Microsoft Word 6457 doc BAN KHOA GIÁO TRUNG ƯƠNG ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓ[.]
Trang 1ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC
ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Trang 21.1.4 Trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN) 13
1.2 Đặc điểm của đội ngũ trí thức và trí thức KH&CN Việt
Nam hiện nay
14
1.2.1 Một vài nét chủ yếu về đặc điểm trí tuệ con người Việt nam 15
1.2.4 Đặc điểm về truyền thống văn hóa dân tộc của trí thức Việt Nam 21
1.2.8 Đặc điểm của các nhóm trí thức khoa học và công nghệ 25
1.3.4 Mục tiêu đổi mới chính sách đối với trí thức 34
1.4 Vai trò và trách nhiệm của trí thức KH&CN trong sự nghiệp
CNH, HĐH
35
1.4.2 Vai trò trách nhiệm của đội ngũ trí thức KH&CN 38
1.5 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về chính sách đối với trí
thức và trí thức KH&CN
41
Trang 3của nước ta
1.5.2 Kinh nghiệm về chính sách đối với trí thức KH&CN của một số
nước trên thế giới
1.5.3 Một số bài học kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam
P II BỐI CẢNH KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG ĐỘI
NGŨ TRÍ THỨC KH&CN CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
64
2.1.1 Những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội từ đổi mới đến nay 66
2.1.2 Những hạn chế của nền kinh tế hiện nay 72
2.1.3 Cấu trúc lực lượng lao động của Việt Nam 75
2.2 Thực trạng về trí thức KH&CN nước ta hiện nay 79
2.2.1 Cơ cấu của đội ngũ trí thức 82 2.2.2 Cơ cấu đội ngũ trí thức hình thành trong quá trình sử dụng 87
2.2.3 Về năng lực hoạt động nghề nghiệp của trí thức 99
2.3 Những đóng góp của trí thức KH&CN của nước ta trong
2.3.4 Những hạn chế của trí thức nước ta hiện nay 107
P III THỰC TRẠNG CÁC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRÍ THỨC
KH&CN TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
113
3.1 Quan điểm và chủ trương của Đảng đối với đội ngũ trí thức
trong thời kỳ đổi mới
114
3.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về KH&CN đến năm 2010 120
3.2.1 Mục tiêu phát triển KH&CN và đội ngũ trí thức KH&CN 121
3.2.2 Các giải pháp lớn về phát triển KH&CN từ nay đến năm 2010 122
Trang 43.3.1 Nhóm các chính sách đào tạo 124
3.3.2 Nhóm CS đào tạo lại, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức 137
3.3.5 Các chính sách thu hút sự giúp đỡ từ bên ngoài và trí thức người
Việt ở nước ngoài
155
3.4 Đánh giá tác động của chính sách đối với trí thức KH&CN 156
3.4.1 Tác động của các chính sách sắp xếp lại, kiện toàn hệ thống tổ
chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
156
3.4.2 Tác động của các chính sách bố trí lại lực lượng nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ
156
3.4.3 Tác động của các chính sách đổi mới cơ chế quản lý hoạt động
KH&CN
163
3.4.4 Đánh giá về đóng góp của trí thức KH&CN 165
3.4.5 Các chính sách mở rộng nguồn vốn đầu tư hoạt động nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ
176
3.4.6 Các chính sách cải thiện môi trường và điều kiện nghiên cứu 179
3.4.8 Các chính sách tuyển dụng và sử dụng đội ngũ trí thức KH&CN 180
3.4.9 Các chính sách tôn vinh và chế độ đãi ngộ đối với các hoạt động
sáng tạo của người trí thức
183
3.4.10 Các chính sách thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài 186
3.4.11 Đánh giá về quá trình thực hiện chính sách 186
P IV ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
KH&CN TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
193
4.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội đến năm 2020 và kế hoạch 5 năm 2006-2010
198
4.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 194
4.1.3 Mục tiêu phát triển đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu 197
Trang 54.1.4 Huớng tới nền kinh tế trí thức 198
4.1.5 Chính sách đối với trí thức gắn với việc xây dựng nền kinh tế trí thức 201
4.2 Quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc đề xuất giải pháp đổi
mới chính sách đối với trí thức KH&CN trong thời kỳ mới
203
4.2.1 Một số quan điểm đề xuất các giải pháp chính sách 204
4.2.2 Mục tiêu của việc đề xuất các giải pháp chính sách 204
4.2.3 Nguyên tắc của việc đề xuất các giải pháp chính sách 205
4.2.4 Những giải pháp tổng quát về chính sách đối với trí thức
KH&CN
206
4.3 Các nhóm giải pháp đổi mới chính sách đối với trí thức
KH&CN trong thời kỳ mới
210
4.3.1 Những yêu cầu đặt ra về đổi mới chính sách đối với trí thức
KH&CN trong tình hình hiện nay
210
4.3.2 Nhóm các chính sách phát triển đội ngũ trí thức KH&CN 212
4.3.3 Nhóm các giải pháp chính sách cải thiện điều kiện và môi trường
làm việc cho đội ngũ trí thức KH&CN
218
4.3.4 Các giải pháp chính sách đãi ngộ, tôn vinh, thu hút trí thức 237
4.4 Những điều kiện thực hiện chính sách đối với trí thức 247
P V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.2 Kiến nghị 251
Trang 6
KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
KHĐT Kế hoạch đầu tư
Trang 7DANH SÁCH THÀNH VIÊN ĐỀ TÀI
1 Chủ nhiệm đề tài
GS TSKH Nguyễn Hữu Tăng
P chủ tịch chuyên trách Liên hiệp các hội KHKT Việt nam
2 Thư ký đề tài
TS Phan Tùng Mậu PVT Vụ KHTN, CN&MT, Ban KGTW
3 Thành viên đề tài
1 TS Hồ Ngọc Luật VT Vụ KHTN, CN&MT, Ban KGTW
2 TS Bùi Văn Hưng Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, VPTW Đảng
3 TS Nguyễn Văn Ba P.Vụ trưởng Vụ KHXH, Ban KGTW
4 Ths Nguyễn Đông Hanh Viện CL & CTGD, Bộ GD&ĐT
5 KS Nguyễn Việt Hùng Viện CL & CTGD, Bộ GD&ĐT
6 TS Nguyễn Quang PVT Vụ KHTN,CN&MT, Ban KGTW
7 TS Trần Hồng Hà PVT Vụ KHTN,CN&MT,Ban KGTW
8 PGS.TS Hồ Uy Liêm PCT, kiêm tổng TK Liên hiệp các hội KHKT VN
9 TS Nguyễn Quân Vụ trưởng Vụ Tổ chức- Cán bộ, Bộ KHCN
10 TS Lê Đình Tiến Viện trưởng Viện CL&CS KHCN, Bộ KH&CN
11 TS Nguyễn Đình Minh Vụ trưởng vụ Khoa giáo VPCP
4 Cộng tác viên đề tài
1 GS.TSKH.Phạm Mạnh Hùng PTB, Ban Khoa giáo Trung ương
2 TS Trần Ngọc Tăng PTB, Ban Khoa giáo Trung ương
3 PGS TS Nghiêm Đình Vỳ PTB, Ban Khoa giáo Trung ương
4 TS Phạm Anh Tuấn Chánh văn phòng Ban KGTW
5 TS Tạ Nguyên Ngọc Vụ trưởng, Uỷ ban người Việt nan ở nước ngoài
6 TS Nguyễn Trọng Khanh Chánh văn phòng Liên hiệp hội
7 TS Nguyễn Thị Anh Thu Trưởng ban, Viện CL&CS KHCN, Bộ KH&CN
8 TS Hoàng Xuân Long Viện Chiến lược và chính sách KHCN, Bộ KH&CN
9 TS Nguyễn Văn Thành Trưởng ban, Viện CLPT, Bộ KH & ĐT
10 TS Nguyễn Văn Bách P Văn phòng, Ban Khoa giáo Trung ương
11 GS TS Hoàng Chí Bảo Hội đồng Lý luận Trung ương
Trang 8ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Mã số đề tài: ĐTĐL – 2003/27 PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết nghiên cứu:
Sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN) trong thời đại ngày nay đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi mặt đời sống xã hội Trong quá trình
đó, nguồn lực con người, đặc biệt là đội ngũ trí thức KH&CN ngày càng trở thành nguồn lực chủ chốt nhất, đóng vai trò quyết định trong phát triển Vấn đề chính sách đối với trí thức KH&CN đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, vì thực chất đó là chiến lược tăng tốc phát triển
Thực tế cho thấy, một quốc gia muốn có được những bước tiến nhảy vọt về phát triển thì cần phải hội đủ một số yếu tố cơ bản như: tài nguyên thiên nhiên, trình độ khoa học, môi trường chính trị - xã hội Có tài nguyên thiên nhiên phong phú đó là một lợi thế tiềm năng, nhưng nếu thiếu nguồn nhân lực có trình độ KH&CN cao thì việc sử dụng tài nguyên chỉ ở mức tối giản về hiệu quả (khai thác
và sử dụng ở dạng thô, hàng hoá có giá trị thấp, không có tính cạnh tranh trong xuất khẩu); tuy nhiên để có tầm vóc một nền kinh tế giàu tính trí tuệ thì mỗi quốc gia phải tạo lập môi trường chính trị - xã hội ổn định, khuyến khích và khơi dậy được tiềm năng con người Nghĩa là, bằng cơ chế, chính sách nhà nước có thể tạo ra sự giải phóng tối ưu trí tuệ cá nhân, hình thành một đội ngũ trí thức KH&CN ngày càng đông về số lượng, cao về chất lượng làm hạt nhân cho nền kinh tế tri thức, làm thay đổi về chất cho cơ cấu nguồn nhân lực của đất nước
Thực tế cho thấy rằng, để hoàn thành công nghiệp hóa, các nước tư bản phát triển trước đây phải mất hàng trăm năm, trong khi đó các nước công nghiệp mới chỉ mất khoảng một phần ba thế kỷ nhờ tận dụng được lợi thế của các nước đi sau và
có chính sách đúng đối với đội ngũ trí thức KH&CN
Đảng và Nhà nước ta luôn coi “con người là trung tâm, vừa là động lực vừa
là mục tiêu của sự phát triển” Trong suốt quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển giáo dục và đào tạo, KH&CN, coi đó là quốc sách hàng đầu, coi “trí thức là tài sản quý” là nền tảng và
Trang 9của Đảng tiếp tục khẳng định: "Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc" (1), quan điểm đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của cách mạng ở nước ta, liên tiếp được nêu trong Nghị quyết ở các
kỳ Đại hội Đảng V, VI, VII, VIII, IX và X
Nước ta đang tiến hành CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường Việc đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức KH&CN đang trở thành vấn đề cấp thiết Nghị quyết TƯ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu rõ: “Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” Nói cách khác, muốn thực hiện CNH, HĐH ở nước ta trước hết phải có đội ngũ trí thức KH&CN là lực lượng then chốt trong việc ứng dụng và phát tiển thành tựu
KH&CN vào thực tiễn cuộc sống
Từ quan điểm đó, Đảng ta chủ trương tiếp tục xây dựng và ban hành những chính sách nhằm "phát huy trí tuệ và năng lực, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài Khuyến khích trí thức, các nhà khoa học phát minh, sáng tạo Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức cho công cuộc phát triển đất nước Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của các hội khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và văn học, nghệ thuật đối với các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội"(1a)
Có thể nói, đội ngũ trí thức KH&CN nước ta, về số lượng, có bước phát triển nhanh chóng Từ năm 1990 đến nay tốc độ phát triển bình quân hàng năm đạt trên 5% Đến năm 2006 đội ngũ trí thức KH&CN nước ta đã có khoảng trên hai triệu người; phân bố khắp các lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT-XH), các địa phương với những nhiệm vụ khác nhau: từ tham mưu cho lãnh đạo, thực hiện nghiên cứu khoa học, cho đến trực tiếp chỉ đạo ứng dụng, chuyển giao công nghệ phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta
Tuy nhiên, khi bước sang cơ chế thị trường việc đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức KH&CN còn chưa gắn với nhu cầu phát triển của các lĩnh vực KT-XH
1 và 1a Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành TW Đảng khóa X, Mục X Phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc,
tiếp tục đổi mới phương hướng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
Trang 10KH&CN chậm đổi mới và kém hiệu lực, đặc biệt là khu vực kinh tế quốc doanh
Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về đội ngũ trí thức KH&CN ở nước ta, trong đó có vấn đề đào tạo và sử dụng, song các công trình đó mới dừng lại ở việc nghiên cứu lịch sử hình thành đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam thập kỷ
90, với các số liệu thiếu cập nhật và chính xác Ngay các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về thực trạng trí thức KH&CN, phân tích sự phân bố đội ngũ trí thức KH&CN theo ngành, theo lĩnh vực kinh tế - xã hội, theo địa phương và vùng lãnh thổ; chưa đánh giá hiệu quả của các chính sách đào tạo và
sử dụng đội ngũ trí thức KH&CN, khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường Điều đó đẫn đến còn thiếu cơ sở khoa học trong việc phân tích, đánh giá thực trạng các chính sách hiện hành đối với đội ngũ trí thức KH&CN và tạo cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống chính sách phát triển đội ngũ trí thức KH&CN đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
Vì vậy, phân tích sâu sắc, đánh giá toàn diện và chính xác thực trạng đội ngũ và chính sách đối với trí thức KH&CN, cũng như tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong và ngoài nước, hình thành hệ thống các quan điểm mới, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống chính sách hợp lý, có hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là hết sức cần thiết Do đó, việc nghiên cứu đề tài:
"Đổi mới chính sách đối với trí thức khoa học và công nghệ trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" là yêu cầu cấp thiết hiện nay
2 Mục tiêu của đề tài:
- Phân tích và đánh giá thực trạng về chính sách đối với đội ngũ trí thức KH&CN nước ta hiện nay (Chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ và các chính sách khác)
- Đề xuất giải pháp về đổi mới chính sách đối với đội ngũ trí thức KH&CN (Chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ và các chính sách khác) đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, góp phần xây dựng một Nghị quyết của Đảng về chính sách đối với trí thức KH&CN trong giai đoạn mới
3 Phương pháp nghiên cứu:
a Nghiên cứu lý luận: thu thập, phân tích, xử lý các thông tin, tư liệu; nghiên cứu tổng hợp các tài liệu cơ sở lý luận trong và ngoài nước, hình thành các luận cứ khoa học về chính sách đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức KH&CN đáp ứng yêu
Trang 11b Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: tổ chức nghiên cứu, đánh giá tổng kết kinh nghiệm đào tạo, sử dụng và các chính sách khác nhằm phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH ở nước ta
c Áp dụng phương pháp chuyên gia: tiến hành lấy ý kiến chuyên gia; tổ chức hội thảo khoa học, sử dụng các phương pháp “tấn công não”, thảo luận nhóm, v.v
Đề tài đã tọa đàm trực tiếp với lãnh đạo và trí thức của 15 trường ĐH; 8 tỉnh thành phố; 9 viện nghiên cứu, 7 doanh nghiệp và 2 bộ ngành về chính sách đối với trí thức
d Điều tra - khảo sát bằng phiếu về thực trạng đội ngũ và chính sách đối với trí thức KH&CN nước ta (số lượng, cơ cấu ); thăm dò về các giải pháp chính sách
sẽ thực hiện cho các đối tượng, lĩnh vực và vùng lãnh thổ
Đề tài thiết kế 5 loại phiếu điều tra P0, P1, P2, P3, P4 (điều tra cán bộ tham gia xây dựng và tổ chức thực thi chính sách đối trí thức ở bộ, ngành và địa phương; cán bộ quản lý doanh nghiệp; trí thức là giáo viên và cán bộ nghiên cứu ở các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, cán bộ làm công tác khoa giáo từ trung ương đến huyện trong cả nước, với tổng số phiếu của 5 loại phiếu là trên 3.500 phiếu)
e Khảo sát kinh nghiệm của Trung quốc và tài liệu của nhiều nước trên thế giới về chính sách đối với trí thức (cán bộ KH&CN)
Nội dung báo cáo tổng hợp đề tài gồm các phần:
Phần mở đầu
I Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách đối với trí thức KH&CN
II Bối cảnh kinh tế-xã hội và thực trạng đội ngũ trí thức KH&CN của nước ta hiện nay
III Thực trạng các chính sách đối với trí thức KH&CN từ khi đổi mới đến nay
IV Đổi mới chính sách đối với đội ngũ trí thức KH&CN trong giai đoạn mới
Kết luận và kiến nghị
Trang 12CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 TRÍ THỨC, ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngày nay, cách mạng KH&CN đang phát triển như vũ bão, tạo nên những biến đổi sâu sắc và từng bước làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội Ở nước ta, đội ngũ trí thức nói chung và trí thức KH&CN nói riêng có vai trò là lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH Vì vậy, để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức KH&CN, hệ thống chính sách phát huy vai trò của họ cần phải được quan tâm đúng mức và kịp thời Đó là cơ sở nâng cao nhận thức để mỗi người phải tự rèn luyện cho mình năng lực trí tuệ sắc bén, có tư duy năng động, linh hoạt, đủ sức giải quyết những vấn đề mà cuộc sống không ngừng đặt ra
Ông cha ta đã từng đánh giá rằng, hiền tài là nguyên khí của quốc gia Nguyên khí mạnh thì quốc gia hưng thịnh, nguyên khí yếu thì quốc gia suy vong Người cầm quyền phải thường xuyên chăm lo phát triển, bồi dưỡng và trọng đãi hiền tài, đó là điều hệ trọng không được sao nhãng “Phi trí bất hưng” là một tổng kết và cảnh báo có giá trị mãi mãi, gắn liền với tên tuổi của Lê Quý Đôn - nhà bác học nổi tiếng của nước ta từ thế kỷ XVIII
Trong những năm qua, mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, luôn có những Hội nghị Trung ương dành thời gian để bàn về sự phát triển của KH&CN - động lực cho sự phát triển KT-XH và là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cơ sở cho CNH, HĐH đất nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày
24/12/1996 đã chỉ rõ: "Muốn tiến hành CNH, HÐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững" Điều này cũng có nghĩa, muốn thực hiện CNH, HÐH thắng lợi cần phát huy tốt tiềm lực trí tuệ của đội ngũ trí thức KH&CN Đây chính là điều
kiện để các thành tựu của KH&CN được đưa vào thực tiễn KT-XH một cách nhanh chóng và vững chắc, làm nền tảng cho sự phát triển đất nước bền vững
1.1.1 Trí thức
Trí thức là gì và thế nào được gọi là trí thức? Câu hỏi này đặt ra trong nhận thức của mọi người, của xã hội, tưởng như bình thường, đơn giản nhưng thật ra lại chứa
Trang 13Hiểu đúng về trí thức và vai trò của trí thức trong đời sống xã hội mới có thể đề ra chính sách và giải pháp đúng để xây dựng đội ngũ và tạo động lực cho họ phát triển
Nói về trí thức có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu “trí thức là một phạm trù lịch sử Mỗi nước có các khái niệm khác nhau Trong các thời đại khác nhau chức năng của trí thức cũng khác nhau…Người ta có thể chia trí thức thành kỹ sư và quan chức, thành nhà phản biện xã hội, nhà luân lý học, nhà hoạt động chính trị, nhà cách mạng ”(2)
Khái niệm trí thức là một phạm trù lịch sử, nên nội hàm của nó có thể thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội Mỗi người, mỗi nước và mỗi thời kỳ, tùy theo cách nhìn nhận của cá nhân, của dân tộc và của thời đại đó mà có cách hiểu riêng
về trí thức (người/nhà trí thức) Vì thế nội hàm của khái niệm trí thức/nhà trí thức luôn thay đổi theo cả không gian và thời gian (xem khung 1)
Khung 1 Các cách định nghĩa khái niệm trí thức khác nhau ở một số nước
1/ Từ điển Bách khoa Liên xô (1985 do Prokhorov chủ biên): Trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hóa
2/ Từ điển bách khoa triết học (tiếng Nga 1983): trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc và thường có học vấn tương ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa
3/ Bách khoa toàn thư Pháp (tập X): Trí thức là một phạm trù lịch sử Trong các nước khác nhau khái niệm trí thức có khác nhau Trong các thời đại khác nhau chức năng của trí thức cũng khác nhau.… Người ta có thể chia trí thức thành kỹ sư và quan chức, thành nhà phản biện xã hội, nhà luân lý học, nhà hoạt động chính trị, nhà cách mạng
4/ Từ điển Wikipedia: Trí thức là người sử dụng trí tuệ để làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi và trả lời các câu hỏi có liên quan về hàng loạt những ý tưởng khác nhau
5/ Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tri thức là gỉ?: Tri thức là hiểu biết Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là sự hiểu biết sự tranh đấu sinh sản Khoa học tự nhiên do
đó mà ra Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc, tranh đấu xã hội Khoa học xã hội do đó mà
ra Ngoài hai cái đó không có trí thức nào khác
Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại công việc thực tế y không biết gì cả Thế là y chỉ có trí thức một nửa Trí thức của
y là trí thức học sách, chưa phải là trí thức hoàn toàn Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”
2 Bách khoa toàn thư Pháp - tập X
Trang 14nhiên, nét chung nhất nổi bật lên ở khái niệm này là hai điểm:
động, bản chất xã hội và những đặc điểm hình thành, phát triển của trí thức như một cá thể - chủ thể mang nhân cách sáng tạo, như một tầng lớp, một nhóm xã hội
- nghề nghiệp và như một cộng đồng trong quan hệ với xã hội và nhà nước, với dân
tộc và giai cấp, với truyền thống và hiện đại
Nói tới trí thức là nói tới con người tự biểu hiện mình trước hết ở sự hiểu biết, ở nhu cầu tự nhận thức, có niềm tin khoa học, hoài nghi để mà tin, nghĩa là niềm tin dựa trên hiểu biết với tinh thần phê phán và tự phê phán, không tin bất cứ một cái gì mà không trải qua lao động nhận thức, phân tích khoa học, khảo duyệt trong thực tiễn, qua những thực chứng và cả những sự trải nghiệm bản thân hoặc lĩnh hội từ kinh nghiệm của cuộc sống Do vậy, người trí thức chân chính phải là người luôn trọng sự thật, chân lý và đạo lý, không nhận thức theo cảm tính, theo tâm lý số đông, không tin một cách dễ dãi, không tự lừa dối chính mình vì kém hiểu biết, phù phiếm, sĩ diện, hư danh hoặc tệ hại hơn do xu thời và cơ hội chủ nghĩa, tự đánh mất mình, tự tha hoá nhân cách
Bởi vậy, bản chất của trí thức là gắn bó sự nghiệp lao động sáng tạo của mình một cách tự nhiên, mật thiết với nhân dân và dân tộc Cái gọi là “chuyên môn thuần tuý”, sống cô độc trong tháp ngà, xa lánh cuộc đời, bất cần chính trị là điều
không thể và xa lạ với người trí thức chân chính Trí thức do có trình độ hiểu biết
và đầu óc duy lý nên phải hiểu rõ xu thế vận động của lịch sử, nhạy cảm và mẫn cảm với thời đại và thời cuộc mà mình đang sống
Nói tới trí thức là nói tới nhu cầu về thông tin, giao tiếp và đối thoại văn hoá gắn liền với môi trường xã hội - nhân văn, từ một cộng đồng nhỏ như một tập thể lao động nghiên cứu, sáng tác, tư duy trừu tượng, biểu diễn, một hoạt động chuyên môn hoá cao đến đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc, quốc tế và nhân loại Với trí thức, lao động không phải là gánh nặng mưu sinh, vì miếng cơm, manh áo của
Trang 15Say mê, tận tuỵ và tâm huyết với công việc - thái độ lao động đó của người trí thức
là năng lực tự ý thức của họ về trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận đối với xã hội Đó
là lòng tự trọng với mình và tôn trọng với người, với cuộc sống Lười biếng, cẩu thả, vô trách nhiệm là xa lạ với hoạt động và phẩm giá của người trí thức Nói đến trí thức là nói đến hoạt động của họ gắn liền với lao động trí óc và đời sống Và nghề nghiệp của trí thức đòi hỏi phải thường xuyên sáng tạo ra những cái mới, tiến
bộ, văn minh và văn hoá Từ những điều trình bày trên đây có thể rút ra một vài nhận xét khái quát về trí thức:
Thứ nhất, trí thức là người có hiểu biết rộng và sâu, có năng lực sáng tạo, có
trình độ phát triển cao về trí tuệ, làm việc bằng trí óc, nhạy bén với cái mới và đổi mới để phát triển
Thứ hai, học vấn, học thức của người trí thức được gây dựng qua đào tạo,
được bồi dưỡng và phát triển không ngừng bằng con đường tự đào tạo, tự trau dồi
và hoàn thiện của cá nhân trong lao động và hoạt động sáng tạo
Thứ ba, trí thức có nhu cầu cao về đời sống tinh thần và hướng tới các giá trị
tinh thần, trọng sự thật, chân lý và đạo lý Trí thức là người có cá tính sáng tạo, có lòng tự trọng cao, có đầu óc duy lý và phê phán để khẳng định cái tôi - cá thể, đồng thời gắn bó với cộng đồng, phụng sự nhân dân và dân tộc
Thứ tư, khát vọng tự do, dân chủ, đấu tranh cho lẽ phải và sự công bằng là sự
nổi trội trong nhân cách trí thức sáng tạo
Thứ năm, trí thức thể hiện lý tưởng chính trị và trách nhiệm xã hội của mình
thông qua hoạt động nghề nghiệp, qua hoạt động chuyên môn đặc thù Ngọn nguồn sâu xa của sức mạnh sáng tạo và phát triển tài năng trí thức là thực tiễn cuộc sống,
là sự gắn bó sâu nặng với Tổ quốc và nhân dân, là tình cảm yêu nước và tinh thần dân tộc
Tóm lại, trong quan niệm thông thường, trí thức được hiểu là những người lao động sáng tạo (lao động chủ yếu bằng trí óc) với trình độ nghề nghiệp chuyên môn nhất định, người có trình độ học vấn cao, được đào tạo trong nhà trường, có
bằng cấp và vươn lên trong thực tiễn cuộc sống (có trình độ đại học và tương
đương trở lên) 3 , trọng nhân nghĩa, sự thật và chân lý và là người hết lòng truyền
3 Đó là những người có trình độ đại học (có bằng) và những người có trình độ tương đương trình độ đại học nhưng không có bằng, họ học từ thực tiễn cuộc sống Trong thực tế, học vấn, học thức cao lại gắn với những trình
độ, cấp độ khác nhau Con đường và phương thức đạt tới học vấn, học thức cao lại có thể qua đào tạo ở nhà trường,
là kết quả của một nền giáo dục nhất định nhưng cũng có thể chỉ bằng con đường tự học, không qua trường, lớp nào Những đối tượng thụ hưởng giáo dục ấy, khi đã thành sản phẩm, họ có trở thành trí thức hay không, đặc biệt là
Trang 16còn là người có năng lực làm chủ phương pháp, biết dùng phương pháp để mở rộng và nâng cao hiểu biết và ở một trình độ cao hơn, đóng góp vào sự khám phá, sáng tạo cái mới, những giá trị mới thúc đẩy sự phát triển nhận thức khoa học và
phát triển xã hội, mà tiêu biểu nhất là người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu (trong các cơ sở đào tạo đại học, trên đại học và các tổ chức nghiên cứu)
Đặc trưng nhận thức và hiểu biết khoa học của người trí thức không chỉ thuần tuý nói về trình độ học vấn (cao hơn mặt bằng chung của xã hội - phổ cập),
mà trước hết, họ là đối tượng phát triển vượt trội về học vấn, về năng lực trí tuệ
Với trí thức chân chính, hiểu biết và niềm tin gắn liền với đạo đức, thế giới quan đi liền với nhân sinh quan, xác định một thái độ sống, một lối sống tích cực, hướng tới
nhân dân, dân tộc và xã hội Chất nhân văn của người trí thức là vị tha chứ không
vị kỷ, là khát vọng tự do sáng tạo để tự biểu hiện, tự khẳng định mình như một nhân cách, được đem hiểu biết và vốn học vấn, văn hoá của mình phụng sự xã hội
và nhân dân, không tính toán vụ lợi
Từ những đặc trưng trên đây của người trí thức, có thể nhận thấy người trí thức có những chức năng cơ bản sau đây:
a Chức năng sáng tạo khoa học, duy trì và phát triển những giá trị cơ bản của xã hội theo hướng chân, thiện, mỹ, ích;
b Chức năng phản biện, phê phán xã hội, biết nhìn rõ sự vật, suy nghĩ đến cùng và dám phê phán những gì không đúng, không hợp lí;
c Chức năng đào tạo lớp trí thức mới cho đất nước;
những nhà trí thức lớn, thành danh, có uy tín, nổi tiếng ở trong nước và ngoài nước, lại chủ yếu là tự đào tạo và tự
bồi dưỡng suốt đời của họ Văn bằng, chứng chỉ (theo nghĩa thực chất và nghiêm túc nhất) là một thước đo đánh giá
kết quả và mức độ được đào tạo nhưng nó không phải là căn cứ chủ yếu và duy nhất để xác định và định danh cho người trí thức Cần phải căn cứ vào năng lực thực chất và hiệu quả công việc của họ Thông tin và trí thức khoa học càng bùng nổ dữ dội bao nhiêu, tuổi thọ của văn bằng càng bị rút ngắn bấy nhiêu, nếu chủ nhân của nó không thường
xuyên cập nhật được những cái mới, trước hết là những trí thức mới trong lý thuyết và phương pháp thuộc lĩnh vực
chuyên môn của mình Cuộc cách mạng về phương pháp đang đặt ra như một giải pháp chiến lược cho phát triển, cho sự chấn hưng giáo dục và khoa học mà rất nhiều quốc gia - dân tộc, rất nhiều nhà nước và chính phủ đang hết sức quan tâm
Không có năng lực, nhu cầu và thói quen tự làm mới vốn liếng học vấn của mình, con người ta, nhất là người trí
thức sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, tụt hậu rất nhanh chóng, đến mức không còn tồn tại được Trong thế giới đương đại ngày nay, cái đáng sợ và nguy hiểm nhất đối với sự phát triển - từ phát triển khoa học và giáo dục đến phát triển
xã hội, đó là sự lạc hậu, tụt hậu về năng lực trí tuệ
Vấn đề học vấn và bằng cấp được đào tạo của người trí thức cần được nhận thức lại cho đúng Những dấu hiệu hay tiêu chí này chỉ có ý nghĩa khi vấn đề thực chất của nó được bảo đảm và những dấu hiệu ấy không bị tuyệt đối hoá cứng nhắc, không biến thành hình thức và một thứ chủ nghĩa hình thức trong đánh giá, nhất là trong tình hình hiện nay khi giáo dục đang bị suy thoái nghiêm trọng dẫn tới không ít trường hợp “bằng thật mà học giả”, tệ hại hơn
là “bằng giả mà như thật, mà được sử dụng thật” làm rối loạn kỷ cương, phép nước, làm tổn hại tới sự thật và đạo lý
Trang 17Tầng lớp trí thức có những biến đổi lịch sử qua mỗi hình thái xã hội, mỗi thời đại và chế độ, gắn với một chính thể và các thể chế do giai cấp cầm quyền tạo
ra và chi phối Trong lịch sử, giai cấp cầm quyền dùng ý thức hệ của giai cấp mình
để chi phối xã hội, biểu hiện thành ý thức hệ của xã hội Sự chi phối tư tưởng này ảnh hưởng trực tiếp tới trí thức và thế giới quan, nhân sinh quan, tới hoạt động nghề nghiệp, thái độ và lối sống của trí thức
Ở Việt Nam, các thế hệ trí thức nối tiếp nhau, đã đồng hành cùng nhân dân
và dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, cho công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trước đây, nhân dân ta đã đánh thắng đế quốc, phong kiến, ngày nay nhân dân ta còn phải đánh thắng nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tiến tới hiện đại hoá Trí thức Việt Nam có trọng trách trong sự nghiệp vẻ vang đó là vì
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân Tổ quốc - nhân dân - dân tộc - thời
đại và CNXH, là hệ giá trị và lý tưởng sống của người trí thức cách mạng hiện nay Vai trò to lớn đó của đội ngũ trí thức được Đảng ta khẳng định: " liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" 5 Quan điểm đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của cách mạng nước ta, đã được thể hiện trong Nghị quyết ở các kỳ Đại hội Đảng V,VI, VII, VIII, IX và X
Đội ngũ trí thức nước ta xuất thân từ các giai cấp, các lực lượng, các tập đoàn và các nhóm xã hội khác nhau trong xã hội, có mặt trong tất cả mọi giai cấp,
4 Theo Phạm Tất Dong, Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam, TLĐ D, tr 111
5 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, tr 116 Nxb Chính trị quốc gia, 2006
Trang 18theo cách nhìn của xã hội học, có đặc điểm lao động và phương thức (cách thức)
sản xuất riêng để sản xuất và truyền bá tri thức Tùy theo nguồn gốc xuất thân của
mình, họ mang theo những đặc điểm xã hội của giai cấp, tầng lớp xuất thân và vì vậy tầng lớp trí thức có những đặc điểm tương đối phức tạp Tuy nhiên, trí thức cũng có những điểm chung, đó là người có trình độ cao, hiểu biết sâu rộng Mặt khác, do đặc điểm lao động của họ là hoạt động sáng tạo cá nhân, nên các sản phẩm
sáng tạo mang đậm dấu ấn cá nhân Với lẽ đó, trí thức không trực tiếp tham dự vào
sở hữu tư liệu sản xuất vật chất của xã hội, nhưng lại rất nổi trội trong sở hữu trí tuệ
Trong tiến trình phát triển đất nước, đội ngũ trí thức có những đóng góp to lớn cho sự phát triển KT-XH của đất nước Để phát huy vai trò và khả năng của người trí thức, cần quan tâm đến các nội dung:
- Xã hội cần tạo cơ hội cho người trí thức phát huy năng lực của mình, lao động sáng tạo có hiệu quả, trọng dụng sản phẩm lao động của họ một cách đúng mức, Do vậy, cần có chính sách hợp lý để phát huy vai trò của trí thức
- Đối với bản thân, người trí thức, trên cơ sở không ngừng tự bồi dưỡng nâng cao năng lực của mình, cần mang hết khả năng và trí tuệ đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, sáng tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị phục vụ cho sự nghiệp phát triển KT-XH
Đội ngũ trí thức, bao hàm trí thức KH&CN, trí thức văn hoá - nghệ thuật đều
bị chi phối bởi các đặc điểm trên
- Thứ nhất, một người sử dụng tri thức không thể ngăn cản được người khác
sử dụng cũng chính tri thức đó, nghĩa là tri thức là một loại hàng hóa không
có tính chất loại trừ Nó không giống như ổ bánh hay chiếc áo, những hàng
hóa này khi đã thuộc quyền sở hữu của một người thì người khác không còn được quyền sử dụng nữa
Trang 19trong xã hội thì người tạo ra tri thức rất khó ngăn người khác sử dụng sản phẩm của mình, nghĩa là nó có tính chất không độc quyền sử dụng Nó tương
tự như cây đèn biển, người xây dựng nên nó không thể cấm bất cứ ai trong xã hội sử dụng nó
Hai đặc điểm này biểu thị đặc điểm cơ bản của một loại hàng hóa công (public goods), mọi người có thể cùng sử dụng một loại tri thứcvà không ai có khả năng độc quyền chiếm dụng Điều này không chỉ làm giảm, mà còn công hữu hóa hoàn toàn những lợi ích mà người tri thức tạo ra Việc không có khả năng thu được lợi tối đa đã hạn chế việc đầu tư vào những nghiên cứu và triển khai rất tốn kém để tạo ra tri thức mới, phổ biến và cung cấp tri thức cho xã hội Lúc này nhà nước đại biểu cho quyền lợi của xã hội, có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của trí thức và sự phát triển Nhà nước phải xây dựng được các thiết chế
để giải quyết mâu thuẫn trên đây, khuyến khích việc tạo ra tri thức mới như: bảo hộ các bằng sáng chế, chế độ bản quyền và những bảo hộ sở hữu trí tuệ khác Đồng thời, nhà nước cũng cần tạo điều kiện để những tri thức mới được sử dụng rộng rãi trong xã hội, tạo điều kiện cho nhiều người có cơ hội sử dụng các tri thức mới thông qua các chính sách hỗ trợ hợp lý để người sử dụng tri thức chỉ phải trả một khoản kinh phí thấp hơn nhiều chi phí tạo ra nó hoặc thậm chí không phải trả tiền Hầu hết các nước đều có mục tiêu tăng năng suất lao động và cải thiện chất lượng hàng hóa để tăng thu nhập và lợi từ sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Những cố gắng này đều kéo theo sự gia tăng chi phí đầu tư cho việc
tạo ra tri thức hoặc nhập khẩu tri thức từ các nước đi trước Đây chính là lý do các
cơ sở sản xuất kinh doanh trong các nước nghèo, vốn ít, có nhiều hạn chế đầu tư cho nghiên cứu và triển khai để tạo mới hoặc tái tạo tri thức đã có ở các nước khác Để cải thiện điều kiện sản xuất của mình, các cơ sở này thường có xu hướng chọn giải pháp khôn ngoan hơn, với chi phí ít tốn kém hơn, đó là giải pháp tiếp nhận các tri thức đã được tạo ra từ các nước đi trước Nhật bản và nhiều nước
công nghiệp mới là những điển hình cho sự lựa chọn này
Một yếu tố có tác dụng lớn đối với việc phát triển nguồn vốn tri thức của một
đất nước là những thiết chế liên quan đến sự thúc đẩy việc làm tăng số lượng tri thức
trong kho tàng tri thức của đất nước, nguồn gốc để sản sinh ra của cải vật chất, là cội
rễ của việc tăng năng suất lao động, mở rộng, nâng cao sản lượng xã hội giúp cho sự phát triển KT-XH bền vững và cũng là cơ sở để xoá đói giảm nghèo Đây là những
Trang 20đi trước, cũng như các thiết chế khuyến khích động viên đội ngũ trí thức nghiên cứu tiếp thu tích cực các tri thức nhập (tiếp thu có sáng tạo) và tạo ra tri thức mới Những thiết chế này, cơ bản được thể hiện dưới những hình thức, như: bằng sáng chế, bản quyền, giấy phép công nghệ và những hình thức khác của các quyền sở hữu trí tuệ Thiết chế này bao gồm cả những khoản lợi ưu đãi hợp lý nhằm mục đích tạo cho những cá nhân, tổ chức, quốc gia "tích cực đổi mới" công nghệ có cơ hội, điều kiện thu hồi những chi phí đã bỏ ra để nhập khẩu và thích nghi công nghệ hoặc chi phí tạo
ra tri thức mới Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành một tài sản quan trọng Việc có những thiết chế bảo vệ quyền lợi cho những cơ sở sản xuất kinh doanh đã đầu tư cho việc tìm kiếm, lựa chọn tri thức để nhập khẩu, đầu tư cho nghiên cứu thích nghi các tri thức nhập khẩu để nó phù hợp hơn với điều kiện sản xuất, kinh doanh trong nước, đầu tư cho nghiên cứu triển khai tạo ra tri thức mới là một định hướng chính sách cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển mở rộng nguồn vốn tri thức của đất nước Đồng thời cũng cần có những thiết chế đảm bảo quyền lợi một cách tương xứng và hợp lý để khuyến khích động viên trí thức đã nghiên cứu thực hiện các công việc đó Bên cạnh những nỗ lực nhằm khuyến khích tạo ra tri thức, việc phổ biến, quảng bá rộng rãi tri thức trong nước cũng là điều hết sức cần thiết, vì đây chính là cách sử dụng sản phẩm của người trí thức hiệu quả nhất, tiền đề để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền KT-XH Việc quảng bá tri thức trong xã hội, đặc biệt là những thông tin về tính ưu việt của những tri thức công nghệ mới, những yêu cầu về thuộc tính của sản phẩm trên thị trường là điều kiện để giúp cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tránh được những thất bại trong kinh doanh Điều này lại càng đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, nếu những nước này không muốn tụt lại phía sau
1.1.4 Trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN)
Với đặc trưng là lao động trí óc và làm nghề sáng tạo, đội ngũ trí thức là một
tầng lớp trong cấu trúc của xã hội được hợp thành từ rất nhiều loại hình (căn cứ vào cách thức lao động và hoạt động), nhiều nghề nghiệp khác nhau Nói trí thức KH&CN
là nói đến nghề nghiệp và lĩnh vực hoạt động của họ Đó là lực lượng trí thức hoạt động trong lĩnh vực KH&CN, từ những người nghiên cứu đến giảng dạy; từ nghiên cứu cơ bản, lý thuyết đến nghiên cứu ứng dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ…
Có thể khái quát, trí thức KH&CN là một bộ phận của trí thức nói chung,
hoạt động trong lĩnh vực KH&CN (khoa học xã hội-nhân văn, khoa học tự nhiên,
Trang 21người chuyên nghiên cứu, giảng dạy, đến những người lao động chủ yếu bằng trí
óc để hoạt động lãnh đạo, quản lý, sản xuất-kinh doanh…trên các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Họ là đội ngũ tiếp thụ những thành tựu KH&CN mới nhất trên thế giới cũng như trong nước, trên cơ sở đó hình thành năng lực sáng tạo ra những sản phẩm mới và đóng góp ngày càng nhiều hơn cả về
lý thuyết cũng như công nghệ ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
Trong đội ngũ trí thức KH&CN, các nhà khoa học, các nhà giáo có trình độ
cao, chuyên môn sâu thuộc hệ thống các viện nghiên cứu và các trường đại học, các
doanh nghiệp lớn giữ vai trò nòng cốt Đội ngũ này sáng tạo ra tri thức KH&CN;
họ sản xuất, truyền bá và ứng dụng tri thức KH&CN vào cuộc sống và đóng vai trò đặc biệt trong việc tạo ra sức sản xuất mới Họ là lực lượng chủ yếu thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật ở trong hệ thống các cơ sở giáo dục và đào tạo, trong các viện, các trung tâm nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN, các cơ sở sản xuất-kinh doanh
Khi nghiên cứu cấu thành đội ngũ trí thức KH&CN ở nước ta, cần phải lưu ý
tới tính đồng bộ và cân đối giữa trí thức khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ với
trí thức khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có đội ngũ các nhà nghiên cứu lý luận chuyên nghiệp thuộc các cơ quan khoa học của Đảng và Nhà nước, các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội Trí thức không chỉ nghiên cứu, giảng dạy mà còn truyền bá những tư tưởng, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Họ góp phần không nhỏ vào việc hình thành đường lối, chính sách, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, tham mưu, tư vấn cho các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, nhất là ở các cơ quan trung ương Bộ phận trí thức nghiên cứu lý luận chính trị ở nước ta còn tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh tư tưởng
để bảo vệ chế độ, giữ vững ổn định chính trị, tạo nên sự thống nhất tư tưởng trong Đảng và xã hội, xây dựng và phát triển ý thức xã hội
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ TRÍ THỨC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HIỆN NAY
Trí thức KH&CN là một bộ phận hợp thành của tầng lớp trí thức trong xã hội Do vậy, ngoài những đặc điểm chung của trí thức, trí thức KH&CN cũng có những đặc điểm riêng do nghề nghiệp, hoạt động của họ quy định Những đặc điểm
Trang 22trí thức nói chung và trí thức KH&CN nói riêng
1.2.1 Một vài nét chủ yếu về đặc điểm trí tuệ con người Việt nam
Có thể nói, trí tuệ là một vấn đề rất phức tạp có liên quan đến nhiều hiện tượng tâm lý và là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học khác nhau như
triết học, sinh học, thần kinh học, xã hội học, y học, giáo dục học v.v Xem xét đặc
điểm trí tuệ, khả năng tư duy sáng tạo, thích ứng với xã hội của con người Việt Nam là để có cơ sở bàn về trí tuệ của trí thức nước ta, coi đó là cơ sở quan trọng trong việc xem xét đặc điểm trí thức và xây dựng chính sách đối với trí thức
Với một nền nông nghiệp lúa nước lạc hậu, người Việt Nam luôn luôn phải
chống chọi với thiên tai và địch họa; họ sống với cuộc sống lam lũ nên còn thiếu kiến thức KH&CN, thiếu tư duy khoa học hiện đại và đặc biệt vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức pháp luật trong lĩnh vực quản lý xã hội, kinh tế thị trường, khoa học, công nghệ, thông tin, v.v của thời đại, song trí tuệ của con người Việt Nam sớm được
hình thành và phát triển phong phú, đa dạng qua bốn nghìn năm lịch sử với nền giáo dục phát triển sớm cùng với tiến trình phát triển của văn minh nhân loại
Nhiều nghiên cứu về xã hội học và y học cho thấy, người Việt Nam “có đủ các tố chất thông minh, sáng tạo có khả năng trí tuệ phong phú, đa dạng, đủ sức vươn tới những đỉnh cao của khoa học, của trí tuệ nhân loại”.6 Ở mảnh đất địa linh nhân kiệt, nền văn hoá Việt Nam là điểm hội tụ tinh hoa của các nền văn minh trên
thế giới, trí tuệ con người Việt Nam mang đậm triết lý nhân sinh và được phát huy cao độ trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Dân tộc Việt Nam vốn có
truyền thống trọng đạo lý, lấy nhân, nghĩa, trung, hiếu làm chuẩn mực cho các hành
vi ứng xử của mình Quá trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã tạo nên bản sắc về trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, lối sống, đạo lý của người Việt Nam
Có thể nói, nguồn lực trí tuệ Việt Nam có tiềm năng lớn, đa dạng, cần phải chăm lo bồi dưỡng, khai lộ và cần được phát huy một cách đầy đủ trong quá trình phát triển KT-XH ở nước ta
1.2.2 Đặc điểm xã hội của trí thức
Trong cơ cấu xã hội - giai cấp, đội ngũ trí thức là một nhóm xã hội đặc thù,
đa dạng về nghề nghiệp
6 Lê Nam Trà (chủ biên): Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Hà Nội, 1997, tr 320
Trang 23của xã hội, thường nắm các cương vị lãnh đạo, phục vụ các giai cấp cơ bản trong
xã hội và gắn với lợi ích của các giai cấp đó, mà trước tiên là giai cấp nắm quyền lãnh đạo Thực tế chỉ ra rằng, mọi giai cấp thống trị khi cầm quyền đều phải sử dụng lực lượng trí thức trong xã hội, nhất là các chuyên gia, vào mục đích củng cố
và bảo vệ địa vị cầm quyền Lênin đã từng chỉ ra, giai cấp công nhân (GCCN) khi giành được chính quyền và trở thành giai cấp lãnh đạo phải chú trọng sử dụng trí
thức, đào tạo một lực lượng chuyên gia thực sự là của mình và bất luận thế nào
cũng không được thua kém các chuyên gia tư sản
Rõ ràng, thái độ đối với trí thức và việc sử dụng đội ngũ này luôn bị chi phối bởi quan điểm chính trị, ý thức hệ và lợi ích của giai cấp thống trị
Do không phải là một giai cấp độc lập, không có hệ tư tưởng riêng, nên trí thức luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những yêu cầu lịch sử của thời đại mà họ đang
sống, trí thức phục vụ cho chế độ và cho giai cấp cầm quyền Tuy nhiên, trí thức
không chỉ do giai cấp thống trị cầm quyền chi phối Trí thức hình thành và tồn tại trong lòng dân tộc, trong khuôn khổ từng quốc gia - dân tộc và trong cộng đồng xã hội (nhân dân) Do đó, trí thức có mối liên hệ mật thiết với dân tộc và nhân dân Sự thống nhất lợi ích giữa GCCN với nhân dân và dân tộc trong CNXH đã tạo điều kiện KT-XH và chính trị rất thuận lợi cho việc hình thành đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa (XHCN), phục vụ cho chế độ XHCN, cho sự lãnh đạo và cầm quyền của GCCN, thông qua đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản Đó là cơ sở xã hội khách quan để đội ngũ trí thức nước ta gắn bó sâu sắc với nhân dân và dân tộc, thực hiện lý tưởng và mục tiêu độc lập dân tộc và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Ngày nay, người trí thức Việt Nam với tình cảm yêu nước, gắn bó với nhân dân và dân tộc tất yếu sẽ đến với lý tưởng cao đẹp, với hệ tư tưởng tiên tiến, thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin Những người trí thức XHCN tự giác, tiếp thu nó và trở thành giá trị tinh thần của mình
Sự giác ngộ này là kết quả của nhận thức khoa học, từ niềm tin khoa học của
họ đối với CNCS và những trải nghiệm thực tiễn khi họ tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới do Đảng ta lãnh đạo Qua rèn luyện và thử thách, những người ưu tú nhất trong tầng lớp trí thức đã trở thành những chiến sĩ cộng sản, đứng trong hàng ngũ của Đảng
Trong tác phẩm “Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên” (1920) V.I.Lênin đã nhấn
mạnh, “Người ta có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí tuệ của mình
Trang 24phát sinh từ tổng số tri thức của nhân loại mà nếu không như vậy thì CNCS chỉ đơn thuần là một nguyện vọng mà thôi”7 Cũng như vậy, không có sách thì không
có tri thức Không có tri thức thì không có CNCS Đủ thấy, sự phát triển của năng lực trí tuệ, sức mạnh của khoa học quan trọng đến mức nào đối với sự giác ngộ về CNCS và đối với sự nghiệp xây dựng CNCS Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định, CNXH cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận
Đối với người trí thức giác ngộ cách mạng, CNXH và CNCS không chỉ là vấn đề quan điểm chính trị, là giác ngộ sứ mệnh lịch sử của GCCN mà còn là hiểu biết và niềm tin khoa học, là giác ngộ lý luận về xu thế tất yếu của sự phát triển lịch sử
Trong đội ngũ trí thức XHCN, thành phần xuất thân, nguồn gốc xã hội của trí thức khá đa dạng; họ từ công nhân, nông dân, từ dân nghèo thành thị, từ giai cấp tiểu tư sản, từ giai cấp tư sản và các tầng lớp khác Với những trí thức có nguồn gốc
ở tầng lớp trên, họ đã từ bỏ địa vị giai cấp xuất thân của mình để tự nguyện phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng XHCN và CSCN Bất luận thành phần xã hội ban đầu của mình là gì nhưng khi đã đứng trong đội ngũ của Đảng hay phấn đấu cho lý
tưởng của Đảng, trở thành trí thức XHCN, thì những người trí thức này đều mang
bản chất GCCN, rèn luyện, tu dưỡng theo bản chất GCCN
Ở nước ta hiện nay, trí thức chủ yếu xuất thân từ giai cấp công nhân và nông dân Nhưng điều quan trọng, đội ngũ trí thức là một thành phần trong khối liên
minh công - nông - trí Điều đó được Đảng ta khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc" (8) Do vậy,
dù hoạt động trong lĩnh vực nào hoặc ở thành phần kinh tế nào, kể cả ngoài quốc doanh, về nguyên tắc trí thức là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng
Hiện nay, kinh tế nước ta đang phát triển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, tồn tại nhiều thành phần kinh tế và được bình đẳng trước pháp luật Như
7 Về nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, V.I.Lênin,tt, t41, tr 361, CTQG, 2005 (E)
8 Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành TW Đảng khóa X, Mục X Phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục
đổi mới phương hướng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
Trang 25khác nhau kể cả trong quá trình sản xuất, truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học Như vậy, dưới góc độ giai cấp, khi nghiên cứu đội ngũ trí thức ở nước ta không nên quá nhấn mạnh vào thành phần xuất thân hay đối tượng phục vụ, mà nên chú ý đến bản chất xã hội của người trí thức Điều đó có nghĩa rằng, dù người trí thức Việt Nam có xuất thân từ giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nào, dù đối tượng phục
vụ là thành phần kinh tế này hay thành phần kinh tế khác, thì bản chất xã hội của đội ngũ trí thức nước ta là thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc trong lao động sáng tạo của họ Do sự diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, do sự khác biệt nhiều mặt giữa các thành phần kinh tế ở nước ta, có thể có những biểu hiện trung gian, bấp bênh mâu thuẫn ở người trí thức, song xu hướng vận động chính trong lao động sáng tạo của trí thức là phải tìm ra những điều mới vì sự tiến bộ của
xã hội Cho nên, cần huy động, khích lệ được tiềm năng trí tuệ và đạo đức của đội ngũ trí thức Việt Nam ở tất cả các thành phần kinh tế, xã hội đóng góp vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2.3 Đặc điểm về tôn giáo của trí thức
Trong lịch sử loài người, nghệ thuật, triết học, tôn giáo gần như xuất hiện đồng thời Theo đó, nghệ thuật ban đầu luôn là sự phản ánh những cảm xúc tôn giáo và có vị trí trong cấu trúc tư tưởng tôn giáo Các nội dung của tôn giáo là nguồn cảm hứng cho những sáng tạo nghệ thuật Và nghệ thuật, với những thuộc tính tuyệt vời của nó lại lưu giữ, truyền tải và là hình thức biểu hiện các tư tưởng tôn giáo Khoa học và tôn giáo có mối quan hệ với nhau Nếu xét đến cùng thì tôn giáo là một cách giải thích thế giới, cho dù chỉ ở những góc độ nhất định của tư tưởng, tâm lý xã hội Bằng cách nhìn, góc nhìn, kiểu phán xét riêng, tôn giáo đã để lại một phương pháp xem xét, nhìn nhận, đánh giá về chính bản thân cuộc sống của con người Phong tục, tập quán – văn hóa hành xử của từng dân tộc tạo ra những tác động đến tín ngưỡng, tôn giáo Và, ngược lại, tín ngưỡng, tôn giáo cũng ảnh hưởng đến phong tục, lối sống Ví như: Phật giáo tác động mạnh đến lối sống từ bi
hỉ xả, tu nhân tích đức, tương thân tương ái…; Nho giáo tác động đến lối sống, hệ thống giáo dục, đào tạo trí thức, cơ cấu quyền lực…; Đạo giáo với chữa bệnh, vũ đạo, âm nhạc; Kitô giáo với lối sống, tâm lí, văn học, ngôn ngữ, báo chí, các hình thức lễ hội, cách tập hợp quần chúng…
Nước ta là một quốc gia có nhiều tôn giáo và nhiều loại hình tín ngưỡng Số tín đồ các tôn giáo trong thời gian qua có chiều hướng tăng lên (năm 2003 ở Việt
Trang 26trung vào 6 tôn giáo có tín đồ tương đối lớn (Phật giáo có gần 10 triệu, Công giáo
5,5 triệu, Cao đài 2,4 triệu, Phật giáo Hòa hảo 1,6 triệu, Tin lành gần 1 triệu và Hồi giáo có 65.000 tín đồ) Ngoài ra, còn hàng triệu người tin theo các tín ngưỡng bản địa như tín ngưỡng dân gian của người Kinh, tín ngưỡng nguyên thủy của các dân tộc ít người…
Trong đời sống thường ngày, tôn giáo có những tác động không nhỏ đến tâm
lý, tình cảm, tư tưởng và nhận thức của các cộng đồng người Mặc dù vậy, đối với mỗi quốc gia, dân tộc, việc xem xét những tác động này phải đặt trong các mối
quan hệ lịch sử cụ thể Một trong những đặc trưng nổi bật của các loại tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam là tính duy vật của nó được thể hiện ngay từ đối tượng, mục đích đến cách thức vận hành Đạo thờ tổ, thành hoàng, hệ thống nhân thần vv… đều là
sự nhân cách hóa, sự thăng hoa, sự chưng cất từ hiện thực cuộc sống sản xuất và chiến đấu mà nên Trình độ, mức độ, khả năng, phạm vi nhận thức các vấn đề nói
chung hay cao hơn là nhận thức về khoa học nói riêng được thể hiện chính trong sự xem xét, đánh giá và cách hành xử các vấn đề trên Do vậy, khi xem xét nghiên cứu xây dựng các chính sách đối với trí thức nói chung và trí thức KH&CN nói riêng, cần thiết chú ý đến sự tác động của tôn giáo, có nghĩa là nghiên cứu sự tác động của thói quen, xu hướng vận động về tâm lí và cách hành động của đội ngũ trí thức trong điều kiện hoàn cảnh xã hội nhất định Đây là một khía cạnh hết sức quan trọng trong việc đề ra chính sách đối với trí thức KH&CN hiện nay
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, việc phân tích điều kiện cấu thành các qui phạm đạo đức là cách tiếp cận tìm hiểu về tính cách, phong cách, tác phong hoạt động của trí thức, xem xét các qui phạm đạo đức tôn giáo cũng chính là xem xét những yếu tố cơ bản tác động đến hệ thống chính sách đối với trí thức KH&CN Những tác động đó là:
- Tính bao dung dẫn đến hiện trạng đa giáo đồng qui, đa giáo đồng tồn ở Việt Nam Thực tại xã hội đó cho thấy mặc dù tuân thủ các niêm luật, các qui phạm đạo đức tôn giáo, nhưng tư duy của người Việt không cứng nhắc, không máy móc, không cố chấp, song cũng có những bất qui tắc Điều này phản ánh rằng người Việt dễ dàng và sẵn sàng hội nhập, hòa nhập, thậm chí chủ động hội nhập nhưng biết giữ cái bất biến, cái nguyên tắc, cái quy định bản sắc riêng Sự bao dung, khoan dung trong tâm thức Việt đã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam
là kết quả của sự tiếp biến văn hóa nhân loại và sự sáng tạo các giá trị mới trong
Trang 27giá trị mới; 2/ làm cho các giá trị đã có phát huy tác dụng trong điều kiện mới (tiếp biến); 3/ bản địa hóa các giá trị nước ngoài; 4/ nhân loại hóa các giá trị bản địa Trong tiếp thụ các giá trị văn hóa gồm: 1/ tiếp thu yếu tố chứ không phải hệ thống; 2/ sắp xếp lại các hệ giá trị; 3/ tiếp thu hình thức để tải nội dung khác; 4/ tổng hợp các giá trị ưu trội
- Tính duy vật của tôn giáo và tín ngưỡng Việt Nam qui định mục đích hành động của đội ngũ trí thức là cụ thể, thiết thực, phục vụ trực tiếp cho các mục đích của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Trình độ, mức độ, khả năng, phạm vi nhận thức các vấn đề nói chung, hay cao hơn là nhận thức về khoa học nói riêng được thể hiện chính trong sự xem xét, đánh giá và cách hành xử các vấn đề trên
- Tính độc lập, tự tôn của dân tộc đã tiếp biến các giá trị đến từ bên ngoài Mọi giá trị khi được vận dụng, áp dụng đều phải tuân theo các chuẩn mực nhất định Sự vận dụng không cứng nhắc, đầy sáng tạo đã tạo ra cốt cách, bản lĩnh riêng của người Việt Một trong những minh chứng rõ nhất trong xã hội Phật giáo
ở Việt Nam khác với một số nước trên thế giới là phụ nữ Việt Nam có vai trò và
vị trí hết sức to lớn
- Ý thức về bổn phận trách nhiệm của người trí thức Những niêm luật, những qui phạm về chính danh đã tác động không ít đến nhận thức về bổn phận của mỗi người nói chung, của trí thức nói riêng Động lực thúc đẩy con người suy nghĩ đến bổn phận không chỉ từ trách nhiệm công dân, từ ý thức với cộng đồng mà còn từ nghĩa vụ với các lực lượng linh thiêng nhưng hết sức gần gũi Những vấn đề trên có liên quan đến tiền nhân, tiền bối, đến đạo thờ tổ tiên của dân tộc ta
- Ngoài những đặc điểm tích cực nêu trên thì các tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng cũng có những tác động khác, đó là: tính ỷ lại, sự thần phục cứng nhắc làm hạn chế không ít năng lực sáng tạo của người Việt nói chung, của trí thức nói riêng, tạo ra sự nhụt chí, kém dũng khí của ngay cả những trí thức có năng lực
Ở Việt Nam chưa hình thành một đội ngũ trí thức tôn giáo riêng, tuy rằng lực lượng này đã có những đóng góp nhất định trong tiến trình phát triển của dân tộc
Vì vậy, trong quá trình phát triển, tâm thức tôn giáo nói chung của người Việt Nam
đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến đội ngũ trí thức nói chung và trí thức KH&CN nói riêng Hiểu được những tác động này sẽ giúp cho việc đổi mới hệ thống chính sách có hiệu lực hơn, thiết thực hơn
Trang 28Dân tộc Việt Nam vốn thông minh, hiếu học và có truyền thống kính trọng người tài Từ sau ngày vua Hùng dựng nước, lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, với bao sự thăng trầm của lịch sử, nền văn hiến
và văn minh Việt Nam luôn được bảo tồn, kế thừa và phát triển Trong nền văn hiến đó đã sản sinh ra biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt, các bậc trí nhân tài năng (trí thức) đã đóng góp cho sự phát triển đất nước, của dân tộc Nhiều người đã trở thành những vầng sao, những tấm gương sáng về tinh thần vì nước, vì dân được nhân dân ta tôn vinh từ đời này sang đời khác
Trong suốt các triều đại lớn (Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn) và nhất
là từ thời nhà Lý, tổ tiên ta đã quan tâm tới các khâu trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và phát huy vai trò của người tài vì sự nghiệp phát triển của dân tộc Với lòng tự hào: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” và “Bất tốn Hoa hạ” (không kém thua Trung Hoa), Lý Thường Kiệt đã động viên các triều đại và cả dân tộc Việt Nam, luôn luôn giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc, chăm sóc, đào tạo, bồi dưỡng tài năng để xây dựng và gìn giữ đất nước Truyền thống đó của dân tộc Việt Nam đã trở thành di sản văn hoá dân tộc, được các thế hệ giữ gìn và phát huy theo chiều dài phát triển của lịch sử cho đến ngày nay Truyền thống đó của đội ngũ trí thức Việt Nam được thể hiện rõ với những đặc điểm sau:
- Trí thức Việt Nam được hình thành từ cộng đồng dân tộc Việt Nam, nên cách nghĩ, cách làm, nhất là tư tưởng triết học, phản ánh đầy đủ tính cách của người Việt Nam là ưa chuộng hòa bình, tự do và mong có những đóng góp vào sự phát triển của dân tộc Chính vì vậy, trí thức Việt Nam có lòng yêu nước, yêu dân tộc thiết tha với trí tuệ và tình cảm sâu lắng Đặc biệt đối với người trí thức Việt Nam, tính chất “dấn thân” nổi trội hơn tính “hàn lâm”, “ngắm hoa vịnh cảnh” Đó là những đặc điểm nổi trội về truyền thống dân tộc ở người trí thức nước ta
- Tư tưởng và lối sống của trí thức Việt Nam giàu tính cộng đồng, tính nhân văn Đặc điểm này thể hiện ở triết lý đối nhân xử thế, tâm tính vui vẻ, khoan dung
và nhân hậu theo truyền thống tình làng nghĩa xóm, sống chết có nhau Đó cũng là tính nhân văn của trí thức Việt Nam Nó được thể hiện ngay trong các hoạt động sáng tạo thường có sự liên hệ chặt chẽ giữa các ngành văn, sừ, triết Hầu như cả
ba môn đó đều thống nhất trong “Đạo” Trong mối quan hệ đó thì triết học là cái cốt lõi của Đạo học, văn học với phương châm “văn dĩ tải đạo” là phương tiện để truyền bá Đạo, còn sừ học là lĩnh vực dùng sự kiện để chứng minh cho Đạo Trục
Trang 29bằng “dùi mài kính sử”, “văn chương phú lục”, “lễ nhạc thi thư”, “ngắm hoa vịnh
cảnh”…Chính lẽ đó, cùng với cuộc sống thanh bạch mà trí thức Việt Nam, ngay
cả trong những cuộc chiến tranh và thay đổi của xã hội, chưa từng có những cuộc sát phạt tinh thần đến độ tuyệt vọngvà cũng không gây ra những sự đoạn tuyệt
“thanh toán” với truyền thống Vì những lẽ trên mà không phải khi nào những chuẩn mực giá trị văn hoá phương Tây cũng cắt nghĩa được tư duy và hành động của trí thức Việt Nam
- Một trong những đặc điểm quan trọng của trí thức Việt Nam là sinh ra từ cộng đồng dân tộc người Việt Nam với cuộc sống và làm ăn thuần nông, nên họ gắn bó với quê hương làng xã và ít chịu ảnh hưởng, tác động của văn hóa đô thị
Do vậy, chủ nghĩa duy lý, tư duy khoa học thực nghiệm không phải là cốt cách
định hình nên nó, mà chủ yếu dựa trên tư duy kinh nghiệm (Tư duy kinh nghiệm thường thiên về mô tả, thống kê những thuộc tính, đặc điểm, những mối quan hệ, liên hệ của sự vật, hiện tượng Mặc dù đã mang yếu tố lý tính chứ không chỉ là cảm tính, giản đơn, thì việc vận dụng tư duy kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn cũng chỉ theo phương pháp “đồng dạng”, luật “tương tự”, tiên đề, định đề Khi gặp một nội dung mới hoặc bước sang một giai đoạn mới, người theo tư duy kinh nghiệm thường hay quay về với những kinh nghiệm đã có và thường coi cái đã có
là chuẩn mực, là hệ qui chiếu để xem xét cái hiện thời) Song với vùng địa linh
nước Việt, vị thế địa - văn hoá đặc biệt (chỉ một số quốc gia có được), nên nền văn hoá Việt Nam có sự kế thừa và có điều kiện để chọn lọc tinh hoa nhiều nền văn hoá khác nhau Với các nền văn hoá lớn: Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á, La tinh (Pháp), Ănglô-Xắcxông (Mỹ) và cả văn hoá Xlavơ (Đông âu và Liên Xô cũ) không chỉ “đi qua” đây, mà còn được lưu lại qua chọn lọc và được chuyển hoá để làm giàu nền văn hóa Việt Nam
Có thể nói, những khía cạnh trên đã in dấu trong tư tưởng, hành động và lối sống của trí thức nước ta Một mặt, tư tưởng của trí thức là sự tập trung những giá trị kết tinh lâu bền của ý thức quốc gia, của truyền thống tư tưởng dân tộc Mặt khác, tư tưởng, lối sống và hoạt động của trí thức có ý nghĩa hết sức quan trọng trong lưu giữ, truyền bá, phát huy và phát triển truyền thống tích cực của dân tộc và ngày càng góp phần quan trọng vào việc phổ biến truyền thống dân tộc trong giao lưu và tiếp biến tinh hoa văn hoá nhân loại Ngày nay, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường đang tạo ra tiền đề và môi trường pháp lý, kinh tế, xã hội cần thiết cho việc phát triển giá trị truyền thống của
Trang 30tiến kịp nền văn minh nhân loại và hiếu học là những cái bất biến trong bảng giá trị truyền thống của trí thức Những truyền thống đó được gìn giữ và phát huy nhằm tô đậm những giá trị mới của đội ngũ trí thức nước ta Đó là những trí thức có tư duy khoa học và lương tâm nghề nghiệp đi liền với danh dự công dân sáng tạo trong sự phát triển đất nước
Một số nét tiêu cực trong di sản của quá khứ đã từng bước được khắc phục, song vẫn còn ảnh hưởng sâu nặng cho đến ngày nay Thực tiễn trong lịch sử truyền thống dân tộc, cha ông ta học để “xuất chính” làm quan Cho nên tập quán học để thực hành một nghề chuyên môn cụ thể, học để sáng tạo khoa học chưa trở thành phổ biến trong tầng lớp trí thức ở nước ta Đến nay, mục đích “học để làm quan” phần nào đã dược tái lập, đặc biệt trong thời kỳ kinh tế theo cơ chế tập trung bao cấp, học nhằm đạt danh vọng “cán bộ” hay “viên chức nhà nước”, là con đường duy nhất để tiến thân Hơn nữa, xã hội vẫn chưa có tư duy học để hành nghề mình đã học, mà chỉ đánh giá trí thức thông qua sự thăng tiến theo con đường quan chức hành chính Thực tế đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần đổi mới chính sách, trước hết là đổi mới
tư duy lãnh đạo các cấp để từng bước tạo lập môi trường cho trí thức tự khẳng định mình bằng chính con đường khoa học mà mình đang tâm huyết thực hiện
1.2.5 Đặc điểm chuyên môn và học vấn của trí thức
Trong phần khái niệm trí thức cho thấy, trình độ học vấn là biểu hiện, là thước đo bên ngoài của trí thức Ngày nay, hoạt động khoa học, nghệ thuật cần thiết có sự phân công và hợp tác rất cao của các lao động chất xám đặc thù Vì vậy, phân tích đặc điểm này sẽ làm sáng tỏ sự cân đối giữa các trình độ học vấn (đại học, thạc sĩ và tiến sĩ), giữa các trình độ chuyên môn nghề nghiệp (trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên và các chức danh khoa học phó giáo sư hoặc giáo sư) trong hoạt động khoa học, giáo dục và đào tạo Từ đó có thể góp phần làm rõ được sự song hành của hai bảng giá trị, với một bên là bậc thang hành chính với những cấp bậc rõ ràng, nghiêm ngặt và một bên là hệ thống các hoạt động trí tuệ được phân định rạch ròi bởi các bậc thang trí thức Nếu không bảo đảm được cơ cấu thứ bậc
nghiêm ngặt trong lĩnh vực sản xuất tinh thần thì sẽ làm rối loạn các thang bậc giá
trị khoa học, nghệ thuật Như vậy, khó có thể có những công trình lớn; không có các trường phái khoa học, nghệ thuật cũng như các chuyên gia đầu ngành Nghiên cứu đặc điểm này sẽ góp phần thúc đẩy việc phân công và hợp tác ngày càng sâu trong lĩnh vực sản xuất tinh thầnvà góp phần xây dựng cơ sở cho chiến lược nhân
Trang 31xây dựng hệ thống chính sách nhằm phát huy vai trò của trí thức vì sự nghiệp phát triển đất nước
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng chuyên môn theo trình độ và cơ cấu nghề nghiệp có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu chính sách đối với trí thức Thông qua các chính sách của Nhà nước, chúng ta xây dựng đội ngũ trí thức cân đối không chỉ về ngành, nghề mà cả trình độ học vấn
1.2.6 Đặc điểm nghề nghiệp của trí thức
Quá trình phân công lao động xã hội và quá trình phát triển nhanh chóng của KH&CN đã làm chuyên môn hoá sâu sắc lao động trí óc Quá trình đó làm đa dạng nghề nghiệp trí thức theo các chuyên ngành mỗi ngày một hẹp Xuất phát từ tính đặc thù nghề nghiệp và sự sáng tạo theo thiên hướng cá nhân; sự phân công và hiệp tác trong lao động sản xuất tinh thần; sự tồn tại các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa tạo nên tính đa dạng nghề nghiệp trí thức
Tính đa dạng nghề nghiệp trí thức không chỉ biểu hiện ở sự có mặt tại các thành phần kinh tế, mà còn biểu hiện ngay trong quá trình lao động sáng tạo, từ các công đoạn và lĩnh vực sáng tạo cho đến tính đặc thù của những "thiên hướng cá nhân” Với tư cách là một thực thể sáng tạo tinh thần theo "thiên hướng cá nhân" và
do sự phát triển đan xen của KH&CN hiện đại, nên đội ngũ trí thức trong thời đại ngày nay thường có những khuynh hướng hợp tác, liên kết với nhau Một số trí thức thuộc biên chế nhà nước nhưng vẫn có thể hợp tác, liên kết với các thành phần kinh tế khác trong hoạt động khoa học, nghệ thuật và chuyển giao công nghệ Đặc điểm về lao động chuyên môn là dấu hiệu quan trọng nhất để phân chia đội ngũ trí thức thành các nhóm xã hội - nghề nghiệp khác nhau Việc phân chia đó chỉ mang tính tương đối vì trong đội ngũ trí thức có không ít nhóm trí thức ở "vùng giáp ranh" hoặc mang tính đa năng - nghề nghiệp
Thực tế hiện nay, các số liệu thống kê của chúng ta thường phân ra các nhóm
xã hội, nghề nghiệp khác nhau:
1)Trí thức khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học nông, lâm, ngư nghiệp;
2)Trí thức nghiên cứu lý luận Mác-Lê nin, khoa học xã hội, nhân văn và ngoại ngữ,
Trang 32học
4) Trí thức văn nghệ sĩ và nhà báo;
5) Trí thức y và dược;
6) Trí thức lãnh đạo và quản lý chính trị kinh tế, xã hội, văn hoá;
7) Trí thức trong quân đội và an ninh (nghiên cứu, giảng dạy, hoạt động KH&CN);
8) Trí thức ngườiViệt Nam ở nước ngoài là bộ phận của trí thức dân tộc Việt Nam
9) Sinh viên là lực lượng bổ sung cho đội ngũ trí thức
1.2.7 Đặc điểm phân bố trí thức theo các vùng lãnh thổ
Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trong trong quy hoạch đào tạo, đồng thời là cơ sở để nghiên cứu tình trạng sử dụng lao động trình độ cao trong quốc gia, khu vực Quá trình nghiên cứu đặc điểm này sẽ phát hiện những đặc thù riêng (thí dụ giữa trí thức nông thôn và thành thị, giữa miền Nam và miền Bắc), cũng như phát hiện tính cân đối giữa nhu cầu về trí thức nhằm đáp ứng sự nghiệp phát triển KT-XH mỗi vùng miền, đặc biệt, là cơ sở quan trọng để xem xét tính hợp
lý trong phân bố trí thức phù hợp với sự phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, văn
hoá ở nông thôn, thành thị, đồng bằng và miền núi, v.v
Trí thức ở mỗi vùng có thể có điểm đặc thù, nhưng đều có những nét chung của đội ngũ trí thức ở mỗi nước Đó là sự thống nhất trong đa dạng Sự thống nhất
ở người trí thức là lao động trí óc và sáng tạo, nhưng đa dạng trong phân công, hợp tác chuyên môn, đa dạng về quan hệ xã hội - giai cấp, về thành phần kinh tế, về phân bổ theo lãnh thổ, về lứa tuổi và giới tính, đa dạng về lối sống và định hướng
giá trị v.v
Nghiên cứu các đặc điểm phân bố của đội ngũ trí thức là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng, xem xét xu hướng vận động và phát triển của đội ngũ trí thức trong những điều kiện cụ thể nhất định, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta Hơn nữa, kết hợp việc nghiên cứu đặc điểm chung của đội ngũ trí thức với đặc điểm riêng của trí thức vùng lãnh thổ sẽ giúp cho việc xây dựng chính sách đối với trí thức tốt hơn
1.2.8 Đặc điểm của các nhóm trí thức khoa học và công nghệ
Trang 33động tương ứng về chuyên môn, nghề nghiệp trong lĩnh vực KH&CN, nên trí thức KH&CN còn có những đặc điểm riêng gắn với ngành nghề mà họ đang hoạt động
Vị trí và lĩnh vực mà trí thức đang đảm nhiệm về mặt nào đó cũng biểu hiện về nhân cách và vị thế của họ trong quan hệ xã hội Do vậy, nghiên cứu đặc điểm của trí thức KH&CN được thể hiện qua các nhóm ngành sau:
- Các nhóm trí thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật, nông lâm, ngư nghiệp
Nhóm trí thức này hoạt động trong các cơ sở nghiên cứu khoa học, giáo dục
và đào tạo, các cơ sở kinh tế công, nông, ngư nghiệp Nhóm này có quan hệ trực tiếp với tư liệu sản xuất và sản xuất vật chất Chức năng xã hội của nhóm này không chỉ sản xuất, truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học, mà còn phát triển công nghệ, thiết kế, ứng dụng, đổi mới và sử dụng có hiệu quả bộ máy sản xuất
Hiện nay, số cán bộ nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và thiết kế tương đối đông, nhưng số kỹ sư công nghệ giỏi còn ít Ở lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tỷ lệ tiến
sĩ chiếm không cao, mặc dù số chuyên ngành rất lớn, trong khi đó số tiến sĩ tập trung chủ yếu ở các ngành khoa học tự nhiên Tỉ lệ trí thức khoa học nông, lâm, ngư nghiệp còn thấp
- Nhóm trí thức nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội, nhân văn, trí thức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Trên thế giới, đội ngũ trí thức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thường chiếm số lượng lớn Ở nước ta, đội ngũ giáo viên, giảng viên cũng chiếm một tỷ lệ lớn trong các nhóm trí thức Đội ngũ này đóng vai trò quan trọng trong dào tạo nguồn nhân lực và càng quan trọng trong thời kỳ đổi mới Đội ngũ này, từng bước gắn giáo dục và đào tạo với KH&CN, và thực sự đóng góp ngày càng lớn Do nhu cầu của mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài, đội ngũ này cần phải được chuyển biến về chất để đáp ứng với nhu cầu phát triển của KT-XH trong thời kỳ mới
Ngoài lực lượng trí thức thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, thì lực lượng trí thức khoa học xã hội - nhân văn và lý luận có vị trí hết
sức quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm giáo dục và đào tạo các thế hệ mới, xây dựng các giá trị tinh thần và đạo đức, góp phần phát triển nền văn hoá dân tộc
Trang 34chậm trễ so với yêu cầu của cuộc sống và sự biến đổi của thực tiễn Đó là do những hạn chế, yếu kém của lĩnh vực này, nhất là sự thiếu hụt nhiều chuyên gia đầu đàn,
sự phát triển chậm của các ngành khoa học mũi nhọn, như triết học, chính trị học
và xã hội học Song một phần khác, do quan niệm, nhận thức chưa đúng về vai trò, tác dụng của lý luận, của khoa học xã hội - nhân văn dẫn tới coi thường và xem nhẹ
nó Trong khi đó, giới nghiên cứu về khoa học luận và các dự báo khoa học trên thế giới cho thấy, trong xã hội hiện đại nhất là trong thế giới toàn cầu hoá hiện nay, vai trò của lý luận, của khoa học xã hội - nhân văn sẽ ngày càng tăng lên, ngày một trở nên quan trọng đối với lãnh đạo, quản lý xã hội
Ngoài ra, trong nhận thức của chúng ta thường đồng nhất khoa học xã hội -
nhân văn, lý luận với chính trị, dẫn tới tình trạng chính trị hoá khoa học xã hội -
nhân văn và lý luận Nó dẫn tới tình trạng hạn chế tính khách quan của khoa học xã hội - nhân văn, của lý luận đối với các vấn đề chính trị, hạ thấp (dù là không tự giác) lý luận và khoa học xã hội - nhân văn trong đời sống khoa học và xã hội, làm chậm sự phát triển của cả khoa học lẫn chính trị
- Nhóm trí thức y và dược…
Nhóm trí thức này có chức năng xã hội là chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho nhân dân dựa trên quan điểm: dự phòng, kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền nhằm bảo đảm chất lượng phục vụ ngày càng cao
Trong nhóm này, ngoài bộ phận thầy thuốc có trình độ đại học và trên đại học, còn có hàng vạn thầy thuốc y học cổ truyền Với quan điểm phát triển nền y
học nước nhà “khoa học, dân tộc, đại chúng” và thực hiện mục tiêu công bằng và phát triển trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, trí thức ngành y và dược ngày càng
tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng
- Trí thức trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý
Nhóm trí thức này tham gia vào hệ thống quyền lực thuộc hệ thống quản
lý các cấp, trong các cơ quan công quyền và trong các lĩnh vực hành chính sự
nghiệp và hoạt động xã hội (trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trong các tổ chức, đoàn thể của hệ thống chính trị) từ Trung ương đến địa phương Trong số
họ có những người giữ vai trò chủ chốt trong lãnh đạo, quản lý Đội ngũ trí thức này được gọi là các quan chức, công chức và viên chức, có vai trò hoạch định đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện đường lối chính sách Tuy đội ngũ
Trang 35nghệ thuật, nhưng họ có vị trí, vị thế xã hội quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển KT-XH, phát triển đất nước và sự phát triển của tầng lớp trí thức nói chung ở nước ta
- Trí thức trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh
Lực lượng này hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực kinh tế, quản lý kinh tế Hiện nay, nhiều người lãnh đạo các doanh nghiệp, công ty là những nhà quản lý đồng thời cũng là những trí thức có trình độ cao, có chuyên môn nghiệp vụ tốt Trí thức đồng thời là doanh nhân hoặc doanh nhân có trình độ trí thức cao, trong các thành phần kinh tế, từ khu vực kinh tế nhà nước, tập thể tới kinh tế tư nhân, cá thể Đây là hiện tượng mới xuất hiện trong thời kỳ đổi mới, có xu hướng phát triển cả
về số lượng và chất lượng, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập kinh tế quốc tế Đặc điểm riêng của nhóm trí thức này là tính năng động, nhanh nhạy, thực tiễn và
là cầu nối giữa công nghệ và kinh doanh
- Trí thức trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, đối ngoại
Đó là nhóm trí thức trong quân đội và công an, trí thức trong ngành ngoại giao và hoạt động đối ngoại - những lĩnh vực quan trọng không thể thiếu trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong tiến trình đổi mới, mở cửa, hợp tác song phương và đa phương ở nước ta Nhóm trí thức này gồm nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, từng trải, trong đó có không ít người có tài năng và triển vọng
- Trí thức trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài
Đó là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Trong số trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có những người nổi tiếng, xuất sắc đang làm việc ở các cơ sở khoa học lớn của các nước Đại bộ phận hướng về dân tộc, mong muốn đuợc đóng góp tài năng và kinh nghiệm vào công cuộc phát triển kinh tế - văn hoá
ở trong nước, góp phần đưa Tổ quốc trở nên giàu có, văn minh, hiện đại Tuy nhiên, chúng ta đang thiếu cơ chế, chính sách và tổ chức để đội ngũ này có điều kiện cống hiến cho đất nước
- Trí thức trẻ đang được đào tạo
Trí thức trẻ đang được đào tạo là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng của đất nước, là tiềm năng và triển vọng của trí thức dân tộc Đây là nhóm xã hội đặc trưng
Trang 36các trường đại học trong cả nước, thuộc đủ mọi lĩnh vực, có cả một bộ phận đang theo học ở nước ngoài, trong đó có những người đang theo học ở các trường đại học lớn, có uy tín của thế giới Đây là những trí thức tương lai, đang tiếp thụ nền học vấn hiện đại, thích ứng với yêu cầu của xã hội hiện đại, của kỷ nguyên văn minh tin học
Những nhóm trí thức nêu trên (bộ phận, loại hình) cấu thành đội ngũ trí thức KH&CN ở nước ta, chủ yếu được tiếp cận và phân loại theo lĩnh vực hoạt động chuyên môn, theo vị thế xã hội
1.3 CHÍNH SÁCH VÀ CHU TRÌNH CHÍNH SÁCH
1.3.1 Chính sách
Thực tế hiện nay đang tồn tại rất nhiều khái niệm về chính sách, đó là:
- Chính sách được hiểu ở tầm quốc gia là các quyết định rõ ràng hoặc ngầm định, thể hiện sách lược/ kế hoạch/, giải pháp hành động mang tính định hướng tầm quốc gia nhằm phục vụ việc hoạch định, triển khai, kiểm soát và đánh giá các hoạt động hiện tại và tương lai
- Chính sách là kế hoạch hành động, là sự tuyên bố về mục tiêu và ý tưởng, đặc biệt là những kế hoạch của chính phủ, đảng phái chính trị, các công ty kinh doanh9
- Chính sách là phương pháp hoặc tác động của đảng phái chính trị, chính phủ, các tổ chức kinh doanh, tổ chức khác v.v thông qua các quyết định cụ thể
- Chính sách là nguyên tắc hoặc quy trình mang tính định hướng, hướng dẫn.10
- Chính sách là nguyên tắc, kế hoạch v.v bất kỳ của chính phủ
- Chính sách là sự quản lý thông minh hoặc mánh khoé.11
- Chính sách là hệ thống các biện pháp của chính phủ, hoạt động định hướng vào lĩnh vực nào đó 12
- Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra.13
9 Oxfort Dictionary, 1988
10 American heritage Dictionary, 1985
11 Wesber’s Dictionary, 1978
12 Từ điển Tiếng Nga, 1985
13 Từ điển Tiếng Việt, 1988
Trang 37Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó; bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách mang thuộc tính đường lối.14
- Chính sách là quyết định rõ ràng hoặc ngầm định hoặc nhóm quyết định có thể tạo ra các định hướng cho việc hướng dẫn các quyết định trong tương lai hoặc bắt đầu, giữ vững hoặc làm chậm hành động (action) hoặc hướng dẫn việc triển khai các quyết định có trước 15
Như vậy, thuật ngữ chính sách thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau Hiểu theo nghĩa rộng, có thể được xem là các chủ trương, đường lối, phương hướng chiến lược, quan điểm, thái độ ứng xử của đảng chính trị hoặc nhà nước (chính phủ) trong các lĩnh vực chính trị - xã hội Bên cạnh cách hiểu theo nghĩa rộng trên đây, thuật ngữ chính sách còn được dùng để chỉ những chế độ (chế độ lương, phụ cấp…), chính sách cụ thể, các biện pháp, giải pháp, các quyết định hiện hành của
cơ quan quản lý, dựa vào đó để điều hành, kiểm tra, phục vụ và tác động đến mọi việc trong phạm vi quyền lực của mình
Với cách hiểu chính sách như trên, việc phân tích, đánh giá chính sách ở nước ta cần được tiếp cận ở nhiều cấp độ khác nhau:
a Ở cấp độ cao nhất là các quan điểm, chủ trương, các định hướng cho các giải pháp, các biện pháp; thông qua việc xem xét các Nghị quyết của Đảng, bộ phận có chức năng lãnh đạo, vạch đường lối, đề xuất các chủ trương, đưa ra các định hướng cho các biện pháp, các giải pháp
b Ở cấp độ tiếp theo là xem xét các văn bản pháp qui của chính quyền các cấp, mà trước hết là các văn bản pháp luật của nhà nước, của bộ phận có chức năng quản lý điều hành đất nước
c Cuối cùng là xem xét việc triển khai thực hiện các văn bản pháp qui của các đơn vị cơ sở để thấy được tác động của các chính sách đó
1.3.2 Chu trình chính sách
Trong thực tiễn quản lý, các chính sách được hình thành và triển khai thực hiện, điều chỉnh, đổi mới theo một chu kỳ nhất định và được gọi là chu trình chính
14 Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995
15 The Dynamics of Education Policymaking – World Bank 1994
Trang 38phải trải qua các bước sau:
- Chấp nhận, phê duyệt ban hành chính sách
- Thực thi chính sách ; đây là giai đoạn mà các chính sách phát huy hiệu lực đồng thời cũng nẩy sinh những vấn đề bất cập so với mục đích ban đầu
- Đánh giá tác động của chính sách
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách, đưa
ra các điều chỉnh, bổ sung cần thiết, hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn và đạt được các mục đích mong muốn
Trong một số trường hợp, do điều kiện và hoàn cảnh cụ thể chính sách không còn phù hợp với thực tiễn, cơ quan quản lý sẽ đình chỉ tác động của chính sách Đây cũng là tiền đề để nghiên cứu xây dựng, hình thành chính sách mới
Quá trình phân tích, đánh giá chính sách là một quá trình phức tạp và đa dạng Thông thường, việc đánh giá chính sách được thực hiện theo các bước sau:
(1) Thu thập, phân loại và hệ thống hoá các chính sách cần đánh giá và các tài liệu, văn bản có liên quan
(2) Xây dựng các tiêu chí đánh giá chính sách
Hình thành chính sách
Điều chỉnh
Đánh giá
Thực thi chính sách
Chấp nhận chính sách Phân tích
Trang 39làm nhiệm vụ thực thi chính sách, các đối tượng được thụ hưởng chính sách, các đối tượng có liên quan đến quá trình quản lý, thực hiện và hưởng thụ chính sách
và ứng dụng tri thức khoa học vào cuộc sống và phát triển như một tầng lớp xã hội
đặc thù và độc lập tương đối
Các quan điểm chính là quan niệm của những người lãnh đạo đất nước đối với vị trí, vai trò của trí thức Ví dụ, trong giai đoạn hiện nay quan điểm chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta coi trí thức là một bộ phận quan trọng trong khối liên minh công - nông – trí, do Đảng lãnh đạo Quan điểm này chi phối rất nhiều đến các chính sách cụ thể đối với trí thức Đây là sự thay đổi căn bản, khác biệt so với quan niệm của nhà nước phong kiến đối với trí thức trong lịch sử Trong bốn hạng người của các xã hội cũ “sĩ-nông-công-thương”, thì “sĩ” (trí thức) đứng đầu Quan điểm của giai cấp thống trị trước đây được phổ cập trong toàn xã hội, coi trí thức là tầng lớp dẫn dắt xã hội phát triển
Trong hệ thống chính sách đối với trí thức, có những chính sách tác động trực tiếp và có những chính sách có ý nghĩa gián tiếp Có những chính sách tạo môi trường thuận lợi về KT&XH để trí thức phát triển hài hoà như một nhân cách sáng tạo trong xã hội So với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác, tính đặc thù của đội ngũ trí thức là ở chỗ lao động trí óc sáng tạo theo những “thiên hướng cá nhân” Do đó, tính đặc thù của các chính sách KT-XH đối với đội ngũ này trước tiên phải hướng vào sự đa dạng trong hoạt động nghề nghiệp ở tất cả các thành phần kinh tế, các ngành và vùng kinh tế, đa dạng trong sự phân công và hợp tác lao động trí óc phức tạp như nghiên cứu, triển khai, ứng dụng…đa dạng về sáng tạo cá nhân Nét đặc thù cơ bản nhất của chính sách KT-XH là xác lập quyền tự do biểu hiện bản chất sáng tạo cá nhân của trí thức Việc tạo ra một cơ chế tự do và dân chủ trong một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là cần thiết để “công dân hoá” đội ngũ trí thức vốn còn nhiều tàn dư “nho lại” và “thư lại”, cộng với những ảnh hưởng
Trang 40liêu, bao cấp cho đến nay vẫn còn ảnh hưởng khá nặng nề
Trong các chính sách gián tiếp còn có chế độ đầu tư cho hoạt động sáng tạo của trí thức; chính sách, cơ chế quản lý hoạt động KH&CN; chính sách đối với Việt kiều, trong đó có trí thức Việt kiều…
Các chính sách trực tiếp đối với trí thức được thể hiện cụ thể qua các nhóm chính sách chủ yếu sau:
- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng trí thức,
- Chính sách sử dụng đối với trí thức
- Chính sách thu hút trí thức
- Chính sách đãi ngộ đối với trí thức
Chính sách chăm lo đào tạo, bồi dưỡng trí thức rất quan trọng nhằm tạo nên đội ngũ trí thức KH&CN của dân tộc có đức, có tài, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân Qua các giai đoạn phát triển của đất nước, các chính sách này phải thay đổi cho phù hợp Ví dụ, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nhà nước
ta đã cử một bộ phận rất lớn học sinh đi học ở nước ngoài để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo Giai đoạn hiện nay, ngoài nguồn lực của Nhà nước, các chính sách hướng vào việc đóng góp của xã hội cho công tác đào tạo, bồi dưỡng trí thức, đặc biệt trí thức trẻ là tiềm năng của đất nước trong tương lai
Đào tạo, bồi dưỡng là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, nhưng chính sách sử dụng đối với trí thức không kém phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả làm việc của trí thức mà quá trình đào tạo và bồi dưỡng mang lại Chính sách
sử dụng trí thức nhằm mục tiêu phát huy tối đa tiềm năng, năng lực sáng tạo của đội ngũ này Sử dụng đội ngũ trí thức là mặt quan trọng của chính sách, có quan hệ hữu cơ gắn bó với quá trình đào tạo - bồi dưỡng họ Chính sách sử dụng không hợp
lý sẽ tạo sự lãng phí hoặc "chảy máu" chất xám
Chính sách thu hút trí thức nhằm mục đích thực hiện một ý đồ chiến lược, hoặc một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà ở đó chưa có lực lượng trí thức cần thiết Chính sách thu hút trí thức có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc thực hiện chiến lược và chính sách phát triển KT-XH trong từng giai đoạn nhất định
Chính sách đãi ngộ đối với trí thức đóng vai trò khuyến khích trí thức, nhân tài Chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với trí thức vừa chứng tỏ sự đánh giá đúng đắn giá trị sản phẩm đặc biệt do lao động trí óc tạo ra cho xã hội, vừa thể hiện sự