1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf

39 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội
Trường học Trường Đại học XYZ
Chuyên ngành Nghiên cứu Phụ nữ Di cư
Thể loại Luận Văn nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 3,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHưƠNG 1: TổNG quAN về NGHIêN Cứu (0)
    • 1.1 Khái quát về di cư trong nước ở việt Nam (10)
    • 1.2 mục tiêu, phạm vi, và phương pháp nghiên cứu (11)
      • 1.2.1 mục tiêu của nghiên cứu (11)
      • 1.2.2 Phạm vi của nghiên cứu (12)
      • 1.2.3 Phương pháp nghiên cứu (12)
  • CHưƠNG 2:LAo đỘNG Nữ DI Cư TạI vIệT NAM: Họ LÀ AI? (0)
    • 2.1 độ tuổi của lao động di cư nữ (14)
    • 2.2 Hoàn cảnh hôn nhân và gia đình (15)
      • 2.2.1 Tình trạng hôn nhân (15)
      • 2.2.2 Số con trong gia đình (15)
    • 2.3 Trình độ học vấn (16)
    • 2.4 đặc điểm về nơi xuất cư (17)
    • 2.5 đặc điểm về nghề nghiệp (17)
  • CHưƠNG 3:LAo đỘNG Nữ DI Cư: LựC đẩy vÀ LựC HúT (0)
    • 3.1 Yếu tố lực đẩy với phụ nữ di cư (19)
      • 3.1.1 Lực đẩy từ thị trường lao động nơi xuất cư (19)
      • 3.1.2 Lực đẩy từ hoàn cảnh gia đình (20)
      • 3.1.3 Lực đẩy từ các khía cạnh khác (21)
    • 3.2 Yếu tố lực hút (22)
      • 3.2.1 Cơ hội việc làm tại nơi đến (22)
      • 3.2.2 Thu nhập tại điểm đến cao hơn nơi xuất cư (23)
      • 3.2.3 Lực hút từ vốn xã hội: bạn bè/người thân (23)
    • 3.3 Các yếu tố khác (24)
  • CHưƠNG 4: TíNH Dễ Bị TổN THưƠNG CủA PHỤ Nữ DI Cư (0)
    • 4.1 Tính dễ bị tổn thương trong công việc (27)
      • 4.1.1 Hợp đồng lao động (27)
      • 4.1.2 Công việc không ổn định, cường độ làm việc cao (28)
      • 4.1.3 Chế độ đãi ngộ còn nhiều bất cập (29)
      • 4.1.4 đối xử ngược đãi tại nơi làm việc (30)
    • 4.2 Tính dễ bị tổn thương trong tiếp cận dịch vụ công cộng (30)
      • 4.2.1 Tiếp cận với chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (31)
      • 4.2.2 Tiếp cận với dịch vụ giáo dục và y tế (32)
    • 4.3 Tính dễ bị tổn thương trong đời sống sinh hoạt (32)
      • 4.3.1 điều kiện sinh hoạt: nhà ở, sử dụng điện, sử dụng nước (32)
      • 4.3.2 Hạn chế trong hòa nhập cộng đồng (33)
  • CHưƠNG 5: CHíNH sáCH đốI vớI PHỤ Nữ DI Cư: THựC TRạNG vÀ MỘT số đề XuấT (0)
    • 5.1 Khung pháp lý và chính sách với lao động nữ di cư (35)
    • 5.2 một số khuyến nghị (36)
  • TÀI LIệu THAM KHẢo (38)
    • Hộp 3. 2. Các khó khăn của gia đình thúc đẩy phụ nữ di cư (21)
    • Hộp 3. 3. Cú sốc do thiên tai và sự bấp bênh của nghề nông (22)
    • Hộp 3. 4. Dễ tìm việc làm tại điểm đến (22)
    • Hộp 3. 5. Di cư vì thu nhập ở nơi đến cao hơn (23)
    • Hộp 3. 6. Di cư vì người thân, và họ hàng giới thiệu (24)
    • Hộp 3. 7. Di cư vì muốn thay đổi môi trường sống (25)
    • Hộp 4. 1. Tính không ổn định trong công việc của nữ công nhân nhập cư (28)
    • Hộp 4. 2. Tính không ổn định trong công việc của nữ lao động tự do (29)
    • Hộp 4. 3. một số bất cập trong chế độ tiền lương (29)
    • Hộp 4. 4. Khó khăn và trừ tiền ngày nghỉ phép (30)
    • Hộp 4. 5. Thực hiện chính sách thai sản với nữ công nhân di cư (31)
    • Hộp 4. 6. Khó khăn trong tiếp cận giáo dục với con cái của phụ nữ di cư (32)
    • Hộp 4. 7. Phụ nữ di cư gặp rất nhiều khó khăn về nhà ở (33)
    • Hộp 4. 8. Nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh (33)
    • Hộp 4. 9. Các yếu tố cản trở hòa nhập cộng đồng (34)

Nội dung

|1Phụ nữ Di cư trong nước Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội 2011 PHỤ NỮ DI CƯ TRONG NƯỚC HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM KIẾM CƠ HỘI PHỤ NỮ DI CƯ TRONG NƯỚC HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM KIẾM CƠ HỘI |1Phụ nữ Di c[.]

TổNG quAN về NGHIêN Cứu

Khái quát về di cư trong nước ở việt Nam

Theo thống kê từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở, di cư ở Việt Nam chưa có hệ thống dữ liệu rõ ràng, nhưng đây là nguồn thông tin đại diện nhất về tình hình di cư trong nước Giai đoạn 2004-2009, khoảng 6,6 triệu người (7,7% dân số) từ 5 tuổi trở lên đã thay đổi nơi cư trú, tăng đáng kể so với 2,1 triệu người di cư ghi nhận năm 1999 Nếu tính riêng di cư trong phạm vi một tỉnh, số lượng di cư giữa các tỉnh cũng tăng mạnh, từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu năm 1999 và 3,4 triệu năm 2009.

Tỷ trọng dân di cư trong tổng dân số đã tăng từ 2,5% vào năm 1989 lên 2,9% vào năm 1999 và đạt 4,3% vào năm 2009 Dự báo, con số này có thể tăng lên 6,4% vào năm 2019.

2004, cuộc điều tra quy mô nhỏ trên 917 lao động

mục tiêu, phạm vi, và phương pháp nghiên cứu

Trong khu vực tư nhân và không chính thức, người lao động thường phải đối mặt với thu nhập thấp và tình trạng việc làm không ổn định Nghiên cứu cho thấy rằng sự hỗ trợ chính thức từ chính quyền địa phương và các tổ chức quần chúng là rất hạn chế Thay vào đó, mạng lưới hỗ trợ không chính thức từ bạn bè, họ hàng và người thân đóng vai trò quan trọng đối với lao động di cư.

Khảo sát quy mô nhỏ trong nghiên cứu của Nguyễn

Nghiên cứu năm 2003 tại Hà Nội cho thấy lao động di cư, bao gồm cả nam và nữ, chủ yếu làm các công việc phổ thông nhưng có sự khác biệt trong cách thức thực hiện Nam giới thường chọn những công việc nặng nhọc và phải di chuyển xa do sức khỏe tốt hơn, trong khi nữ giới thường lựa chọn những công việc nhẹ nhàng hơn Ngoài ra, người lao động di cư thường làm việc trong điều kiện cường độ cao, với thời gian lao động trung bình từ 9-10 giờ mỗi ngày.

Những khó khăn phổ biến mà đối tượng di cư gặp phải trong nghiên cứu bao gồm tình trạng ế hàng, bị quỵt tiền, nhận mức lương thấp và bị ép làm thêm giờ.

Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện dựa trên các cuộc điều tra quy mô nhỏ, chẳng hạn như nghiên cứu của Đào (2009) về đối tượng lao động giúp việc và các nghiên cứu của CGFED.

