Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã có những khái quát, phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nư
Trang 2Chịu trách nhiệm xuất bản
Q GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS ĐỖ QUANG DŨNG Biên tập nội dung:
LÊ MINH ĐỨC NGUYỄN MINH HUỆ NGUYỄN TRƯỜNG TAM
BÙI BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 4854-2020/CXBIPH/5-347/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 5613-QĐ/NXBCTQG, ngày 01/12/2020 Nộp lưu chiểu: tháng 12 năm 2020.
Mã ISBN: 978-604-57-6265-3.
Trang 4Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Các thành phần kinh tế Việt Nam: Vấn đề và định hướng chính sách/ Trần Đình Thiên (ch.b), Đỗ Thế Tùng, Bùi Tất Thắng…-H : Chính trị quốc gia, 2020 – 440tr; 24cm
Trang 7LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là chủ trương, chính sách nhất quán và lâu dài đã được Đảng ta đề ra từ Đại hội VI (tháng 12/1986) đến nay Đây là một luận điểm, một chính sách hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan, là quyết sách chiến lược đúng đắn, sáng tạo, góp phần vào “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” của đất nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã có những khái quát, phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đó là: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
Sau gần 35 năm đổi mới, từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa chế
độ sở hữu, hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh Mỗi chế độ sở hữu trong thực tiễn có thể có nhiều hình thức sở hữu mà ở đó sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và biểu hiện ra là các loại hình kinh doanh có hiệu quả cao đóng góp vào quá trình tăng trưởng kinh tế Sự phát triển đa dạng của các hình thức
sở hữu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất càng đa dạng, trình độ kinh tế - xã hội càng phát triển, quan hệ sản xuất càng mở rộng thì tính đa dạng trong quan hệ sở hữu cũng ngày càng tăng lên Vì vậy, Đảng ta đã khẳng định: Những nhận thức có giá
Trang 8trị định hướng trên đây cần được tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa phù hợp với từng giai đoạn phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đây là một bước tiến nhằm tạo một không gian mở cho quy luật về
sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hoạt động, để
có thể tránh giáo điều, chủ quan về số lượng, tỷ lệ các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp như trước đây.
Để có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc chuẩn bị các văn kiện Đại hội XIII của Đảng,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Các
thành phần kinh tế Việt Nam: Vấn đề và định hướng chính sách
(Sách tham khảo) của tập thể tác giả là các chuyên gia, nhà khoa học,
giảng viên và chuyên viên cao cấp về lý luận chính trị ở các viện, trường đại học trên cả nước, do PGS.TS Trần Đình Thiên làm chủ biên Cuốn sách là kết quả hoạt động khoa học trong khuôn khổ thực hiện đề tài
“Các thành phần kinh tế Việt Nam hiện nay: Thực trạng, xu hướng phát triển và định hướng chính sách” thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2016-2020, mã số: KX04/16-20 của Hội đồng Lý luận Trung ương
Nội dung cuốn sách bao gồm những bài viết tập trung làm rõ những thành công và triển vọng phát triển các thành phần kinh tế ở nước ta, nhất là trong thời kỳ đổi mới; khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo và liên tục phát triển cả về nhận thức, lý luận cũng như trong chỉ đạo và tổ chức thực tiễn xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong đó, nhiều bài viết đã phân tích, gợi mở nhiều vấn đề, kiến nghị nhiều giải pháp thiết thực và toàn diện, nhằm củng cố, nâng cao năng lực phản ứng chính sách, vượt qua những định kiến và thách thức mới, tạo đột phá thể chế, cải thiện môi trường đầu
tư theo hướng bình đẳng và lành mạnh, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực và tiềm năng kinh tế theo yêu cầu phát triển bền vững và nâng cao
vị thế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, do chủ đề của cuốn sách có nội dung rộng và luôn có
xu hướng vận động, hoàn thiện, khó có thể bao quát và cập nhật đầy
đủ, nên không tránh khỏi còn những hạn chế, thiếu sót Một số nhận định, kiến nghị giải pháp của các tác giả cần tiếp tục được nghiên cứu,
Trang 9trao đổi thêm Để bạn đọc thuận tiện theo dõi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xin giữ nguyên nội dung các bài viết đó và coi đây
là quan điểm riêng của tác giả Nhà xuất bản và các tác giả rất mong nhận được ý kiến của bạn đọc để hoàn thiện nội dung cuốn sách trong lần xuất bản sau.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 3 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 11Phần I
PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ:
LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
Trang 13THÀNH PHẦN KINH TẾ: LỊCH SỬ, QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN, TÁC ĐỘNG THỰC TIỄN VÀ NHẬN ĐỊNH - ĐỀ XUẤT
Ví dụ: Ở nước Anh màn mở đầu của sự đảo lộn đặt nền tảng cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã diễn ra trong ba mươi năm cuối thế kỷ XV và mấy thập kỷ đầu của thế kỷ XVI Nhưng phải đến thế kỷ XVIII, khi đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp, thì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới đứng vững trên cơ sở của bản thân nó, mới hoàn
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Trang 14toàn chiến thắng và thay thế phương thức sản xuất phong kiến Gần ba thế kỷ trên, chính là thời kỳ quá độ từ phương thức sản xuất phong kiến lên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở nước Anh.
Nhưng chính sự phát triển cao của chủ nghĩa tư bản lại tạo
ra những tiền đề để phủ định bản thân nó và một phương thức sản xuất mới sẽ ra đời mà C Mác và V.I Lênin gọi là phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước”, sau khi trích dẫn câu trong “Phê phán cương lĩnh Gôta” của
C Mác: “Nhưng những thiếu sót này không thể tránh khỏi
trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, là xã hội
vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa sau những cơn đau đẻ kéo dài”, V.I Lênin đã ghi chú bên lề: “Vậy là: I “những cơn đau
đẻ kéo dài” II “giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa” III “giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa””1 Hàm ý là từ
xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển cao tiến lên chủ nghĩa cộng sản gồm thời kỳ quá độ (cơn đau đẻ kéo dài), giai đoạn thấp (mà ngày nay gọi là chủ nghĩa xã hội) và giai đoạn cao
Nếu cách mạng vô sản thành công ở một nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển cao, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
đã tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, dựa trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, thì chính quyền cách mạng chỉ cần kế thừa những thành tựu đó để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ
Theo quá trình lịch sử tự nhiên, như nhận định của V.I Lênin: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.33,
tr.223
Trang 15độ nhất định Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy Thời
kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”1
Song tính quy luật chung không loại trừ những hình thức phát triển đặc thù của một số nước Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt mà cách mạng vô sản lại giành được thắng lợi ở một nước nông nghiệp lạc hậu thì giai cấp công nhân và nhân dân lao động sẽ đứng trước hai khả năng: hoặc là cho rằng lực lượng kinh tế không tương xứng với lực lượng chính trị thì không
nên giành chính quyền; hoặc là giai cấp công nhân phải lôi
cuốn tất cả nhân dân lao động nhằm củng cố chính quyền và
học tập chủ nghĩa tư bản để tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Nhưng, như nhận định của V.I Lênin:
“Không nghi ngờ gì nữa, ở một nước trong đó những người sản xuất - tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nước
tư bản phát triển trong đó công nhân làm thuê trong công nghiệp và nông nghiệp chiếm tuyệt đại đa số dân cư”2
Một trong những biện pháp quá độ là phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, không những gồm những thành phần thuộc kết cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa và mầm mống của chủ nghĩa xã hội mà cả những thành phần thuộc kết cấu kinh tế
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr.309-310.
2 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.68-69.
Trang 16tiền tư bản chủ nghĩa, như kinh tế tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa nhỏ
Không những thế “Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta, lại chia ra thành nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chính sách
là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ đó”1
Tùy từng hoàn cảnh cụ thể của mỗi bước quá độ nhỏ đó (mà ở nước ta gọi là chặng đường), thành phần kinh tế này hay thành phần kinh tế khác sẽ chiếm ưu thế
2 Mấy vấn đề về phương pháp phân định thành phần kinh tế
Có ý kiến cho rằng, không nên phân định thành phần kinh
tế, không nên chia tách rạch ròi kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước Bởi vì:
- Việc phân định đó không thể thực hiện được, khó xác định ranh giới rõ ràng, không phải là đại lượng đo đếm được nên không thể xếp mỗi doanh nghiệp vào một thành phần kinh tế nhất định
- Việc phân định thành phần kinh tế sẽ dẫn đến phân biệt đối xử, khiến các nhà kinh doanh tư nhân lo lắng, e ngại đầu tư
Cần phải phân định thành phần kinh tế vì trong thời kỳ quá độ từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội trình độ phát triển của lực lượng sản xuất rất khác nhau giữa các ngành, giữa các vùng và ngay cả giữa các đơn vị kinh
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, 2006, t.40, tr.119-120
Trang 17tế trong cùng một ngành hay cùng một vùng Tương ứng với các trình độ lực lượng sản xuất khác nhau ấy là những quan
hệ sản xuất khác nhau Ví dụ, mặc dù ở nước Nga Xôviết chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới một mức nhất định, nhưng khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội kinh tế tiểu nông vẫn chiếm ưu thế, nên V.I Lênin đã nhận xét: Nhìn kỹ vào nền kinh tế “Ít nhất là chúng ta thấy có năm chế độ kinh tế khác nhau, hay là năm kết cấu, năm hệ thống kinh tế khác nhau”1 Bởi vậy, phải phân định thành phần kinh tế mới hiểu được những đặc trưng cơ bản và xu hướng vận động của từng kết cấu kinh tế ấy để có chính sách phù hợp nhằm phát huy được tiềm lực của chúng vào phát triển kinh tế - xã hội
Không thể lấy cớ khó xác định ranh giới để phân đôi việc phân định thành phần kinh tế Trong đời sống hiện thực các thành phần kinh tế thường đan xen nhau, phải dựa vào những đặc trưng cơ bản nhất của mỗi đơn vị kinh tế mà xếp nó vào thành phần kinh tế này hoặc thành phần kinh tế khác để tìm
ra bản chất và quy luật vận động của mỗi thành phần kinh tế làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách kinh tế Chúng ta hãy so sánh với việc phân loại thực vật theo nhóm dựa trên
sự giống nhau về lá, về hoa, về rễ, về thân cây Trong thực tiễn không ít loài thực vật có lá giống nhóm này, nhưng rễ lại giống nhóm kia, và thân cây lại giống nhóm thứ ba, v.v Vì thế, chỉ có thể lựa chọn đặc trưng nổi trội nhất mà xếp nhóm chứ không thể xác định ranh giới tuyệt đối được, miễn sao cách sắp xếp ấy giúp chúng ta hiểu được quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu để vận dụng vào thực tiễn
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.187
Trang 18Có thể minh họa bằng sự so sánh kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa nhỏ với kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa lớn Tuy giống nhau là cùng thuộc sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nhưng kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa nhỏ là sản xuất hàng hóa giản đơn, vận động theo công thức hàng - tiền - hàng, dựa trên cơ sở sở hữu nhỏ và sử dụng lao động của bản thân người sản xuất, mục tiêu chủ yếu vẫn hướng vào giá trị sử dụng; còn kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa lớn là sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, vận động theo công thức tiền - hàng - tiền, dựa trên cơ sở sở hữu lớn và sử dụng lao động làm thuê nhằm mục tiêu thu lợi nhuận Mỗi loại kinh tế tư nhân trên có xu hướng vận động riêng, đòi hỏi có chính sách phù hợp, nên cần phân định thành hai thành phần kinh tế tách biệt
Cũng không phải việc phân định thành phần kinh tế sẽ dẫn đến chỗ phân biệt đối xử khiến các nhà kinh doanh tư nhân lo lắng, e ngại đầu tư Chính vì không thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, không phân định các thành phần kinh tế, nên chúng ta đã không nhận rõ vai trò của kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Từ
đó đã nảy sinh tâm lý lo sợ sự phát triển tự phát lên chủ nghĩa
tư bản, cản trở định hướng xã hội chủ nghĩa, mà trước khi đổi mới đã nóng vội xóa bỏ kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân để xác lập ngay chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức toàn dân và tập thể Đó là một trong những nguyên nhân kìm hãm lực lượng sản xuất, dẫn đến trì trệ và lâm vào khủng hoảng kinh tế cuối những năm 80 của thế kỷ XX Lại có một số người băn khoăn: không nên gọi là thành phần kinh tế mà nên gọi là khu vực kinh tế
V.I Lênin đã dùng nhiều từ như thành phần, kết cấu, mảnh, bộ phận, chế độ kinh tế, v.v Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 19cũng có khi dùng “thành phần kinh tế”1, có khi lại dùng từ
“loại kinh tế”2 Vấn đề quan trọng hàng đầu là nêu ra khái niệm như thế nào để khái niệm đó phản ánh đúng các kết cấu kinh tế tồn tại khách quan trong thực tiễn để có chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh
và lành mạnh; còn việc gọi là thành phần, khu vực, bộ phận, hay loại, v.v đều được Nhưng trong khoa học cũng như trong cuộc sống nên dùng những từ ngữ đã quen thuộc để dễ chuyển thông tin đến mọi người hơn Bởi vậy, theo sự nghiên cứu của chúng tôi, vẫn nên dùng từ “thành phần kinh tế” vì đã được sử dụng trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, trong các sách giáo khoa, trong sách, báo, trên các phương tiện truyền thông đại chúng hàng mấy thập kỷ rồi
Khi phân định thành phần kinh tế, V.I Lênin nhấn mạnh hai điểm: phải phản ánh đúng tình hình thực tế và nêu rõ mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế
3 Tìm hiểu cách phân định thành phần kinh tế của V.I Lênin ở nước Nga Xôviết
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, ban đầu V.I Lênin tưởng rằng có thể trực tiếp tiến lên chủ nghĩa
xã hội bằng cách đẩy mạnh quốc hữu hóa và tịch thu tài sản của các giai cấp bóc lột Nhưng qua thực tiễn, Người đã nhận thấy phải học tập chủ nghĩa tư bản nhà nước để đẩy mạnh xã hội hóa sản xuất mới có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trong tác phẩm “Về bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản” viết năm 1918, V.I Lênin đã nhận định: Hôm qua mấu
1, 2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2011, t.8, tr.266, 293.
Trang 20chốt của thời cuộc là làm sao thực hành quốc hữu hóa, tịch thu, đánh và đánh gục giai cấp tư sản, đập tan sự phá hoại ngầm một cách càng kiên quyết càng hay Còn hôm nay thì chỉ có những người mù mới không nhìn thấy rằng chúng ta đã quốc hữu hóa, đã tịch thu, đã đánh đổ, đã đập tan nhiều hơn là kịp tính toán Mà xã hội hóa khác với tịch thu giản đơn chính
là ở chỗ tịch thu chỉ cần có tính kiên quyết, không cần biết tính toán một cách đúng đắn cũng được, còn xã hội hóa mà không biết làm điều đó thì không xong
Những người cộng sản cánh tả phê phán V.I Lênin là hữu khuynh, là phản lại chủ nghĩa xã hội vì Người đã coi chủ nghĩa
tư bản nhà nước là một bước tiến so với tình hình lúc bấy giờ ở nước Nga V.I Lênin phân tích: Danh từ nước Cộng hòa Xôviết
xã hội chủ nghĩa có nghĩa là chính quyền Xôviết quyết tâm thực hiện chuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không
có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế mới là chế độ xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế Nga Xôviết vẫn mang tính chất quá
độ, có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội Song không phải những người thừa nhận điều đó đều suy nghĩ xem các thành phần của kết cấu kinh tế - xã hội khác nhau ấy là như thế nào? Mà tất cả then chốt của vấn đề lại chính là ở chỗ đó
Và V.I Lênin đã kể ra những thành phần sau:
1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn
có tính chất tự nhiên;
2) Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì);
3) Chủ nghĩa tư bản tư nhân;
4) Chủ nghĩa tư bản nhà nước;
Trang 215) Chủ nghĩa xã hội.
Trong tác phẩm “Báo cáo về thuế lương thực” viết năm
1921, V.I Lênin lại nhắc lại, “ đứng về mặt quan hệ kinh tế thực tế mà nhìn kỹ xem chúng ta thấy gì ở nước Nga? Ít nhất
là chúng ta thấy có năm chế độ khác nhau, hay là năm kết cấu, năm hệ thống kinh tế khác nhau; nếu tính từ dưới lên trên thì như sau: thứ nhất là kinh tế gia trưởng, đó là nền kinh tế nông dân tự cung tự cấp, hoặc là ở trong trạng thái du cư hoặc nửa
du cư, - số này ở nước ta nhiều vô kể; thứ hai là kinh tế hàng hóa nhỏ, nó bán sản phẩm trên thị trường; thứ ba là kinh tế
tư bản, đó là sự xuất hiện của các nhà tư bản, của tư bản tư nhân không lớn lắm; thứ tư là chủ nghĩa tư bản nhà nước và thứ năm là chủ nghĩa xã hội”1
Sự phân định các thành phần kinh tế trên được sắp xếp từ thấp lên cao theo quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển lực lượng sản xuất, phản ánh đúng tình hình nước Nga khi ấy
3.1 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tự nhiên
Dưới chế độ kinh tế tự nhiên, xã hội là do những đơn vị kinh tế thuần nhất (các gia đình nông dân gia trưởng, các công
xã nông thôn nguyên thủy, các lãnh địa phong kiến) hợp thành
và mỗi đơn vị ấy làm đủ mọi loại công việc kinh tế, kể từ khai thác các loại nguyên liệu khác nhau cho đến chế biến xong các nguyên liệu đó thành những sản phẩm tiêu dùng
Sự trao đổi sản phẩm giữa các gia tộc, thị tộc và cộng đồng, mầm mống của kinh tế hàng hóa đã phát sinh từ cuối chế độ công xã nguyên thủy, nhưng nhìn chung trong các chế độ kinh
tế trước chủ nghĩa tư bản chủ yếu vẫn là nền kinh tế tự nhiên,
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.187-188.
Trang 22tự cung tự cấp Phân tích sâu hơn, những đặc trưng cơ bản của
kinh tế tự nhiên là:
3.1.1 Sự phân công lao động mang tính chất tự nhiên
Phát sinh từ những sự khác nhau về giới tính, về tuổi tác, tức là trên cơ sở thuần túy sinh lý Ví dụ: đàn ông săn bắn, đánh cá , đàn bà chăm sóc việc nhà Hay là đàn ông đi cày, đàn bà đi cấy
Hầu hết dân cư trong xã hội này là nông dân Họ làm mọi công việc đồng áng nhờ vào lao động trong gia đình của họ
Ở đây, nghề thủ công vẫn gắn bó với nông nghiệp Việc sản xuất chủ yếu đáp ứng trực tiếp nhu cầu của bản thân mỗi đơn
vị kinh tế, chỉ có ít sản phẩm thừa ra mới được đem trao đổi Những người sản xuất hầu như biệt lập với nhau
3.1.2 Lực lượng sản xuất lạc hậu
Tư liệu sản xuất là những công cụ cầm tay, thô sơ chỉ thích ứng với việc sử dụng của từng cá nhân riêng lẻ Vì vậy, hiệp tác và phân công lao động xã hội rất kém phát triển Kỹ thuật sản xuất lạc hậu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cổ truyền, rất
ít cải tiến kỹ thuật, nên năng suất lao động rất thấp Quy mô sản xuất nhỏ hẹp, manh mún, tư liệu sản xuất phân tán, hạn chế sự phát triển sức sản xuất của lao động
3.1.3 Tái sản xuất giản đơn là chủ yếu
V.I Lênin đã nhận xét: “ quy luật của những phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là tái diễn quá trình sản xuất theo một quy mô như cũ, trên một cơ sở kỹ thuật như cũ Với những phương thức sản xuất cũ thì các đơn vị kinh tế
có thể tồn tại hàng thế kỷ mà không hề thay đổi tính chất và phạm vi, không hề vượt ra ngoài giới hạn của lãnh địa địa chủ, của xóm làng hay của cái chợ lân cận nhỏ bé dành cho những
Trang 23thợ thủ công nông thôn và những người tiểu chủ (gọi là thợ thủ công làm ở nhà)”1.
3.1.4 Cơ cấu ngành kinh tế đơn điệu
Chủ yếu là nông nghiệp độc canh, trước hết là cây lương thực, nghề thủ công kém phát triển và chăn nuôi (không kể các bộ lạc du mục) hầu như chưa tách khỏi trồng trọt, gắn với nghề nông như là kinh tế phụ gia đình, loại trừ tính nhiều vẻ của sản xuất Tuyệt đại bộ phận lao động làm nông nghiệp, hầu hết dân cư ở nông thôn
3.1.5 Phân phối mang nặng tính chất bình quân
Do năng suất lao động thấp, sản phẩm thặng dư rất ít, nên phân phối mang nặng tính chất bình quân Trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến tuy đã có sự chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp chủ nô và các chúa phong kiến với tầng lớp nô lệ và nông nô, nhưng sự phân hóa hai cực vẫn còn rất hạn chế
Sự phát triển phân công lao động xã hội đã từng bước thúc đẩy kinh tế tự nhiên chuyển lên kinh tế hàng hóa
3.2 Những đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hóa nhỏ (hay sản xuất hàng hóa giản đơn)
Trong kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất chuyên làm
ra một thứ hay một vài thứ sản phẩm nhất định, do đó muốn thỏa mãn nhu cầu về nhiều mặt thì phải trao đổi sản phẩm (vì vậy, sản phẩm trở thành hàng hóa) trên thị trường Sản xuất hàng hóa nhỏ có những đặc trưng cơ bản sau đây:
3.2.1 Phân công lao động xã hội từng bước phát triển
Phân công lao động xã hội là cơ sở của sản xuất hàng hóa, bao gồm phân công lao động chung, tức là chia lao động vào
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.62-63.
Trang 24các ngành lớn như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phân công lao động đặc thù, nghĩa là phân chia lao động trong từng ngành thành những ngành nhỏ, như công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến Trong nông nghiệp thì chia ra trồng trọt và chăn nuôi Trong dịch vụ có dịch vụ phục vụ sản xuất, dịch vụ phục vụ tiêu dùng Mỗi phân ngành nhỏ đó sản xuất
ra một loại sản phẩm đem trao đổi với sản phẩm của các ngành khác Như vậy, kinh tế hàng hóa phát triển đưa tới chỗ làm tăng thêm số lượng các ngành riêng biệt và độc lập Xu hướng của sự phát triển này là biến việc sản xuất không những từng sản phẩm riêng mà cả việc sản xuất từng bộ phận riêng của sản phẩm, thậm chí từng thao tác trong việc chế biến sản phẩm thành một ngành riêng biệt Ví dụ: trong ngành đóng
xe ngựa, ra đời những đơn vị chuyên sản xuất vành bánh xe, hay chuyên sản xuất nan hoa, còn ổ trục lại được sản xuất tại một đơn vị khác Cơ sở lắp ráp xe ngựa phải mua tất cả các
bộ phận riêng lẻ đó Kết quả là sự trao đổi không những diễn
ra giữa sản phẩm nông nghiệp với sản phẩm công nghiệp, mà còn diễn ra cả giữa các sản phẩm công nghiệp hay giữa các sản phẩm nông nghiệp với nhau nữa Dưới chế độ kinh tế hàng hóa, những đơn vị kinh tế không thuần nhất được hình thành,
số lượng những đơn vị kinh tế thực hiện một chức năng giống sau giảm xuống
3.2.2 Người sản xuất hàng hóa nhỏ đồng thời là người chủ sở hữu (hay chủ chiếm hữu) tư liệu sản xuất và trực tiếp kết hợp sức lao động của mình (và của những người trong gia đình) với tư liệu sản xuất đó để làm ra sản phẩm
Quy mô sở hữu nhỏ, phân tán, thiếu điều kiện để hợp tác lao động và không phát huy được sức sản xuất xã hội của lao động, vẫn chủ yếu dựa trên cơ sở lao động riêng lẻ
Trang 25Chế độ tư hữu nhỏ trở thành giới hạn đối với sản xuất Việc ứng tiền ra mua hay thuê ruộng đất đã hạn chế khoản đầu tư vào thâm canh, trở ngại cho việc canh tác hợp lý, duy trì và cải thiện chất đất Tuy người sản xuất đã quan tâm cải tiến kỹ thuật nhưng lao động thủ công vẫn là chủ yếu, bởi vậy năng suất lao động nhìn chung vẫn thấp Thêm vào đó là nạn cho vay nặng lãi và thuế khóa làm cho các điều kiện sản xuất ngày càng xấu đi Những năm được mùa lại là một sự rủi ro cho tiểu nông, vì nông sản rớt giá khiến người sản xuất thu nhập thấp, không đủ hoàn lại chi phí đã bỏ ra.
3.2.3 Sản xuất đã hướng vào giá trị trao đổi, tức là để bán, nhưng mục đích cuối cùng vẫn là giá trị sử dụng
Sản xuất hàng hóa giản đơn vận động theo công thức hàng - tiền - hàng Những người sản xuất hàng hóa nhỏ gặp được những điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn hay gặp cơ hội kinh doanh phát đạt cũng có thể thu được giá trị thặng dư Họ đã
tự tạo ra giá trị thặng dư và nhờ chỗ họ là người sở hữu các tư liệu sản xuất nên giá trị thặng dư đó rơi vào tay họ Nhưng sản xuất giá trị thặng dư không phải là quy luật tuyệt đối của sản xuất hàng hóa nhỏ Những nhận xét của C Mác về người tiểu nông có thể coi là đúng với mọi người sản xuất hàng hóa nhỏ: “Đối với người nông dân có một mảnh đất nhỏ, giới hạn kinh doanh, một mặt không phải là lợi nhuận trung bình của
tư bản, chừng nào bản thân anh ta là một nhà tư bản nhỏ; và mặt khác, giới hạn đó cũng không phải là sự cần thiết phải nộp địa tô, chừng nào người nông dân vẫn còn là kẻ sở hữu ruộng đất Với tư cách là một nhà tư bản nhỏ, giới hạn tuyệt đối duy nhất là tiền công mà anh ta tự trả cho mình, sau khi đã trừ các chi phí theo đúng nghĩa của danh từ đó đi Chừng nào giá cả của sản phẩm còn đem lại tiền công ấy cho anh ta thì anh ta
Trang 26vẫn sẽ còn canh tác mảnh đất của mình”1 “Vậy, để cho người tiểu nông có thể canh tác ruộng đất của mình , không nhất thiết là giá cả thị trường phải lên tới mức giá trị của sản phẩm hoặc giá cả sản xuất của sản phẩm của người tiểu nông Đó
là một nguyên nhân làm cho giá cả ngũ cốc trong những nước
mà chế độ sở hữu ruộng đất nhỏ chiếm địa vị thống trị, thường thấp hơn so với những nước có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Một bộ phận lao động thặng dư của những nông dân làm việc trong những điều kiện bất lợi nhất, được biếu không cho xã hội Do đó, giá cả thấp ấy là hậu quả của sự bần cùng của những người sản xuất, chứ quyết không phải là kết quả của năng suất lao động của họ”2
Khi chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa thì sản xuất hàng hóa nhỏ là động lực thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, nhưng đến một trình độ nhất định, sản xuất hàng hóa nhỏ lại bộc lộ các nhược điểm, kìm hãm sự phát triển
lực lượng sản xuất nên xuất hiện hai xu hướng: Hoặc là, dưới
tác động của quy luật giá trị sẽ phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ thành hai cực Một số người có ưu thế trong cạnh tranh, thu được lợi nhuận siêu ngạch, ngày càng giàu lên
và trở thành những nhà tư bản Đa số những người khác yếu thế bị thua thiệt, thậm chí bị phá sản, không còn tư liệu sản xuất, chỉ còn làm chủ sức lao động của mình, buộc phải bán sức lao động ấy để kiếm sống Kết quả là sản xuất hàng hóa
tư bản chủ nghĩa ra đời, thay thế sản xuất hàng hóa giản đơn
Hoặc là, những người sản xuất hàng hóa nhỏ tự nguyện liên
kết với nhau dưới những hình thức hợp tác thích hợp để sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nhờ đó có thể tồn tại và phát triển
1, 2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội, 1994, t.25, ph.II, tr.521-522, 522-523.
Trang 27Không phải sản xuất hàng hóa nhỏ sẽ hoàn toàn biến mất trong xã hội tư sản hiện đại, vì có những lĩnh vực mà sản xuất nhỏ có thể cạnh tranh được với sản xuất hàng hóa lớn nhưng nhìn chung, như nhận xét của C Cauxky về tiểu nông rằng: tiểu nông tồn tại được bên cạnh sản xuất hàng hóa lớn không phải là nhờ vào một năng suất lao động cao hơn mà là nhờ vào mức tiêu dùng thấp C Cauxky đã dẫn ra những tài liệu cực kỳ có ý nghĩa và quan trọng để chứng minh “một sự lao động quá độ và một mức tiêu dùng không đầy đủ trong nền sản xuất nhỏ”1.
Có người lầm tưởng rằng, phải duy trì sản xuất hàng hóa nhỏ (tiểu nông, thợ thủ công và người làm dịch vụ cá thể) vì trong kinh tế thị trường hiện đại đang diễn ra xu hướng phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhưng những doanh nghiệp nhỏ và vừa ấy không phải là những đơn vị sản xuất hàng hóa nhỏ, lạc hậu, manh mún, tiền tư bản chủ nghĩa, như những củ khoai tây trong một bì khoai tây, mà là những doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong hệ thống phân công xã hội hiện đại của sản xuất hàng hóa lớn, tham gia chuỗi giá trị của sản phẩm trong từng ngành, thậm chí trên toàn cầu Ví dụ: ở Nhật Bản, một cuộc điều tra của MITI (Bộ Công nghiệp
và Thương mại) về quan hệ giữa hãng chế tạo ôtô lớn nhất với các hãng nhận gia công của nó cho thấy: 168 hãng nhận gia công cấp một là những doanh nghiệp lớn, 4.700 hãng nhận gia công cấp hai là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, 31.600 hãng nhận gia công cấp ba là những doanh nghiệp nhỏ hơn2
1 Xem V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.140, 149.
2 Xem Yasusuke Murakami và Hugh T Patric (tổng chủ biên): Kinh
tế chính trị học Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội, Viện Kinh tế thế giới,
Hà Nội, 1991, t.4, tr.162.
Trang 28Nếu cứ duy trì sản xuất hàng hóa nhỏ, phân tán, manh mún thì không thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, không thể thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, không thể cải thiện đời sống của người lao động.Sản xuất hàng hóa nhỏ tất yếu phải chuyển lên sản xuất hàng hóa lớn tư bản chủ nghĩa.
3.3 Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản
tư nhân
3.3.1 Kinh tế tư bản tư nhân là kinh tế thị trường, vận động theo công thức tiền - hàng - tiền, nhằm mục tiêu thu giá trị thặng dư (hay lợi nhuận) Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Khi nghiên cứu tuần hoàn của tư bản công nghiệp, C Mác
đã nhận xét: “Một trong những đặc điểm rõ rệt nhất của quá trình tuần hoàn của tư bản công nghiệp, và do đó, cũng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa, là: một mặt, những yếu tố cấu thành tư bản sản xuất, đều phải do thị trường hàng hóa cung cấp, và phải không ngừng được đổi mới nhờ thị trường hàng hóa, tức là không ngừng phải được mua vào với tư cách
là hàng hóa; và mặt khác, sản phẩm của quá trình lao động
đi ra khỏi quá trình ấy với tư cách là hàng hóa, và phải không ngừng lại được đem bán ra với tư cách là hàng hóa Ví dụ, chúng ta hãy thử so sánh một người phécmiê cận đại xứ Hạ Xcốtlen với một người tiểu nông kiểu cũ trên đại lục châu Âu Người phécmiê bán toàn bộ sản phẩm của mình, và vì vậy trên thị trường phải hoàn lại tất cả các yếu tố sản xuất của anh ta, cho đến cả hạt giống nữa; còn người tiểu nông thì tiêu dùng trực tiếp đại bộ phận sản phẩm của mình; anh ta mua và bán
Trang 29càng ít càng tốt, và trong chừng mực có thể, anh ta còn tự chế tạo lấy công cụ lao động, quần áo, v.v ”1.
Như vậy, người tiểu nông đã có sản xuất và tiêu thụ một
bộ phận hàng hóa trên thị trường, nhưng chưa phải là kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa của người phécmiê mới là kinh
tế thị trường
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của kinh tế
tư bản chủ nghĩa, tức là phải thu được giá trị thặng dư (biểu hiện ra bên ngoài là lợi nhuận) thì nhà tư bản mới đầu tư, hoặc
là phải dự báo sẽ thu được lợi nhuận thích đáng thì nhà tư bản mới đầu tư Nếu không còn khả năng thu lợi nhuận, thậm chí thua lỗ, thì họ đình chỉ kinh doanh ngay
3.3.2 Phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng, do đó không ngừng mở rộng thị trường
Phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng không những giữa các ngành mà cả trong nội bộ từng ngành và còn vượt cả biên giới quốc gia hình thành phân công lao động quốc
tế Phân công lao động quốc tế nảy sinh từ thế kỷ XVI cùng với những phát kiến về địa lý và được thúc đẩy mạnh mẽ bởi
sự phát triển nhảy vọt của các phương tiện giao thông vận tải
và xuất khẩu tư bản trong cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ thế kỷ XX càng thúc đẩy phân công lao động quốc tế lên một giai đoạn mới dẫn tới xu hướng toàn cầu hóa Trình độ chuyên môn hóa sản xuất
do phân công lao động xã hội càng phát triển thì thị trường càng mở rộng, quy mô của thị trường gắn với trình độ chuyên môn hóa của lao động xã hội; thị trường mở rộng vượt biên giới quốc gia, hội nhập vào thị trường thế giới
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.24, tr.176.
Trang 30Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C Mác và
Ph Ăngghen đã nhận định: “ giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới Những ngành công nghiệp dân tộc cũ đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt Những ngành công nghiệp dân tộc
bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, tức là những ngành công nghiệp mà việc du nhập chúng trở thành một vấn
đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong xứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa Thay cho những nhu cầu cũ được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền
và xứ xa xôi nhất về Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”1
3.3.3 Tăng lực lượng sản xuất của lao động xã hội và xã hội hóa lao động
Hiệp tác lao động là khởi điểm lịch sử và lôgíc của sản xuất
tư bản chủ nghĩa Tuần tự trải qua ba giai đoạn, từ hiệp tác lao động giản đơn, lên hiệp tác có phân công trong công trường thủ công, rồi lên đại công nghiệp cơ khí, sản xuất tư bản chủ nghĩa trải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng sức lao động và cách mạng kỹ thuật Nhờ đó, sức sản xuất của lao động tăng vọt, lao động thủ công được thay bằng lao động sử dụng máy móc
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.601-602.
Trang 31V.I Lênin nhận định: “Vai trò tiến bộ của chủ nghĩa tư bản về mặt lịch sử có thể tóm tắt bằng hai luận điểm: tăng lực lượng sản xuất của lao động xã hội và xã hội hóa lao động”1 Người đã tổng hợp lại: xã hội hóa lao động trong chủ nghĩa tư bản biểu hiện trong những quá trình sau đây:
Một là, sự phát triển của sản xuất hàng hóa đã chấm dứt
tình trạng phân tán - một tình trạng mà chỉ riêng kinh tế tự nhiên mới có - của những đơn vị kinh tế nhỏ và đã tập hợp các thị trường nhỏ địa phương thành một thị trường lớn trong toàn quốc (và sau đó trên toàn thế giới) Sản xuất cho mình biến thành sản xuất cho toàn xã hội
Xã hội hóa không chỉ biểu hiện ở sự tập trung đông công nhân làm việc cùng một nơi, mà còn ở sự tích tụ tư bản kèm theo sự chuyên môn hóa lao động xã hội, sự giảm bớt số lượng các nhà tư bản trong từng ngành công nghiệp nhất định và sự tăng thêm số lượng những ngành công nghiệp riêng biệt Đó
là nhiều quá trình phân tán của sản xuất nhập lại thành một quá trình sản xuất xã hội duy nhất Ví dụ: trong thời kỳ dệt vải thủ công, những người sản xuất nhỏ tự mình trồng bông,
tự mình kéo sợi, rồi tự mình dệt vải (ngành trồng bông, ngành kéo sợi và ngành dệt vải nhập làm một) Khi xã hội hóa sản xuất thì ngành trồng bông riêng, ngành kéo sợi riêng, ngành dệt vải riêng, từ đó lại nảy sinh những ngành công nghiệp mới, như ngành chế tạo máy, ngành khai thác than v.v., nhưng mối liên hệ giữa những người sản xuất ngày càng được củng cố thêm và kết thành một khối Những người sản xuất nhỏ trước kia làm riêng lẻ, mỗi người đảm đương nhiều công việc, do đó họ tương đối độc lập với nhau theo kiểu ai lo
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.753-754.
Trang 32phận nấy Còn khi đã xã hội hóa lao động thì chủ xưởng dệt vải phụ thuộc chủ xưởng kéo sợi, chủ xưởng kéo sợi lại phụ thuộc chủ đồn điền trồng bông hay trồng lanh Các chủ xưởng trên lại phụ thuộc vào chủ xưởng chế tạo máy, chủ mỏ than, v.v Trong chế độ này, mỗi người làm việc cho tất cả, và tất cả làm việc cho mỗi người.
Trong sản xuất nhỏ, phân tán, nếu công việc bị ngừng lại trong một xí nghiệp nào đó cũng chỉ ảnh hưởng đến một số nhỏ những thành viên của xã hội thôi, không gây ra tình trạng hỗn loạn chung Nhưng trong bối cảnh xã hội hóa lao động, một
sự ngừng trệ xảy ra trong một xí nghiệp lớn thuộc một ngành công nghiệp đã chuyên môn hóa rất cao thì sẽ khiến cho các
xí nghiệp khác phải ngừng việc, vì những xí nghiệp này chỉ có thể sản xuất ra hàng hóa của mình khi nhận được hàng hóa của xí nghiệp nói trên Như vậy, các ngành sản xuất hợp lại thành một quá trình sản xuất xã hội duy nhất
Hai là, thay vào tình trạng phân tán trước kia, chủ nghĩa
tư bản đã tạo ra một sự tập trung sản xuất chưa từng thấy, trong nông nghiệp cũng như trong công nghiệp
Khi phát triển đến một trình độ nhất định thì nền sản xuất nhỏ dựa trên lao động của bản thân người trực tiếp sản xuất sẽ tạo ra những cơ sở vật chất để tự tiêu diệt, biến những công cụ sản xuất cá nhân và phân tán thành những tư liệu sản xuất tập trung Cạnh tranh đã dẫn đến tình hình một số nhà
tư bản tước đoạt nhiều nhà tư bản nhỏ, yếu và song song với sự tích tụ, tập trung tư bản thì hình thức hợp tác của quá trình lao động cũng phát triển theo những quy mô ngày càng lớn.Sau khi sản xuất lớn thay thế sản xuất nhỏ thì sẽ có nhiều cải tiến, lao động chung cho phép sử dụng máy móc, làm cho hiệu suất lao động tăng lên gấp bội V.I Lênin đã nhắc lại
Trang 33quan điểm của C Mác về nhược điểm của sản xuất nhỏ trong nông nghiệp như loại trừ sự phát triển sức sản xuất xã hội của lao động, loại trừ sự tích tụ xã hội của tư bản, việc chăn nuôi quy mô lớn, việc áp dụng khoa học mỗi ngày một tăng Việc cải tiến không ngừng về kỹ thuật dẫn đến tình trạng nền sản xuất nhỏ ngày càng bị nền sản xuất lớn loại trừ.
Việc xã hội hóa lao động ngày càng tiến nhanh thêm dưới muôn vàn hình thức và trong nửa thế kỷ từ khi C Mác mất đã biểu hiện đặc biệt rõ ràng ở sự phát triển của đại công nghiệp, của những cácten, xanhđica, tơrớt tư bản chủ nghĩa và cả ở sự phát triển ghê gớm của quy mô và thế lực tư bản tài chính - đấy là cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời không thể tránh khỏi của chủ nghĩa xã hội
Ba là, chủ nghĩa tư bản đẩy lùi những hình thức lệ thuộc
cá nhân, là những hình thức vốn có trong các chế độ kinh tế cũ
So với lao động của người nông dân bị lệ thuộc hay bị nô dịch, thì lao động của người công nhân làm thuê tự do trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân là một hiện tượng tiến bộ Công nghiệp cơ khí không những làm cho lực lượng sản xuất tăng lên và làm cho lao động được xã hội hóa trong toàn xã hội, mà còn phá hủy lối phân công lao động của công trường thủ công, phá vỡ hoàn toàn những quan hệ lạc hậu kiểu gia trưởng, nhất
là ở nông thôn
Đem chế độ lao động làm thuê tự do thay cho chế độ lao dịch là một công lao lịch sử to lớn của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản đã xã hội hóa sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp
từ chỗ là một đặc quyền của một đẳng cấp bên trên hay là một thứ khổ dịch của một đẳng cấp bên dưới, bây giờ đã trở thành một nghề công thương nghiệp thông thường Sản phẩm lao động của nông dân đã trở thành đối tượng cho xã hội tính toán
Trang 34ở trên thị trường Nghề nông thuần nhất và thủ cựu đã trở thành một ngành nông nghiệp thương phẩm với nhiều hình thức khác nhau được cải tiến về mặt kỹ thuật, tính biệt lập địa phương và tính chất phân tán của tiểu nông đi đến chỗ bị tiêu diệt, các hình thức nô dịch khác nhau và lệ thuộc về thân thế đã nhường chỗ cho những sự giao dịch không có tính chất ràng buộc về thân thế trong việc bán và mua sức lao động Tất
cả những sự việc đó đều là những mắt xích của cùng một quá trình đang xã hội hóa lao động nông nghiệp
Bốn là, chủ nghĩa tư bản tất nhiên tạo ra tình trạng lưu
động của dân cư mà các chế độ kinh tế - xã hội cũ không cần
có và ở vào những thời kỳ ấy thì tình trạng lưu động đó cũng không thể tồn tại một cách khá rộng rãi được
Lao động dôi dư trong nông nghiệp rời bỏ xóm làng đi tìm việc ở các khu công nghiệp và đô thị Mặt khác, do sự phát triển không đều giữa các vùng, nên mức sinh hoạt của người dân trong những vùng khó khăn rất thấp, thúc đẩy họ di chuyển đến những vùng phát triển cao hơn, đời sống được cải thiện hơn Những vùng chăn nuôi quy mô lớn hay trồng cây công nghiệp tập trung cũng phải tuyển thêm công nhân từ nơi khác đến Có hiện tượng trái ngược là ở một số nơi nông dân rời làng để chuyển sang làm việc ở khu công nghiệp hay đô thị nhiều quá đến mức lại thiếu nhân công làm ruộng, buộc phải thuê những người lao động từ nơi khác đến làm công việc đồng áng Đấy là chưa kể việc tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, từ vùng này sang vùng khác, cũng đòi hỏi nhân công được tự do lưu động theo
Năm là, chủ nghĩa tư bản thường xuyên làm giảm bớt tỷ lệ
của số dân cư làm nghề nông (trong nông nghiệp bao giờ những
Trang 35hình thức quan hệ kinh tế và xã hội lạc hậu nhất cũng giữ địa
vị thống trị) và làm tăng thêm số trung tâm công nghiệp lớn.Nông nghiệp càng chuyên môn hóa thì nhân khẩu nông nghiệp càng giảm xuống và chiếm một tỷ lệ ngày càng ít hơn trong tổng số nhân khẩu Kỹ thuật càng tiến bộ thì sự tăng lên của mức cầu về sức lao động càng chậm hơn so với sự tăng lên của mức cung về sức lao động Năng suất lao động tăng lên thể hiện ở việc giảm bớt khối lượng lao động so với khối lượng tư liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động Hệ quả là giảm sút lượng cầu về lao động Bởi vậy, việc ứng dụng
kỹ thuật tiên tiến vào nông nghiệp tất yếu dẫn đến dôi dư lao động, đòi hỏi phải chuyển sang các lĩnh vực phi nông nghiệp
Sáu là, xã hội tư bản chủ nghĩa làm cho dân cư ngày càng
thấy cần phải lập hội, kết đoàn và làm cho các tổ chức liên hiệp ấy có một tính chất riêng biệt, khác với các tổ chức liên hiệp trong những thời kỳ trước Trong khi phá vỡ các hiệp hội có tính chất phường hội địa phương và chật hẹp của xã hội trung cổ, trong khi tạo ra sự cạnh tranh gay gắt, thì đồng thời chủ nghĩa tư bản cũng phân chia xã hội thành những tập đoàn lớn gồm những người có địa vị khác nhau trong sản xuất
và thúc đẩy mạnh mẽ nội bộ mỗi tập đoàn ấy đi đến chỗ liên hiệp nhau lại
Đại công nghiệp cơ khí đã xã hội hóa lao động không chỉ trong phạm vi một công xã hay một nghiệp đoàn nào đó, mà trong phạm vi toàn quốc và thậm chí ngoài phạm vi một quốc gia Chủ nghĩa tư bản phá vỡ những mối liên hệ trung cổ của công xã nông thôn, của phường hội và thay thế bằng những mối liên hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, mối liên hệ
do thị trường xác lập nên; mối liên hệ này buộc tất cả các phần
tử và giai cấp riêng biệt của xã hội phải tìm cách liên hiệp
Trang 36nhau lại, sự liên hiệp của tất cả các đại biểu cùng một giai cấp của toàn bộ quốc gia và của nhiều nước Ví dụ: do công nghiệp hóa không những tăng sức mạnh của giai cấp công nhân trong công nghiệp và dịch vụ, mà còn hình thành lực lượng công nhân trong nông nghiệp nữa Nhờ đánh bại sản xuất nhỏ, nâng cao năng suất lao động đã tạo ra địa vị độc quyền cho những liên minh của các nhà tư bản lớn Bản thân sản xuất ngày càng được xã hội hóa - hàng chục vạn và hàng triệu công nhân gắn chặt với nhau thành một cơ thể kinh tế có kế hoạch.
Bảy là, hết thảy mọi sự thay đổi mà chủ nghĩa tư bản gây
ra tất nhiên đưa đến chỗ làm thay đổi bộ mặt tinh thần của dân cư, thay đổi sâu sắc trong chính ngay tính chất của những người sản xuất Đời sống vật chất và tinh thần của những người lao động được nâng cao hơn, nhưng mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất với chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cũng gay gắt thêm1
3.3.4 Quy mô sở hữu tư liệu sản xuất ngày càng lớn, lấn
át sở hữu nhỏ
Đặc điểm nổi bật của đại công nghiệp là sử dụng hệ thống máy móc và tận dụng ưu thế của lao động hiệp tác nên mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tư bản đạt tới một quy mô tối thiểu cần thiết để có thể mua những tư liệu sản xuất nhất định và một lượng sức lao động tương ứng cả về chất và lượng
để sử dụng những tư liệu sản xuất đó Khi mở rộng quy mô hiệp tác lao động thì phải tích tụ một khối lượng tư liệu sản xuất lớn hơn Đó là điều kiện vật chất để biến nhiều quá trình lao động cá thể, phần lớn là không phụ thuộc vào nhau thành một quá trình lao động xã hội kết hợp Quy mô tư bản tối thiểu
1 Xem V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.756-758.
Trang 37thay đổi tùy theo trình độ phát triển khác nhau của nền sản xuất, còn ở một trình độ phát triển nhất định thì nó tùy thuộc từng lĩnh vực và điều kiện kỹ thuật của mỗi lĩnh vực đó Cạnh tranh và tín dụng là hai đòn bẩy mạnh mẽ để đẩy mạnh tập trung tư bản Cạnh tranh dẫn đến sự phá sản của nhiều người sản xuất hàng hóa nhỏ và những nhà tư bản nhỏ, bị thôn tính bởi những kẻ chiến thắng hoặc là buộc họ phải tự nguyện liên kết, hợp nhất lại thành doanh nghiệp lớn Tiến bộ khoa học và công nghệ cũng đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn mới có thể ứng dụng có hiệu quả Do đó, việc biến những sở hữu tư nhân nhỏ của số đông những người sản xuất riêng lẻ thành sở hữu lớn của một số ít nhà tư bản diễn ra dữ dội.
3.3.5 Hệ thống thị trường ngày càng hình thành đồng bộ
Không chỉ thị trường hàng hóa và dịch vụ, mà còn hình thành và phát triển các loại thị trường khác, như: thị trường vốn, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường công nghệ, v.v Đặc trưng nổi bật là sức lao động trở thành hàng hóa
3.3.6 Cơ cấu ngành kinh tế biến đổi theo hướng ngày càng giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp và cả ngành nông nghiệp cũng kinh doanh theo lối công nghiệp
Tỷ trọng ngành công nghiệp ban đầu tăng nhanh nhưng đến một trình độ nhất định cũng giảm dần, còn ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
Có ý kiến thắc mắc: Vì sao lại phát triển kinh tế tư bản tư nhân trong khi nhấn mạnh định hướng lên chủ nghĩa xã hội, phải chăng khuyến khích bóc lột giá trị thặng dư để xây dựng chủ nghĩa xã hội?(!)
Đối với vấn đề bóc lột không nên dựa vào tình cảm để xác định nó là tốt hay xấu, nên khuyến khích hay cấm đoán mà
Trang 38phải xét vai trò lịch sử của nó đối với sự phát triển lực lượng sản xuất trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể Ví dụ: Chế độ chiếm hữu nô lệ rất tàn bạo đã từng bị lên án, nhưng so với chế độ công xã nguyên thủy nó lại là một bước tiến của lịch sử
xã hội loài người, mặc dù trong công xã nguyên thủy không
có quan hệ bóc lột Chính vì vậy, Ph Ăngghen đã nhận định:
“Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không
có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có Đế chế La Mã Mà không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và Đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại Chúng ta không bao giờ được quên rằng tiền đề của toàn
bộ sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái trong đó chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giống như nó được tất cả mọi người thừa nhận Theo ý nghĩa
đó, chúng ta có quyền nói rằng: không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại”1 Hay là, chủ nghĩa tư bản ra đời thấm đầy máu và bùn nhơ trong mỗi lỗ chân lông của nó, nhưng nó lại tiến bộ hơn sản xuất nhỏ, phân tán của tiểu nông và thợ thủ công độc lập, cá thể, mặc dù sản xuất nhỏ không có quan hệ bóc lột Bởi vậy, khi nhận xét tình hình sản xuất ở Đức tồi tệ hơn ở Anh, C Mác đã viết: “ chúng ta đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ”2 , bởi khi chủ nghĩa tư bản phát triển chưa đầy đủ thì còn những tàn
dư của những phương thức sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu, chúng gây ra nhiều tai họa hơn
V.I Lênin cũng so sánh: “Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tư bản là tốt so với thời trung cổ,
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.254.
2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.23, tr.19.
Trang 39với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những người tiểu sản xuất tạo nên Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy, trong một mức độ nào đó, chủ nghĩa
tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi; bởi vậy, chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên”1.V.I Lênin nhấn mạnh: Có thể sử dụng chủ nghĩa tư bản
tư nhân (chứ đừng nói gì chủ nghĩa tư bản nhà nước nữa)
để xúc tiến chủ nghĩa xã hội, để đóng vai trò trợ thủ cho chủ nghĩa xã hội Điều đó không có gì là ngược đời2 Hơn nữa, ở một nước tiểu nông, “Hễ có trao đổi, thì sự phát triển của nền kinh tế nhỏ là một sự phát triển tiểu tư sản, một sự phát triển
tư bản chủ nghĩa; đó là một chân lý không thể chối cãi được, một chân lý sơ đẳng của kinh tế chính trị học, đã được kinh nghiệm hàng ngày và sự quan sát của ngay cả những người bình thường xác nhận”3
“Hoặc giả tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của chủ nghĩa tư bản, một sự phát triển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ Chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó Dại dột, vì về phương diện kinh
tế, chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì
1, 3 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.276, 267.
2 Xem V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.281.
Trang 40những đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản
Hoặc giả (chính sách cuối cùng có thể áp dụng được và
duy nhất hợp lý) không tìm cách ngăn cấm hay chặn đứng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà tìm cách hướng nó vào con
đường chủ nghĩa tư bản nhà nước”1
3.4 Chủ nghĩa tư bản nhà nước
V.I Lênin đã tự nghiêm khắc kiểm điểm: Năm 1918, đã mắc sai lầm định tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Mùa xuân
1921, Người đã nhận rõ là chưa thể xây dựng trực tiếp chủ nghĩa xã hội, mà trong nhiều lĩnh vực kinh tế cần phải lùi về chủ nghĩa tư bản nhà nước Phải tổ chức công việc như thế nào để cho tiến trình bình thường của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và của việc lưu thông tư bản chủ nghĩa có thể có được, vì điều đó cần thiết cho nhân dân, không có cái đó thì họ không sống được Sai lầm định chuyển thẳng lên chủ nghĩa xã hội trái với tính tất yếu phải có một thời kỳ quá độ lâu dài và phức tạp từ xã hội tư bản chủ nghĩa (xã hội đó càng ít phát triển, thì thời kỳ quá độ càng dài) lên xã hội cộng sản chủ nghĩa
Những người cộng sản cánh tả phê phán V.I Lênin là hữu khuynh, đã đưa những nhà tư bản vào hàng ngũ những người lãnh đạo công nhân V.I Lênin đã trả lời: Đúng, họ được đưa vào “địa vị lãnh đạo”, vì trong công việc tổ chức, họ có những kiến thức mà chúng ta không có Chúng ta có tri thức về chủ nghĩa xã hội nhưng lại chưa có tri thức về tổ chức với quy mô hàng chục triệu người, chưa có tri thức về tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm Bởi vậy, “ Phải học tập chủ nghĩa xã hội phần lớn ở những người lãnh đạo các tơrớt, phải học tập chủ
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.267-268.