1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Công nghệ thông tin: Thực trạng sử dụng phần mềm bản quyền trong cơ quan nhà nước và các giải pháp thay thế

68 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng sử dụng phần mềm bản quyền trong cơ quan nhà nước và các giải pháp thay thế
Tác giả Phan Hồng Sơn
Người hướng dẫn Ths. Trần Cao Nhân
Trường học Trường Đại học Võ Trường Toản
Chuyên ngành Công nghệ Thông tin
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hậu Giang
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ (11)
    • 1.2. LỊCH SỬ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (12)
    • 1.3. PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI (12)
    • 1.4. HƯỚNG GIẢI QUYẾT (12)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (13)
    • 2.1. BẢN QUYỀN VÀ BẢN QUYỀN PHẦN MỀM (13)
      • 2.1.1. Bản quyền là gì? (13)
      • 2.1.2 Bản quyền phần mềm là gì? (15)
    • 2.2 VI PHẠM BẢN QUYỀN VÀ VI PHẠM BẢN QUYỀN PHẦN MỀM LÀ GÌ?10 (20)
      • 2.2.1 Vi phạm bản quyền (20)
      • 2.2.2 Vi phạm bản quyền phần mềm là gì (22)
      • 2.2.3 Hình thức xử lý hành vi vi phạm bản quyền phần mềm (22)
    • 2.3 PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ VÀ GIẤY PHÉP NGUỒN MỞ (23)
      • 2.3.1 Phần mềm mã nguồn mở (23)
      • 2.3.2 Giấy phép nguồn mở GNU GPL (23)
      • 2.3.3 Giấy phép họ BSD (25)
    • 2.4 PHẦN MỀM MIỄN PHÍ VỀ GIÁ (26)
  • CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHẦN MỀM BẢN QUYỀN TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC HIỆN NAY (28)
      • 3.1.1 Tình hình sử dụng phần mềm nguồn mở trong các Cơ quan nhà nước trên thế giới (28)
      • 3.1.2 Tình hình sử dụng phần mềm ở các Cơ quan nhà nước hiện nay (28)
      • 3.1.3 Nguy ễn nhân chính của tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm (32)
    • 3.2 CÁC GIẢI PHÁP THAY THẾ (34)
      • 3.2.1 Đối với Hệ điều hành (34)
      • 3.2.2 Đối với phần mềm (49)
  • KẾT LUẬN (66)

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp Công nghệ thông tin: Thực trạng sử dụng phần mềm bản quyền trong cơ quan nhà nước và các giải pháp...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHẦN MỀM BẢN QUYỀN TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ

Hậu Giang – Năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan đây là khóa luận của riêng tôi và được thực hiện theo sự hướng dẫn của thầy Trần Cao Nhân Các số liệu, nội dung trong khóa luận là trung thực, mọi tham khảo trong khóa luận điều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, công

trình, nếu có gì gian dối tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên thực hiện

(Ký và ghi rõ họ tên)

Phan Hồng Sơn

Trang 3

LỜI CẢM TẠ



Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới thầy Ths.Trần Cao Nhân đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa luận này được hoàn thành

Chân thành cảm ơn các anh chị trong Sở Thông tin và Truyền Thông tỉnh Hậu Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, cung cấp số liệu Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Trường Đại học Võ Trường Toản đã giúp đỡ, truyền dạy các kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Phan Hồng Sơn

Trang 4

BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



 Họ và tên người hướng dẫn:

 Học vị:………

 Chuyên ngành:

 Cơ quan công tác:

 Họ và tên :  Mã số sinh viên :  Chuyên ngành :  Tên đề tài :

NỘI DUNG NHẬN XÉT 1 Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:

2 Về hình thức:

3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài:

4 Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của luận văn:

5 Nội dung và các kết quả đạt được:

6 Các nhận xét khác:

7 Kết luận:

………., ngày…… tháng …… năm…

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN



Hậu Giang, ngày … tháng … năm …

Giáo viên phản biện

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 LỊCH SỬ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

1.3 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI 2

1.4 HƯỚNG GIẢI QUYẾT 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3

2.1 BẢN QUYỀN VÀ BẢN QUYỀN PHẦN MỀM 3

2.1.1 Bản quyền là gì? 3

2.1.2 Bản quyền phần mềm là gì? 5

2.2 VI PHẠM BẢN QUYỀN VÀ VI PHẠM BẢN QUYỀN PHẦN MỀM LÀ GÌ?10 2.2.1 Vi phạm bản quyền: 10

2.2.2 Vi phạm bản quyền phần mềm là gì: 12

2.2.3 Hình thức xử lý hành vi vi phạm bản quyền phần mềm 12

2.3 PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ VÀ GIẤY PHÉP NGUỒN MỞ 13

2.3.1 Phần mềm mã nguồn mở 13

2.3.2 Giấy phép nguồn mở GNU GPL 13

2.3.3 Giấy phép họ BSD 15

2.4 PHẦN MỀM MIỄN PHÍ VỀ GIÁ 16

CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHẦN MỀM BẢN QUYỀN TRONG CÁC

CƠ QUAN NHÀ NƯỚC HIỆN NAY 18

3.1.1 Tình hình sử dụng phần mềm nguồn mở trong các Cơ quan nhà nước trên thế giới 18

3.1.2 Tình hình sử dụng phần mềm ở các Cơ quan nhà nước hiện nay 18

3.1.3 Nguyễn nhân chính của tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm 22

3.2 CÁC GIẢI PHÁP THAY THẾ 24

3.2.1 Đối với Hệ điều hành 24

3.2.2 Đối với phần mềm 39

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 56

KẾT LUẬN 56

ĐỀ NGHỊ 56

Trang 7

Danh mục hình ảnh

Hình 1: Giấy phép 01 năm của phần mềm Endpoint Security Manager 3.0 Hình 2: Ký hiệu của giấy phép Creative Commons

Hình 3: ký hiệu của giấy phép ghi công

Hình 4: ký hiệu của giấy phép Phi thương mại

Hình 5: ký hiệu của giấy phép không cho phép tác phẩm phái sinh

Hình 6: ký hiệu của giấy phép Chia sẻ tương tự

Hình 7: Giấy phép công cộng GNU

Hình 8: Giấy phép Công cộng hạn chế

Hình 9: Giấy phép Công cộng Mozilla

Hình 10: Minh họa chức năng của avast!

Hình 11: Giao diện của Hệ điều hành Ubuntu

Hình 12: Ubuntu Software Center

Hình 13: Các chương trình soạn thảo văn bản, bảng tính, trình chiếu

Hình 14: Giao diện tiếng Việt của HĐH Asianux Desktop

Hình 15: Các phần mềm trong Asianux

Hình 16: Giao diện làm việc code của Ubuntu Server

Hình 17: Giao diện đồ họa của UFW

Hình 18: Chức năng của UFW

Hình 19: Phần mềm OpenOffice.org

Hình 20: Giao diện của avast! Free Antivirus

Hình 21: Giao diện của JetAudio

Hình 22: Giao diện của Google Chrome

Hình 23: Giao diện cua Emacs

Hình 24: icon của phần mềm NUV

Hình 25: Giao diện của phần mềm NUV

Hình 26: Giao diện của Netbean

Hình 27: Giao diện của GNS3

Hình 28: Giao diện của phần mềm GIMP

Hình 29: Icon của PDFCreator

Hình 30: Giao diện của LibreCAD

Trang 8

CQNN: Cơ quan nhà nước

BSA : Liên minh Phần mềm doanh nghiệp

IDE (Integrated Development Environment): môi trường phát triển tích hợp

Code: mã nguồn

Trang 9

TÓM TẮT

Hiện nay, Công nghệ thông tin ngày càng phổ biến sử dụng rộng rãi trong các ngành, nghề và tất cả các doanh nghiệp, công ty mà còn là một công cụ không thể thiếu trong các cơ quan nhà nước, Chính phủ… Trong cơ quan nhà nước, Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: quản lý nhân sự, hội họp trực tuyến, lưu trữ tài liệu,… Hiện nay các cơ quan nhà nước đã đưa các thủ tục hành chính, pháp lý, chủ trương, đường lối chính sách địa phương trên các trang web để người dân có thể hiểu rõ và rút ngắn thời gian, có thể chủ động trong công việc… có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, xã hội

Nhưng vấn đề về bản quyền phần mềm đang ngày càng trở nên gay gắt khi Việt Nam gia nhập WTO (The World Trade Organization) và đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Do đó, đối với cơ quan nhà nước rất được chú ý nên phải chủ động để đưa ra giải pháp để ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đảm bảo không vi phạm về bản quyền, góp phần đưa Việt Nam phát triển công nghệ thông tin ngày càng cao

Đề tài khảo sát thực trạng sử dụng phần mềm bản quyền trong các cơ quan nhà nước và giải pháp thay thế sẽ đem lại cái nhìn thực chất vấn đề về nguyên nhân, tình trạng sử dụng phần mềm bản quyền trong các cơ quan và đưa ra giải pháp khắc phục bằng việc sử dụng phần mềm nguồn mở thay thế các phần mềm bản quyền

Từ khóa: phần mềm nguồn mở, phần mềm bản quyền, cơ quan nhà nước

Trang 10

ABSTRACT

Today, information technology is increasingly popular widely used in the lines

of business and all, but the company is an indispensable tool for the state agency, the Government In the government, information technology is widely applied in many areas such as human resource management, online meetings, document storage, Currently, the state agency has taken the administrative, legal, policy, local policy guidelines on the web site so that people can understand and shortening, can actively work have an important role for the economic development and social

But the problem of software licensing is becoming more acute when Vietnam joins the WTO (The World Trade Organization), and has issued the Law on Intellectual Property in 2005 Thus, for a state agency attention should be proactive in order to provide a solution for developing applications and information technology to ensure no violation of copyright, Vietnam contributed to the development of technology increasing information

Thread survey of the actual use of the software license and state agencies alternatives will provide insight to the cause of the problem, the use of licensed software in the agency and to the solutions using open source software instead of proprietary software

Keywords: open source software, software license, state agencies

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

CNTT được ứng dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam, năm 2003 Việt Nam thua xa các nước trong khu vực về phát triển CNTT nhưng chỉ sau 05 năm Việt Nam đã cải thiện được vị trí trên bản đồ CNTT thế giới, đồng thời đem lại cho các doanh nghiệp CNTT nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ… Qua khảo sát 66 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam đã tăng 5 bậc - từ vị trí 61 năm

2008 lên vị trí thứ 56 trong năm 2009 và vị trí thứ 53 năm 2011 về chỉ số ứng dụng CNTT

Sự tăng trưởng mạnh của ngành công nghiệp CNTT giai đoạn 2009 – 2011 tổng doanh thu công nghiệp CNTT đến năm 2011 đạt 13,73 tỷ USD, tăng 220% so với năm

2009, và 79% so với năm 2010 Trong đó, doanh thu từ công nghiệp phần cứng đạt 11,33 tỷ USD chiếm tới 82% tổng doanh thu của ngành công nghiệp CNTT, tăng gấp đôi so với năm 2010 Công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số tiếp tục phát triển với doanh thu lần lượt đạt 1,17 tỷ USD và 1,16 tỷ USD…

Bên cạnh sự phát triển đó đã đặt cho Việt Nam thách thức lớn đó là việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về vấn đề bản quyền phần mềm nói riêng hay việc sở hữu trí tuệ nói chung Thế nhưng, không nhiều người trong chúng ta hiểu rõ được giá trị và tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chống lại những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Theo đánh giá của Liên minh Phần mềm doanh nghiệp (BSA), Việt Nam là nước có tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm cao trên thế giới (81%) Thực

tế cho thấy tại các cửa hàng bán linh kiện, phụ kiện và các mặt hàng liên quan đến máy tính chúng ta dễ dàng mua được phần mềm được bày bán công khai với giá bất ngờ chỉ 8.000 - 12.000 đồng/đĩa phần mềm

Hiện nay Chính phủ đã buộc tất cả các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương công bố bộ thủ tục hành chính trên website để người dân dễ dàng truy cập, tìm hiểu thủ tục,… do đó vấn đề sử dụng các phần mềm trong các cơ quan Nhà nước

là vấn đề cần quan tâm khi Việt Nam tập trung vào việc hoàn thiện môi trường pháp

Trang 12

1.2 LỊCH SỬ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Qua tìm hiểu, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng vi phạm bản quyền phần mềm nhưng hầu hết những công trình đó đều đưa ra một cái nhìn tổng quan về tình hình vi phạm sở hữu trí tuệ hay bản quyền ở Việt Nam bao gồm cơ quan nhà nước, Doanh nghiệp, cá nhân Tuy nhiên vẫn có rất ít đề tài khảo sát thực trạng sử dụng phần mềm bản quyền tại các cơ quan nhà nước và đưa ra các giải pháp thay thế

cụ thể cho các Cơ quan hành chính, sự nghiệp Vì thế, đề tài nghiên cứu này mong muốn sẽ mang lại sự nhìn nhận đầy đủ và đưa ra các biện pháp thay thế nhằm khắc phục tình trạng trên

1.3 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài này khảo sát về việc sử dụng phần mềm tại các cơ quan nhà nước vì do thiếu các thiết bị, chưa tiếp cận được hết tất cả các cơ quan nên đề tài này chỉ đưa ra giải pháp một phần dựa trên việc thu thập số liệu người sử dụng về chức năng của phần mềm hiện tại và đưa ra một số phần mềm nguồn mở thay thế, đánh giá ưu khuyết điểm của các phần mềm nguồn mở có thể đưa vào ứng dụng thực tế tại các cơ quan

1.4 HƯỚNG GIẢI QUYẾT

- Tìm hiểu tại cơ quan nhà nước về chức năng các phần mềm đang sử dụng và tài nguyên hệ thống máy tính để đưa ra giải pháp thay thế phù hợp gồm:

+ Đối với hệ điều hành

+ Phần mềm cài đặt trên nền hệ điều hành nguồn mở

+ Phần mềm cài đặt trên hệ điều hành của Công ty Microsoft

+ Đối với hệ điều hành server

- Thu thập số liệu, tài liệu, kiến thức thông qua sách và internet

- Tìm hiểu, cài đặt hệ điều hành Ubuntu, Asianux, Ubuntu Server

- Cấu hình DNS trên Ubuntu Server

Trang 13

Tại Mỹ, bản quyền là một hình thức bảo hộ của luật pháp Mỹ (điều 17, Bộ luật Mỹ) đối với tác giả của các tác phẩm gốc của tác giả, bao gồm tác phẩm văn học, sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật và các tác phẩm trí tuệ khác

Chủ thể được bảo hộ giữa bản quyền và quyền tác giả là tương đối khác nhau, trong khi quyền tác giả đặt tác giả như là người sáng tạo và các quan hệ tinh thần của tác giả đối với tác phẩm làm trung tâm thì bản quyền lại bảo vệ quyền lợi kinh tế của người sở hữu quyền tác giả hơn là chính tác giả Bản quyền trước nhất là dùng để bảo

vệ các nhà đầu tư về kinh tế, chính từ nền tảng này mà luật của các vùng nói tiếng Anh

và luật của châu Âu, Việt Nam có nhiều vấn đề khác nhau về luật pháp

Bản quyền của hệ thống luật Anh - Mỹ khác so với luật về quyền tác giả của hệ thống luật Châu Âu, Việt Nam như các quyền sử dụng và quyền định đoạt về một tác phẩm thường không dành cho tác giả mà lại dành cho những người khai thác các quyền này về mặt kinh tế như nhà xuất bản Tác giả chỉ giữ lại các quyền phủ quyết

có giới hạn nhằm để ngăn cản việc lạm dụng của bản quyền từ phía những người khác

Một điểm khác biệt cơ bản nữa giữa Bản quyền và quyền tác giả là luật về quyền tác giả bảo vệ cả những quyền nhân thân của tác giả trong khi các quốc gia như Anh, Úc, Mỹ hầu như không hề có những quy định này Cụ thể như quyền tác giả của Việt Nam từ lâu đã bảo vệ những quyền nhân thân của tác giả như Quyền bảo đảm được trích dẫn khi tác phẩm được sử dụng hoặc quyền bảo đảm tác phẩm không bị sữa đổi, bổ sung, thay đổi, chuyển thể dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của tác giả

Trang 14

Liên minh châu Âu đã đưa ra nhiều chỉ thị để thống nhất quyền tác giả trong toàn Liên minh châu Âu như Chỉ thị phần mềm số 91/259/EWG ra đời vào năm 1991 thì các chương trình máy tính được bảo vệ như là các tác phẩm văn học theo ý nghĩa

về quyền tác giả, năm 1993 thông qua Chỉ thị về hòa hợp thời gian bảo vệ quyền tác giả và một số quyền bảo vệ có liên quan ấn định thống nhất thời gian là cho đến 70 năm sau khi tác giả qua đời Các quyền lợi của những nhà nghệ thuật biểu diễn chấm dứt 50 năm sau khi biểu diễn Năm 2011 Chỉ thị quyền tác giả của Liên minh châu Âu (Chỉ thị 2001/29/EG) các quy định luật pháp châu Âu về quyền tác giả được nâng lên cùng với thời đại số và các định ước quốc tế được thực hiện thông qua các hiệp định của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

Tại Việt Nam, bản quyền được qui định trong Luật Sở hữu trí tuệ qua đó bản quyền tức là quyền của tác giả (tổ chức, cá nhân) , đối với tác phẩm mà họ tạo ra hoặc

sở hữu (khoản 2, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) Tác phẩm ở đây bao gồm các loại tác phẩm văn học, tạp chí, công trình khoa học, phần mềm,… Bản quyền chỉ là một dạng của sở hữu trí tuệ, bản quyền không giống thương hiệu bảo vệ tên thương hiệu, khẩu hiệu, biểu trưng và các mã nhận dạng nguồn khác không bị người khác sử dụng vì một số mục đích nhất định Bản quyền cũng khác so với luật bằng sáng chế giúp bảo vệ phát minh

Khi một người tạo một tác phẩm gốc được cố định trong môi trường vật lý, người đó tự động sở hữu bản quyền đối với tác phẩm đó Sở hữu bản quyền mang lại cho người sở hữu các quyền dành riêng để sử dụng tác phẩm theo các cách cụ thể và nhất định Nhiều loại tác phẩm đủ tiêu chuẩn để bảo vệ bản quyền, bao gồm:

- Tác phẩm nghe nhìn, chẳng hạn như chương trình truyền hình, phim và video trực tuyến

- Bản ghi âm thanh và bản nhạc

- Tác phẩm viết, chẳng hạn như bài giảng, bài viết, sách và bản nhạc

- Tác phẩm hình ảnh, chẳng hạn như bức tranh, áp phích và quảng cáo

- Trò chơi video và phần mềm máy tính

- Tác phẩm kịch, chẳng hạn như kịch và nhạc

Trang 15

- Ý tưởng, dữ liệu và quy trình không tuân theo bản quyền Để đủ tiêu chuẩn để bảo vệ bản quyền, tác phẩm phải vừa sáng tạo và cố định trong môi trường hữu hình Tên và tiêu đề không tuân theo bảo vệ bản quyền

Ở đây phải phân biệt rõ giữa sự khác biệt giữa bản quyền và quyền riêng tư: ví

dụ là hình ảnh của bạn chỉ xuất hiện trong video, hình ảnh hoặc bản ghi âm thanh không có nghĩa là bạn sở hữu bản quyền của nội dung đó Nếu người bạn của bạn quay cuộc trò chuyện giữa hai người, người đó sẽ sở hữu bản quyền đối với bản ghi video

mà người đó thực hiện

Nếu người bạn đó hoặc người nào khác tải video, hình ảnh hoặc bản ghi về bạn lên mạng internet mà không có sự cho phép của bạn thì việc đó vi phạm quyền riêng tư của bạn

Tại Việt Nam bản quyền được qui định cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ và đối tượng áp dụng của Luật Sỡ hữu trí tuệ

Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ gồm:

- Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá

- Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

2.1.2 Bản quyền phần mềm là gì?

Bản quyền phần mềm là quyền của tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu (Theo điều 22 của luật sở hữu trí tuệ 2005) Để làm rõ hơn bản quyền phần mềm thì cần hiểu các khái niệm như:

Trang 16

Nói một cách nôm na dễ hiểu thì chương trình máy tính là tập hợp tất cả các câu lệnh do các nhà lập trình viết ra để hướng dẫn máy tính thực hiện một công việc cụ thể, nếu như không có chương trình này thì máy tính sẽ không hoạt động được

- Chương trình máy tính được bảo hộ ở những dạng như sau:

Bởi vì chương trình máy tính được thể hiện bằng chữ, do đó nó được bảo hộ dưới dạng bản quyền phần mềm Tuy nhiên, nếu ý tưởng phía sau các chương trình máy tính của bạn còn bao gồm các đặc điểm mang lại các giải pháp kỹ thuật thì nó còn

có thể là đối tượng để được cấp bằng độc quyền sáng chế

- Để được bảo hộ độc quyền thì chương trình máy tính hoặc phần mềm cần những tiêu chí:

Để chương trình máy tính được bảo hộ bản quyền thì trước tiên phần mềm của bạn phải đáp ứng được tính nguyên gốc, do chính bạn soạn thảo và không sao chép từ bất kỳ nguồn nào khác

Còn đối với việc bảo hộ chương trình máy tính dưới dạng bằng độc quyền sáng chế hay độc quyền phần mềm thì chương trình của bạn phải đảm bảo tính mới, liên quan đến một bước sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp

Bản quyền phần mềm là sự cấp phép cho một cá nhân hoặc một nhóm người sử dụng một phần của phần mềm thông qua giấy phép sử dụng phần mềm Gần như tất

cả các ứng dụng được cấp phép chứ không bán, có rất nhiều loại khác nhau của giấy phép phần mềm Giấy phép phần mềm máy tính cá nhân cho phép bạn chạy các chương trình trên chỉ có một máy và tạo một bản sao của phần mềm mục đích chỉ

để sao lưu Một số giấy phép cũng cho phép bạn chạy chương trình trên máy tính khác nhau miễn là bạn không sử dụng các bản sao cùng một lúc

Ví dụ: Các chính sách cấp phép sử dụng phần mềm của Microsoft hiện đang được áp dụng phổ biến tại Việt Nam:

+ OEM dành cho các người mua máy tính mới, bản quyền OEM/COEM được các đại lý hoặc nhà cung cấp máy tính cài đặt trước khi bán cho khách hàng

+ Retail dành cho các khách hàng cần ít giấy phép sử dụng, các bản quyền dưới dạng bán lẻ (Retail) được đóng gói với hình thức rất đẹp dưới hình thức hộp đựng đĩa đơn có kèm CD key

Trang 17

+ GGK và GGWA: Được cung cấp qua các đối tác hoặc đại lý của Microsoft để khách hàng hợp thức hóa hệ điều hành Windows đã cài đặt trên máy tính chưa có bản quyền thành máy tính có bản quyền Windows

+ Volume Licensing dành cho nhứng khách hàng có nhu cầu nâng cấp hệ điều hành Windows hiện có hoặc mua các phần mềm ứng dụng khác (không phải hệ điều hành) với số lượng từ 5 giấy phép trở lên , Volume Licensing có nhiều lựa chọn cho khách hàng như Open License, Select License, và Enterprise Agreements

Một giấy phép phần mềm là một công cụ pháp lý (thường bằng cách của pháp luật hợp đồng, có hoặc không có tài liệu in ấn) về việc sử dụng hay phân phối lại phần mềm Giấy phép phần mềm cấp phép cho người dùng cuối sử dụng một hoặc nhiều bản sao của phần mềm theo những cách muốn sử dụng như vậy nếu không có khả năng cấu thành vi phạm bản quyền độc quyền của chủ sở hữu phần mềm theo luật bản quyền

- Giấy phép phần mềm độc quyền

Các dấu hiệu của giấy phép phần mềm độc quyền là các nhà xuất bản phần mềm cấp việc sử dụng một hoặc nhiều bản sao của phần mềm theo các thỏa thuận cấp phép người dùng cuối (EULA), nhưng quyền sở hữu của các bản sao vẫn còn với các nhà xuất bản phần mềm (do đó sử dụng thuật ngữ "độc quyền") Tính năng này cho phép phần mềm độc quyền có nghĩa là quyền nhất định liên quan đến các phần mềm đều được bảo vệ bởi nhà xuất bản phần mềm Vì vậy, nó là điển hình của EULA bao gồm các điều khoản trong đó xác định việc sử dụng các phần mềm, chẳng hạn như số lượng cài đặt cho phép hoặc các điều khoản phân phối

Tác dụng quan trọng nhất của hình thức cấp phép là nếu quyền sở hữu của phần mềm vẫn còn với các nhà xuất bản phần mềm, sau đó người dùng cuối phải chấp nhận giấy phép phần mềm Nói cách khác, không chấp nhận giấy phép, người dùng cuối có thể không sử dụng phần mềm Một ví dụ của một giấy phép phần mềm độc quyền như

là giấy phép cho Microsoft Windows

Tùy vào loại giấy phép mà qui định thời gian hết hạn của giấy phép phần mềm như là vĩnh cửu hoặc giấy phép hàng năm và bao gồm cả bảo trì có chứa thông tin cập nhật nhỏ như phiên bản V.1.1 lên phiên bản V.1.2, hoặc cập nhật lớn hơn từ phiên bản V.1.2 lên phiên bản V.2.0

Trang 18

Ví dụ: hình ảnh dưới đây là giấy phép 01 năm sử dụng của phần mềm Endpoint Security Manager 3.0

Hình 1: Giấy phép 01 năm của phần mềm Endpoint Security Manager 3.0

Ngoài việc cấp quyền và áp đặt các hạn chế về việc sử dụng các phần mềm, giấy phép phần mềm thường có quy định phân bổ trách nhiệm và trách nhiệm giữa các bên tham gia vào các thỏa thuận cấp phép Trong giao dịch phần mềm doanh nghiệp

và thương mại các điều khoản này, chẳng hạn như hạn chế trách nhiệm, bảo đảm và từ

bỏ bảo đảm và bồi thường nếu các phần mềm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác

Giấy phép phần mềm nói chung có thể được phù hợp với các loại sau: độc quyền và giấy phép mã nguồn mở miễn phí Tính năng quan trọng mà phân biệt chúng

là những điều khoản mà các người dùng cuối có thể tiếp tục phân phối hoặc sao chép phần mềm

Ngoài ra, một dạng của giấy phép bản quyền thông dụng là mã khóa sản phẩm

“key” Một mã khóa sản phẩm là chìa khóa dựa trên phần mềm cụ thể cho một chương trình máy tính, nó xác nhận rằng các bản sao của chương trình là ban đầu Ví dụ như

hệ điều hành Windows 7 phải kích hoạt trực tuyến để ngăn chặn nhiều người sử dụng cùng khóa Khóa sản phẩm bao gồm một loạt các con số và “/” hoặc chữ cái Trình tự này thường được nhập vào bởi người sử dụng trong khi cài đặt phần mềm máy tính, và sau đó được chuyển đến một chức năng xác minh trong chương trình để xác định tính hợp lệ của “key” hay không

Trang 19

Không phải tất cả phần mềm có một mã khóa sản phẩm, như một số nhà xuất bản có thể chọn sử dụng một phương pháp khác nhau để bảo vệ bản quyền của họ như trò chơi máy tính sử dụng khóa sản phẩm để xác minh rằng các trò chơi đã không được sao chép bất hợp pháp, người chơi sẽ không được phép chơi trực tuyến với hai mã sản phẩm giống hệt nhau cùng một lúc

- Một số ký hiệu của các loại giấy phép Bản quyền

+ Giấy phép Creative Commons là một số giấy phép bản quyền ra đời vào ngày

16 tháng 12 năm 2002 bởi Creative Commons, một công ty phi lợi nhuận của Hoa Kỳ thành lập vào năm 2001

Hình 2: Ký hiệu của giấy phép Creative Commons

+ Ghi công (by): Người nhận được giấy phép có thể sao chép, phân phối, trưng bày và trình diễn tác phẩm và tạo ra các tác phẩm phái sinh dựa theo tác phẩm gốc với điều kiện là họ phải ghi công tác giả hoặc người trao giấy phép theo cách họ yêu cầu

Hình 3: Ký hiệu của giấy phép ghi công

+ Phi thương mại (nc): Người nhận giấy phép có thể sao chép, phân phối, trưng bày, và trình diễn tác phẩm và tạo ra các tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm gốc chỉ với mục đích phi thương mại

Hình 4: Ký hiệu của giấy phép Phi thương mại

Trang 20

+ Không cho phép tác phẩm phái sinh (nd): Người nhận giấy phép có thể sao chép, phân phối, trưng bày và trình diễn nhưng phải đúng nguyên văn, nguyên bản tác phẩm, không được phép có tác phẩm phái sinh từ nó

Hình 5: Ký hiệu của giấy phép không cho phép

tác phẩm phái sinh

+ Chia sẻ tương tự (sa): Người nhận giấy phép có thể phân phối tác phẩm phái sinh nhưng bắt buộc phải dùng lại giấy phép y hệt như giấy phép đã cấp cho tác phẩm gốc

Hình 6: Ký hiệu của giấy phép Chia sẻ tương tự

2.2 VI PHẠM BẢN QUYỀN VÀ VI PHẠM BẢN QUYỀN PHẦN MỀM LÀ GÌ? 2.2.1 Vi phạm bản quyền:

Vi phạm bản quyền là sao chép, sử dụng hay lưu chuyền tác phẩm của người khác mà không xin phép, trái phép hoặc không ghi rõ nguồn và tên tác giả chính thức Thậm chí trầm trọng là có thể công bố thêm hay gây hiểu lầm là các công trình đó là của mình sáng tạo ra (đạo văn, đạo nhạc), đây được xem là vi phạm quyền tác giả

Bản quyền phần mềm là quyền được phép sử dụng phần mềm đó một cách hợp pháp Việc sử dụng phần mềm không có bản quyền hợp pháp nào cũng được xem như sao chép phần mềm trái phép vậy Người vi phạm sẽ bị xử theo luật xâm phạm quyền tác giả

Trang 21

Có nhiều quan niệm cho rằng “key” của một phần mềm, hệ điều hành là bản quyền Nếu như bạn tải xuống một hệ điều hành, một phần mềm đã tích hợp sẵn “key” bản quyền và cài đặt vào máy tính của mình, khi đó bạn nghĩ là đã sử dụng phần mềm bản quyền Nhưng thực chất không đúng vì bản quyền phần mềm ở đây là giấy phép

sử dụng đã được ghi rõ số máy tính được cài đặt chứ không phải “key” đó là bản quyền của phần mềm, hệ điều hành đó

Bạn tải xuống một Hệ điều hành Windows 7 Pro có kèm theo “key” bản quyền

và bạn đã cài đặt cho máy tính của mình và bạn nghĩ đó là hệ điều hành bản quyền nhưng thực chất là bạn đã vi phạm bản quyền vì hệ điều hành đó đã được người mua bản quyền sử dụng trước

Một vấn đề khác đơn giản là khi bạn mua một quyển sách, sau đó bạn đem sao chép ra làm nhiều bản và bạn tải lên mạng để chia sẻ cho mọi người thì đó là một vi phạm bản quyền mặc dù bạn đã bỏ tiền ra để mua quyển sách đó

"bản sao" bắt chước theo nguyên mẫu Có thể thấy thí dụ ở những luận án cao học không ghi rõ nguồn và tác giả chính

- Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng bị thông dịch lại các ý tưởng sáng tạo (thành ngôn ngữ khác hay thành các dạng khác)

- Ngoài ra các dạng vi phạm bản quyền có thể bao gồm từ việc sao chép, mô phỏng lại các thương hiệu hay các biểu hiệu của một tổ chức, cho đến việc sao chép các chi tiết có tính hệ thống mà phải qua một trình tự thời gian dài mới chứng minh được Những vi phạm này thường rất khó phân định và nhiều lúc phải tốn nhiều thời gian cũng như tài lực để chứng minh trước toà án rằng có hay không có sự vi phạm về bản quyền

Trang 22

- Lưu ý: Một tác phẩm sẽ không bị xem là vi phạm bản quyền nếu nó là sự tổng hợp có tính sáng tạo riêng từ nhiều hệ thống tác phẩm khác về ý (ý văn, ý nhạc, ý tưởng) và có thông tin rõ ràng về nguồn và tác giả chính

2.2.3 Hình thức xử lý hành vi vi phạm bản quyền phần mềm

Nếu sử dụng phần mềm không bản quyền thì chúng ta đã vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể là tại khoản 12 Điều 28 Việc xử lý hành vi vi phạm này được áp dụng dựa vào Nghị định số 47/2009/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định 109/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 47/2009/NĐ-CP Ngoài ra, một số hành vi vi phạm cũng được qui định trong Bộ luật Dân sự

Theo Nghị định 47/2009/NĐ-CP thì hành vi sử dụng phần mềm không bản quyền thì có 02 hình phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền, trong đó còn có các hình thức xử phạt bổ sung như: đình chỉ kinh doanh, tịch thu hàng hóa…

Ngoài ra trong Bộ Luật Hình Sự qui định nếu việc sử dụng trái phép phần mềm máy tính gây hậu quả nghiêm trọng hoặc giá trị vi phạm từ 50 triệu đồng trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 131

Trang 23

2.3 PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ VÀ GIẤY PHÉP NGUỒN MỞ

2.3.1 Phần mềm mã nguồn mở

Phần mềm mã nguồn mở (còn được gọi tắt là phần mềm nguồn mở) là phần mềm được tác giả cung cấp giấy phép sử dụng và mã nguồn kèm theo, người sử dụng không phải trả chi phí mua bản quyền, mã nguồn

Phần mềm tự do mã nguồn mở là phần mềm mã nguồn mở có bản quyền tác giả, có giấy phép sử dụng đi kèm với phần mềm, trong đó cho phép người sử dụng được quyền tự do sử dụng, tự do sao chép, tự do phân phối và tự do nghiên cứu, sửa đổi mã nguồn và phân phối lại các phần mềm dẫn xuất đã qua sửa đổi mã nguồn

Giấy phép của phần mềm nguồn mở (hay giấy phép phần mềm trong cộng đồng

sử dụng) là một phương tiện pháp lý chi phối việc sử dụng và tái phân phối phần mềm được bảo vệ bản quyền Một giấy phép phần mềm điển hình trao người dùng cuối quyền sử dụng một hay nhiều bản sao chép của phần mềm theo những cách mà nếu không tuân thủ theo nó sẽ dẫn đến cấu thành việc xâm phạm tính độc quyền của nhà phát hành phần mềm, theo luật bản quyền Về hiệu lực, giấy phép phần mềm hoạt động như một lời cam kết từ nhà phát hành phần mềm rằng sẽ không kiện người dùng cuối nếu họ tiến hành các hoạt động thông thường nằm trong những quyền độc quyền được xem như thuộc về nhà phát hành

Hiện tại có hai họ giấy phép thông dụng được áp dụng cho phần mềm mã nguồn

mở là họ GNU GPL và BSD

2.3.2 Giấy phép nguồn mở GNU GPL

Giấy phép phần mềm nguồn mở “copyleft” là GNU General Public License (GPL) và là giấy phép được sử dụng trên 70% trong các chương trình nguồn mở Giấy phép này là nhằm mục đích cho tất cả người sử dụng tự do không giới hạn sử dụng, nghiên cứu và tư nhân sửa đổi phần mềm, và nếu người sử dụng tuân thủ các điều khoản và điều kiện của GPL, tự do để phân phối lại phần mềm hoặc bất kỳ sửa đổi nó

Ví dụ, bất kỳ thay đổi được thực hiện và phân phối lại bởi người dùng cuối phải bao gồm mã nguồn cho các, và giấy phép của bất kỳ tác phẩm phái sinh không phải đặt bất

kỳ hạn chế bổ sung vượt quá phạm vi cho phép GPL

Trang 24

Hình 7: Giấy phép công cộng GNU

Tóm lại nội dung cơ bản là: Tác giả gốc giữ bản quyền về phần mềm nhưng cho phép người dùng rất nhiều quyền khác, trong đó có quyền tìm hiểu, phát triển, công bố cũng như quyền khai thác thương mại sản phẩm Tác giả sử dụng luật bản quyền để bảo đảm các quyền đó không bao giờ bị vi phạm đối với tất cả mọi người, trên mọi phần mềm có sử dụng mã nguồn của mình

Ngoài ra giấy phép vẫn giữ nguyên mọi dòng chú thích về nguồn gốc tác giả, bản quyền của họ cũng như điều kiện được áp dụng đối với phần mềm (trong 1 file có tên LICENSE) Cấm việc bán mã nguồn nhưng cho phép kinh doanh chương trình được tạo ra từ mã nguồn ấy hoặc là các dịch vụ hỗ trợ liên quan

Ví dụ: Giấy phép Công cộng GNU Hạn chế (LGPL) là giấy phép sửa đổi của GPL, được sử dụng cho một số thư viện phần mềm Giấy phép công cộng hạn chế áp dụng trong phần mềm OpenOffice

Hình 8: Giấy phép Công cộng hạn chế

Công cộng GNU Hạn chế

{{ Thông tin giấy phép phần mềm

| tên = Giấy phép Công cộng GNU Hạn chế

| hình = [[Image:Heckert GNU white.svg|160px]]

| chú thích = Biểu trưng GNU

| tác giả = [[Quỹ Phần mềm Tự do]]

{{ Thông tin giấy phép phần mềm

| tên = Giấy phép Công cộng GNU

| hình = [[Image:Heckert GNU white.svg|160px]]

| chú thích = Biểu trưng GNU

| tác giả = [[Quỹ Phần mềm Tự do]]

Trang 25

Ràng buộc đặc trưng duy nhất là cấm lợi dụng danh nghĩa của tác giả, ở đây là Đại học Berkeley, để làm tiền hoặc tạo lợi thế cho mình Vì thế đây là giấy phép phóng túng nhất, kéo theo ít ràng buộc nhất: các chương trình dưới giấy phép BSD gần như nằm trong vùng công cộng Có lẽ đó cũng là giấy phép cổ nhất, nó không cấm thay đổi nội dung của giấy phép đến mức người ta gặp vô số các phiên bản dẫn xuất có khi khác nhau chỉ vài từ Đây là một nhược điểm cho tính đặc trưng và dễ hiểu của giấy phép BSD

Trong họ BSD, người ta cũng tìm thấy giấy phép MIT, và giấy phép Apache Giấy phép sau này có tầm quan trọng lớn vì nó đã được sử dụng bởi khoảng năm chục

dự án mới tính riêng của quĩ Apache Người ta cũng có thể kể đến các giấy phép Mozilla (MPL) và SUN (CDDL) Sự khác biệt của các giấy phép khác nhau này chỉ ở mức vài chi tiết

Ví dụ: Giấy phép Công cộng Mozilla (Mozilla Public License - MPL) là một giấy phép phần mềm tự do và mã nguồn mở Phiên bản 1.0 do Mitchell Baker phát triển khi bà là luật sư tại Tập đoàn Thông tin liên lạc Netscape và phiên bản 1.1 tại Quỹ Mozilla Đặc điểm của MPL là lai giữa giấy phép BSD có chỉnh sửa và Giấy phép Công cộng GNU

MPL là giấy phép dùng cho Mozilla Application Suite, Mozilla Firefox, Mozilla Thunderbird và các phần mềm khác của Mozilla MPL đã được nhiều người sử dụng lại làm giấy phép cho phần mềm của họ, đáng chú ý nhất có Sun Microsystems, với

Trang 26

Giấy phép Phát triển và Phân phối Chung dành cho OpenSolaris, phiên bản mã nguồn

mở của hệ điều hành Solaris 10, và hãng Adobe với giấy phép cho dòng sản phẩm Flex của hãng

Hình 9: Giấy phép Công cộng Mozilla 2.4 PHẦN MỀM MIỄN PHÍ VỀ GIÁ

Phần mềm miễn phí là phần mềm mà người sử dụng không phải trả bất kỳ chi phí nào, không hạn chế thời gian sử dụng, có thể tải tự do về dùng từ Internet, có thể sao chép và sử dụng phần mềm đó Ngoài trừ việc chấp nhận cung cấp một số thông tin như địa chỉ thư điện tử (email) và một số thông tin cá nhân khác, nhưng bản quyền và tác quyền vẫn hoàn toàn thuộc về tác giả, người sở hữu nó;và nó không có nghĩa là có thể chỉnh sửa, hay tái phân phối người sử dụng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với những thỏa thuận bản quyền cam kết giữa hai bên Hiện tại phần mềm miễn phí chỉ đáp ứng một số nhu cầu, nếu có nhu cầu cao thì phải sử dụng phần mềm thương mại

Phần mềm miễn phí có khác với phần mềm tự do, bởi vì sự khác nhau về ý nghĩa của chữ tự do Phần mềm miễn phí tức là không có sự trả tiền cho việc sử dụng

nó, dùng để chỉ trị giá trao đổi hàng hóa bằng 0 Trong khi đó, phần mềm tự do thì được mô tả như là phần mềm có thể được hoàn toàn tự do khi nghiên cứu, thay đổi, sao chép, tái phân phối, chia sẻ và sử dụng phần mềm đó trong mọi mục đích Trong phần mềm miễn phí thì người dùng có thể bị các ràng buộc như là phải tôn trọng tên tác giả, không được dùng cho mua bán trục lợi Mặc dù vậy, đa số chương trình tự do là phần mềm miễn phí Phần mềm dạng này nên được gọi riêng là phần mềm tự do để tránh

Giấy phép Công cộng Mozilla

Biểu trưng của Quỹ Mozilla

Trang 27

việc nhầm lẫn với phần mềm miễn phí thường không đi kèm với mã nguồn do đó nó là phần mềm của riêng tác giả

Có nhiều mô hình phần mềm miễn phí khác nhau Phần mềm miễn phí là một thuật ngữ bao trùm trong đó bao gồm cả những cách hạ giá hơn giá trị thực, trong

đó có các dạng như phần mềm dùng thử và phần mềm quảng cáo

Ví dụ: Phần mềm diệt virut Avast free là hoàn toàn miễn phí về giá và được đánh giá cao về diệt virut, chúng ta có thể cập nhật phần mềm thường xuyên Nhưng

nó chỉ mở một số tính năng như ngăn chặn virut, chặn phần mềm gián điệp Người sử dụng muốn bảo mật cao hơn như: tường lửa, hoạt động trực tiếp… thì phải trả phí để nâng cấp lên các phiên bản Avast! Pro, Avast! Internet Security

Hình 10: Minh họa chức năng của avast!

Trang 28

CHƯƠNG 3

NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHẦN MỀM BẢN QUYỀN TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

3.1.1 Tình hình sử dụng phần mềm nguồn mở trong các Cơ quan nhà nước trên thế giới

Trên thế giới, nhiều chính phủ đã quyết định chuyển sang sử dụng phần mềm nguồn mở vì lý do an ninh Chính phủ Hoa Kỳ có tới 90% máy chủ tên miền, 70% máy chủ thư tín điện tử và 60% máy chủ web đã sử dụng PMNM Tại Pháp, Bộ Văn hóa đã chuyển 400 máy chủ sang Linux, Tổng cục Thuế quốc gia Pháp cũng đã chuyển 950 máy chủ sang hệ điều hành nguồn mở Chính phủ Đức đã cấm dùng các sản phẩm Microsoft trong các hệ thống máy tính “nhạy cảm” và lựa chọn bộ tiêu chuẩn mở trong việc xây dựng Chính phủ điện tử Ở Canada, sau các sự kiện tin tặc tấn công hồi tháng 1/2011vào Bộ Tài chính, Kho bạc và Bộ Phát triển và Nghiên cứu Phòng vệ, Chính phủ Canada quyết định bỏ Windows để chuyển sang một mạng an ninh tốt hơn dựa vào Linux Như vậy, PMNM đã trở thành một lựa chọn hàng đầu cho chính phủ nhiều nước.[2]

Để hỗ trợ việc phát triển và ứng dụng PMNM, nhiều tổ chức, hội, hiệp hội, liên minh PMNM trên thế giới đã được thành lập như Asianux của châu Á, Free Software Foundation Europe của châu Âu, GNOME Foundation, Open Source for America tại

Mỹ, Open Embedded Software Foundation của Nhật Bản Ở Việt Nam, đã hình thành một số cộng đồng PMNM như SaigonLUG, Fedora VN, HueLUG, MekongLUG Những cộng đồng này đã cùng nhau hình thành Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn

mở Việt Nam (Vietnam Free & Open Source Software Association - viết tắt là VFOSSA) trực thuộc Hội Tin học Việt Nam. [2]

3.1.2 Tình hình sử dụng phần mềm ở các Cơ quan nhà nước hiện nay

3.1.2.1 Tình hình sử dụng phần mềm bản quyền trong Cơ quan nhà nước

Năm 2011, Việt Nam có tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính là 81%, giảm 2% trong 2 năm liên tiếp, so với mức 83% năm 2010 và 85% năm 2009 đó là con

số nằm trong Nghiên cứu về tình hình vi phạm bản quyền phần mềm toàn cầu năm

Trang 29

2011 được Liên minh Phần mềm doanh nghiệp BSA công bố trong buổi họp báo ngày 17/5 tại Hà Nội

Theo thống kê của Bộ Thông Tin và Truyền thông thì tại các Bộ, ngành, năm

2012 tỷ lệ máy tính trên cán bộ công chức đã đạt 88%, tăng thêm 3% so với năm trước Máy tính kết nối Internet băng rộng cũng đã đạt 89%

Còn tại các tỉnh thành, tỷ lệ cán bộ có máy vi tính đạt 58%, máy tính có kết nối Internet băng rộng đạt gần 89% Tỷ lệ cán bộ biết sử dụng máy tính trong công việc đạt trên 81%1

Tại địa bàn tỉnh Hậu Giang, Sở Thông tin truyền thông đã thống kê tổng số máy tính sử dụng trong cơ quan nhà nước trong tỉnh Hậu Giang là 2087 máy2 Đa số các máy tính điều được cài sẵn hệ điều hành của HĐH Windows và các phần mềm như: Lacviet, Vietkey… chưa mua bản quyền phần mềm Hiện tại thì phần mềm văn phòng Microsoft Office 2003 được Bộ Thông tin và Truyền Thông mua bản quyền và cấp cho tất cả các Cơ quan nhà nước trong toàn tỉnh

Một số Cơ quan sử dụng phần mềm diệt virut miễn phí như: Avast Free Antivirus, Avira Free Antivirus Edition, AVG Anti-Virus Free Edition hoặc phần mềm diệt virut bản dùng thử sau đó gỡ bỏ và cài lại tiếp như : Kaspersky Internet Security

2012, BullGuard Internet Security 12 do các phần mềm này dễ dàng tìm được và có kèm theo tài liệu hướng dẫn sử dụng, cài đặt trên mạng internet

Các máy tính ở những bộ phận quan trọng và yêu cầu độ bảo mật cao như: kế toán, quản lý hồ sơ… thì được mua bản quyền hệ điều hành Windows, diệt virut và các phần mềm khác theo nhu cầu công việc của từng Cơ quan

Mỗi đơn vị điều có một bộ phận chuyên đảm nhiệm việc quản lý, khắc phục, sửa chữa các sự cố máy tính

Trong năm 2009 Sở TT&TT Hậu Giang đã triển khai 02 lớp3 cài đặt và hướng dẫn sử dụng phần mềm mã nguồn mở nhưng chủ yếu là: phần mềm văn phòng OpenOffice, phần mềm duyệt web Firefox, bộ gõ tiếng việt Unikey, Thunderbird trên địa bàn tỉnh gồm:

Trang 30

- 01 lớp cho cán bộ, công chức các Sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh;

- 01 lớp cho cán bộ công chức UBND huyện, xã, phường, thị trấn;

3.1.2.2 Tình hình sử dụng phần mềm nguồn mở trong Cơ quan nhà nước:

- Tình hình sử dụng Phần mềm mã nguồn mở trên cả nước: các địa phương đã

tổ chức đào tạo sử dụng PMNM, chủ yếu là hướng dẫn sử dụng OpenOffice, một số đào tạo sử dụng hệ điều hành Ubuntu và các phần mềm tiện ích thông dụng khác như

bộ gõ tiếng Việt Unikey, trình duyệt web Mozilla Firefox, phần mềm thư điện tử máy trạm Mozilla Thunderbird, bộ từ điển Startdict, phần mềm nén và giải nén 7-zip Đối tượng tham gia đào tạo là cán bộ công chức các đơn vị chuyên trách về CNTT, cán bộ công chức các sở, ban, ngành và một số cán bộ chuyên trách CNTT các hội, hiệp hội, doanh nghiệp trên địa bàn Tổng số lượt người được đào tạo năm 2010 theo báo cáo của 46 địa phương được khảo sát là 7.356 lượt người, trong đó chủ yếu là đào tạo sử dụng các phần mềm nguồn mở thông dụng chiếm khoảng 95%.[2]

Có 45,6% địa phương được khảo sát đã triển khai cài đặt bộ phần mềm văn phòng OpenOffice và hệ điều hành Ubuntu tại ít nhất một đơn vị trên địa bàn Hàng trăm cơ quan đã cài đặt PMNM (bao gồm cả cài đặt hệ điều hành nguồn mở và cài đặt các ứng dụng PMNM trên nền hệ điều hành Windows). [2]

Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định rõ danh mục 5 sản phẩm tự do mã nguồn mở được yêu cầu sử dụng chính thức gồm: Phần mềm văn phòng OpenOffice.org (gồm: Soạn thảo văn bản Writer; Bảng tính điện tử Calc; Trình chiếu Impress; Cơ sở dữ liệu Base; Đồ họa Draw; Soạn thảo công thức toán học Math); Bộ

gõ tiếng Việt: Unikey; Trình duyệt web Mozilla Firefox; Phần mềm thư điện tử máy trạm Mozilla Thunderbird; Hệ điều hành trên nền Linux Ngoài ra Bộ cũng đưa ra danh mục 22 các phần mềm mã nguồn mở được khuyến khích sử dụng trong các cơ sở giáo dục.[3]

- Về ứng dụng các giải pháp nguồn mở xây dựng các website và cổng thông tin điện tử:

Một hai năm gần đây đánh dấu một xu hướng mới tại các địa phương về ứng dụng PMNM là ứng dụng giải pháp trên máy chủ Nhiều địa phương đã chủ động nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp nguồn mở trên máy chủ khi triển khai các hệ thống CNTT Chẳng hạn tại Bắc Giang, 16 CQNN trên địa bàn sử dụng trang thông tin

Trang 31

điện tử được xây dựng trên nền nguồn mở Joomla; 02 huyện, 03 sở sử dụng phần mềm một cửa điện tử xây dựng trên nền nguồn mở Drupal Tại Quảng Nam, 90% trang thông tin điện tử của các đơn vị thuộc tỉnh được xây dựng trên nền nguồn mở như Joomla, Mambo, PhpNuke, DotnetNuke Một số phần mềm như một cửa điện tử, trường học điện tử cũng được tỉnh cho phát triển trên nền nguồn mở TP Hồ Chí Minh đã xây dựng và triển khai phần mềm cổng thông tin điện tử nguồn mở tại 27 đơn

vị sở, ban ngành; phần mềm quản lý văn bản - hồ sơ công việc đã triển khai tại 14 đơn

vị sở, ngành; phát triển phần mềm lõi cấp phép nguồn mở TP Đà Nẵng, trong khuôn khổ Dự án Phát triển CNTT-TT Việt Nam do Bộ TT&TT chủ trì với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới, đang triển khai xây dựng khung chính quyền điện tử trên nền nguồn mở. [2]

- Tình hình sử dụng Phần mềm nguồn mở trên địa bàn tỉnh Hậu Giang

Khoảng 40% máy tính các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh đã cài đặt và sử dụng các phần mềm mở như: Open Office, Firefox, Unikey, Thunderbird Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số mặt như sau:

Mặt thuận lợi: Việt Nam là một trong số ít nước sớm có chính sách ứng dụng và phát triển PMNM ở quy mô quốc gia Ngay từ năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 235/2004/QĐ-TTg phê duyệt Dự án tổng thể về Ứng dụng và phát triển PMNM ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008 đặt những nền móng ban đầu quan trọng trong việc đưa PMNM vào hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần làm chủ công nghệ và giảm dần gánh nặng mua sắm bản quyền phần mềm Quyết định số 50/2009/QĐ-TTg ngày 3/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Quy chế quản lý Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam” đã vạch ra nhiệm vụ thúc đẩy phát triển PMNM tại các địa phương thông qua các hoạt động hỗ trợ đào tạo cán bộ sử dụng PMNM và hỗ trợ đánh giá phần mềm nguồn mở đáp ứng được yêu cầu để khuyến cáo sử dụng Thực hiện các quyết định của Thủ tướng, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), cơ quan quản lý nhà nước về CNTT, đã ban hành một số chính sách nhằm định hướng và thúc đẩy ứng dụng và phát triển PMNM tại các bộ, ngành, địa phương, điển hình như Chỉ thị số 07/2008/CT-BTTTT ngày 30/12/2008 về thúc đẩy sử dụng PMNM trong hoạt động của CQNN; Thông tư số 41/2009/TT-BTTTT ngày 30/12/2009 ban hành danh

Trang 32

mục 13 sản phẩm PMNM đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước; Thông tư 19/2011/TT-BTTTT về quy định áp dụng tiêu chuẩn định dạng tài liệu mở trong CQNN nhằm thúc đẩy việc ứng dụng bộ phần mềm văn phòng nguồn

mở OpenOffice.[2]

3.1.3 Nguyễn nhân chính của tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm

- Nguyên nhân đầu tiên là do chi phí phải trả cho bản quyền quá lớn mà đối với các Cơ quan hành chính thì kinh phí còn hạn chế nên chỉ cung cấp được tiền để mua máy tính, việc mua bản quyền tốn một chi phí khá lớn Nếu máy tính của chỉ sử dụng Windows và 1 phần mềm văn phòng như Microsoft Office thì số tiền tối thiểu phải trả cho bản quyền là 4,5 triệu đồng/máy tính Mặc khác phần mềm nguồn mở là phần mềm miễn phí về mặt bản quyền nhưng để triển khai áp dụng vẫn đỏi hỏi các chi phí nhất định để thực hiện các công tác như đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, bản địa hóa, tùy chỉnh cho phù hợp yêu cầu Việc thiếu kinh phí cho ứng dụng và phát triển PMNM là một khó khăn thách thức chủ yếu khiến cho PMNM chưa được sử dụng rộng rãi trong các

cơ quan nhà nước Trong thời gian qua, ngân sách Trung ương hỗ trợ bộ, ngành và địa phương chủ yếu cho hoạt động đào tạo Tuy nhiên nguồn ngân sách này vừa ít và có xu hướng giảm dần trong khi ngân sách địa phương phần lớn là không đáng kể

- Nguyên nhân thứ hai là do các cán bộ công chức trong Cơ quan chỉ sử dụng máy tính không tham gia vào việc cài đặt máy tính, nếu có hư hỏng hoặc cài đặt thêm phần mềm khác thì có bộ phận chuyên trách đảm nhiệm Các cán bộ công chức chưa được giao trách nhiệm và gắn lợi ích khi sử dụng phần mềm nguồn mở Vẫn còn những trường hợp sử dụng phầm mềm thương mại không có bản quyền và coi việc sử dụng những phần mềm không bản quyền này là việc đương nhiên và không chịu sức

ép Các cơ quan cũng chưa đưa ra quy định, chế tài, cơ chế khuyến khích sử dụng nguồn mở Đối với người dùng, do chưa có chế tài bắt buộc sử dụng phần mềm văn phòng nguồn mở trong công việc nên cán bộ công chức chưa có ý thức chủ động trong việc sử dụng

- Nguyên nhân thứ ba là do quá trình phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin và thói quen của người sử dụng và vấn đề phổ cập PMNM trong ngành giáo dục, trong xã hội, cộng đồng Cán bộ công chức có thói quen sử dụng phần mềm trên nền của HĐH Windowns mà nguyên nhân chủ yếu của thói quen này là do hầu hết cán bộ

Trang 33

công chức nhà nước từ lúc học từ phổ thông tới đại học hoặc tham gia các lớp học tín chỉ (A, B) tại các Trung tâm tin học đều sử dụng các phần mềm hệ điều hành và văn phòng thương mại như: trình độ A thì dạy Word, Excel của MS Office để giảng dạy nên việc sử dụng hệ điều hành nguồn mở và phần mềm văn phòng nguồn mở Open Office gặp khó khăn vì có sự khác biệt như giao diện, cách bố trí thanh công cụ

- Nguyên nhân thứ tư Phần mềm nguồn mở cơ bản là đa đạng, đáp ứng hầu hết yêu cầu sử dụng của cộng đồng Tuy vậy, sản phẩm PMNM cũng còn một số hạn chế như thường có nhiều phiên bản, nhiều dòng khác nhau nên gây khó khăn cho người sử dụng trong việc lựa chọn, nâng cấp sử dụng Bên cạnh đó, một số ứng dụng đặc thù chuyên ngành sử dụng trong CQNN ít khi được xây dựng trên nền nguồn mở mà hầu như đã được xây dựng trên nền các phần mềm thương mại Nếu như chủ động viết phần mềm mới trên nền nguồn mở thì lại gây khó khăn cho người sử dụng Ngoài ra,

đa phần các game, phần mềm mới điều viết trên nền Hệ điều hành Windows mà một

bộ phận cán bộ trẻ chiếm một tỷ lệ không nhỏ có sở thích chơi game sau thời gian làm việc

- Nguyên nhân thứ năm việc triển khai các phần mềm nguồn mở thông dụng gặp khó khăn do đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong các cơ quan nhà nước hầu như chưa được đào tạo chuyên sâu về PMNM Đặc biệt, cán bộ kỹ thuật tại các cơ quan nhà nước cấp huyện, xã còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực để nhận chuyển giao các phần mềm nguồn mở thông dụng như OpenOffice, Ubuntu, hoặc để hỗ trợ các cán bộ công chức khác sử dụng các phần mềm này Việc triển khai các giải pháp nguồn mở trên máy chủ hoặc các ứng dụng nghiệp vụ nguồn mở gặp khó khăn do năng lực cán bộ

kỹ thuật tại các đơn vị chuyên trách về CNTT các bộ, địa phương còn khá hạn chế, đặc biệt là hạn chế trong việc lập trình, triển khai hệ thống CNTT trên nền nguồn mở Đối với ứng dụng các phần mềm nguồn mở thông dụng như OpenOffice, Ubuntu, mặc

dù không quá khó nhưng vẫn gặp những trở ngại do cán bộ công chức hầu như chưa từng được đào tạo sử dụng các phần mềm này Một hạn chế khác là các tài liệu hướng dẫn sử dụng PMNM nhìn chung còn ít, chưa đa dạng, chưa được thẩm định nội dung mặc dù cũng đã có trên Internet, trên các diễn đàn về sản phẩm

- Nguyên nhân thứ sáu là thiếu các quy định cụ thể về chính sách, cơ chế tài chính, định mức, các quy định cụ thể về ứng dụng Phần mềm nguồn mở để các cơ

Trang 34

quan thống nhất thực hiện Các cơ quan nhà nước triển khai Phần mềm nguồn mở gặp khó khăn về nguồn tài chính và xây dựng các định mức chi

Do đó, Cơ quan quản lý nhà nước có thể dễ dàng để chuyển sang sử dụng các ứng dụng như trình duyệt, phần mềm văn phòng, bộ gõ tiếng Việt… mã nguồn mở nhưng không dễ dàng để chuyển sang sử dụng Hệ điều hành, cơ sở dữ liệu… mã nguồn mở

- Ngoài ra, hiện nay các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ phần mềm nguồn mở đã bước đầu hình thành và hoạt động khá tốt, quy mô còn nhỏ, năng lực chưa cao, khả năng hỗ trợ phạm vi rộng trên toàn quốc còn hạn chế Bên cạnh đó, còn thiếu các trung tâm cung cấp dịch vụ hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật, đào tạo, nghiên cứu về phần mềm nguồn mở

3.2 CÁC GIẢI PHÁP THAY THẾ

Từ khi công nghệ thông tin phổ biến đến nay thì Chính phủ cũng đã có các chính sách để hạn chế việc vi phạm sử dụng phần mềm, và các hướng phát triển như : Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, ban hành Nghị định số 47/2009/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT về đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động cơ quan, tổ chức nhà nước; ưu tiên sử dụng Phần mềm OpenOffice Ngoài ra, Chính phủ còn đưa

ra Tài liệu Hội thảo:"Chính sách thúc đẩy ứng dụng phần mềm nguồn mở tại Việt Nam"

Kết quả của việc này đã đưa Việt Nam từ vi phạm phần mềm số 1 thế giới năm

2003, trong vòng 6 năm (năm 2011) xuống còn hàng thứ 22 của thế giới Tuy có rất nhiều đề tài đưa ra các giải pháp thay thế đối với việc vi phạm bản quyền trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu hơn về việc đề ra các giải pháp thay thế cụ thể hơn từ việc khảo sát, sử dụng, đánh giá về khả năng tương thích trên cơ sở đó đưa

ra các giải pháp cụ thể:

3.2.1 Đối với Hệ điều hành

Đối với Hệ điều hành máy tính giải pháp đưa ra là Hệ điều hành mã nguồn mở

có tính năng tương tự như HĐH Windows và dễ dàng sử dụng, dễ cài đặt các phần mềm… Hiện nay có rất nhiều hệ điều hành như

Ngày đăng: 22/06/2023, 16:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w