Nghiên cứu của Bùi (2007) và Bùi (2009) đã chỉ ra những vấn đề sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và sinh hoạt gia đình của người di cư, đặc biệt là nhóm công nhân tại Hà Nội Mặc dù có phạm vi và trọng tâm khảo sát khác nhau, nhưng các nghiên cứu này đều nhấn mạnh những bất lợi mà người lao động di cư phải đối mặt trong công việc và sinh hoạt tại nơi đến Đáng chú ý, thực trạng chính sách đối với người di cư tại các khu vực đô thị vẫn còn "trắng", dẫn đến việc họ phải phụ thuộc vào bạn bè, người thân và họ hàng để tìm kiếm sự hỗ trợ.

‘lưới an toàn’ duy nhất để đối mặt với những khó khăn sau quyết định di cư.

1.2 mục tiêu, phạm vi, và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu của nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm xác định hiện trạng di cư trong nước của phụ nữ tại các khu vực thu hút lao động nữ, đồng thời đề xuất các khuyến nghị về chính sách và can thiệp Mục tiêu là cải thiện điều kiện sống, việc làm và tăng cường cơ hội tiếp cận chính sách, dịch vụ công cũng như hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ di cư tại nơi đến.

Các mục tiêu cụ thể của báo cáo được xác định gồm:

Nghiên cứu thực trạng di dân của phụ nữ cần xác định rõ các yếu tố "lực đẩy" - những nguyên nhân thúc đẩy phụ nữ di cư, và "lực hút" - những yếu tố thu hút phụ nữ đến nơi định cư mới.

Trong dòng di cư có xu hướng tăng nhanh ở việt

Trong hai thập kỷ qua, di cư từ nông thôn ra thành thị đã gia tăng đáng kể, với một phần năm dân số thành phố Hồ Chí Minh là người nhập cư, trong khi Hà Nội có gần 12% Mặc dù không có số liệu chính thức, tốc độ di cư này có thể được ước tính qua sự thay đổi dân số giữa khu vực thành thị và nông thôn Tốc độ tăng trưởng dân số Việt Nam đang giảm dần, do sự tăng trưởng nhanh chóng của dân số thành thị và sự giảm sút của dân số nông thôn Di cư từ nông thôn ra thành thị là yếu tố chính trong hai xu hướng này Với sự phát triển kinh tế và đô thị hóa hiện nay, di cư từ nông thôn ra thành thị dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng Đặc biệt, phụ nữ chiếm tỷ trọng lớn trong dòng di cư này.

Theo Tổng điều tra năm 2009, tỷ lệ nữ trong các nhóm di cư đều vượt quá 50%, bao gồm di cư giữa các tỉnh, di cư giữa các huyện và di cư trong phạm vi huyện Đặc biệt, trong nhóm di cư giữa các tỉnh, tỷ lệ phụ nữ di cư chiếm khoảng

Tỷ lệ phụ nữ di cư đã tăng từ 42% vào năm 1989 lên 50% vào năm 1999 và đạt 54% vào năm 2009 Đối tượng di cư chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 15 đến 29, với nhóm tuổi 20 đến 24 là phổ biến nhất Điều này cho thấy sự gia tăng đáng kể trong lực lượng lao động di cư ở độ tuổi trẻ.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê (2010), tỷ lệ di cư của phụ nữ cao hơn so với nam giới Đặc biệt, xu hướng di cư của phụ nữ ngày càng trẻ hóa theo thời gian, được thể hiện qua các cuộc Tổng điều tra vào các năm 1989, 1999 và 2009.

2009, độ tuổi phổ biến nhất của phụ nữ di cư giảm tương ứng từ 25 tuổi, xuống 24 tuổi, và gần đây nhất là 23 tuổi

Cuộc điều tra Di cư năm 2004 do TCTK thực hiện là cuộc khảo sát quy mô lớn đầu tiên về di cư, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình di cư Các nghiên cứu dựa trên kết quả của cuộc điều tra này đã phác họa rõ nét về việc làm và đời sống của người di cư.

Nghiên cứu cho thấy cơ hội việc làm và thu nhập là hai yếu tố chính thúc đẩy quyết định di cư Gần 90% người di cư khảo sát có việc làm, nhưng phần lớn đang làm các công việc lao động giản đơn trong khu vực kinh tế phi chính thức Họ gặp nhiều khó khăn trong đời sống, bao gồm vấn đề về nhà ở, tiếp cận nước sinh hoạt, điện, và các dịch vụ công cộng khác Đáng chú ý, người di cư hầu như không được hưởng bất kỳ chương trình hỗ trợ chính sách nào, và sự hỗ trợ duy nhất họ nhận được chủ yếu từ gia đình và bạn bè, giúp họ về chỗ ở và tìm việc làm Ngoài điều tra Di cư 2004, còn có một số khảo sát nhỏ khác về di cư đến các đô thị lớn với kết quả tương tự.

Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người và bình đẳng giới là hai phương pháp chính trong nghiên cứu này, khẳng định rằng các quyền và lợi ích của nữ lao động nhập cư là không thể tách rời Trách nhiệm bảo đảm quyền cho phụ nữ lao động nhập cư thuộc về chính quyền, tổ chức chính trị xã hội, người sử dụng lao động, cộng đồng và chính bản thân người nhập cư Báo cáo thu thập thông tin từ cả nữ lao động nhập cư và các cơ quan chính quyền, tổ chức liên quan, đồng thời sử dụng phương pháp tiếp cận bình đẳng giới để phân tích sự khác biệt trong cơ hội việc làm và điều kiện sống giữa nữ và nam lao động nhập cư Nghiên cứu thu thập thông tin định tính và định lượng, với các chỉ số cụ thể và cái nhìn sâu sắc về những vấn đề quan trọng Các công cụ thu thập thông tin bao gồm nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, nghiên cứu trường hợp, quan sát và phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc.

Cuộc khảo sát trong nghiên cứu "Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011" được thực hiện tại ba tỉnh/thành phố: Hải Phòng, Uông Bí (Quảng Ninh) và thành phố Hồ Chí Minh Mỗi tỉnh/thành phố chọn một quận/phường làm địa bàn khảo sát, cụ thể là tại Quảng Ninh.

đỘNG Nữ DI Cư TạI vIệT NAM: Họ LÀ AI?

độ tuổi của lao động di cư nữ

Nữ lao động di cư trong nghiên cứu này chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 20 đến 29, với nhóm phụ nữ từ 20 đến 24 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 30,4% Nhóm phụ nữ từ 25 đến 29 tuổi cũng đáng chú ý, chiếm hơn 22% tổng số phụ nữ lao động di cư được khảo sát Kết quả này tương đồng với dữ liệu từ điều tra Di cư Việt Nam năm 2004, trong đó 33,5% nữ di cư thuộc độ tuổi 20-24 và 20% từ 25 đến 29 tuổi Thêm vào đó, gần 60% phụ nữ di cư có độ tuổi từ 15 trở lên.

29 như chỉ ra trong khảo sát này cũng tương tự như kết quả của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở

Một đặc điểm đáng chú ý trong nghiên cứu là sự khác biệt rõ rệt giữa độ tuổi hiện tại của nữ lao động di cư và độ tuổi khi họ di cư lần đầu Gần 29% phụ nữ tham gia khảo sát cho biết họ đã di cư lần đầu trong độ tuổi 15-19, và nhiều người trong số họ đã có thời gian di cư dài Tại thời điểm khảo sát, tỷ lệ nữ lao động di cư trong độ tuổi 15-19 chỉ còn gần 7% Bảng 2.2 minh họa rõ ràng cơ cấu độ tuổi của nữ lao động di cư giữa lần di cư đầu tiên và độ tuổi hiện tại, cho thấy độ tuổi trung bình của nữ lao động di cư hiện nay cao hơn 6 tuổi so với lần di cư đầu tiên (29,4 so với 23,6) Đây là một tín hiệu tích cực về sự trưởng thành trong lực lượng lao động nữ di cư.

LaO độNG NỮ DI CƯ TẠI vIệT Nam là một nhóm quan trọng trong xã hội Họ thường có độ tuổi từ 18 đến 35, với nhiều người di cư lần đầu ở độ tuổi trẻ hơn Kết quả điều tra di cư Việt Nam năm 2004 cho thấy sự gia tăng đáng kể trong số lượng lao động nữ di cư, phản ánh những thay đổi trong xu hướng kinh tế và xã hội.

Bảng 2 1 Phụ nữ di cư theo nhóm tuổi so với kết quả điều tra di cư 2004 (%)

Theo điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011, tình trạng di cư của phụ nữ là một vấn đề đáng lưu ý, tạo ra thách thức lớn cho chính sách giáo dục, đặc biệt khi các trường sử dụng hộ khẩu để phân loại học sinh Nghiên cứu của Desingkar và cộng sự (2006) cho thấy hầu hết người di cư không đăng ký hoặc chỉ đăng ký tạm trú, dẫn đến việc tiếp cận dịch vụ công bị hạn chế và tốn kém Tương tự, nghiên cứu của UN Việt Nam (2010a) cũng chỉ ra rằng hơn một nửa phụ nữ di cư có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục, đặt ra thách thức cho khả năng đáp ứng của các cơ sở y tế tại nơi đến và khả năng tiếp cận dịch vụ của họ.

2.2.2 Số con trong gia đình một hệ quả của sự thay đổi trong tình trạng hôn nhân như chỉ ra trong bảng 2.3 là sự thay đổi về số con của phụ nữ di cư như báo cáo trong bảng 2.4 dưới đây Kết quả khảo sát cho thấy có tới 59,8% phụ nữ di cư chưa có con trong lần đầu tiên di cư nhưng tỷ lệ này giảm đáng kể chỉ còn 38% trong thời điểm hiện nay Tỷ lệ phụ nữ có 1-2 con trong lần đầu di cư tăng từ 32,5% lên

Tại thời điểm hiện nay, tỷ lệ phụ nữ có 3 con trở lên đã tăng nhẹ từ 7,7% lên 12,9% Số con trung bình của phụ nữ tại thời điểm di cư lần đầu là chưa đến 1 con, nhưng hiện tại đã vượt qua 1 con Có sự khác biệt rõ rệt về mặt địa lý giữa ba tỉnh/thành phố khảo sát Cụ thể, trong lần di cư đầu tiên, tỷ lệ lao động nữ chưa có con ở Quảng Ninh cao nhất, đạt 70%, so với 52,5% ở Hải Phòng và 45% ở thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, hiện tại, Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ phụ nữ chưa có con cao nhất với 37,7%, trong khi Quảng Ninh và thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ thấp hơn.

Sự thay đổi giữa trạng thái 'chưa có con' và 'có từ 1 con trở lên' ở Quảng Ninh là lớn nhất với chênh lệch gần 38 điểm %, tiếp theo là Hải Phòng, và cuối cùng là TP Hồ Chí Minh với tỷ lệ lần lượt là 31,7% và 30%.

Kết quả khảo sát cho thấy 40% phụ nữ di cư sống cùng con cái tại điểm di cư, điều này đặt ra nhiều vấn đề cần xem xét Di cư không chỉ là sự di chuyển của lao động mà còn kéo theo sự di chuyển của trẻ em phụ thuộc Phụ nữ lao động di cư trong mẫu khảo sát đã có thời gian di cư trung bình 6 năm, cho thấy cảm nhận của họ về các vấn đề liên quan có tính tin cậy cao Tuổi trung bình của lao động tự do cao hơn so với phụ nữ di cư là công nhân, có thể do nhiều công việc đơn giản yêu cầu sức khỏe, thường phù hợp với phụ nữ trẻ chưa có gia đình, và các công việc lao động tự do đòi hỏi kinh nghiệm để tự bươn trải tại nơi đến.

Kết quả khảo sát cho thấy phụ nữ di cư lần đầu có độ tuổi thấp nhất là 9 và cao nhất là 59 Hầu hết những người di cư đều ở độ tuổi rất trẻ hoặc trên 30, chủ yếu làm công việc giúp việc gia đình hoặc có người thân đã di cư Đặc biệt, độ tuổi thấp nhất trong lần di cư đầu tiên phản ánh thực trạng đáng lo ngại, khi nhiều em gái dưới 15 tuổi, độ tuổi đi học trung học cơ sở, đã phải di cư kiếm sống trong khi bạn bè cùng trang lứa vẫn đang học tập Nhóm đối tượng này có thể là những người dễ bị tổn thương nhất do hạn chế về sức lao động, khả năng nhận thức và trình độ học vấn.

Trẻ em có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của bóc lột sức lao động, cũng như đối mặt với các mối đe dọa khác như lạm dụng tình dục và bạo lực.

Mặc dù nội dung điều tra không đi sâu vào mối liên hệ giữa lần di cư đầu tiên và hiện tại, kết quả cho thấy thời gian giữa hai lần di cư có thể được hiểu theo hai cách: quá trình di cư tìm việc làm kéo dài nhiều năm hoặc một số phụ nữ đã trở về nơi xuất cư trước khi di cư lần nữa Nghiên cứu cho thấy phần lớn đối tượng từng làm việc trong các cơ sở có rủi ro cao như tiệm cắt tóc, gội đầu, hoặc làm giúp việc gia đình Điều này mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về nhóm đối tượng này trong tương lai, làm cơ sở cho các khuyến nghị chính sách phù hợp.

Hoàn cảnh hôn nhân và gia đình

Phân tích cho thấy phần lớn nữ lao động di cư nằm trong độ tuổi hôn nhân (20 đến 29 tuổi), với hơn 54% đã có gia đình, 34% sống độc thân, và hơn 11% ở tình trạng ly thân, ly hôn hoặc góa chồng Đáng chú ý, hơn 20% phụ nữ khảo sát đã chuyển từ tình trạng 'độc thân' sang 'đã lập gia đình' giữa lần di cư đầu tiên và hiện tại.

Kết quả này cũng tương đồng với điều tra Di cư

Năm 2004, hơn một nửa phụ nữ di cư đã lập gia đình, với hầu hết họ kết hôn với người chồng tại nơi xuất cư và tiếp tục làm việc tại thành phố sau khi kết hôn Tuy nhiên, tỷ lệ ly thân và ly hôn trong số phụ nữ di cư đang có xu hướng gia tăng, có thể do việc di cư khiến gia đình không có thời gian đoàn tụ Một điểm quan trọng về chính sách là hệ quả đối với việc tiếp cận giáo dục và chăm sóc y tế, khi hơn 40% nữ lao động di cư sống cùng con cái tại nơi đến, cho thấy nhu cầu cấp thiết về giáo dục cho trẻ em của họ.

Bảng 2 2 độ tuổi nữ lao động di cư theo nghề nghiệp nơi đến

Công nhân Lao động tự do Chung

Hiện nay Lần đầu di cư Hiện nay Lần đầu di cư Hiện nay Lần đầu di cư

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Bảng 2 3 Tình trạng hôn nhân của nữ lao động di cư (%)

Lần di cư đầu tiên Hiện nay Kết quả điều tra di cư việt Nam

Chưa lập gia đình 55,80 34,25 40,2 đã lập gia đình 38,67 54,14 55,8

Ly thân, ly hôn, góa 5,52 11,60 4,00

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011; Điều tra di cư Việt Nam 2004 của Tổng Cục Thống Kê

Bảng 2 4 số con tại thời điểm di cư lần đầu và hiện nay (người)

Di cư lần đầu Hiện nay

Số con trung bình chung 0,7 1,3

Số con trung bình của công nhân 1,5 1,7

Số con trung bình của lao động tự do 1,7 2,1

Theo điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011, tỷ lệ phụ nữ di cư có trình độ học vấn trung bình thấp nhất ở TP Hồ Chí Minh, với các con số tương ứng là 50,8% ở Hải Phòng và 35% ở Quảng Ninh Kết quả khảo sát định tính không đưa ra câu trả lời rõ ràng cho thực trạng này.

Sự khác biệt trong tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông giữa các tỉnh đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Mê-Kông có thể giải thích bởi nguồn gốc xuất cư của phụ nữ di cư Cụ thể, tỷ lệ tốt nghiệp ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, nơi có nhiều phụ nữ di cư đến Hải Phòng và Quảng Ninh, cao hơn so với mặt bằng chung ở các tỉnh đồng bằng Sông Mê-Kông, nơi nhiều phụ nữ di cư đến TP HCM Kết quả từ điều tra Di cư 2004 của TCTK cho thấy trình độ học vấn của nữ lao động di cư, với tỷ lệ tiểu học và trung học cơ sở chiếm trên 60% trên toàn quốc và ở hai khu vực kinh tế lớn là thành phố.

Hồ Chí Minh và khu vực kinh tế Đông Bắc Việt Nam đang gặp phải những bất lợi về tiếp cận và chi phí, ảnh hưởng đến con em của đối tượng di cư.

Tình trạng dịch vụ y tế cũng gặp khó khăn tương tự Kết quả khảo sát cho thấy 60% phụ nữ di cư phải sống xa con cái để kiếm thu nhập Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều phụ nữ di cư chỉ làm việc ngắn hạn để hỗ trợ tài chính cho gia đình Họ không đủ khả năng chi trả cho chi phí sinh hoạt và dịch vụ cho con cái, bao gồm chỗ ở, sinh hoạt, và đặc biệt là học tập và y tế Do đó, họ buộc phải sống xa con cái vì lý do sinh kế.

Trình độ học vấn

Nghiên cứu cho thấy lao động di cư chủ yếu là lao động phổ thông, không yêu cầu tay nghề cao Bảng 2.5 tóm tắt trình độ học vấn của lao động nữ nhập cư, với cấp học trung học cơ sở chiếm 47,5%, tiếp theo là trung học phổ thông với hơn 33% Mặc dù phụ nữ di cư biết đọc biết viết, tỷ lệ có tay nghề từ trung cấp trở lên rất thấp Do đó, họ thường làm các công việc lao động chân tay, như trong ngành may mặc và giày dép Biểu 2.2 cho thấy sự khác biệt về trình độ học vấn giữa ba tỉnh, trong đó Quảng Ninh có tỷ lệ phụ nữ di cư tốt nghiệp trung cấp trở lên cao nhất, đạt 15%, so với 8,3% ở TP HCM và 4,9% ở Hải Phòng.

TP HCm là địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở cao nhất với hơn 56,6%, và hơn 18%

Biểu đồ 2 1 Tỷ lệ phần trăm về số con tại thời điểm hiện nay (%)

Hải Phòng Quảng Ninh Hồ Chí minh

Chưa có con 1 đến 2 con 3 con trở lên

Lần đầu Hiện nay Lần đầu Hiện nay 0%

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Bảng 2 5 Cấp học cao nhất của lao động nữ di cư (%)

Trình độ cao nhất Tỷ lệ %

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Biểu đồ 2 2 Cấp học của nữ nhập cư chia theo địa điểm khảo sát (%)

Hải Phòng Quảng Ninh Hồ Chí minh

THCS THPT Trung cấp trở lên

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Biểu đồ 2 3 Cấp học của phụ nữ nhập cư chia theo địa điểm khảo sát (%)

Khu vực kinh tế đông bắc TP Hồ Chí minh Chung cả nước

Tiểu học và THCS Trung cấp trở lên

THPT Không biết đọc, biết viết

Theo điều tra di cư Việt Nam năm 2004, gần 10% di cư từ các thành phố, trong đó tỷ lệ phụ nữ lao động di cư từ nông thôn cao nhất là Hải Phòng (hơn 81%), tiếp theo là Quảng Ninh và TP HCM với 65% và 67,8% Phụ nữ nông thôn khi di cư đến đô thị phải đối mặt với thách thức lớn trong việc điều chỉnh và thích nghi với môi trường làm việc công nghiệp và nhịp sống nhanh tại các thành phố lớn Với trình độ học vấn trung bình và thấp, quá trình này trở nên khó khăn hơn, đặc biệt khi hầu hết phụ nữ di cư không chuẩn bị gì đáng kể cho sự thay đổi này Kết quả khảo sát cho thấy rất ít phụ nữ tìm hiểu thông tin trước khi di cư, và họ cũng không nhận được sự hỗ trợ chính thức từ chính quyền, làm tăng gánh nặng tinh thần và thiếu hụt kỹ năng hòa nhập Điều này khiến họ khó tiếp cận cơ hội việc làm trong khu vực chính thức, đặc biệt khi thị trường lao động tại các thành phố lớn ngày càng đòi hỏi cao hơn.

2.5 đặc điểm về nghề nghiệp

Theo khảo sát, 58% lao động nữ di cư là công nhân, trong khi 42% làm việc tự do Công nhân chủ yếu làm trong ngành may mặc và giày dép, trong khi lao động tự do thường buôn bán nhỏ hoặc làm thuê trong các dịch vụ Gần 80% nữ công nhân di cư trước đây đang đi học hoặc làm nông, nhưng hiện nay tỷ lệ này chỉ còn khoảng 40% Ngược lại, chỉ 20% nữ lao động tự do từng đi học trước khi di cư Hơn 44% lao động tự do hiện tại có xuất thân từ nông dân, cho thấy trình độ học vấn của họ thấp hơn Với thời gian di cư trung bình là 6 năm, câu hỏi đặt ra là liệu có sự thay đổi đáng kể trong nghề nghiệp của phụ nữ di cư hay không, đặc biệt khi tỷ lệ phụ nữ di cư có trình độ trên trung cấp chỉ dưới 6%.

Kết quả điều tra cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa trình độ học vấn của phụ nữ di cư là công nhân và lao động tự do Cụ thể, tỷ lệ nữ công nhân có trình độ trên trung cấp cao gấp 1,5 lần so với nữ lao động tự do (9,68% so với 5,59%), và tỷ lệ tốt nghiệp THPT của nữ công nhân gần gấp đôi so với lao động tự do (43,01% so với 23,81%) Thực tế tại địa bàn khảo sát cũng cho thấy hầu hết phụ nữ di cư tự do làm các công việc như buôn bán nhỏ và đồng nát.

Kết quả này cho thấy rằng học vấn, mặc dù không phải là yếu tố quyết định chính trong di cư, vẫn đóng vai trò quan trọng nhất định.

Phụ nữ di cư có trình độ học vấn cao thường dễ dàng tìm kiếm việc làm hơn Ngược lại, phụ nữ di cư làm lao động tự do thường có trình độ học vấn thấp nhất, dẫn đến việc họ trở thành nhóm dễ bị tổn thương hơn so với những phụ nữ di cư làm công nhân.

Khảo sát này tập trung vào khả năng nâng cao trình độ học vấn và tay nghề của lao động di cư nữ Tuy nhiên, kết quả cho thấy rất ít phụ nữ di cư có cơ hội học tập tại nơi đến Điều này dễ hiểu, vì lý do chính của họ khi di cư là tìm kiếm việc làm và tăng thu nhập, không phải để theo đuổi giáo dục.

Kết quả khảo sát cho thấy phụ nữ lao động di cư cần được đào tạo tay nghề tại nơi làm việc, nhưng thực tế cho thấy việc đào tạo này rất hạn chế Nguyên nhân chính là do công việc của họ chủ yếu là công nhân, chỉ yêu cầu lao động phổ thông với kỹ năng đơn giản Do đó, những phụ nữ có cơ hội đào tạo tay nghề thường chỉ được đào tạo những kỹ năng rất cơ bản Phần lớn phụ nữ cải thiện tay nghề của mình thông qua giai đoạn đầu làm phụ việc trong các dây chuyền sản xuất đơn giản.

đặc điểm về nơi xuất cư

Di cư từ nông thôn đến thành thị đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một hình thức di cư quan trọng cho sự phát triển ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phần lớn lao động di cư tại các thành phố và tỉnh có ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển đều xuất phát từ nông thôn, phản ánh xu hướng mạnh mẽ trong quá trình đô thị hóa Kết quả khảo sát về phụ nữ di cư trong nghiên cứu này cũng cho thấy xu hướng tương tự, với 71,3% phụ nữ di cư đến từ nông thôn, 18,5% từ thị xã, thị trấn.

Bảng 2 6 Cấp học cao nhất theo nghề nghiệp (%)

Nghề nghiệp hiện tại Cấp học cao nhất

Tiểu học THCs THPT Trên trung cấp Tổng

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Biểu đồ 2 4 Nơi xuất cư của phụ nữ nhập cư trong mẫu khảo sát (%)

Thành phố Thị xã, thị trấn Nông thôn

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Bảng 2 7 Nghề nghiệp trước lần di cư đầu tiên và nghề nghiệp hiện nay (%)

Hiện nay Nghề nghiệp trước lần di cư đầu tiên đi học Làm nông Công nhân Tự do Chưa làm gì Tổng

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Bảng 2 8 Nghề nghiệp tại nơi đến trong lần di cư đầu tiên và hiện nay(%)

Hiện nay Nghề nghiệp tại nơi đến đầu tiên*

Công nhân Tự do đi học Tổng

Theo điều tra về phụ nữ và di cư trong nước năm 2011, nghề nghiệp tại nơi đến đầu tiên được định nghĩa là nghề nghiệp mà nữ lao động di cư thực hiện trong thời gian dài nhất tại địa điểm mới, bất kể họ đã thay đổi loại hình nghề nghiệp bao nhiêu lần tại nơi đến đầu tiên.

đặc điểm về nghề nghiệp

Theo khảo sát, 58% lao động nữ di cư là công nhân, chủ yếu làm việc trong ngành may mặc và giày dép, trong khi 42% còn lại làm các công việc tự do như buôn bán nhỏ và dịch vụ Gần 80% nữ công nhân di cư trước đây đang đi học hoặc làm nông tại quê nhà, trong khi chỉ 20% nữ lao động tự do có nền tảng học vấn tương tự Hơn 44% lao động tự do hiện tại xuất thân từ nông dân, cho thấy sự khác biệt về trình độ học vấn giữa hai nhóm Với thời gian di cư trung bình là 6 năm, câu hỏi đặt ra là liệu có sự thay đổi đáng kể trong nghề nghiệp của phụ nữ di cư hay không, đặc biệt khi tỷ lệ phụ nữ di cư có trình độ trên trung cấp chỉ chiếm dưới 6%.

Kết quả điều tra cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa trình độ học vấn của phụ nữ di cư là công nhân và lao động tự do Cụ thể, tỷ lệ nữ công nhân có trình độ trên trung cấp cao gấp 1,5 lần so với nữ lao động tự do (9,68% so với 5,59%), và tỷ lệ tốt nghiệp THPT của nữ công nhân gần gấp đôi so với lao động tự do (43,01% so với 23,81%) Thực tế tại địa bàn khảo sát cũng cho thấy hầu hết phụ nữ di cư tự do làm các công việc như buôn bán nhỏ và đồng nát.

Kết quả này cho thấy rằng học vấn, mặc dù không phải là yếu tố quyết định chính trong di cư, vẫn đóng vai trò quan trọng nhất định.

Phụ nữ di cư có trình độ học vấn cao thường dễ dàng tìm kiếm việc làm hơn Ngược lại, phụ nữ di cư lao động tự do thường có trình độ học vấn thấp nhất, dẫn đến việc họ trở thành nhóm dễ bị tổn thương hơn so với những phụ nữ di cư làm công nhân.

Khảo sát này tập trung vào khả năng nâng cao trình độ học vấn và tay nghề của lao động di cư nữ Tuy nhiên, kết quả cho thấy rất ít phụ nữ di cư có cơ hội học tập tại nơi đến Điều này dễ hiểu, vì lý do chính của họ khi di cư là tìm kiếm việc làm và tăng thu nhập, không phải để theo đuổi giáo dục.

Kết quả khảo sát cho thấy phụ nữ lao động di cư cần được đào tạo tay nghề tại nơi làm việc, nhưng thực tế cho thấy việc đào tạo này rất hạn chế Nguyên nhân chính là do công việc của họ chủ yếu là công nhân, chỉ yêu cầu lao động phổ thông với kỹ năng đơn giản Do đó, những phụ nữ có cơ hội đào tạo tay nghề thường chỉ được đào tạo những kỹ năng rất cơ bản Phần lớn phụ nữ cải thiện tay nghề của mình thông qua giai đoạn đầu làm phụ việc trong các dây chuyền sản xuất đơn giản.

2.4 đặc điểm về nơi xuất cư

Di cư từ nông thôn đến thành thị đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một hình thức di cư quan trọng ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phần lớn lao động di cư tại các thành phố và tỉnh có ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển đều xuất phát từ nông thôn, phản ánh xu hướng di cư mạnh mẽ trong quá trình đô thị hóa Kết quả khảo sát phụ nữ di cư cho thấy 71,3% phụ nữ di cư có nguồn gốc từ nông thôn, trong khi 18,5% đến từ thị xã, thị trấn.

Bảng 2 6 Cấp học cao nhất theo nghề nghiệp (%)

Nghề nghiệp hiện tại Cấp học cao nhất

Tiểu học THCs THPT Trên trung cấp Tổng

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Biểu đồ 2 4 Nơi xuất cư của phụ nữ nhập cư trong mẫu khảo sát (%)

Thành phố Thị xã, thị trấn Nông thôn

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Bảng 2 7 Nghề nghiệp trước lần di cư đầu tiên và nghề nghiệp hiện nay (%)

Hiện nay Nghề nghiệp trước lần di cư đầu tiên đi học Làm nông Công nhân Tự do Chưa làm gì Tổng

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011

Bảng 2 8 Nghề nghiệp tại nơi đến trong lần di cư đầu tiên và hiện nay(%)

Hiện nay Nghề nghiệp tại nơi đến đầu tiên*

Công nhân Tự do đi học Tổng

Theo điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước năm 2011, nghề nghiệp tại nơi đến đầu tiên được định nghĩa là nghề nghiệp mà nữ lao động di cư thực hiện trong thời gian dài nhất tại địa điểm đó, bất kể họ đã thay đổi loại hình nghề nghiệp bao nhiêu lần.

Lao động nữ di cư thường phải đối mặt với những thách thức đặc thù, bao gồm lực đẩy và lực hút trong quá trình tìm kiếm việc làm Họ thường dễ bị tổn thương hơn so với công nhân nam, và sau một thời gian bươn trải, nhiều phụ nữ lao động di cư có thể tìm được công việc trong các cơ sở sản xuất.

2.8 dưới đây đưa ra kết quả khảo sát cho những câu hỏi này.

Kết quả khảo sát cho thấy rằng hầu hết phụ nữ di cư không có sự thay đổi đáng kể trong nghề nghiệp so với lần di cư đầu tiên Cụ thể, hơn 94% nữ lao động tự do hiện tại đã từng làm nghề tự do, trong khi 89% nữ công nhân hiện tại đã từng làm công nhân tại nơi đến đầu tiên Chỉ một tỷ lệ nhỏ phụ nữ chuyển đổi giữa hai loại hình lao động, chủ yếu do sở thích cá nhân Điều này có thể do hạn chế về cơ hội học hỏi trong thời gian di cư Ngoài ra, khảo sát cũng chỉ ra rằng phụ nữ di cư thường phải tự bươn chải kiếm sống, với rất ít cơ hội để phát triển và cải thiện tài sản con người.

đỘNG Nữ DI Cư: LựC đẩy vÀ LựC HúT

Yếu tố lực đẩy với phụ nữ di cư

Các nghiên cứu về di cư trước đây không đưa ra một cách phân loại thống nhất nào về nhóm yếu tố

‘lực đẩy’ Trong báo cáo này, việc xác định nhóm

Các yếu tố 'lực đẩy' ảnh hưởng đến quyết định di cư của phụ nữ bao gồm hai khía cạnh chính: (i) thị trường lao động tại nơi xuất cư và (ii) hoàn cảnh gia đình của nữ lao động di cư, dựa trên kết quả khảo sát thực tế.

3.1.1 Lực đẩy từ thị trường lao động nơi xuất cư

Phụ nữ lao động di cư trong khu vực khảo sát chủ yếu đến từ các vùng nông thôn, như đã phân tích trong Chương 2 Kết quả khảo sát chỉ ra rằng những hạn chế của thị trường lao động nông thôn nơi xuất cư đóng vai trò là yếu tố lực đẩy chính đối với nhóm phụ nữ di cư này.

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở Việt Nam Theo Phạm và cộng sự (2009), nông nghiệp không chỉ tạo việc làm cho lực lượng lao động trẻ mà còn góp phần vào sự tăng trưởng nhanh chóng của đất nước Các nghiên cứu khác như của van de Walle và Cratty (2003) cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế.

Nghiên cứu năm 2009 chỉ ra rằng vai trò của khu vực nông nghiệp trong việc tạo việc làm đang giảm dần Dựa trên số liệu từ các cuộc điều tra mSHGđ trong giai đoạn 1993-2008, kết quả cho thấy vào đầu thập kỷ 1990, nông nghiệp đã đóng góp khoảng 80% tổng số việc làm.

Kết quả phân tích trong mục 3.1.1 chủ yếu tập trung vào phụ nữ di cư từ nông thôn đến thành thị, chiếm 71,3% mẫu khảo sát Những phân tích này cũng có thể áp dụng cho phụ nữ di cư từ thị xã/thị trấn đến các thành phố, với tỷ lệ 18,5% trong mẫu khảo sát.

LaO độNG NỮ DI CƯ:

LỰC đẨY vÀ LỰC HÚT

Bảng 3 1 Tìm việc trong thời gian nông nhàn (%)

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011

Hộp 3 1 Nông nhàn, không có việc làm và sự chán nản

“Lúc đầu là em chỉ muốn đi vì ở nhà mình làm nghề nông rảnh rỗi” (PvS 1.7, công nhân, 21 tuổi) 7

Quê nghèo không có việc làm, tôi chỉ ở nhà làm nông nghiệp để phụ giúp mẹ Tuy nhiên, tôi cảm thấy buồn chán vì có quá nhiều thời gian rảnh rỗi và không có tiền tiêu.

Các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất đồ chơi đã thu hút một lượng lớn lao động tự do, chủ yếu là công nhân nữ Họ di cư đến thành phố theo mùa vụ và trở về quê khi hết việc.

Gia đình gặp khó khăn với ba chị em, sống chủ yếu nhờ vào nông nghiệp Họ làm ruộng, nhưng ngoài mùa vụ, không có công việc nào khác để kiếm sống.

Vào đầu năm, đặc biệt là trong tháng 2 và tháng 3, tại quê hương không có nhiều công việc Nhóm lao động nhập cư theo thời vụ thường gặp khó khăn do đơn hàng ít, dẫn đến việc công nhân phải trở về sau một tháng làm việc.

Quận Dương Kinh, Hải Phòng)

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011

Để bảo đảm tính bảo mật cho thông tin phỏng vấn, báo cáo này không nêu tên người tham gia và địa điểm phỏng vấn Thay vào đó, chúng tôi sử dụng hệ thống đánh số cho các phiếu kết quả phỏng vấn theo ký hiệu thống nhất trong cơ sở dữ liệu khảo sát.

Khảo sát định tính cho thấy việc tìm kiếm việc làm ở nông thôn gặp nhiều khó khăn, và tình trạng 'nông nhàn' kéo dài là một trong những lý do chính khiến phụ nữ quyết định di cư từ nông thôn ra thành phố để tìm kiếm cơ hội việc làm.

Hộp 3.1 trên đây ghi nhận một số ý kiến khá phổ biến ghi nhận được trong quá trình điều tra lý do này Có rất nhiều ý kiến từ phụ nữ di cư và cả từ phía cán bộ chính quyền tại nơi đến Trong số những đối tượng này, những đối tượng quyết định di cư vì lý do “nông nhàn” thường tìm kiếm các công việc trong ngắn hạn Nhưng đối với phụ nữ di cư vì lý do khó khăn trong tìm việc làm tại nông thôn thì thường có xu hướng tìm việc làm trong khoảng thời gian dài hơn đáng tiếc là quy mô khảo sát nhỏ trong nghiên cứu này không cho phép sự so sánh sâu hơn giữa hai đối tượng trên Trong thực tế, di cư ngắn hạn trong giai đoạn “nông nhàn” chỉ mang tính tạm thời và đối tượng di cư theo dạng này có thể không phải là đối tượng di cư chính cần hỗ trợ Trong khi đó, những phụ nữ di cư trong thời gian dài hơn mới là những đối tượng chịu những bất lợi đáng kể trong công việc và sinh hoạt tại nơi đến, nên sẽ là đối tượng trọng tâm cần phải có những can thiệp về chính sách (trong tương lai)

Trong bối cảnh khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm ngoài nông nghiệp ở nông thôn, lực lượng lao động chủ yếu chỉ tốt nghiệp phổ thông và thiếu đào tạo nghề Thanh niên nông thôn, đặc biệt là phụ nữ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chương trình đào tạo nghề Đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” đã được phê duyệt nhưng kết quả còn hạn chế do thời gian triển khai ngắn và nhiều vướng mắc Đáng lo ngại là tình trạng đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Theo khảo sát, 39,4% phụ nữ lao động di cư cho biết chương trình đào tạo nghề tại địa phương không phù hợp, dẫn đến việc họ không tìm được việc làm và phải chuyển đến khu vực khác Tỷ lệ này cao nhất ở Hải Phòng (54,2%), trong khi khoảng 1/3 phụ nữ di cư tại Quảng Ninh và TP HCM cũng cho rằng đào tạo nghề không phù hợp với nhu cầu thực tế.

3.1.2 Lực đẩy từ hoàn cảnh gia đình

Yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng trong chiến lược di cư của phụ nữ, vừa là lực đẩy vừa là lực hút Các hoàn cảnh gia đình như điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình đông người với ít lao động, và có người đau ốm là những yếu tố phổ biến dẫn đến quyết định di cư Khảo sát cho thấy, khó khăn kinh tế gia đình là nguyên nhân chính khiến phụ nữ di cư để tìm việc làm và tạo thu nhập bổ sung Xu hướng này cũng được ghi nhận trong các nghiên cứu về di dân tại Việt Nam, cho thấy lao động nông thôn, đặc biệt là lao động trẻ, phải tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp hoặc di cư đến đô thị để có cơ hội việc làm tốt hơn.

Tình trạng "nông nhàn" ở nông thôn Việt Nam, với gần 30% lao động có việc làm không đầy đủ (làm dưới 30 giờ một tuần), có thể là nguyên nhân chính dẫn đến quyết định di cư, đặc biệt trong ngắn hạn Kết quả khảo sát cho thấy 56,4% phụ nữ di cư từ nông thôn đến địa bàn khảo sát nhằm tìm kiếm việc làm trong thời gian "nông nhàn" để bổ sung thu nhập cho hộ gia đình.

Yếu tố lực hút

Cơ hội việc làm và mức thu nhập cao hơn là những yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với phụ nữ di cư, bên cạnh sự thuyết phục từ bạn bè và người thân trong diện khảo sát.

3.2.1 Cơ hội việc làm tại nơi đến

Di cư để tìm kiếm cơ hội việc làm và tạo thu nhập là lý do chính cho sự di cư, với cơ hội việc làm là yếu tố thu hút hàng đầu tại nơi đến Nghiên cứu này tập trung vào các khu vực có công nghiệp phát triển nhanh, đặc biệt là trong ngành may mặc, giày dép và đồ chơi, những công việc phù hợp với lao động phổ thông Có sự khác biệt về điều kiện kinh tế-xã hội giữa các địa bàn, trong đó TP.HCM được xem là khu vực có nền kinh tế năng động nhất, trong khi Hải Phòng có tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ nhanh hơn so với Quảng Ninh, nơi TP Uông Bí mới chuyển đổi lên quy chế thành phố.

Nhu cầu việc làm đối với lao động phổ thông tại ba khu vực khảo sát năm 2011 là rất lớn và đang tăng nhanh Đặc biệt, 88,2% phụ nữ di cư cho rằng khả năng dễ dàng tìm việc là yếu tố thu hút chính trong quyết định di cư của họ, với kết quả này không có sự khác biệt đáng kể giữa các loại hình công việc tại nơi đến, bao gồm cả làm công nhân và lao động tự do, cũng như giữa các địa bàn khảo sát, đều trên 80%.

Kết quả khảo sát định tính cho thấy sự dễ dàng trong việc tìm kiếm công việc lao động phổ thông, đặc biệt là từ góc nhìn của phụ nữ di cư Họ nhận định rằng có nhiều cơ hội việc làm tại các khu công nghiệp và công việc chỉ yêu cầu trình độ lao động phổ thông là những yếu tố thu hút chính Đối với phụ nữ di cư lao động tự do, điều kiện buôn bán tại các khu đô thị được xem là thuận lợi hơn, với quan điểm rằng sự hiện diện của nhiều công nhân giúp dễ dàng bán hàng và kết bạn Từ phía chính quyền, các cán bộ khảo sát nhấn mạnh sự thiếu hụt lao động phổ thông tại địa phương, cho thấy dòng di cư là yếu tố cần thiết để phát triển các ngành công nghiệp gia công như may mặc và giày dép.

Ngoài lực hút từ nhu cầu lao động phổ thông lớn, sự sẵn có của nhiều loại công việc thời vụ tại điểm đến cũng là yếu tố quan trọng Điều này phù hợp với phân tích về động cơ tìm kiếm việc làm trong giai đoạn “nông nhàn” Tại Hải Phòng, các công ty thường làm theo đơn đặt hàng, dẫn đến nhu cầu lao động lớn theo thời vụ Điều này tạo điều kiện cho nhiều lao động từ các khu vực nông nghiệp xung quanh đến Hải Phòng làm việc khi hết mùa vụ Như một cán bộ phường tại Hải Phòng đã chia sẻ, “các doanh nghiệp…”

Hộp 3 4 Dễ tìm việc làm tại điểm đến

Phụ nữ di cư làm công nhân

Nhiều khu công nghiệp tại đây đang cần tuyển nhân viên, vì vậy tôi đã quyết định đến tìm việc Qua thông tin từ bạn bè cùng quê, tôi nghe nói về cơ hội việc làm tại đây và đã quyết định thử sức.

“Có mấy người bảo ở đây đang tuyển mà yêu cầu cũng không quá khắt khe nên mình nộp hồ sơ thi tuyển vào” (PvS 1.17, công nhân, 28 tuổi)

“Trên đây có nhiều việc làm nên lên đây xin việc làm” (PvS số 3.4, công nhân, 25 tuổi)

Sài Gòn là nơi có nhiều cơ hội việc làm, trong khi ở quê, ngoài công việc nông nghiệp, không có nhiều lựa chọn nghề nghiệp.

Phụ nữ di cư lao động tự do

“Chỗ này công nhân đông dễ buôn bán nên tôi bán thôi” (PvS 1.23, lao động tự do, 50 tuổi)

“Được cái là chỗ này có nhiều công ty nên cũng không lo lắm vì dễ bán hàng” (PvS 1.29, lao động tự do, 33 tuổi)

Gò Vấp có nhiều nhà máy, công ty và xí nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xin việc Cuộc sống ở đây chủ yếu là của công nhân, mang lại sự nhộn nhịp cho khu vực.

“Bà (bạn) chỉ đường bảo bên này bán tốt thì thế là sang” (PvS số 2.24, lao động tự do, 35 tuổi) Ý kiến của cán bộ chính quyền

Hải Phòng đang đối mặt với tình trạng thiếu lao động phổ thông, vì vậy các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm nguồn lao động từ các tỉnh lân cận Điều này đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể số lượng lao động nhập cư về thành phố.

Cán bộ Sở LđTbXH Hải Phòng).

Lao động di cư thường tìm kiếm cơ hội việc làm tại các công ty yêu cầu trình độ tay nghề không cao, phù hợp với chuyên môn của họ.

Khu vực này chủ yếu tập trung vào các hoạt động công nghiệp như điện, xi măng và than, thu hút nhiều người từ các địa phương khác đến sinh sống Ngành nghề tại đây rất đa dạng, bao gồm điện, xi măng và than.

Lao động nhập cư chủ yếu là những người không có tay nghề và trình độ thấp, do đó họ thường tham gia vào các ngành nghề không yêu cầu chuyên môn kỹ thuật cao như giày da và may mặc Ngoài ra, trong môi trường tự do, họ thường kiếm sống bằng cách buôn bán nhỏ, hàng rong hoặc làm xe ôm.

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011

Hộp 3 3 Cú sốc do thiên tai và sự bấp bênh của nghề nông

“Ở quê chỉ làm ruộng thôi mà ruộng thì năm được năm không, nói chung là ở nhà thì khổ lắm”

(PvS 2.4, công nhân, 24 tuổi, Quảng Ninh)

Làm ruộng thường gặp khó khăn do sự biến động của thời tiết và sâu bệnh, với mùa đông lạnh giá và mùa hè oi ả.

Trong những năm qua, ông ấy gặp khó khăn trong kinh doanh và không có thu nhập Sau đó, ông bị bệnh, bao gồm cả sốt rét rừng, khiến sức khỏe yếu đi và không thể tiếp tục làm ăn.

“Ngoài đó có ruộng vườn nhưng làm ăn hay bị bão lụt chán quá nên đi vào đây” (PvS số 3.23, tự do, 42 tuổi, TP HCm)

Ở quê, tình trạng ngập lụt diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng đến việc trồng lúa với chỉ hai mùa trong năm Bên cạnh đó, sâu bọ cũng là một vấn đề lớn, khiến người nông dân không có đủ nguồn lực dư dả.

Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011

Các yếu tố khác

Ngoài hai nhóm yếu tố lực đẩy và lực hút đã được phân tích, khảo sát cho thấy có một nhóm yếu tố khác liên quan đến mong muốn thay đổi môi trường sống và tìm kiếm cơ hội phát triển của phụ nữ di cư Những yếu tố này không hoàn toàn thuộc về lực đẩy, vì chúng không chỉ mang tính chất bị tác động mà còn thể hiện khát vọng tích cực Đồng thời, chúng cũng không phải là yếu tố kéo, vì những mong muốn này có thể chưa gắn liền với một điểm đến cụ thể nào Đây là những động cơ di cư mang tính nhân văn cao, và chương này sẽ tóm tắt về các động cơ đó.

Hộp 3 7 Di cư vì muốn thay đổi môi trường sống

“Tính em là rất muốn đi nhiều nơi để làm ăn, em đã từng đi rất nhiều nơi” (PvS 1.7, công nhân, 21 tuổi)

“Em xuống đây chỉ là muốn học hỏi thêm, vì em còn ít tuổi, em muốn hoàn thiện bản thân mình”

“Do em thích đi xa thì đi thôi, chứ cũng không phải vì gia đình khó khăn” (PvS số 2.7, công nhân, 19 tuổi)

“Sau khi chị học xong cấp 3 thì chị đi thi đại học, thi 3 năm không đỗ thì chị cảm thấy chán nản…”

“Ở nhà thấy tù túng rồi quyết định vào đây.” (PvS 3.10, công nhân, 27 tuổi)

“Muốn ra đây… gặp may mắn” (PvS 1.22, lao động tự do, 29 tuổi)

“Ra đây làm cũng không nhiều nhưng mình cũng tự hào lắm, mình làm mình ăn chẳng nhờ vả ai làm gì” (PvS số 2.22, lao động tự do, 40 tuổi)

Nguồn: điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011

Tính phổ biến của những yếu tố liên quan đến

Nhu cầu "thay đổi môi trường", "trau dồi bản thân" và "mở rộng quan hệ xã hội" là những vấn đề quan trọng, đặc biệt đối với phụ nữ di cư Động cơ di cư của họ thường là tự nguyện, với hy vọng cải thiện cuộc sống Tuy nhiên, thực tế cho thấy kỳ vọng này thường không được đáp ứng, khi mà hầu hết phụ nữ di cư phải làm việc vất vả trong môi trường nhiều rủi ro, với thu nhập thấp hoặc trung bình, và gặp nhiều khó khăn trong đời sống Mặc dù nghiên cứu này không đi sâu vào phản ứng của họ khi kỳ vọng không thành hiện thực, nhưng có thể dự đoán rằng những phụ nữ này sẽ phải chịu gánh nặng tâm lý lớn hơn so với những người di cư khác Trong một số trường hợp, họ có thể rơi vào trạng thái chán nản và dễ bị cám dỗ bởi những rủi ro trong cuộc sống đô thị.

Việc 'vỡ mộng' trong hành trình tìm kiếm một 'chân trời mới' và 'triển vọng' cuộc sống mới có thể dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng, điều này cần được nghiên cứu sâu hơn Mong muốn thay đổi môi trường sống là một động cơ di cư quan trọng, đặc biệt đối với phụ nữ từ các vùng nông thôn và lao động nông nghiệp Mặc dù khu vực nông thôn Việt Nam có nhiều tiềm năng, nhưng sự chuyển đổi này vẫn gặp nhiều thách thức.

Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ, tuy nhiên khu vực nông thôn vẫn chưa đáp ứng đủ cơ hội việc làm cho lực lượng lao động Mỗi năm, khoảng 1,5 triệu người gia nhập thị trường lao động, trong đó ít nhất 2/3 đến từ các vùng nông thôn.

Chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn vẫn tồn tại và có xu hướng gia tăng, nhưng sự phổ biến của thông tin qua các phương tiện truyền thông đã xóa nhòa ranh giới vật lý của “cổng làng” Thông tin về cuộc sống và cơ hội ở các khu vực đô thị phát triển đã tạo ra mong muốn thay đổi môi trường sống trong nhiều thanh niên nông thôn Khi mong muốn này đủ mạnh, cùng với sự lôi kéo từ bạn bè và người thân, di cư trở thành hiện thực Kết quả khảo sát cho thấy 65,4% phụ nữ di cư cân nhắc yếu tố mở rộng quan hệ xã hội khi quyết định di cư, cho thấy động cơ này gắn liền với mong muốn thay đổi môi trường sống.

Nhiều phụ nữ di cư có mong muốn ra ngoài xã hội để học hỏi và giao lưu với mọi người, với 37% trong số họ xem việc tìm kiếm bạn đời là một yếu tố quan trọng trước khi quyết định di cư Một phụ nữ tại Hải Phòng chia sẻ rằng bạn bè đã khuyến khích cô ra ngoài làm việc để có cơ hội thay đổi cuộc sống Hơn nữa, gần 64% phụ nữ di cư cho biết họ di cư để tích lũy kinh nghiệm xã hội và phát triển nghề nghiệp Một nữ công nhân trẻ tuổi cũng nhấn mạnh rằng cô muốn hoàn thiện bản thân thông qua việc học hỏi thêm.

17 tuổi) Hay như một nữ lao động khác cũng chia sẻ “Em muốn giao lưu, học hỏi thêm trong xã hội”

Nữ công nhân 18 tuổi tại Hải Phòng và TP.HCM chia sẻ rằng sau khi tốt nghiệp, nếu không đỗ đại học, họ mong muốn ra ngoài để học hỏi thêm kinh nghiệm.

TP Hồ Chí Minh là nơi nhiều phụ nữ di cư mong muốn học hỏi thêm về kinh nghiệm và nghề nghiệp, đồng thời thể hiện động cơ thay đổi môi trường sống của họ.

TíNH Dễ Bị TổN THưƠNG

CủA PHỤ Nữ DI Cư

TíNH Dễ Bị TổN THưƠNG CủA PHỤ Nữ DI Cư

CHíNH sáCH đốI vớI PHỤ Nữ DI Cư: THựC TRạNG vÀ MỘT số đề XuấT

Ngày đăng: 22/06/2023, 16:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức khác được gọi tắt là ‘nữ di cư lao động - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Hình th ức khác được gọi tắt là ‘nữ di cư lao động (Trang 12)
Bảng 2. 1. Phụ nữ di cư theo nhóm tuổi so với kết quả điều tra di cư 2004 (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 2. 1. Phụ nữ di cư theo nhóm tuổi so với kết quả điều tra di cư 2004 (%) (Trang 14)
Bảng 2. 3. Tình trạng hôn nhân của nữ lao động di cư (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 2. 3. Tình trạng hôn nhân của nữ lao động di cư (%) (Trang 15)
Bảng 2. 4. số con tại  thời điểm di cư lần đầu và hiện nay (người) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 2. 4. số con tại thời điểm di cư lần đầu và hiện nay (người) (Trang 15)
Bảng 2. 5. Cấp học cao nhất của lao động nữ di cư (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 2. 5. Cấp học cao nhất của lao động nữ di cư (%) (Trang 16)
Bảng 3. 1. Tìm việc trong thời gian nông nhàn (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 3. 1. Tìm việc trong thời gian nông nhàn (%) (Trang 19)
Bảng 3. 3. Lực đẩy do kiện tự nhiên khắc nghiệt và cơ sở hạ tầng yếu kém (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 3. 3. Lực đẩy do kiện tự nhiên khắc nghiệt và cơ sở hạ tầng yếu kém (%) (Trang 21)
Bảng 3. 4. Dễ tìm việc làm tại nơi đến (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 3. 4. Dễ tìm việc làm tại nơi đến (%) (Trang 21)
Bảng 3. 5. Thu nhập cao hơn tại nơi đến (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 3. 5. Thu nhập cao hơn tại nơi đến (%) (Trang 23)
Bảng 4. 3. Thời gian làm việc ngày thường và ngày cuối tuần (giờ) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 4. 3. Thời gian làm việc ngày thường và ngày cuối tuần (giờ) (Trang 29)
Bảng 4. 4. Các hình thức phân biệt đối xử hoặc xúc phạm nhân phẩm - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 4. 4. Các hình thức phân biệt đối xử hoặc xúc phạm nhân phẩm (Trang 30)
Bảng 4. 5. Tỷ lệ phụ nữ lao động di cư có BHXH - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 4. 5. Tỷ lệ phụ nữ lao động di cư có BHXH (Trang 31)
Bảng 4. 6. Tỷ lệ phụ nữ lao động di cư có BHyT - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 4. 6. Tỷ lệ phụ nữ lao động di cư có BHyT (Trang 31)
Bảng 4. 7. Loại hình nhà ở của phụ nữ lao động nhập cư (%) - Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Phụ Nữ Di Cư Trong Nước Hành Trình Gian Nan Tìm Kiếm Cơ Hội.pdf
Bảng 4. 7. Loại hình nhà ở của phụ nữ lao động nhập cư (%) (Trang 33)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w