Luật đất đai
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp
luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (Điều 18, Chương II);
Luật Đất đai 2003 quy định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trongcác nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003; Nghị định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai và Thông tư số30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môitrường hướng dẫn việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất; UBND Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện Dự án Điều chỉnhQuy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối(2006 - 2010) của Thành phố Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong cácđiều kiện tiên quyết để Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các chỉ tiêu phát triểnkinh tế - xã hội
1 Vai trò, vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất của cả nước, một trung tâm lớn
về kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng
Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt và ảnh hưởng trực tiếp đến Vùngkinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, những năm qua nền kinh tế của Thànhphố đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, thu hút mạnh mẽ đầu tư trong nước vànước ngoài Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố đã
và đang phù hợp với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết hợptốt giữa xây dựng phát triển với bảo đảm an ninh quốc phòng, giữa cải tạo và xâydựng mới Sự phát triển của Thành phố phù hợp với mục tiêu xây dựng Thành phố
Hồ Chí Minh là một đô thị đặc biệt, trung tâm cấp quốc gia vừa hiện đại vừa đậm
đà bản sắc dân tộc; là một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ,đầu mối giao thương và hợp tác quốc tế, môi trường đầu tư có vị trí chính trị quantrọng đối với cả nước và các tỉnh phía Nam, xứng đáng tầm cỡ với các đô thị lớnvăn minh, hiện đại trong khu vực và trên thế giới
Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nướccông nghiệp, Đại hội X của Đảng xác định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hộicủa cả nước đến năm 2010 với mục tiêu chung là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấukinh tế và phân công lại lao động Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lạilao động làm chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, trong đó tăng mạnh tỷ trọng diện tíchđất phi nông nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 19 quận và 5 huyện, là trung tâm kinh
tế lớn nhất của cả nước đang đổi mới mạnh mẽ Nhu cầu sử dụng đất đai củaThành phố Hồ Chí Minh cho việc phát triển các khu, cụm công nghiệp, hệ thốngđường giao thông, mạng lưới các khu dân cư, các công trình phúc lợi công cộng
Trang 2và cơ sở hạ tầng khác sẽ tăng lên không ngừng, đất đai trở thành vấn đề sôi động
và phức tạp ở tất cả các quận, huyện trên toàn Thành phố Yêu cầu đặt ra là phảitính toán cân đối và phân bổ quỹ đất hợp lý cho các ngành và các lĩnh vực
2 Lý do điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
2.1 Có sự xác định lại các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội và cơ cấu kinh tế của Thành phố đến năm 2010
Quy hoạch sử dụng đất của Thành phố đến năm 2010 được Thủ tướngChính phủ phê duyệt tại quyết định số 1060/2004/QĐ-TTg được xây dựng dựatrên các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội như sau:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung toàn Thành phố giai đoạn 2006 – 2010
là 13%/năm, trong đó:
+ Khu vực Dịch vụ - thương mại: tốc độ tăng trưởng 13,5%;
+ Khu vực Công nghiệp-xây dựng: tốc độ tăng trưởng 12,7%;
+ Khu vực Nông nghiệp: tốc độ tăng trưởng 1,7%.
- Cơ cấu kinh tế được xác định như sau:
+ Khu vực Dịch vụ - thương mại: tỷ trọng chiếm 51,7%;
+ Khu vực Công nghiệp - xây dựng: tỷ trọng chiếm 47,5%;
+ Khu vực Nông nghiệp: tỷ trọng chiếm 0,8%.
Tại văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII xác định các chỉtiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố 5 năm 2006 – 2010 là:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung toàn Thành phố giai đoạn 2006 – 2010
là 12%/năm trở lên, trong đó:
+ Khu vực Dịch vụ - thương mại: tốc độ tăng trưởng 12%/năm trở lên; + Khu vực Công nghiệp-xây dựng: tốc độ tăng trưởng 12% - 13%/năm; + Khu vực Nông nghiệp: tốc độ tăng trưởng 5%/năm trở lên.
- Cơ cấu kinh tế được xác định như sau:
+ Khu vực Dịch vụ - thương mại: tỷ trọng chiếm 50,6 %;
+ Khu vực Công nghiệp - xây dựng: tỷ trọng chiếm 48,5%;
+ Khu vực Nông nghiệp: tỷ trọng chiếm 0,9%.
- Bên cạnh đó, đối với từng khu vực kinh tế, Thành phố đã xác định và định hướngcác ngành mũi nhọn ưu tiên phát triển là:
+ Đối với khu vực thương mại – dịch vụ: Các dịch vụ sẽ phát triển rất nhanh
bao gồm: Tài chính – tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm; Thương mại (tập trung vàocác loại dịch vụ phục vụ xuất khẩu); Vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; Bưu chính -
Trang 3viễn thông và công nghệ thông tin truyền thông; Kinh doanh tài sản – bất độngsản; Dịch vụ tư vấn khoa học – công nghệ; Du lịch; y tế và giáo dục – đào tạochất lượng cao.
+ Đối với khu vực Công nghiệp – xây dựng: Chuyển dịch mạnh theo hướng
tăng nhanh các ngành công nghiệp công nghệ kỹ thuật cao, giá trị sản phẩm lớn,
có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao như các ngành cơ khí chế tạo máy,công nghệ điện tử tin học, phần mềm, hóa chất, vật liệu mới
Chú trọng giải quyết mục tiêu tăng trưởng bền vững song song với bảo vệmôi trường, hạn chế sử dụng nhiều năng lượng và tạo ra các chất thải độc hạiđồng thời với nâng cao đời sống xã hội, giữ vừng an ning quốc phòng
Quy hoạch lại, điều chỉnh các khu, cụm công nghiệp tập trung trên địa bàntheo hướng chuyên môn hóa và hợp tác hóa; Phân công hợp lý, thống nhất với toànVùng kinh tế trọng điểm phía Nam
+ Đối với khu vực Nông nghiệp: Xây dựng nền nông nghiệp đô thị năng
suất cao Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu câytrồng, vật nuôi, thủy sản; phát triển mạnh các loại cây con và nông sản chủ lựctheo hướng nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất tập trung Hỗ trợ việc nuôi trồngcác sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao, xuất khẩu được lâu dài như rau sạch, câykiểng, hoa, cá kiểng
Sản xuất giống cây, giống con chất lượng cao, thực hiện có kết quả cácpháp lệnh về công tác giống cây trồng, vật nuôi
Phát triển theo chiều sâu các mô hình sản xuất kết hợp với kinh doanh,dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của nội thành và du khách; Các môhình tổ chức sản xuất có hiệu quả như kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình, kinh
tế hợp tác
Tăng năng suất lao động và thu nhập lao động nông nghiệp và nông thônngoại thành; nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân trên mỗi đơn vịdiện tích
Với sự xác định lại các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội như trên, Quyhoạch sử dụng đất của Thành phố đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt tại quyết định số 1060/2004/QĐ-TTg không còn phù hợp và căn cứ khoản
1 điều 27 Luật Đất đai điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất của Thành phố đếnnăm 2010 là cần thiết
2.2 Có sự thay đổi trong định hướng phát triển của Thành phố
Theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, đến năm 2005 đất phinông nghiệp phải tăng 15.963 ha và đến năm 2010 tăng 36.683 ha Tuy nhiênkết quả thực hiện đến năm 2005 chỉ tăng 9.479 ha, như vậy theo quyết định số
Trang 41060/2004/QĐ-TTg từ nay đến năm 2010 đất phi nông nghiệp phải tăng thêm là27.203,93 ha, trung bình mỗi năm tăng 5.500 ha là rất cao và không khả thi
Trong thời gian qua, nhằm cụ thể hóa các chương trình, mục tiêu củaChính phủ và Thành phố, một số ngành, lĩnh vực có sự điều chỉnh quy hoạch cụthể là:
- Định hướng quy hoạch phát triển công nghiệp TP.Hồ Chí Minh đến năm
2010 có tính đến năm 2020 theo QĐ 188/2004/QĐ-TTg ngày 01/11/2004 củaThủ tướng Chính phủ có sự thay đổi so với quy hoạch sử dụng đất: chuyển một
số khu công nghiệp sang các mục đích khác như Khu công nghiệp Cát Lái cụm3,4 (sang đất thương mại, dịch vụ và đất ở); điều chỉnh quy mô một số Khu côngnghiệp như khu công nghiệp Phú Mỹ (từ 150 ha giảm còn 70 ha), Khu côngnghiệp Tân Tạo (từ 460 ha giảm còn 380 ha), Khu công nghiệp Lê Minh Xuân(từ 300 ha tăng lên 800 ha)
- Điều chỉnh, bổ sung một số công trình giao thông quan trọng như:đường Cao tốc Sài Gòn - Trung Lương, các tuyến đường sắt đô thị và 3 deportMetro, các tuyến đường vành đai và các tuyến hướng tâm;
- Điều chỉnh, bổ sung một số công trình công viên cây xanh như: Thảocầm viên tại Củ Chi 580 ha (trước đây là 300 ha), bổ sung công viên hồ sinh tháiquận Bình Tân, khu công viên Gia Định huyện Củ Chi khoảng 100 ha
- Bố trí thêm một số khu làng Đại học lớn tại quận 9 (100 ha), huyện HócMôn 500 ha (trong khu đô thị Tây bắc), huyện Bình Chánh (50 ha)
- Bổ sung các Trung tâm Viện trường và các cơ sở y tế tại 4 cửa ngõ củathành phố khoảng 220 ha
- Phát triển thêm một số khu đô thị như Khu đô thị Cảng Hiệp Phước(2.000 ha), Khu Đô thị lấn biển Cần Giờ (quy mô khoảng 2.000 ha, giai đoạn từnay đến năm 2010 dự kiến 800 ha)
2.3 Luật Đất đai thay đổi
Đồng thời với những thay đổi về các chỉ tiêu kinh tế xã hội, hệ thống chỉtiêu về đất đai cũng có sự thay đổi cơ bản
Do Quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 của Thành phố Hồ Chí Minh
đã xây dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước khi các văn bản hướngdẫn thi hành Luật Đất đai 2003 có hiệu lực nên hệ thống chỉ tiêu trong phương ánquy hoạch cơ bản theo hệ thống chỉ tiêu của Luật Đất đai 1993 Mặt khác, năm
2005 thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố Hồ Chí Minh
đã tiến hành kiểm kê đất đai với hệ thống chỉ tiêu theo Luật Đất đai năm 2003
(trong khi đó, hệ thống chỉ tiêu đất đai giữa Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai
2003 không đồng nhất) nên sự khác biệt số liệu giữa phương án quy hoạch với hiện
trạng kiểm kê là không tránh khỏi, do đó nếu không có sự điều chỉnh sẽ gặp khó
Trang 5khăn trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch
Như vậy, để đảm bảo tính đồng nhất của hệ thống chỉ tiêu sử dụng đất vàđồng thời phù hợp với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010, cần thiếtphải tiến hành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của Thành phố
3 Căn cứ để điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
3.1 Các căn cứ pháp lý
- Luật đất đai 2003;
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai;
- Thông tư số 30/2004/TT- BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất;
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm
2005 của cả nước đã được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt NamKhoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 5 (Nghị quyết số 29/2004/QH11);
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 – 2010) của cả nước
- Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 – 2010) của cả nước
- Quy hoạch sử dụng đất TP.Hồ Chí Minh đến năm 2010 đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1060/2004/QĐ-TTg, và Kế hoạch
sử dụng đất đai 5 năm (2001 – 2005) TP.Hồ Chí Minh đã được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt tại quyết định số 844/2004/QĐ-TTg;
- Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 18/11/2002 của Bộ Chính trị về phươnghướng nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010;
- Quyết định 146/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chínhphủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020;
- Nghị quyết 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về “Phát triểnkinh tế - xã hội và đảm bảo và quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam bộ và vùngkinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số 123/2006/QĐ-TTg ngày 29/5/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghịquyết 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xãhội và đảm bảo và quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Nghị quyết và văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lầnthứ VIII;
- Quyết định 123/1998/QