loại nặng phân bón và thuốc trừ sâu sử dụng bừ bãi làm ô nhiễm đất thuốc trừ sâu rất độc, khoảng 5% tổng số thuốc sử dụng có tác dụng diệt sâu bọ, còn lại chúng tich tụ trong đất, nước và không khí

đ Ô nhiễm từ nguồn năng lượng:

Ngoài ra, tiếng ồn có thể vượt quá giới hạn chịu đựng của con người, khi vượt mức 85-90 dB Ở một số nước khi tiếng ồn vượt quá mức, nhất là ở thành thị, có thể gây bệnh điếc hoặc giảm thích lực do tiếng ồn ngoài ra, trong môi trường làm việc

có thể có tiếng ồn lớn và kéo dài làm giảm thính lực của người lao động

4.3 Ảnh hưởng của môi trường lên sức khỏe:

Để con người được khỏe mạnh, cần có sự kiểm soát chặt chẽ lên các yếu tố ảnh hưởng lên sức khỏe như: yếu tố vật lý, hóa học, và sinh học bên ngoài con người

và tất cả các yếu tố liên quan ảnh hưởng lên hành vi

Sơ đồ sau của Tổ chức Y tế Thế giới (1992) cho thấy tác động của các yếu tố này lên sức khỏe:

Vai trò trong bảo vệ sức khỏe và môi trường

Trong tài liệu “Hành tinh của chúng ta, sức khẻo của chúng ta” WHO (1992) cho rằng trách nhiệm bảo vệ và nâng cao sức khỏe là của mọi người tỏng xã hội bảo

vệ sức khỏe không chỉ của nhân viên ngành y tế mà còn của cả những người lập kế hoạch, kiến trúc sư, giáo viên, các chủ cơ sở, nhà quản lý cơ sở công nghiệp và tất cả những ai có ảnh hưởng đến môi trường vật ý và xã hội

Trang 16

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

14

Tương tự như vậy với việc bảo vệ môi trường Đây là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, không chỉ riêng của ngành môi trường

Phạm vi các hoạt động của con người:

Nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất năng lượng, đô thị hóa, quản lý và sử dụng nguồn nước…

V TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ, ĐÔ THỊ HÓA LÊN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG VÀ MÔI TRƯỜNG

Những thách thức về dân số Việt Nam là rất nghiêm trọng đối với tất cả các vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên Tăng dân số vẫn ở mức cao 1,7% (1999) và di dân nội bộ từ các khu vực nghèo tài nguyên và kinh tế kém phát triển vẫn đang tăng lên và không kiểm soát được Theo dự báo đến năm 2020, dân số nước

ta xấp xỉ 100 triệu người, trong khi đó các nguồn tài nguyên đất, nước và các dạng tài nguyên khác có xu thế suy giảm, vấn đề nghèo đói ở các vùng sâu, vùng xa chưa được giải quyết triệt để (hiện cả nước có 1750 xã ở diện đói nghèo) Quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế bằng con đường công nghiệp hoá đòi hỏi nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu ngày càng to lớn, kéo theo chất lượng môi trường sống ngày càng xấu đi nếu không có các biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu Mặt khác, quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá ở nhiều khu vực, vùng lãnh thổ lại không được quán triệt đầy

đủ theo quan điểm phát triển bền vững, nghĩa là chưa tính toán đầy đủ các yếu tố môi trường trong phát triển kinh tế xã hội Theo dự kiến, tốc độ tăng trưởng GDP phải đạt xấp xỉ 7%/năm và được duy trì liên tục đến năm 2010 Theo tính toán của các chuyên gia nước ngoài, nếu GDP tăng gấp đôi thì nguy cơ chất thải tăng gấp 3 - 5 lần Và nếu như trình độ công nghệ sản xuất, cơ cấu sản xuất, trình độ quản lý sản xuất, trình

độ quản lý môi trường không được cải tiến thì sự tăng trưởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài nguyên và năng lượng Điều này dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sự gia tăng các loại chất thải và ô nhiễm môi trường gây nên sức ép cho môi trường Trong khi đó môi trường đô thị, công nghiệp và nông thôn tiếp tục bị ô nhiễm Đến năm 1999, dân đô thị là 23% so với dân số cả nước, dự kiến năm 2010 là 33% và 2020 là 45%

Trang 17

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

15

Môi trường đô thị ở nước ta bị ô nhiễm bởi các chất thải rắn, nước thải chưa được thu gom và xử lý theo đúng quy định Khí thải, bụi, tiếng ồn v.v từ các phương tiện giao thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ

sở hạ tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng đáng báo động Hệ thống cấp và thoát nước lạc hậu, xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu Mức ô nhiễm không khí về bụi, các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nhất là tại các thành phố lớn như

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép 2 - 3 lần

Môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém Việc sử dụng không hợp lý các hoá chất nông nghiệp đã và đang làm cho môi trường nông thôn ô nhiễm và suy thoái Việc phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp đã làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nước sinh hoạt và vệ sinh

là vấn đề cấp bách, tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh ở nông thôn chỉ đạt khoảng 34% và chỉ khoảng 46% số hộ dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh (Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh nông thôn 2001) Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến hết năm 2002, chỉ mới 50% số dân nông thôn được sử dụng nước sạch

Nạn khai thác rừng bừa bãi, thậm chí xảy ra ở cả các khu rừng cấm, rừng đặc dụng; nạn đốt phá rừng đã gây ra những thảm hoạ cháy rừng nghiêm trọng như vụ cháy rừng nước mặn U Minh vừa qua; đồng thời, việc săn bắt động vật hoang dã cũng đang làm suy giảm đa dạng sinh học và gây huỷ hoại môi trường Những vấn đề của môi trường xã hội ngày càng trở nên bức xúc như ma tuý, HIV/AIDS và bạo lực Những vấn đề môi trường toàn cầu như tầng ozon bị suy giảm, hiệu ứng nhà kính, khí hậu toàn cầu nóng lên, thay đổi khí hậu, mực nước biển dâng cao, hiện tượng En Ni-nô; La Ni-na gây nên các hiện tượng hạn hán, lũ lụt xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam; đồng thời, nạn chuyển dịch ô nhiễm sang các nước đang phát triển cũng là một vấn đề cần chú trọng

Từ những vấn đề trên thực tế đòi hỏi phải có một chính sách về môi trường, sức khoẻ môi trường một cách đúng đắn, đồng bộ và hợp lý trong giai đoạn phát triển mới của đất nước ta

Trang 18

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

16

VI NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN CHO MÔI TRƯỜNG LÀNH MẠNH

6.1 Bầu không khí trong sạch

Không khí rất cần thiết cho sự sống, nếu thiếu không khí, con người sẽ chết chỉ sau một vài phút Ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề môi trường trầm trọng nhất trong các xã hội ở tất cả các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau Trên thế giới, hàng ngày có khoảng 500 triệu người phải tiếp xúc với một hàm lượng lớn ô nhiễm không khí trong nhà ở các dạng như: khói từ các lò sưởi không kín hoặc lò sưởi được thiết kế tồi và khoảng 1, 5 tỷ người ở các khu vực thành thị phải sống trong môi trường bị ô nhiễm không khí nặng nề (WHO, 1992) Sự phát triển của ngành công nghiệp đi đôi với việc thải ra số lượng lớn các khí và các chất hạt từ quá trình sản xuất công nghiệp và từ quá trình đốt cháy các nhiên liệu hoá thạch cho nhu cầu giao thông vận tải và lấy năng lượng Khi các tiến bộ công nghệ đã bắt đầu chú trọng đến việc kiểm soát ô nhiễm không khí bằng cách giảm việc thải ra các chất hạt thì người ta vẫn tiếp tục thải ra các chất khí, do vậy ô nhiễm không khí vẫn còn là vấn đề lớn Mặc dù hiện nay nhiều nước phát triển đã có những nỗ lực lớn để kiểm soát cả việc thải khí và các chất hạt, ô nhiễm không khí vẫn là nguy cơ đối với sức khoẻ của nhiều người

Chất lượng không khí trong nhà cũng là vấn đề nghiêm trọng ở nhiều nước phát triển vì các toà nhà được thiết kế theo kiểu kín gió và có hiệu quả cao về mặt năng lượng Hệ thống lò sưởi và hệ thống làm lạnh, khói, hơi từ các vật liệu tích trữ trong nhà tạo ra nhiều chất hoá học và gây ra ô nhiễm không khí

6.2 Có đủ nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt

Nước cũng rất cần thiết cho sự sống Trung bình mỗi người cần phải uống tối thiểu 2 lít nước/ngày Nếu sau 4 ngày không có nước, con người sẽ chết Nước cũng cần thiết cho thực vật, động vật và nông nghiệp Trong suốt lịch sử phát triển, con người luôn tập trung sống dọc theo các bờ sông, ven hồ để lấy nước cho sinh hoạt và nông nghiệp Nước cũng cung cấp phương tiện vận chuyển tự nhiên, được sử dụng

để xử lý chất thải và đóng một vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp, ngư

Trang 19

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

17

nghiệp và các trang trại Mặc dù nước ngọt được coi là một nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng, nhưng nước ngọt cũng không phải là một nguồn vô hạn

6.3 Đủ thực phẩm và thực phẩm an toàn

Thực phẩm cung cấp năng lượng cho cơ thể con người Tuỳ vào trọng lượng

cơ thể và các hoạt động về thể lực mà cơ thể con người cần khoảng 1000-2000 calo năng lượng mỗi ngày Nếu như không có thực phẩm, con người sẽ chết sau 4 tuần Thực phẩm cũng cung cấp các vitamin và các chất vi lượng, nếu không có các chất này, con người cũng sẽ mắc một số bệnh thiếu hụt

Trang 20

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

18

Bài 2:

VỆ SINH MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ MỤC TIÊU:

1 Mô tả được các thành phần của không khí

2 Nêu và phân biệt được các chất gây ô nhiễm không khí

3 Trình bày được khía cạnh lịch sử của ô nhiễm không khí

4 Trình bày được các nguồn gây ô nhiễm không khí và mô tả được các phương pháp kiểm soát các chất ô nhiễm không khí

5 Mô tả được một số hiện tượng ô nhiễm không khí

6 Liệt kê và mô tả được các bệnh có liên quan tới ô nhiễm không khí

Tuy nhiên, với tình hình hiện nay thì môi trường không khí không trong lành như tiêu chuẩn này nữa mò nó còn chưa thêm rất nhiều chất khác với tỷ lệ khá lớn và chất độc hại

1.2 Vai trò của không khí:

Là môi trường cực kỳ quan trọng trong sự sinh tồn và phát triển của nhân loại, con người và các sinh vật sống cần có không khí để hô hấp duy trì sự sống là nhu cầu bức thiết nhất (người trưởng thành có thể nhịn đói trong vòng 7 -10 ngày, nhịn khát

từ 2- 3 ngày, nhưng không hít thở được không khí trong vòng 3 - 5 phút thì không thể sống được)

Thể tích không khí hít vào trung bình của một người là 1 -1,5 m3 không khí trong 1 giờ tương đương 20 - 30 m3 khí trong 24 giờ Khi làm việc, sinh hoạt bình thường con người phải hít một lượng không khí gấp 2 - 3 lần so với lúc nghỉ ngơi

Trang 21

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

19

1.3 Cấu trúc của khí quyển:

Khí quyển Trái Đất là lớp các chất khí bao quanh hành tinh Trái Đất và được giữ lại bởi lực hấp dẫn của Trái Đất Nó gồm có nitơ (78,1% theo thể tích) và ôxy (20,9%), với một lượng nhỏ agon (0,9%), điôxít cacbon (dao động, khoảng 0,035%), hơi nước và một số chất khí khác

Bầu khí quyển bảo vệ cuộc sống trên Trái Đất bằng cách hấp thụ các bức xạ tia cực tím của mặt trời và tạo ra sự thay đổi về nhiệt độ giữa ngày và đêm

Bầu khí quyển không có ranh giới rõ ràng với khoảng không vũ trụ nhưng mật

độ không khí của bầu khí quyển giảm dần theo độ cao

Ba phần tư khối lượng khí quyển nằm trong khoảng 11 km đầu tiên của bề mặt hành tinh Tại Mỹ, những người có thể lên tới độ cao trên 50 dặm (80,5 km) được coi

Những hiện tượng thời tiết như mưa, mưa đá, gió, tuyết, sương giá, sương mù, đều diễn ra ở tầng đối lưu

Trang 22

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

Do đó tầng này còn gọi là tầng thoát ly Tuy nhiên, các nhiệt kế, nếu có thể, lại chỉ các nhiệt độ thấp dưới 0 °C do mật độ khí là cực kỳ thấp nên sự truyền nhiệt ở mức độ có thể đo đạc được là rất khó xảy ra

Ranh giới giữa các tầng được gọi là ranh giới đối lưu hay đỉnh tầng đối lưu, ranh giới bình lưu hay đỉnh tầng bình lưu và ranh giới trung lưu hay đỉnh tầng trung lưu v.v ở tầng này có mặt các ion O+ (<1500 km), He+(<1500), H+(>1500 km)

Trang 23

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

21

Một phần hiđrô của Trái Đất (khoảng vài nghìn tấn/năm) được tách ra đi vào

vũ trụ đồng thời các dòng plasma do môi trường thải ra là bụi vũ trụ (khoảng 2g/km²) cũng đi vào Trái Đất

Giới hạn trên của đoạn khí quyển và đoạn chuyển tiếp với vũ trụ rất khó xác định, ước đoán khoảng 1.000 km Nhiệt độ trung bình của khí quyển tại bề mặt Trái Đất là khoảng 14 °C

1.5 Thành phần khí quyển Trái Đất theo NASA

- Thành phần phần trăm của không khí khô theo thể tích (%)

sự thay đổi của bức xạ mặt trời

Mật độ của khí quyển giảm theo độ cao và có thể mô hình hóa một cách xấp xỉ theo công thức khí áp Những công thức có độ chính xác cao hơn được các nhà khí tượng học và các trung tâm vũ trụ sử dụng để dự báo thời tiết và tính toán tình trạng quỹ đạo của các vệ tinh

Trang 24

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

22

II Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

2.1 Khái niệm

Ô nhiễm không khí là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần

và tính chất do nhiều nguyên nhân, có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, đến môi trường xung quanh, đến sức khỏe con người

Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi,

có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa

Một người có thể sống qua nhiều ngày mà không có thức ăn, một vài ngày mà không có nước uống Nhưng nếu không có không khí, con người sẽ chết trong vòng

từ 5 đến 7 phút Không khí mà chúng ta thở là hỗn hợp khí tự nhiên không màu, không mùi, chủ yếu là nitơ (78%), oxy (21%) 1% còn lại chủ yếu là khí argon (0,93%), khí carbon dioxyd (0,032%) và dạng vết các khí neon, heli, ozon, xenon, hydro, metal, kripton và hơi nước Khi bất kỳ chất nào được thêm vào hỗn hợp khí tự nhiên này là ô nhiễm không khí (ÔNKK) sẽ xảy ra

Nói một cách khác, ÔNKK là kết quả của việc thải các chất độc hại vào không khí ở một tỷ lệ vượt quá khả năng của khí quyển (mưa, gió) trong việc chuyển đổi, phân huỷ và hoà tan các chất độc này

ÔNKK là một hệ thống lý học và hoá học hết sức phức tạp Nó có thể được coi

là một số chất khí và hạt được hoà tan hoặc lơ lửng trong không khí

Rất nhiều chất ÔNKK có thể phản ứng với nhau, tạo ra một số hậu quả xấu Mức độ trầm trọng của ÔNKK thay đổi theo mùa, theo ngày, theo các hoạt động công nghiệp, theo thay đổi trong giao thông, thay đổi theo lượng mưa và tuyết

Thành phần của ÔNKK biến đổi từ ngày này sang ngày khác, từ tuần này sang tuần khác, nhưng thường có khuynh hướng theo một chu kỳ Nói tóm lại, ÔNKK có thể được định nghĩa như sau:

2.1 Định nghĩa Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí xảy ra khi không khí có chứa các thành phần độc hại như các loại khí, bụi lơ lửng, khói, mùi Hay nói cách khác những chất này trong không

Trang 25

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

2.2 Sơ lược lịch sử ô nhiễm không khí

Trước Cách mạng Công nghiệp - thế kỷ thứ XIX, ÔNKK vẫn chưa phải là một vấn đề trầm trọng, vì các chất ÔNKK được dần dần hoà tan vào khí quyển và không tạo ra những khu vực có nồng độ ô nhiễm cao

Kể từ khi con người bắt đầu sử dụng các loại nhiên liệu đốt (gỗ, than, và các chất khác) để chuyển nước thành hơi nước quay các tuốc -bin, con người đã bắt đầu phải đối mặt với các vấn đề ÔNKK Chính việc tạo ra động cơ hơi nước đã tạo điều kiện cho một số quốc gia trong thời đó trở nên giàu có và hùng cường, và cuộc Cách mạng Công nghiệp đã làm tăng mức sống của con người, trong khi đó lại làm giảm tầm nhìn và gây ra một số loại bệnh tật - kết quả của ÔNKK Con người luôn nỗ lực tìm kiếm sự giàu có mà không coi trọng tới những ảnh hưởng của sự phát triển đến

xã hội và môi trường Chỉ tới khi những thảm họa ÔNKK xảy ra với nhiều trường hợp mắc bệnh và tử vong, loài người mới bắt đầu quan tâm đến hiện tượng ÔNKK

Vào tuần cuối của tháng 10 năm 1948, một lượng chất gây ÔNKK với nồng độ rất cao (được gọi là khói mù - smog) bao phủ quanh khu vực Donora, Pennsylvania

và các khu vực lân cận Đám khói mù này bao bọc toàn bộ thị trấn Donora vào sáng ngày thứ tư 27 tháng 10, làm giảm tầm nhìn của người dân địa phương Vào khoảng

2 giờ sáng ngày thứ bảy, trường hợp tử vong đầu tiên xảy ra Các trường hợp tử vong vẫn tiếp tục được báo cáo lên và tới đêm ngày thứ bảy đã có 19 người bị chết Có thêm 1 người nữa bị ốm nặng và chết vào tuần sau đó Theo thống kê của Bộ Bảo vệ môi trường Mỹ (1995), chỉ trong vòng năm ngày từ ngày 26 đến ngày 31 tháng 10,

Trang 26

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

Thành phố New York cũng phải trải qua một số thảm họa ÔNKK Lần ÔNKK trầm trọng nhất xảy ra vào năm 1965, với 400 người bị chết Những thảm họa ÔNKK này không chỉ xảy ra ở một số thành phố lớn hoặc những thành phố nằm xuôi theo chiều gió của những thành phố lớn Những thành phố nhỏ, chẳng hạn như thung lũng Meuse của Bỉ, cũng đã trải qua một thảm họa ÔNKK vào năm 1930, với 63 người chết và 6.000 người bị bệnh

Vào năm 1990, trên toàn thế giới đã có tới 100 triệu tấn các lưu huỳnh oxyd (SOx), 68 triệu tấn nitơ oxyd (NOx), 57 triệu tấn các chất hạt lơ lửng (SPM) và 177 triệu tấn carbon monoxyd (CO) được thải vào khí quyển Trong số đó, các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED) đã thải ra tới 40% SOx, 52% NOx, 71% CO và 23% SPM

III CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

a Nguồn ô nhiễm tự nhiên

Các nguồn tự nhiên gây ô nhiễm môi trường không khí gồm:

- Ô nhiễm do hoạt động của núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng

và nhiều chất ô nhiễm như tro bụi, các khí sunfua (SO2, H2S ), mêtan (CH4) và những loại khí khác Các chất này lan toả đi rất xa và tác động mạnh mẽ đến môi trường

- Ô nhiễm do cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự

nhiên xảy ra do sấm chớp, sự cọ sát giữa thảm thực vật khô Các đám cháy này thường lan truyền rộng, vượt khỏi tầm kiểm soát của con người và phát thải nhiều khí độc hại như khói, tro bụi, hydrocacbon (HC), cacbon dioxit (CO2), cacbon monoxit (CO), sunfua dioxit (SO2) và nitơ oxit (NOx)

Trang 27

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

25

- Ô nhiễm do bão cát: Hiện tượng bão cát thường xảy ra ở những vùng đất

khô, không được che phủ bởi thảm thực vật, đặc biệt là các sa mạc Gió bão đã cuốn cát bụi bay lên và gây ô nhiễm không khí trong một khu vực rộng lớn

- Ô nhiễm do đại dương: Nước biển bốc hơi và bụi nước do va đập từ biển

mang theo bụi muối (NaCl, MgCl2, CaCl2 ), lan truyền vào không khí gây ô nhiễm

- Ô nhiễm do thực vật: Các chất ô nhiễm do thực vật sản sinh và phát tán vào

không khí gây ô nhiễm như các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs), hydrocacbon, các bào tử nấm và thực vật, phấn hoa

- Ô nhiễm do vi khuẩn - vi sinh vật: Trong không khí có rất nhiều vi khuẩn, vi

sinh vật bám vào các hạt bụi, sol khí được gọi là bụi vi sinh vật Bên cạnh đó chúng còn tham gia quá trình phân huỷ các chất hữu cơ tạo ra các khí có mùi gây ô nhiễm như NH3, CO2, CH4, SO2…

- Ô nhiễm do các chất phóng xạ: Trong lòng đất có một số khoáng sản và kim

loại có khả năng phóng xạ gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh

- Ô nhiễm có nguồn gốc từ vũ trụ: Trong quá trình vận động của vũ trụ có

một lượng lớn các hạt vật chất nhỏ bé thâm nhập vào Trái đất gây ô nhiễm môi trường không khí được gọi là bụi vũ trụ Nguồn gốc của loại bụi này là từ các thiên thạch, các đám mây ngũ sắc, mặt trời

b Nguồn ô nhiễm nhân tạo

Các nguồn nhân tạo gây ô nhiễm môi trường không khí bao gồm:

- Nguồn ô nhiễm di động từ các hoạt động giao thông vận tải bao gồm giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và hàng không

- Các nguồn thải cố định từ các hoạt động công nghiệp đốt nhiên liệu như than

Trang 28

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

26

Các nguồn ô nhiễm nhân tạo lớn nhất là do quá trình đốt nhiên liệu sinh ra và thường tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp

Nguồn ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp:

Sản xuất công nghiệp hàng ngày thải ra một lượng lớn và đa dạng các khí độc hại và bụi do đốt nhiên liệu, bốc hơi, rò rỉ, tổn hao trên dây chuyền sản xuất, trên các phương tiện dẫn tải gây ô nhiễm môi trường không khí

Đặc điểm của nguồn thải này là nồng độ chất độc hại rất cao và tập trung trong khoảng không gian nhỏ dưới dạng hỗn hợp khí và hơi độc hại Ở mỗi ngành công nghiệp, tuỳ theo qui trình công nghệ, loại nhiên liệu sử dụng, đặc điểm sản xuất, qui

mô sản xuất, loại nguyên liệu và sản phẩm tạo thành mà thành phần, nồng độ các chất thải ra môi trường khác nhau

Đối với ngành công nghiệp năng lượng, các nhà máy nhiệt điện thường sử dụng nhiên liệu là than hoặc dầu Các ống khói, bãi than, băng tải trong nhà máy đều

là nguồn gây ô nhiễm nặng cho môi trường không khí Ví dụ: năm 1993 lượng than

sử dụng cho 3 nhà máy nhiệt điện của miền Bắc của nước ta là 479.520 tấn, như vậy

sẽ thải ra khí quyển 6.713 tấn khí SO2, 2.724 tấn NOx, 2.779.000 tấn CO2, 1.490,8 tấn bụi và 203.500 tấn xỉ

Ngành công nghiệp luyện kim thường thải ra nhiều bụi và các chất khí độc hại Bụi thường có ở các công đoạn khai thác quặng, tuyển quặng, nghiền quặng, trong lò nhiệt luyện, các băng chuyền Quá trình đốt nhiên liệu, luyện gang thép, luyện đồng kẽm sinh ra các chất độc hại như CO, SO2, NOx, CuO, As và các loại bụi bẩn khác

Ngành công nghiệp hoá chất thường thải ra nhiều chất độc hại ở thể khí, đây là ngành công nghiệp để lại nhiều hậu quả xấu tới môi trường hiện nay Các hoá chất độc hại bị rò rỉ, bay hơi, rơi vãi trong quá trình sản xuất, vận chuyển gây ô nhiễm môi trường, các nhà máy sản xuất phân bón (urê, phân lân) thải ra các loại khí độc hại như CO, CO2, NH3, SO2, hơi axit, bụi

Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng sản xuất xi măng, vôi, gạch, ngói, thuỷ tinh là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường không khí Khói, bụi, CO2, CO, SO2, NOx là các khí thải chủ yếu của ngành này Ước tính hàng năm,

Trang 29

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

27

lượng khí thải phát thải: 24.103 tấn SO2; 3,5.106 tấn CO2; 3,87.103 tấn CO; 9,026.103 tấn NOx; 125.103 tấn bụi

Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm với đặc trưng ô nhiễm là các chất hữu

cơ, hơi các chất tẩy rửa, hoá chất độc hại gây ô nhiễm môi trường không khí

Ngành cơ khí cũng gây ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọng với các khí thải độc hại từ sơn và đúc kim loại Bên cạnh đó, ô nhiễm nhiệt và các khí độc hại khác do quá trình nhiệt luyện, gia công cơ khí, hàn, đúc cũng gây ô nhiễm không khí trong phân xưởng làm việc và môi trường xung quanh

Nguồn ô nhiễm do giao thông vận tải:

Ô nhiễm do giao thông vận tải gây ra cũng là một nguồn lớn Đây là nguồn ô nhiễm rất thấp, di động phụ thuộc vào cường độ giao thông và địa hình đường đi Bên cạnh việc đốt cháy nhiên liệu (xăng, dầu madút, than đá ) và sản sinh các khí độc hại như CO, SO2, NOx, hơi chì, tàn khói

Quá trình vận hành các phương tiện giao thông đường bộ (ô tô, xe máy, máy xây dựng…) còn gây ô nhiễm bụi đất đá đối với môi trường không khí Tàu hoả, tàu thuỷ sử dụng nhiên liệu bằng than hay xăng dầu cũng gây ô nhiễm tương tự như ô tô Giao thông hàng không (máy bay) cũng là nguồn gây ra ô nhiễm bụi, hơi độc hại và tiếng ồn cho môi trường không khí

Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt của con người:

Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt của con người chủ yếu là quá trình đốt nhiên liệu (củi, rơm rạ, dầu hoả, than đá, gas ) phục vụ sinh hoạt Nguồn ô nhiễm này không lớn nhưng lại xảy ra liên tục và có thể gây ô nhiễm cục bộ trong một không gian hẹp Việc sử dụng than trong đun nấu phát sinh khí CO có thể gây ngộ độc đối với con người

Môi trường nước mặt quanh khu vực dân cư và đô thị bị ô nhiễm sẽ sinh ra các khí độc hại, sự phân huỷ các chất hữu cơ trong các khu vực chôn lấp rác thải sinh hoạt cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí Các khí ô nhiễm sinh ra từ các hoạt động trên chủ yếu là CO2, CO, CH4, H2S, urê và mùi hôi thối Ngoài ra, nhà vệ sinh và việc sử dụng chất thải của người và động vật trong trồng trọt, chăn nuôi cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường không khí

Trang 30

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

4.1 Các chất ô nhiễm nhân tạo chính trong môi trường không khí bao gồm:

- Các loại oxit như: nitơ oxit (NO, NO2, NO2), SO2, CO, H2S và các loại khí halogen (clo, brom, iôt)…

- Các hợp chất flo

- Các chất tổng hợp (ete, benzen, acetic…)

- Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa

- Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm, niken,

- Khí quang hoá như ozôn, FAN, FB2N, NOX, andehyt, etylen

- Các chất ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm tiếng ồn

Các chất ô nhiễm sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên liệu và sản xuất công nghiệp Các tác nhân ô nhiễm không khí có thể phân thành hai dạng: dạng hơi khí và dạng phần tử nhỏ Tuy nhiên, phần lớn các tác nhân ô nhiễm đều gây tác hại đối với sức khỏe con người

Các chất ô nhiễm môi trường không khí được chia làm hai loại: ô nhiễm sơ cấp

và ô nhiễm thứ cấp Ví dụ: Sunfua dioxit sinh ra do đốt cháy than đó là chất ô nhiễm

sơ cấp Nó tác động trực tiếp tới đối tượng tiếp nhận Khi nó liên kết với ôxy và nước của không khí sạch để tạo thành axit sunfuric (H2SO4) rơi xuống đất cùng với nước mưa, làm thay đổi pH của đất và nước, tác động xấu tới nhiều động thực vật và vi sinh vật thì trở thành chất nhân ô nhiễm thứ cấp

Cũng có những trường hợp các chất không gây ô nhiễm liên kết quang hoá với nhau để tạo thành tác nhân ô nhiễm thứ cấp mới, gây tác động xấu Cơ thể sinh vật phản ứng đối với các tác nhân ô nhiễm phụ thuộc vào nồng độ ô nhiễm và thời gian tiếp xúc với chất ô nhiễm Các khí ô nhiễm nhân tạo nguy hiểm đối với sức khoẻ con người và khí quyển trái đất, dưới đây là một số chất điển hình:

Trang 31

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

29

a Cacbon dioxit (CO2): với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệu

cho quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở thực vật Lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO2 được sử dụng cho quang hợp

Việc đốt quá nhiều nhiên liệu hoá thạch và phá rừng đã làm tăng lượng CO2 trên trái đất, gây tác động xấu tới khí hậu toàn cầu

b Sunfua dioxit (SO2): là chất gây ô nhiễm không khí có nồng độ thấp trong

khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu SO2 sinh ra do hoạt động của núi lửa, do đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối thực vật, quặng sunfua, SO2 rất độc hại đối với sức khoẻ của người và sinh vật, gây ra các bệnh về phổi khí phế quản SO2 trong không khí khi gặp oxy và nước tạo thành axit, tập trung trong nước mưa gây ra hiện tượng mưa axit Mưa axit có tác động xấu tới hệ sinh thái rừng và các thảm thực vật khác, ăn mòn kim loại, tác động xấu tới các vật liệu, công trình xây dựng

c Cacbon monoxit (CO): được hình thành do việc đốt cháy không hết nhiên

liệu hoá thạch như than, dầu, một số chất hữu cơ và khí thải từ các động cơ xe máy Hàng năm trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO Đây là chất khí không độc với thực vật nhưng lại rất độc hại với người và động vật, nó tác dụng mạnh với Hemoglobin, tạo thành cacboxyhemoglobin và ngăn ôxy kết hợp với Hemoglobin, làm mất khả năng vận chuyển oxy của máu Ở nồng độ thấp, thường gây đau đầu, chóng mặt và rối loạn cảm giác, ở nồng độ khoảng 250 ppm sẽ gây tử vong đối với con người

d Nitơ oxit (NOx): phát sinh chủ yếu từ việc đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt,

sinh khối thực vật Các Nitơ oxit gây các tác hại đối với hệ hô hấp của con người Ví dụ: ở nồng độ 500 ppm, NO2 có thể gây chết người trong vòng 48 giờ Các Nitơ oxit cũng là nguyên nhân của các trận "mưa axít", gây ra các tác hại tới đời sống, sinh hoạt của các động thực vật và con người

e Clorofluorocacbon (CFC): là những hoá chất do con người tổng hợp để sử

dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào khí quyển Chúng tồn tại

cả ở dạng sol khí và không sol khí làm tổn hại tầng ôzôn bảo vệ trái đất Khi CFC đạt tới thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia cực tím phân huỷ Tốc độ phân huỷ

Trang 32

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

30

CFC sẽ rất nhanh nếu tầng ôzôn bị tổn thương và các bức xạ cực tím tới được những tầng khí quyển thấp hơn

f Metan (CH4): Metan là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính Nó được sinh ra

từ các quá trình sinh học như sự men, sự phân giải kỵ khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng và đốt nhiên liệu hoá thạch CH4 thúc đẩy sự ôxy hoá hơi nước ở tầng bình lưu Sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH4 Hiện nay hàng năm khí quyển thu nhận khoảng từ 400 đến 765x1012g CH4

g Các chất hữu cơ bay hơi (VOCs): gồm nhiều hợp chất hữu cơ trong đó chủ

yếu là hợp chất của hydrocacbon, có hại cho sức khoẻ (nhiễm độc, kích thích, gây ung thư hay đột biến) Khi được ánh sáng mặt trời chiếu, hợp chất hữu cơ bay hơi với các Nitơ oxit tạo thành ôzôn hoặc những chất ôxy hoá mạnh khác Ô nhiễm loại này

có tác hại với sức khoẻ (gây rối loạn hô hấp, đau đầu, nhức mắt), với cây cối và cả với vật liệu cũng đều bị ảnh hưởng

h Các hạt lơ lửng (bụi, khói đen, hơi, mù, sương, ): các hạt nhỏ là dạng ô

nhiễm khí quyển dễ nhìn thấy nhất Các hạt nhỏ gây dị ứng, ung thư, nhiễm trùng, xơ phổi và nhiễm độc chung,

4.2 Ảnh hưởng lên sức khoẻ

Những nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một hàm lượng lớn các chất ÔNKK góp phần vào hoặc gây ra các bệnh liên quan đến đường hô hấp Một nghiên cứu của trường Đại học Harvard cho thấy hàng năm có khoảng 60.000 người chết do các bệnh có liên quan đến ÔNKK dạng hạt bụi Riêng tại nước Mỹ có tới 28 triệu người mắc các bệnh hô hấp mạn tính vẫn thường xuyên phải tiếp xúc với khói mù độc hại hàng ngày làm cho bệnh của họ càng trở nên trầm trọng hơn Dưới đây là một số bệnh liên quan đến ÔNKK:

4.2.1 Hen suyễn

Là một dạng kích thích phế quản dẫn tới khó thở nghiêm trọng và là vấn đề y

tế công cộng đang nổi cộm hiện nay Từ 1983 đến 1993, tỷ lệ mắc bệnh này ở Mỹ đã tăng 34% (Theo Viện Y tế quốc gia Mỹ) Các khu vực đô thị, đặc biệt là các khu có

Trang 33

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

31

nồng độ các chất ÔNKK cao là những khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất Các chất hạt

và SO2 là những chất ÔNKK có liên quan tới mắc hen suyễn

4.2.3 Khí phế thũng

Bệnh khí phế thũng đặc trưng bởi việc làm yếu thành các túi phổi và những túi không khí nhỏ bé trong phổi Khi bệnh phát triển, các túi khí này tăng về kích thước, giảm tính chất đàn hồi của nó và thành các túi này bị phá huỷ Thở ngắn, thở gấp là dấu hiệu ban đầu của bệnh này NO2 được xác định là một trong những chất ÔNKK gây ra bệnh khí phế thũng

Các chất ÔNKK còn gây những ảnh hưởng cấp tính, thậm chí đôi khi dẫn đến

tử vong Ví dụ, các chất hữu cơ bay hơi thường chỉ gây nhiễm độc cấp tính như suy nhược, chóng mặt, say, sưng tấy mắt, co giật, ngạt, viêm phổi, v.v Hoặc chỉ một lượng CO nhỏ hít vào cơ thể cũng có thể tạo ra lượng cacboxyhemoglobin (COHb) đáng kể và khi 70% hemoglobin trong máu bị chuyển thành COHb có khả năng gây chết người Hoặc tiếp xúc với khí NO2 ở nồng độ khoảng 5ppm sau một vài phút có thể ảnh hưởng xấu đến bộ máy hô hấp; ở nồng độ 15-50 ppm sau một vài giờ sẽ nguy hiểm cho phổi, tim và gan; ở nồng độ 100 ppm có thể gây tử vong sau một vài phút Khói quang hoá thường là các chất kích thích, gây ho, đau đầu và các bệnh đường hô hấp

4.3 Những ảnh hưởng khác của ô nhiễm không khí

SO2, CO, NOx và những chất ÔNKK khác không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng tới tài sản của chúng ta Một số chất ÔNKK phá hoại cây trồng, do bao quanh thành phố

Một vài dạng ÔNKK ảnh hưởng trực tiếp tới lá cây, vụ thu hoạch, cây trồng khi những khí này xâm nhập vào lỗ khí khổng trên lá Việc tiếp xúc kéo dài đối với

Trang 34

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

32

các chất ÔNKK (NO2, SO2, và ozon) làm phá vỡ lớp bảo vệ bên ngoài, gây ra việc mất nước nghiêm trọng đối với các loại cây và làm cho chúng dễ dàng bị bệnh tật, sâu hại, hạn hán và sương muối tấn công Hơn nữa, việc lắng đọng acid trong đất đã làm mất đi một số chất dinh dưỡng quan trọng đối với cây trồng như calci và gây ảnh hưởng xấu đối với một số vi sinh vật có ích như các sinh vật phân huỷ

Khói quang hoá có thể làm giảm quá trình sinh trưởng của cây, phá hoại tế bào

lá và gây tổn thương nhiều loại cây

Hàng năm, ước tính thiệt hại do các chất ÔNKK gây ra đối với các vật liệu khác nhau tới hàng triệu đô la Ozon làm cho cao su dễ vỡ và mất đi tính đàn hồi SO2 làm mất độ bền và làm bề mặt của da và các loại vải sợi tự nhiên khác xấu đi Các chất ô nhiễm có thể gây ăn mòn, xói mòn, mất màu và làm bẩn đá, kim loại, sơn, giấy và thuỷ tinh Bảng 4.2 trình bày những tính chất cơ bản của một số chất ÔNKK

4.4 Chất lượng không khí trong nhà /hội chứng bệnh nhà kín

4.4.1 Chất lượng không khí trong nhà

Trên thế giới, vấn đề chất lượng môi trường sống và làm việc đã được quan tâm đến từ những năm 1960 Nhưng đến năm 1973, để tiết kiệm năng lượng do giá dầu lửa tăng nhanh, người ta phải tăng cường các biện pháp như cách nhiệt, làm kín nhà, thay đổi một số giá trị khuyến cáo như lượng không khí trong sạch, cường độ chiếu sáng, nhiệt độ không khí,v.v

Và cũng bắt đầu từ đó, càng ngày càng phát sinh nhiều những lời kêu ca phàn nàn về chất lượng không khí bên trong nhà (Tiếng Anh là Indoor Air Quality - IAQ)

ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi, kết cấu nhà ở chủ yếu là kết cấu thoáng hở, chất lượng không khí trong nhà bị ảnh hưởng sâu sắc bởi mức độ ô nhiễm không khí ngoài nhà

Ngoài ra, việc đun nấu, sưởi ấm bằng các loại nhiên liệu hoá thạch như than, dầu, khí đốt hoặc các loại nhiên liệu có gốc thực vật như củi, rơm rạ cũng ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong nhà

Chất lượng không khí trong nhà ảnh hưởng đến sức khoẻ con người sống hoặc làm việc trong đó, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của công việc và có thể gây những bệnh liên quan đến nhà ở (tiếng Anh là building-related illness - BRI)

Trang 35

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

33

a Nguồn ô nhiễm không khí trong nhà

Nguồn ô nhiễm không khí trong nhà bao gồm các tác nhân hóa học, các chất ô nhiễm từ bên ngoài vào nhà

Thông thường là bụi, SO2, NOx, HnCm, CO, O3, Pb, phấn hoa, v.v., từ các nguồn như giao thông, gara ôtô, các ống khói, khói quang hóa v.v Thông thường, tỷ

lệ các chất này giữa trong và ngoài nhà là 0,7-1,3

Các chất ô nhiễm phát sinh từ các loại vật liệu trong nhà:

− Formaldehyd từ nhựa, hồ dán, vải, v.v

− Amiăng từ các lớp cách nhiệt, cách âm

− Bụi sợi từ các lớp cách nhiệt, trần, phin lọc…

− Hydrocarbon từ các lớp trải sàn, chất tẩy rửa, sát trùng, sơn…

− Bụi vô cơ và hữu cơ từ các loại thảm, giấy dán tường, màn treo…

− Các chất ô nhiễm phát sinh bên trong nhà từ các hoạt động của con người

− Khói thuốc lá: CO, nicotin, các sản phẩm hữu cơ, tác nhân gây ung thư…

− Các hệ thống sưởi: CO, bụi, HnCm, NOx, hơi nước …

− Các loại bếp đun: CO, bụi, NOx, các hợp chất hữu cơ…

− Các công việc vệ sinh như làm sạch sàn, thảm: aerosol, các hợp chất hữu cơ

− Các thiết bị như máy photocopy, máy in: O3, bụi

− Các tác nhân sinh học

− Các loại ký sinh trùng, da, lông… của gia cầm và gia súc

− Các loại nấm, mốc, vi khuẩn… từ thảm, nệm, vải ẩm ướt

− Phấn hoa, các loại sâu bọ

Các tác nhân khác:

− Các ion âm -dương từ các máy hút bụi

− Tĩnh điện

− Bức xạ điện từ

Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong nhà còn phải

kể đến là các yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió, bức xạ nhiệt, metabolisme, quần áo), chiếu sáng, tiếng ồn, rung, và các yếu tố tâm lý như lo lắng,

Trang 36

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

34

ý thức được tình trạng sức khỏe, mối quan tâm đến công việc, vị trí công tác, mối quan hệ, mức độ tự chủ, không gian làm việc, v.v

b Những ảnh hưởng đến sức khoẻ của ô nhiễm không khí trong nhà

Theo báo cáo của Văn phòng Tổ chức Y tế Thế giới, trên thế giới khoảng 30% các toà nhà mới xây hoặc mới sửa chữa có khả năng phải chịu tỷ lệ cao bất thường những lời kêu ca phàn nàn về chất lượng không khí trong nhà

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) của Mỹ thì hàng năm ở Mỹ có khoảng từ 50 đến 10.000 trường hợp bị mắc bệnh do legionella do vi khuẩn Legionella gây ra thường xuất hiện ở các hệ thống điều hoà không khí và từ 1 đến 27% trường hợp bị bệnh viêm phổi là do vi khuẩn này gây ra, trong đó từ 5 đến 10% trường hợp tử vong rơi vào những người bị suy giảm miễn dịch Những ảnh hưởng chính đến sức khoẻ bao gồm:

Theo một báo cáo của Hội đồng Môi trường Nhà ở của Anh cho biết chi phí cho Hội chứng bệnh nhà kín tại Vương quốc Anh lên tới khoảng từ 350 đến 650 triệu bảng Anh Một số nguồn khác lại cho những giả thiết là: tại Thụy Điển, cứ 4 người dân lại có 1 người bị chịu ảnh hưởng ít nhiều của SBS; ở Mỹ, cứ 3 toà nhà thì lại có 1 nhà có khả năng gây SBS Mặc dù chưa thực sự nổi cộm như các loại bệnh nghề nghiệp gây ra trong sản xuất công nghiệp nhưng rõ ràng SBS đã và đang đặt ra

Trang 37

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

Các triệu chứng của SBS có thể chia thành năm nhóm như sau:

− Các triệu chứng ảnh hưởng đến các tuyến nhầy và hệ hô hấp trên:

+ Kích thích hoặc khô mắt, mũi, họng

+ Ngứa mắt, chảy nước mắt, ngạt mũi

+ Ho, hắt hơi, chảy máu cam

+ Giọng nói khàn hoặc biến đổi

− Các triệu chứng ảnh hưởng đến hệ hô hấp sâu:

− Các triệu chứng ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương:

+ Mệt mỏi, khó tập trung, buồn ngủ

+ Đau đầu

+ Choáng váng, chóng mặt, buồn nôn

− Các triệu chứng khó chịu bên ngoài:

+ Thay đổi vị giác

+ Cảm giác mùi khó chịu

4.5 Khói quang hoá

Khói quang hóa được sinh ra trong khí quyển do sự tương tác giữa ánh sáng mặt trời với hydrocarbon và nitơ oxyd Kết quả là ozon tích tụ lại và sinh ra một số chất ô nhiễm thứ cấp như formaldehyd, aldehyd, PAN (peroxyacetil nitrat) Các chất này thường là các chất kích thích, gây ho, đau đầu và các bệnh đường hô hấp Chúng

Trang 38

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

km so với bề mặt trái đất (hình 4.2) Phần lớn các chất ô nhiễm không khí thâm nhập vào tầng đối lưu này Tại đây chúng hòa trộn theo phương vuông góc hoặc nằm ngang và thường tác động qua lại với nhau hoặc với các thành phần tự nhiên khác trong khí quyển như khí ozon

Khi một lượng không khí bốc lên trong tầng đối lưu của khí quyển, nó sẽ giảm nhiệt độ qua việc giãn nở đẳng nhiệt Với không khí khô, tỷ lệ giảm nhiệt độ là 0,980C/100m Tỷ lệ này được gọi là "gradient đẳng nhiệt khô"- có giá trị luôn âm ở tầng bình lưu, khí quyển rất ổn định do gradient nhiệt độ bằng không Các chất ô nhiễm xâm nhập vào lớp này (chủ yếu do núi lửa) sẽ bị giữ lại lâu hơn trong trường hợp nếu như chúng vào lớp đối lưu

ÔNKK không những gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, sự phát triển của động thực vật, tuổi thọ của các công trình mà còn gây những tác động mang tính toàn cầu Một số tác động chính của ÔNKK lên sự biến đổi của khí hậu trái đất, như là nguyên nhân của hiệu ứng nhà kính dẫn đến sự nóng lên của trái đất, suy giảm tầng ozon, mưa acid và sự nghịch đảo nhiệt

5.1 Sự nóng lên của trái đất

Nhiệt độ bề mặt trái đất được hình thành bởi sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và năng lượng nhiệt bức xạ của trái đất phát vào vũ trụ Nếu cho rằng toàn bộ năng lượng mặt trời chiếu tới bị hấp thụ bởi bề mặt trái đất, ta có nhiệt độ trung bình mặt trái đất khoảng 278oK = 5oC, chênh 10oC so với nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất (15oC) Thực tế, khoảng 30 % bức xạ mặt trời bị phản

xạ lại vào vũ trụ bởi mây, các bề mặt nước, băng (hệ số Albedo của bề mặt trái đất

Trang 39

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

Do đó, nhiệt độ khí quyển bao quanh trái đất tăng lên, dẫn đến việc gia tăng nhiệt độ trái đất Các khí trong khí quyển có khả năng hấp thụ bức xạ nhiệt sóng dài được gọi

là khí nhà kính và sự nóng lên của trái đất còn gọi là " hiệu ứng nhà kính"

Các khí nhà kính chính là khí CO2, cloroflorocarbon (CFCs), metal, N2O; trong đó khí CO2 là khí nhà kính quan trọng nhất đối với sự biến đổi khí hậu, chiếm

tỷ trọng khoảng 55% Sau đó là các khí CFC, chủ yếu là CFC-11 và CFC-12, chiếm khoảng 24% mặc dù tác dụng hiệu ứng nhà kính của các khí này cao hơn khí CO2 (một phân tử khí CFC-11 có tác dụng hiệu ứng nhà kính tương đương với 12.000 phân tử CO2) Các đặc trưng của khí nhà kính xem trong bảng 4.3

Việc gia tăng lượng CO2 vào khí quyển do đốt cháy nhiên liệu hoá thạch trong những năm gần đây chính là nguyên nhân gây ra việc nóng lên của trái đất Nhiệt độ trung bình của trái đất chỉ cần tăng 2oC cũng có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể

về khí hậu và nhiều hậu quả khác (băng tan, mưa bão, lũ lụt, )

5.2 Sự phá hủy tầng ozon

Sau "hiệu ứng nhà kính", sự phá hủy tầng ozon do ÔNKK gây ra cũng là một trong những hậu quả mang tính toàn cầu ở bề mặt trái đất, ozon là một chất kích thích mắt và hệ thống hô hấp khá mạnh, là một thành phần chính của khói quang hóa

ở lớp bình lưu (cách bề mặt trái đất 12-40km), lớp không khí loãng có chứa 300-500 ppb O3 Ozon là thành phần duy nhất của khí quyển có khả năng hấp thụ một cách đáng kể bức xạ sóng ngắn < 0,28 u Nếu không có lớp ozon này, một lượng khá lớn tia cực tím với bước sóng 0,2-0,28 u có thể tới được trái đất, gây ra những phản ứng hóa học với các bề mặt tiếp xúc, độc hại đối với con người, động vật và cây cối Như

Trang 40

Giáo Trình Khoa Học Môi Trường – Sức Khỏe Môi Trường VTTU

do đó lớp O3 luôn ổn định Việc sản xuất CFCs (các hợp chất có chứa clo, flo và carbon, thường gọi là freon) dùng cho các tủ lạnh và các máy điều hòa không khí, đặc biệt máy điều hòa cho ô tô, là nguyên nhân chính gây ra sự phá hủy tầng ozon

Ngoài ra, khí NO sinh ra từ các máy bay độ cao lớn, khí N2O cũng góp phần phá hủy tầng ozon, nhưng với một tỷ lệ rất nhỏ so với CFCs vì một phân tử NO chỉ

có khả năng phá hủy một phân tử O3 Cơ chế phá hủy O3 do NO như sau:

NO + O3 → NO2 + O2

Từ năm 1980, người ta đã phát hiện sự suy giảm đáng kể lượng ozon trong không khí ở phía trên của châu Nam Cực vào khoảng đầu xuân bán cầu nam (tháng 10) Nguyên nhân có thể giải thích như sau: về mùa đông, luôn tồn tại một dòng khí xoáy ngược ngăn cản mọi trao đổi không khí tại đây với phần còn lại trên cả hành tinh Mặt khác, nhiệt độ rất thấp (-800C) đã tạo ra những tinh thể đá bé nhỏ từ hơi nước Trên bề mặt của những tinh thể đá này đã xảy ra những phản ứng sau:

ClONO2 + (H2O)s → ClOH + (HNO3)s

ClONO2 + HCl → Cl2 + (HNO3)s

Các thành phần clo ở dạng khí phát sinh giữ ổn định trong suốt mùa đông, nhưng khi mùa xuân về, dưới tác dụng của các tia nắng mặt trời, các thành phần clo này bị quang phân và giải phóng nguyên tử clo, dẫn đến sự suy giảm đáng kể ozon, gọi là hiện tượng "lỗ thủng tầng ozon"

Chính sự suy giảm đáng kể ozon ở Nam Cực đã gây nên nhiều trường hợp mắc bệnh về da và mắt của cư dân ở các thành phố phía cực nam của Chi Lê, Achentina, Nam Phi

Ngày đăng: 22/06/2023, 16:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm