1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định Hướng Chính Sách Phát Triển Các Thành Phần Kinh Tế Việt Nam: Phần 2.Pdf

262 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Hướng Chính Sách Phát Triển Các Thành Phần Kinh Tế Việt Nam: Phần 2
Tác giả Lê Minh Nghĩa
Trường học Học Viện Chính Trị Quân Sự
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 8,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cương lĩnh nêu rõ, nền kinh tế Việt Nam có năm thành phần: kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng; kinh tế cá thể còn có phạm vi tươn

Trang 1

Phần II

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở VIỆT NAM:

XU HƯỚNG VÀ VẤN ĐỀ

Trang 3

PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở VIỆT NAM SAU HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI (MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

- Thứ nhất, bước chuyển từ sản xuất theo mô hình kinh tế

hiện vật, phi thị trường sang sản xuất theo mô hình kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách Trong đó, nhận thức

về bản chất kinh tế thị trường và nội hàm của tính định hướng

xã hội chủ nghĩa được xác định và ngày càng cụ thể hóa qua các kỳ đại hội Đảng đã thực sự trở thành nhận thức lý luận

có sức sáng tạo, không chỉ làm sáng rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn là sự bổ sung cho kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội

* Hội đồng Lý luận Trung ương.

Trang 4

- Thứ hai, bước chuyển từ đơn sở hữu với sự phân biệt đối

xử sang đa sở hữu, đa thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế được tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật Có thể nói, bước chuyển đổi này thực sự là khâu đột phá trong nhận thức lý luận kinh tế, tạo động lực cho công cuộc đổi mới

- Thứ ba, bước chuyển từ quản lý theo cơ chế tập trung

quan liêu, bao cấp, làm cho con người ỷ lại, thụ động, sang quản lý theo cơ chế thị trường, đòi hỏi tính năng động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của con người

- Thứ tư, bước chuyển từ phân phối bình quân, cào bằng,

không thừa nhận đến thừa nhận đa dạng hóa hình thức phân phối mà phân phối theo lao động là chủ yếu, gắn với phân phối theo vốn, tài sản

- Thứ năm, bước chuyển từ không chấp nhận “bóc lột”,

không chấp nhận phân hóa giàu nghèo, sang chấp nhận “bóc lột”, chấp nhận phân hóa giàu nghèo ở mức độ nhất định

- Thứ sáu, bước chuyển từ quan điểm đảng viên không được

làm kinh tế tư nhân sang đảng viên được làm kinh tế tư nhân

- Thứ bảy, bước chuyển từ quan điểm kinh tế “khép kín”

sang cách nhìn mở, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, chấp nhận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

- Thứ tám, bước chuyển từ quan điểm “Nhà nước làm thay

thị trường”, “Nhà nước làm tất cả”, độc quyền sang quan điểm Nhà nước chủ yếu thực hiện vai trò quản lý, kiến tạo môi trường phát triển, khắc phục các khuyết tật của thị trường, đa dạng hóa các chủ thể làm kinh tế, giảm độc quyền nhà nước, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp

- Thứ chín, bước chuyển từ việc coi Nhà nước đóng vai trò

phân bổ các nguồn lực là chủ yếu, sang thị trường đóng vai trò phân bổ các nguồn lực là chủ yếu

Trang 5

- Thứ mười, bước chuyển từ quan điểm công nghiệp hóa

bằng con đường “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”, sử dụng vốn của Nhà nước sang chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức và phát triển nhanh, bền vững, sử dụng nguồn vốn xã hội hóa theo cơ chế thị trường

- Thứ mười một, bước chuyển từ chủ trương phát triển

mô hình kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp, thâm dụng tài nguyên và lao động giản đơn, sang mô hình kinh tế tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, phát triển nhanh, bền vững gắn với bảo vệ môi trường

Trong mỗi bước chuyển trên, lại bao hàm những bước chuyển nhỏ, cụ thể, khắc họa nên toàn bộ nội dung đổi mới tư duy nhận thức lý luận - thực tiễn kinh tế của Đảng trong hơn

30 năm qua

Tuy nhiên, đó không phải là các bước chuyển tách biệt, không hoặc ít có liên hệ, tác động lẫn nhau Về thực chất, chúng tổ hợp lại, quyện chặt với nhau, tạo thành một chỉnh thể hệ thống tư duy nhận thức lý luận - thực tiễn phát triển thống nhất trong quá trình đổi mới1

Trong số các bước chuyển này, bước chuyển thứ hai “chuyển

từ đơn thành phần sang đa thành phần”, có vị trí vô cùng quan trọng Nó là hệ quả của bước chuyển “từ sản xuất hiện vật

1 Xem Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý

luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2005; Ban Chỉ đạo tổng kết: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận

và thực tiễn về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua 30 năm đổi mới (1986-2016); TS Đinh Thế Huynh, GS.TS Phùng

Hữu Phú…(Đồng chủ biên): 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb

Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015.

Trang 6

sang sản xuất giá trị Đây là một bước ngoặt đánh dấu tư duy phát triển mới của Đảng và Nhà nước trong việc nhận thức và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Đây chính là tư duy đột phá làm cho “sản xuất bung ra”, là cơ sở để hình thành quan hệ sản xuất mới, khai thác mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Do vậy, trong khuôn khổ bài viết này tập trung bàn sâu về bước chuyển thứ hai: xung quanh vấn đề phát triển các thành phần kinh tế ở nước ta từ khi đổi mới đến nay.

2 Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về phát triển các thành phần kinh tế ở nước ta từ khi đổi mới đến nay

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là chủ trương lớn của Đảng trong công cuộc đổi mới, là vấn đề có tính chiến lược lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản

Trang 7

xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã coi “nền kinh

tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ” bao gồm 6 thành phần kinh tế và được chia ra thành hai nhóm: nhóm kinh tế xã hội chủ nghĩa (kinh tế quốc doanh

và kinh tế tập thể); nhóm kinh tế phi xã hội chủ nghĩa (được gọi là các thành phần kinh tế khác), bao gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc Trong đó, xác định nhiệm

vụ của thời kỳ đầu đổi mới là kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh

tế quốc doanh làm nòng cốt phải giành được vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể là chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông2 Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khóa VI (năm 1989) của Đảng đã có bước phát triển cụ thể hóa

hơn, chủ trương phát triển các thành phần đan xen nhiều loại

hình hỗn hợp, đan kết các hình thức với nhau gắn với các hình

thức sở hữu Xác định kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song đã khẳng

định: vai trò chủ đạo không nhất thiết phải luôn luôn chiếm tỷ

trọng lớn trong mọi ngành nghề Những ngành nghề nào mà kinh tế hợp tác, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ấy phát triển.

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), lần đầu tiên xuất hiện cụm từ: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.73.

2 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, ph.I, tr.53-56.

Trang 8

xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước”1 và cũng lần đầu tiên đề cập đến việc từng bước thành lập các xí nghiệp, các công ty cổ phần Quan điểm trên được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được thông qua tại Đại hội VII của Đảng Cương lĩnh nêu rõ, nền kinh tế Việt Nam có năm thành phần: kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng; kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ

và cùng có lợi; tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định; phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức2

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994), lần đầu tiên Đảng ta đã phân biệt sở hữu nhà nước với hình thức doanh nghiệp nhà nước, chủ trương tập trung xây dựng doanh nghiệp nhà nước chỉ ở những ngành, lĩnh vực, những khâu trọng yếu, như kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quốc phòng -

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời

kỳ đổi mới, Sđd, ph.I, tr.317.

2 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

thời kỳ đổi mới, Sđd, ph.I, tr.414.

Trang 9

của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng” Đại hội VIII đã xác định, trong nền kinh tế có năm thành phần kinh tế, trong đó lần đầu tiên xác định:

- Kinh tế nhà nước (với ý nghĩa rộng hơn, bao gồm: ngoài kinh tế quốc doanh còn có các lực lượng kinh tế khác mà Nhà nước nắm trong tay, như các lực lượng tài chính ngân sách, ngân hàng, các quỹ dự trữ của Nhà nước, các quỹ bảo hiểm của Nhà nước, những tài sản khác thuộc quyền sở hữu của Nhà nước có thể sử dụng vào phát triển kinh tế: tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, rừng, biển ), thay cho khái niệm kinh tế quốc doanh trước đây; kinh tế hợp tác; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân (không có kinh tế tư bản nhà nước)

Lúc này, vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế được xác định: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo (thay cho vai trò của kinh tế quốc doanh trước đây) Kinh

tế quốc doanh (tức doanh nghiệp nhà nước) chỉ là một bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước Kinh tế hợp tác mà nòng cốt

là các hợp tác xã với nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao,

từ tổ, nhóm hợp tác đến hợp tác xã, hoạt động theo nguyên tắc

tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ Kinh tế

tư bản nhà nước có vai trò quan trọng, bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế tư bản nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài Kinh tế cá thể, tiểu chủ được hỗ trợ, hướng dẫn từng bước đi vào hợp tác một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích đầu tư sản xuất, làm ăn lâu dài

Trang 10

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2001) chỉ rõ: Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được chính thức nêu trong văn kiện, được xác định là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (không dừng lại ở chỗ xem kinh tế thị trường như là công cụ, cơ chế quản lý), đánh dấu bước phát triển mới về tư duy, thể hiện sự

rõ ràng, dứt khoát quan điểm của Đảng trong phát triển các thành phần kinh tế Đại hội IX đã xác định: “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”1; có sáu thành phần kinh tế, bao gồm: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể (thay cho kinh tế hợp tác trước đây); kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (đây là khái niệm mới, lần đầu tiên sử dụng để chỉ loại hình thành phần kinh tế theo nguồn vốn này)

Đại hội IX cũng nêu rõ định hướng phát triển cụ thể của mỗi thành phần kinh tế:

“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh

tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời

kỳ đổi mới, Sđd, ph.II, tr.76.

Trang 11

định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu

quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật “Kinh tế tập

thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó

hợp tác xã là nòng cốt Các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ

và vừa, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn “Kinh

tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan

trọng, lâu dài Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn Khuyến

khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những

ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư

ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với

nhau Phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới các

hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh

tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước, mang lại lợi ích thiết

thực cho các bên đầu tư kinh doanh Tạo điều kiện để kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất

khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài Chú trọng phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và ngoài nước Phát triển

Trang 12

mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội”1 Theo tinh thần đó, trong các Hội nghị Trung ương lần thứ ba, lần thứ năm khóa IX, Đảng

ta đã ra nhiều nghị quyết mở đường cho phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân

Kế thừa tư duy của Đại hội IX, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4/2016) đã làm rõ nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường trên bốn tiêu chí lớn Bên cạnh ba tiêu chí thể hiện: mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước

và từng chính sách phát triển; phát huy quyền làm chủ xã hội

của nhân dân, Đại hội X đã nhấn mạnh: “Phát triển mạnh

các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất

kinh doanh

Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập

1 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

thời kỳ đổi mới, Sđd, ph.II, tr.76-79.

Trang 13

thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế

Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu”1

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong phần “Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại”, ghi

rõ: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,

hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp

và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”2

Như vậy, so với Đại hội X, Đại hội XI không đề cập đến thành phần kinh tế tư bản nhà nước Đây là bước tiến rất

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.83.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.73-74.

Trang 14

quan trọng thể hiện sự thừa nhận chế độ đa sở hữu về tư liệu sản xuất, thừa nhận đa thành phần kinh tế và mỗi thành phần kinh tế đều là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng tồn tại lâu dài, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục

nhấn mạnh chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp”1 Trên tinh thần đó, Đại hội XII của Đảng cũng đã xác định nền kinh tế gồm năm thành phần; đồng thời, định hướng cụ thể cho các thành phần kinh tế phát triển theo

các nguyên tắc: “Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp

nhà nước theo hướng: doanh nghiệp nhà nước tập trung vào

những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng

và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư Đẩy mạnh

cổ phần hóa, bán vốn tại những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm hoặc không cần giữ cổ phần chi phối, kể cả những doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả

Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của

kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã; đẩy mạnh liên kết và hợp

tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ về tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường, tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.104.

Trang 15

Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các

hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp,

nhất là các doanh nghiệp cổ phần

Hoàn thiệu cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi

phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh

vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh

tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ

và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước

Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài,

chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ

và công nghiệp quy mô lớn, chất lượng cao, gắn với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu”1 Nhằm cụ thể hóa những nhiệm

vụ đề ra về phát triển các thành phần kinh tế, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành hai nghị quyết về: “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” (Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017) và “Phát triển kinh

tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Nghị quyết số NQ/TW ngày 03/6/2017) Trong đó nhấn mạnh những kết quả,

10-1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XII, Sđd, tr.106-108.

Trang 16

hạn chế, nguyên nhân, quan điểm, định hướng và giải pháp tiếp tục phát triển hai thành phần kinh tế quan trọng này.

2.2 Thực tiễn vận động của các thành phần kinh tế trong quá trình đổi mới

2.2.1 Kết quả đạt được

Thực tiễn đã khẳng định sức mạnh và động lực to lớn mà chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mang lại

Nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Kinh

tế tăng trưởng khá Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm có chuyển biến tích cực Nhiều sản phẩm

đã xây dựng được thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế (gạo, thuỷ sản, cà phê ) Hình thành được

hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết phục vụ đời sống kinh tế -

xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng

phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu Khu vực kinh tế nhà nước đang được đổi mới, chiếm 38,4% GDP, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế Kinh tế tư nhân phát triển khá nhanh, hoạt động

có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm 45,7% GDP, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá đa dạng (đóng góp khoảng

Trang 17

6,8% GDP) Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, chiếm 18,97% GDP.

Các thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp: Sự đa

dạng hóa các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã giúp khai thác, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy các yếu tố của lực lượng sản xuất ở các trình độ khác nhau phát triển, góp phần mở rộng và tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia:

- Về doanh nghiệp nhà nước: Hệ thống các doanh nghiệp

nhà nước được đổi mới, sắp xếp lại, cơ cấu lại đã góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước1 Đã hình thành các tổng công ty và một số tập đoàn kinh

tế ở những lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế; đồng thời, thu hẹp những lĩnh vực độc quyền nhà nước Đã có 32 tỉnh không còn doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thuần túy, mà chủ yếu sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích, thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tính đến ngày 31/12/2013 đã có 85/91 tập đoàn, tổng công ty xây dựng

đề án tái cơ cấu, trong đó có 68 doanh nghiệp đã được phê duyệt đề án gồm 58 doanh nghiệp trung ương và 10 doanh nghiệp thuộc địa phương

Theo số liệu khảo sát, còn 949 doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước, tổ chức dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một

1 Tính đến ngày 31/12/2013, cả nước đã thực hiện sắp xếp được 6.376 doanh nghiệp, trong đó: (i) Cổ phần hóa: 3.659 doanh nghiệp; (ii) Chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: 1.033 doanh nghiệp; (iii) Giao doanh nghiệp: 222 doanh nghiệp; (iv) Bán doanh nghiệp: 158 doanh nghiệp; (v) Giải thể: 313 doanh nghiệp; (vi) Phá sản: 92 doanh nghiệp; (vii) Chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: 22 doanh nghiệp; (viii) Các hình thức khác (sáp nhập, hợp nhất…):

877 doanh nghiệp

Trang 18

thành viên, trong đó: 54% là doanh nghiệp địa phương, 36% thuộc các bộ, ngành và 10% thuộc các tập đoàn kinh tế nhà nước Về chức năng hoạt động có khoảng 65% doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, còn lại là doanh nghiệp công ích, phục

vụ an ninh, quốc phòng, nông, lâm trường quốc doanh Ngoài

ra, 1.217 công ty cổ phần có cổ phần chi phối của Nhà nước; tính đến ngày 31/12/2012, tổng nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước là trên 2.500 nghìn tỷ đồng, vốn chủ

sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp là 1.019 nghìn tỷ đồng, tổng nợ phải trả là 1.422 nghìn tỷ đồng, tổng tài sản là 2.570 nghìn tỷ đồng, tổng doanh thu là 1.709 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước đạt 222 nghìn tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 167 nghìn tỷ đồng Hầu hết tài sản, vốn và các nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp nhà nước tập trung ở

106 tập đoàn, tổng công ty nhà nước

Về cơ bản, doanh nghiệp nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội1, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước tham gia nhiệm vụ quốc phòng,

an ninh, kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng,

an ninh, chủ quyền quốc gia, thực hiện chính sách an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai

Việc thực hiện đổi mới cơ chế tài chính và hoạt động của

các đơn vị sự nghiệp công lập2 đã đem lại nhiều kết quả: nâng

1 Năm 2013, riêng 18 tập đoàn, tổng công ty nhà nước có quy mô lớn,

có vốn nhà nước là 840 nghìn tỷ đồng (chiếm 83% vốn nhà nước tại các doanh nghiệp), tổng giá trị tài sản là 1.989 nghìn tỷ đồng, tổng doanh thu

là 1.184 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước là 191 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 136 nghìn tỷ đồng Có 17/18 tập đoàn, tổng công ty nhà nước nêu trên có lãi, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 16,19%;

Trang 19

cao tính chủ động, sáng tạo của đơn vị sự nghiệp công; huy động được sự đóng góp của cộng đồng xã hội cho phát triển các hoạt động sự nghiệp; góp phần tăng thu sự nghiệp thông qua việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, liên doanh, liên kết ; tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức; đồng thời bảo đảm tính công khai, minh bạch và phát huy tính dân chủ trong đơn vị

sự nghiệp1 Nhìn tổng thể, doanh nghiệp nhà nước, bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối, đã nỗ lực vươn lên trong sản xuất kinh doanh, không ngừng đổi mới, đạt được nhiều kết quả Cùng với cơ chế, chính sách của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, đối phó với những biến động thị trường, kiềm chế lạm phát; đóng góp lớn trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

và chính sách an sinh xã hội2

- Về hợp tác xã, tiếp tục đổi mới, phát triển hợp tác xã

theo cơ chế thị trường phù hợp với các nguyên tắc: tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi và phát triển cộng đồng Mô hình hợp tác xã đã có sự đổi mới hơn so với trước, nhờ những

1 Tính đến năm 2011, đã có khoảng 29.703 đơn vị sự nghiệp công lập (trên tổng số 32.758 đơn vị) được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về tài chính (đạt 90,7%); trong đó có 1.121 đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, chiếm 3,8% tổng số đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, 10.704 đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, chiếm 36% tổng số đơn vị sự nghiệp và 17.878 đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, chiếm 60,2%.

2 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban

Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội,

2017, tr.58-59.

Trang 20

thay đổi trong quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối và quan hệ quản lý

- Về doanh nghiệp của tư nhân, Nghị quyết Hội nghị Trung

ương 5 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ: Sau hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của chúng ta về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân

đã có những bước tiến quan trọng Từ chỗ kỳ thị, coi nhẹ đã thừa nhận kinh tế tư nhân là “một trong những động lực” và đến nay là “một động lực quan trọng” để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức được thể chế hóa và được pháp luật bảo vệ Phương thức quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường

Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh; môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện, thông thoáng, thuận lợi hơn Dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội ngày càng được phát huy Kinh tế tư nhân đã phát triển trên nhiều phương diện, được tự do kinh doanh và đối xử bình đẳng hơn với các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các yếu tố sản xuất và các loại thị trường; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và các vùng, miền; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân

có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 39-40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo

Trang 21

việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đạo đức, văn hóa kinh doanh của doanh nhân dần được nâng lên1

Thông qua việc phát triển kinh tế tư nhân mà quyền làm chủ của Nhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy

- Về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Hoạt động

của các doanh nghiệp FDI đã tác động tích cực đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: bình quân giai đoạn 1995-2000 chiếm 23,4%, giai đoạn 2001-2005 chiếm 16%, giai đoạn 2006-2012 chiếm 24,4% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Thông qua đó, đã tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho hàng triệu lao động2, tập trung vào các lĩnh vực xây dựng cơ bản, cung cấp nguyên liệu, bán thành phẩm và cung ứng dịch vụ Bên cạnh đó, việc quản lý, điều hành hoạt động của các doanh nghiệp FDI giúp nước ta có thêm kinh nghiệm thực tiễn để tiếp tục hình thành các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

2.2.2 Hạn chế

Tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức dưới tiềm năng và vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu; hiệu quả và chất lượng tăng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp

hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr.89-90.

2 Tính đến ngày 01/7/2012, số lao động làm việc tại các doanh nghiệp FDI đạt trên 1,7 triệu người.

Trang 22

trưởng thấp, chưa bền vững Các thành phần kinh tế phát

triển chưa tương xứng với tiềm năng, vẫn còn những điểm nghẽn cản trở sự phát triển.

Chưa tạo được đầy đủ môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; chưa khai thác tốt các nguồn lực trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài để đầu

tư phát triển sản xuất kinh doanh Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước còn chậm, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn thấp Kinh tế tư nhân chưa được tạo đủ điều kiện thuận lợi để phát triển, quy mô còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và chưa được quản lý tốt Kinh tế tập thể kém hấp dẫn và phát triển chậm, còn nhiều lúng túng Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhưng chưa có tính lan tỏa về công nghệ và kỹ năng quản lý, việc thu hút đầu

tư nước ngoài còn kém so với một số nước trong khu vực

- Nhiều doanh nghiệp nhà nước hiệu quả thấp, làm ăn

thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí gây bức xúc trong

dư luận Một bộ phận lớn doanh nghiệp nhà nước chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ được chủ sở hữu giao, chưa làm tốt vai trò nòng cốt, mở đường, dẫn dắt, thúc đẩy các thành phần kinh tế, làm giảm vai trò và ý nghĩa giữ vững tính định hướng

Trang 23

các chuẩn mực kinh doanh, để lại những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế1.

+ Việc cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước chưa đạt được như yêu cầu, tiến độ cổ phần hóa chậm2, vốn nhà nước còn chiếm tỷ lệ lớn trong những doanh nghiệp được

cổ phần hóa mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, việc bán cổ phần của doanh nghiệp nhà nước còn chậm3

+ Doanh nghiệp nhà nước sử dụng nhiều nguồn lực nhưng

hiệu quả thực tế còn thấp Mặc dù đã giảm mạnh về số lượng, nhưng doanh nghiệp nhà nước vẫn là khu vực doanh nghiệp

sử dụng nhiều nguồn lực nhất của nền kinh tế, chưa mang lại hiệu quả tương xứng4

1 Đến năm 2013, đã thoái được 4.164 tỷ đồng trên tổng số 21.797 tỷ đồng đầu tư ra ngoài ngành nghề kinh doanh chính (đạt 19%), tuy nhiên chỉ có 267 tỷ đồng bán ra bên ngoài, còn lại 3.897 tỷ đồng trong nội bộ Việc giải thể, phá sản doanh nghiệp mất nhiều thời gian.

2 (1) Cổ phần hóa ở Việt Nam hàm chứa một khó khăn nội tại, xuất

phát từ việc thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: một

mặt, Chính phủ buộc phải tiến hành cổ phần hóa để cải thiện hiệu quả

chung của nền kinh tế và giải tỏa bớt gánh nặng cho ngân sách do các doanh

nghiệp nhà nước thua lỗ gây ra; mặt khác, việc theo đuổi định hướng xã hội

chủ nghĩa, hàm ý rằng Việt Nam cần phải duy trì vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước (2) Doanh nghiệp sau cổ phần hóa phải đối diện với nhiều thay đổi quan trọng trong môi trường thể chế và kinh doanh Có sự khác biệt rõ rệt giữa một bên là những quy định của Nhà nước về ưu đãi mà các doanh nghiệp cổ phần hóa được hưởng, và bên kia là cách ứng xử thực tế của các cơ quan công quyền đối với những doanh nghiệp này.

3 Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn đang chiếm tới 45% tổng vốn đầu tư, 70% viện trợ phát triển chính thức và sử dụng 60% vốn vay từ các ngân hàng thương mại, chiếm khoảng 30% GDP hằng năm (chưa tính thu

từ dầu thô qua Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam).

4 Theo số liệu thống kê, doanh nghiệp nhà nước hiện sử dụng 70% tài sản, đất đai trong khu vực sản xuất kinh doanh, trong đó, 67 tập đoàn và tổng công ty sử dụng khoảng 15.500 ha đất trong cả nước; doanh nghiệp nhà nước sử dụng hơn 70% nguồn vốn ODA cho sản xuất kinh doanh; 60% tín dụng nền kinh tế (Bộ Tài chính, 2011) Theo tính toán của World Bank (2011), trong giai đoạn 2000-2008, vốn trung bình của mỗi doanh nghiệp nhà nước tăng từ 130 tỷ đồng lên 768 tỷ đồng (năm 2008).

Trang 24

+ Năng suất lao động trong doanh nghiệp nhà nước còn thấp và chậm cải thiện so với thành phần kinh tế ngoài nhà nước Nếu sử dụng số liệu tỷ lệ doanh thu trên lao động của doanh nghiệp nhà nước để so sánh, thì năng suất lao động của doanh nghiệp nhà nước thấp hơn nhiều so với các loại hình doanh nghiệp khác1.

+ Chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa phân định rõ; bộ máy và cách thức thực hiện quyền chủ sở hữu chưa chuyên nghiệp, hiệu quả

chưa cao.

- Đối với đơn vị sự nghiệp công, việc triển khai cải cách khu

vực sự nghiệp công, xã hội hóa cung ứng dịch vụ công chậm so với yêu cầu Việc điều chỉnh khung giá dịch vụ công theo đúng Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khóa X là từng bước tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ còn chậm ở nhiều lĩnh vực, cơ chế

tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm chưa được thực hiện

- Kinh tế tư nhân: Hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính

sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ Kinh tế tư nhân chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những

1 Theo tính toán của World Bank (2011), trong giai đoạn 2000-2008, khoảng cách chênh lệch về năng suất lao động giữa doanh nghiệp nhà nước

và các loại hình doanh nghiệp khác đã được nới rộng từ tỷ lệ 1:4 lên 1:10

Cụ thể, tỷ lệ doanh thu trên lao động của doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng

từ 0,6 lên 1,7, trong khi của toàn bộ khu vực doanh nghiệp tăng từ 2,7 lên 16,3 Sự yếu kém trong việc sử dụng vốn và năng suất lao động dẫn đến một kết quả không gây bất ngờ là hệ số ICOR của khu vực doanh nghiệp nhà nước ở mức cao hơn nhiều so với các loại hình doanh nghiệp khác.

Trang 25

năm gần đây1 Phần lớn có quy mô vừa và nhỏ2, tập trung ở một số ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều sức lao động, khả năng thu hút đầu tư kém, năng lực cạnh tranh thấp, việc

mở rộng quan hệ đầu tư nước ngoài và thương mại còn hạn chế; khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, năng lực cạnh tranh thấp; năng lực sử dụng công nghệ không cao; sử dụng nguồn nhân lực chất lượng thấp Do vậy, khả năng đóng góp vào tăng trưởng thiếu bền vững

- Kinh tế tập thể chưa thoát khỏi yếu kém kéo dài, nhiều

hợp tác xã vẫn ở trong tình trạng khó khăn, cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ công nghệ lạc hậu Năng lực trình độ cán

bộ quản lý trong khu vực hợp tác xã còn nhiều hạn chế; các hợp tác xã và tổ hợp tác mới thành lập còn ít

- Đối với doanh nghiệp FDI, các dự án đầu tư nước ngoài

tập trung vào những ngành có lợi nhuận cao mặc dù là những ngành Việt Nam không có lợi thế cạnh tranh với các nước khác3; FDI vẫn còn nhiều bất cập, các dự án đầu tư chủ yếu có

quy mô vừa và lao động tương đối nhỏ4; chưa giải quyết nhiều việc làm cho lao động trong nước, nhất là lao động có trình

độ, đã qua đào tạo; nhiều máy móc, thiết bị công nghệ ở trình

độ trung bình, lạc hậu; gây ô nhiễm môi trường và trốn thuế

1 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban

Chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd.

2 Sau gần 10 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, quy mô của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hầu như không thay đổi Đại đa số (98,35%) doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện sử dụng dưới 200 lao động

Tỷ lệ này tại các doanh nghiệp nhà nước là 55,38% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 70,05%.

3 Đó là các sản phẩm: xi măng, sắt, thép, xe máy, xe đạp, thuốc lá, rượu, giấy Những ngành này được hưởng chính sách bảo hộ thông qua thuế nhập khẩu và các hạn chế định lượng tạo ra lợi nhuận ảo hấp dẫn các nhà đầu tư.

4 75% có dưới 300 lao động, trong đó 37% có dưới 50 lao động.

Trang 26

qua chuyển giá, nguy cơ của hoạt động rửa tiền thông qua các

dự án FDI; nguy cơ mất cân đối trong cán cân thanh toán; tỷ

lệ vốn thực tế giải ngân của các dự án FDI đăng ký còn thấp (khoảng 50%)

Vốn FDI vào Việt Nam thời gian qua chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế, đầu tư vào khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn thấp; phần lớn các doanh nghiệp hoạt động về sản xuất và gia công, có giá trị gia tăng thấp1; thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với nhau cũng như với khu vực kinh tế tư nhân trong nước, hạn chế cơ hội doanh nghiệp trong nước tận dụng lợi thế về công nghệ và cải thiện năng suất; đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) ở Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn, nhất là các tập đoàn tài chính lớn Đầu tư gián tiếp của tư nhân nước ngoài ở Việt Nam còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng đầu tư nước ngoài2 Chủ yếu mới phát triển các khu công nghiệp đa ngành không có tác dụng hỗ trợ nhau cùng phát triển, làm tăng chi phí giá thành sản phẩm do phí vận chuyển lớn

1 Những thống kê của khu vực doanh nghiệp này có nhiều điểm đáng lưu ý như: 85% doanh nghiệp thuộc diện 100% vốn nước ngoài, nhập khẩu tới 57,5% hàng hóa, dịch vụ trung gian; tỷ lệ mua trong nước rất nhỏ, chỉ 2% từ doanh nghiệp tư nhân trong nước, phần lớn đầu ra là xuất khẩu.

2 Việc gia nhập WTO vào cuối năm 2006 đã đẩy mạnh dòng vốn FDI vào Việt Nam Năm 2007, lượng vốn FDI đăng ký đã tăng gấp đôi so với năm 2006 và đạt mức kỷ lục với gần 72 tỷ USD vào năm 2008 Tuy nhiên, đây rõ ràng là một mức tăng trưởng nóng và không bền vững, khi lượng vốn thực hiện trong năm 2008 chỉ đạt 11,5 tỷ USD, chiếm 16% tổng vốn đăng ký Từ đó đến nay, lượng vốn FDI đăng ký đã suy giảm và chỉ còn đạt khoảng 16 tỷ USD trong hai năm 2011-2012.

Trang 27

3 Những ý kiến khác nhau, vấn đề đặt ra và một số hàm ý gợi mở kiến nghị về định hướng và giải pháp tiếp tục phát triển các thành phần kinh tế, góp phần hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng 1

3.1 Về chế độ sở hữu, thành phần kinh tế

3.1.1 Về chế độ sở hữu

Cho đến nay, chưa có sự đồng thuận về một số luận điểm

cơ bản liên quan đến quan hệ sản xuất, cụ thể còn chưa phân

biệt rõ ràng các khái niệm “chế độ sở hữu” và “hình thức sở

hữu” Thậm chí, ngay trong các văn kiện của Đảng cũng có sự chưa nhất quán trong sử dụng các khái niệm này Chưa xác định rõ ràng và thống nhất các chế độ sở hữu và các hình thức

sở hữu ở nước ta Hơn nữa, tuy đa dạng hóa sở hữu, phát triển

cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được khẳng định như một chủ trương chiến lược, nhưng chính sách phát triển các thành phần kinh tế vẫn có lúc thắt, lúc mở, vẫn tồn tại sự e ngại chệch hướng xã hội chủ nghĩa khi thúc đẩy đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và phát triển mạnh kinh tế tư nhân Chưa hoàn toàn thông thoát trong việc nhận thức vai trò của quan hệ sản xuất, vẫn có biểu hiện việc giải quyết quan hệ sản xuất, trong đó có quan hệ sở hữu như một mục tiêu chứ không thực sự hướng tới yêu cầu tạo điều kiện giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất

Chưa nhất quán đối với vấn đề sở hữu trong nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên cơ chế,

1 Xem Ban Chỉ đạo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30

năm đổi mới (1986-2016): Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực

tiễn về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trang 28

chính sách và các giải pháp tổ chức, quản lý nền kinh tế chưa thật minh bạch, vẫn có những biểu hiện nôn nóng, chủ quan, duy ý chí trong việc giải quyết vấn đề sở hữu Trong thực tế,

sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau vẫn tồn tại một cách dai dẳng

Nhận thức về vấn đề sở hữu còn chưa rõ ràng, dẫn đến lúng túng trong thể chế hóa sở hữu nhà nước, vấn đề sở hữu trong khu vực doanh nghiệp nhà nước; việc phân định chức năng quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước còn chưa

đủ rõ, chưa làm rõ được cơ chế, chính sách giữa nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ công ích1

Chế độ sở hữu ở Việt Nam hiện nay còn những vấn đề chưa phù hợp với lý luận và thực tiễn phát triển của nền kinh tế thị trường Hiện nay, Việt Nam vẫn khẳng định có ba chế độ sở

hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Trong

khi đó về lý luận, cũng như về thực tiễn kinh tế thị trường thế

giới chỉ có hai chế độ sở hữu: công hữu 2 và tư hữu, tồn tại với

nhiều hình thức khác nhau Đã có thời kỳ Việt Nam phê phán

1 Hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận vấn đề sở hữu khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, thì sự phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân) Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu” Mặt khác, sự phân định giữa chế độ sở hữu và hình thức sở hữu cũng chưa được luận giải rõ.

2 C Mác sử dụng khái niệm sở hữu xã hội (Das gesellshaftliche Eigentum), tức sở hữu được xã hội hóa và phản ánh trình độ xã hội hóa sản xuất và xã hội hóa sở hữu, để phân biệt với sở hữu tư nhân (Privatseigentum).

Trang 29

rất gay gắt sở hữu toàn dân, coi nó thực chất là vô chủ, song đến nay vẫn duy trì, dẫn đến sự thiếu thống nhất1

Nhìn tổng quát, sau hơn 30 năm đổi mới, chúng ta vẫn chưa thực sự nhận thức sâu sắc đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội, quan hệ sản xuất

và lực lượng sản xuất nói chung

3.1.2 Về thành phần kinh tế

Còn chưa rõ ràng và mâu thuẫn Có ý kiến cho rằng, quan niệm về thành phần kinh tế nhà nước còn có sự nhầm lẫn, không phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, dẫn đến sự bất bình đẳng ngay từ cách nhìn nhận2 Thành phần kinh tế là loại hình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên một hình thức sở hữu nhất định Với cách hiểu như thế, thành phần kinh tế nhà nước chỉ bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần vốn góp chi phối và số vốn nhà nước ở trong các công ty cổ phần, các doanh nghiệp liên doanh, liên kết khác Việc coi thành phần kinh tế nhà nước không chỉ dựa trên hình thức sở hữu

về tư liệu sản xuất của các cơ sở sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp nhà nước) mà còn đưa vào khái niệm này cả ngân sách nhà nước, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ dự trữ

1 Chẳng hạn đất đai, một đầu vào vô cùng quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, được xác định là thuộc sở hữu toàn dân, nhưng người dân lại có các quyền: chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển đổi, cho, tặng, góp vốn kinh doanh (hội đủ các yếu tố cơ bản của sở hữu tư nhân).

2 Văn kiện Đại hội XI ghi nhận có 4 thành phần kinh tế là: thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư nhân, thành phần kinh tế có vốn FDI Trong đó, thành phần kinh tế nhà nước (bao gồm ngân sách nhà nước, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ dự trữ quốc gia, tài nguyên, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội… và các doanh nghiệp nhà nước) đóng vai trò chủ đạo

Trang 30

quốc gia, tài nguyên, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như hiện nay là sự nhầm lẫn về mặt lý luận; bởi lẽ, ngân sách nhà nước, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ dự trữ quốc gia, tài nguyên, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không phải là một loại hình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh1.Loại ý kiến nói trên cho rằng việc phân định thành phần kinh tế như hiện nay vừa không phù hợp với lý luận và thực tiễn mà còn tạo ra sự bất bình đẳng từ nội hàm của phạm trù này Bởi lẽ, ngân sách nhà nước, hệ thống bảo hiểm, quỹ dự trữ quốc gia là do mọi thành phần kinh tế trong xã hội đóng góp,

là tài sản chung của toàn xã hội, giờ đây lại trở thành tiềm lực kinh tế của thành phần kinh tế nhà nước Đó là một sự bất bình đẳng Đồng thời với tiềm lực của thành phần kinh tế nhà nước như thế, thì các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI không có khả năng cạnh tranh với thành phần kinh tế nhà nước Nói cách khác, đã tạo

ra một sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ngay từ cách phân loại thành phần kinh tế như hiện nay

Có ý kiến cho rằng nên gọi tên là thành phần kinh tế có vốn nhà nước, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

và thành phần kinh tế tư nhân Có ý kiến cho rằng gọi tên

là thành phần doanh nghiệp nhà nước, thành phần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thành phần doanh nghiệp

tư nhân

Cũng có ý kiến khác cho rằng là có nhất thiết phải đặt ra thành phần kinh tế hay không? Nên nghiên cứu không đưa

1 Thực tiễn, trong các số liệu thống kê Việt Nam đến nay không có

số liệu để thống kê được thành phần kinh tế nhà nước mà chỉ có các số liệu thống kê được kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài nhà nước và các doanh nghiệp có vốn FDI.

Trang 31

thuật ngữ “thành phần kinh tế” mà bổ sung đưa thuật ngữ

“chủ thể kinh tế” trong đó, nền kinh tế có 3 chủ thể là Nhà nước, doanh nghiệp, người dân Để bảo đảm công bằng và cạnh tranh, sắp xếp toàn bộ các doanh nghiệp trong nền kinh tế thành doanh nghiệp1 Các doanh nghiệp tham gia nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được quyền cạnh tranh lành mạnh, hợp tác, trên cơ sở bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, được hưởng lợi nhuận chính đáng Hệ thống pháp luật kinh tế thực hiện không phân biệt đối xử theo nguồn vốn (nhà nước, tư nhân, trong nước, nước ngoài), mà tập trung thực hiện phân biệt qua chất lượng, năng suất, tính đổi mới

và sáng tạo, đáp ứng nhu cầu thị trường Công nhận sự tồn tại khách quan của lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm (theo nghĩa đúng đắn phù hợp với bản chất) để từ đó có chính sách, cơ chế kiểm soát và định hướng, hướng tới lợi ích xã hội, lợi ích chung của cộng đồng, quốc gia và nhân loại Người dân, nhà đầu tư là chủ thể kinh tế tạo cầu thị trường và được Nhà nước bảo đảm quyền con người, quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, hưởng các quyền lợi chính đáng từ kết quả lao động

Có ý kiến cho rằng không nên sử dụng khái niệm kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tập thể và tổ hợp tác, hợp tác xã Lập luận của ý kiến này là thành phần kinh tế tập thể với nội hàm là các hợp tác xã cũng không phù hợp, bởi lẽ, các hợp tác

xã hiện nay thực chất là một kiểu tổ chức kinh tế cổ phần và

1 Gồm: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI Phân định thống nhất các loại hình doanh nghiệp trong hệ thống pháp luật và hệ thống thông tin, thống kê Doanh nghiệp nhà nước là các doanh nghiệp có vốn nhà nước nắm giữ trên 50% hoặc chi phối Doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài nắm giữ trên 50% hoặc chi phối Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp không nằm trong hai loại doanh nghiệp trên

Trang 32

như thế nó là doanh nghiệp tư nhân hoặc nếu có vốn đầu tư của Nhà nước chi phối thì sẽ là doanh nghiệp nhà nước Cũng

có ý kiến cho rằng, tổ chức kinh tế hợp tác xã là một nhu cầu

và tồn tại khách quan, có những đặc thù riêng, trên thế giới đã

có tổ chức kinh tế hợp tác xã từ hàng trăm năm nay

Một số ý kiến đề xuất có thể xác định có 3 thành phần kinh tế: (1) Thành phần kinh tế doanh nghiệp nhà nước (phân biệt kinh tế nhà nước - các nguồn lực nhà nước với thành phần kinh tế doanh nghiệp nhà nước); (2) Thành phần kinh tế tư nhân (bao gồm cả thành phần kinh tế tập thể, vì thực chất kinh tế tập thể là cổ phần); (3) Thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài Điều này phù hợp với các chỉ tiêu thống kê của Việt Nam hiện nay

Kiến nghị then chốt: tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền tài sản bảo đảm bình đẳng và công bằng giữa quyền tài sản công và quyền tài sản của các thành phần kinh tế Tiếp

tục rà soát, thể chế hóa để hoàn thiện pháp luật về quyền tài sản (các loại tài sản, quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền chiếm hữu, quyền định đoạt) của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế - xã hội, là nền tảng để tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng về quyền tài sản, tăng khả năng tiếp cận nguồn lực đầu vào giữa các chủ thể của các thành phần kinh tế, tổ chức và cá nhân Khắc phục tình trạng chưa bình đẳng và công bằng giữa quyền tài sản công và quyền tài sản của các thành phần kinh tế khác Tài sản công (đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý) thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cần được thể chế hóa bằng các quy định minh bạch, công bằng và hợp lý trong thực hiện quyền

Trang 33

quản lý của Nhà nước và việc tiếp cận tài sản công của các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế Bảo đảm sự minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước

và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt

Mở cửa thị trường các ngành mà Nhà nước còn độc quyền cho

tư nhân đầu tư, giải quyết tình trạng độc quyền doanh nghiệp

theo quy định của pháp luật

3.2 Về vấn đề “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”

Còn có sự khác nhau trong nhận thức về vai trò chủ đạo,

về thành phần kinh tế qua các kỳ đại hội Đảng1, chưa bảo đảm tính thống nhất của các thành phần kinh tế trong chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ

1 Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta khẳng định có 5 thành phần kinh tế: kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể, gia đình); kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ; kinh tế tự túc, tự cấp; kinh tế tư bản nhà nước và kinh

tế tư bản tư nhân Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta khẳng định có 5 thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể; kinh tế

tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước Đại hội VIII (năm 1996), Đảng ta xác định có 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác xã; kinh

tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta xác định có 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh

tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Đại hội X (năm 2006), Đảng ta xác định có 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh

tế tập thể; kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư bản

tư nhân); kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta xác định có 4 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản

tư nhân) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Trang 34

thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện

để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước Tài sản hợp pháp của cá nhân,

tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa Mặc dù luận điểm “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” đã được khẳng định một cách nhất quán trong các văn kiện của Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội XII và trong Hiến pháp năm 2013, nhưng qua sự vận hành của nền kinh tế hiện tại và thực tế trình độ phát triển của nền kinh

tế nước ta còn thấp, trong dư luận xã hội hiện nay vẫn còn có những ý kiến không đồng tình, có ý kiến đề nghị bỏ quy định

“Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” để tránh hiểu nhầm trong chỉ đạo thực tiễn, hoặc xem xét phải quy định cụ thể nội hàm của kinh tế nhà nước trong mối quan hệ phù hợp về quan

hệ sản xuất và lực lượng sản xuất

Đây là một trong những vấn đề lý luận then chốt, gắn với việc xem xét lại quan niệm truyền thống về vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước Hiện nay, khi chuyển sang cơ chế thị trường, thực chất của vấn đề đặt ra là: Thế nào là chủ đạo? Ai là chủ đạo? Và liệu việc có một thành phần kinh tế

cụ thể (kinh tế nhà nước) đóng vai trò chủ đạo có phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giữa tất cả các chủ thể trong nền kinh

tế thị trường? Vấn đề này thường xuyên được đặt ra trong đời sống thực tiễn, nhưng vẫn chưa được thảo luận, luận giải cụ thể, minh bạch để có câu trả lời cần thiết

Một số ý kiến băn khoăn là việc đề cao vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể liệu có kìm hãm và hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác không? Làm sao

Trang 35

để kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh

tế bằng sự phát triển lớn mạnh, hiện đại một cách tự nhiên với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn hẳn so với các thành phần kinh tế khác, chứ không phải là sự áp đặt, khiên cưỡng của mệnh lệnh hành chính hay ý chí chủ quan

- Có một số ý kiến cho rằng trong nền kinh tế thị trường, không nên đặt vấn đề có một thành phần kinh tế nào đóng vai trò chủ đạo mà các thành phần kinh tế đều bình đẳng

Từ nhiều năm nay, luôn có những ý kiến cho rằng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo chứ không phải kinh tế nhà nước Nhà nước là lực lượng định hướng, dẫn dắt và quản lý sự phát triển;

do vậy, là yếu tố quyết định bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Nhưng ý kiến khác lại cho rằng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Lập luận chính của ý kiến này là: Ở bất cứ nền kinh

tế nào cũng có một thành phần (khu vực, lực lượng) kinh tế giữ vai trò, vị thế chi phối, chủ đạo Trong chủ nghĩa tư bản, vai trò đó thuộc về thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò chủ đạo phải thuộc về kinh tế nhà nước

Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, trong thực tế doanh nghiệp nhà nước vẫn còn được nhận nhiều ưu đãi hơn so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhưng hiệu quả hoạt động còn thấp, còn tồn tại nhiều tiêu cực và yếu kém

Sự kém hiệu quả và những khó khăn của các doanh nghiệp nhà nước, trong đó có cả các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đã ảnh hưởng đến vai trò “chủ đạo” của kinh tế nhà

Trang 36

nước và tác động tiêu cực đến nền kinh tế Đây là mâu thuẫn

mà chúng ta cần giải quyết Tư duy kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo rõ ràng đã tạo lập môi trường kinh doanh thiếu

sự cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch và lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, khiến khu vực tư nhân khó có cơ hội tiếp cận các nguồn đầu vào và cơ hội kinh doanh một cách bình đẳng Tư duy kinh tế nhà nước là chủ đạo cũng đang bị các “nhóm lợi ích” tận dụng triệt để cho lợi ích của một số cá nhân có liên quan Đây là miếng đất màu mỡ để tạo ra các mối “quan hệ” vây quanh các tập đoàn và tổng công ty nhà nước nảy nở và phát triển Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế nhà nước chưa tương xứng với các ưu đãi về nhiều mặt của Nhà nước Quá trình chuyển từ cơ chế giao vốn sang cơ chế Nhà nước đầu

tư vốn cho doanh nghiệp chưa được thực hiện triệt để và minh bạch, còn nhiều lúng túng trong tổ chức thực hiện Kinh tế tập thể có quy mô nhỏ, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế hợp tác khác phát triển chậm Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào những ngành thâm dụng lao động, tài nguyên trong khi các ngành nghề có sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng giá trị gia tăng cao còn chưa được chú trọng

- Một số ý kiến cho rằng Việt Nam đã tích cực đàm phán gia nhập CPTPP, thì việc tiếp tục khẳng định “vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước” trong Hiến pháp sẽ làm cho Việt Nam gặp không ít bất lợi Vấn đề thực tế là cần khẳng định những

ưu thế vượt trội của kinh tế nhà nước, ngay cả trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhưng tiếc rằng, nước ta chưa có nhiều doanh nghiệp nhà nước thể hiện được vai trò đó trên thị trường thế giới và vì vậy những đóng góp thực sự cho nền kinh tế cũng hạn chế và không thể phát huy được vai trò chủ đạo

Trang 37

- Có ý kiến lập luận rằng nếu xác định kinh tế nhà nước (trước hết là doanh nghiệp nhà nước) đóng vai trò chủ đạo, định hướng phát triển kinh tế thì dễ tạo ra sự không bình đẳng và cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, do để phát triển mạnh kinh tế nhà nước cần phải có những chính sách ưu tiên nhất định về phân bổ nguồn lực cho thành phần kinh tế này Vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện trên một số tiêu chí chủ yếu: (1) Quy mô tài chính và hoạt động lớn; (2) Năng lực cạnh tranh cao; (3) Hiệu quả kinh doanh cao; (4) Trình độ công nghệ và năng lực điều hành hiện đại Tuy nhiên, trên thực tế nếu bảo đảm thực hiện nguyên tắc thị trường bình đẳng trong toàn bộ nền kinh tế thì khu vực kinh tế nhà nước không bảo đảm được hai tiêu chí về chất lượng quan trọng nhất (2) và (3) Do đó, vai trò chủ đạo và định hướng nền kinh tế của khu vực kinh tế nhà nước không được bảo đảm Vấn đề là cơ chế bảo đảm cho doanh nghiệp nhà nước vận hành theo đúng nguyên tắc thị trường và vai trò của Nhà nước cần định nghĩa lại là “Nhà nước - nhà đầu tư chiến lược” thay vì “Nhà nước - nhà bảo hộ, dung túng doanh nghiệp” Vấn đề này thực chất là liên quan đến xác định vị trí, vai trò của Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước.

Nhiều ý kiến nhấn mạnh kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo hiểu theo nghĩa nên tập trung lực lượng của Nhà nước đầu

tư thông qua các doanh nghiệp nhà nước vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn có vai trò tạo điều kiện mở đường, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, mà các thành phần kinh tế chưa có khả năng và chưa muốn tham gia đầu tư Cơ cấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước không cố định trong mọi thời kỳ, mà linh hoạt theo sự phát triển của các thành phần kinh tế khác Những ngành nghề, lĩnh vực, sản

Trang 38

phẩm nào mà các thành phần kinh tế khác có thể làm có hiệu quả, có ích cho xã hội, thì Nhà nước tạo điều kiện cho họ phát triển, doanh nghiệp nhà nước không nên đầu tư vào đó Trong những năm trước mắt, nên kiên quyết thu hẹp diện doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần này.

Tóm lại, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cần được thể chế hóa để thực hiện một cách minh bạch đặt trong quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; Nhà nước không đối lập và tranh chấp với thị trường mà định hướng, phối hợp tạo điều kiện cho thị trường hoạt động có hiệu quả Các thành phần kinh tế đều

là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật Cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước hoạt động có chức năng tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội ở những lĩnh vực dịch vụ công, lĩnh vực kinh doanh mà tư nhân không đầu tư nhưng lại cần thiết cho lợi ích cộng đồng, lĩnh vực có vai trò mở đường cho sự phát triển của các chủ thể kinh tế khác Doanh nghiệp tư nhân và các loại hình doanh nghiệp khác có chức năng tạo hiệu quả kinh tế thuần và tạo ra động lực cho sự phát triển nền kinh tế

Trang 39

CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TRẠNG VỀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

Ở KHU VỰC NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN VIỆT NAM

PGS.TS Nguyễn Cúc*

1 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn

Một trong những đặc điểm nổi bật của công cuộc đổi mới của Việt Nam là đổi mới từ nông nghiệp, nông dân và nông thôn Được khai mở từ áp lực của cuộc sống và khát vọng của nông dân, qua thử nghiệm so sánh thấy tốt hơn cơ chế cũ được Đảng và Nhà nước tổng kết thành cơ chế, chính sách: Chỉ thị

số 100-CT/TW của Ban Bí thư (năm 1981) thay vì tập thể hóa

tư liệu sản xuất ngừng trệ bằng việc khoán đến nhóm và người lao động; Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 1989) thừa nhận kinh tế hộ nông dân là đơn vị cơ bản của sản xuất nông nghiệp và phát triển quan hệ thị trường đã tạo động lực phát triển Sau 10 năm thực hiện, nông nghiệp liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, bảo đảm an ninh lương thực, năm 1999 bắt đầu xuất khẩu gạo

* Học viện Chính trị khu vực I.

Trang 40

Với nhận thức nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều cơ chế, chính sách mang tính hỗ trợ phát triển Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 (tháng 3/2002) đã đề ra mục tiêu “ xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến”1 Để tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nông nghiệp lên sản xuất lớn, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp nhằm tạo điều kiện tốt nhất để nông nghiệp và nông dân tiếp nhận sự ưu đãi từ phía Nhà nước Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010, chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đáp ứng sự mong đợi của các tầng lớp nhân dân, nhất là nông dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp

hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.96.

Ngày đăng: 22/06/2023, 16:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm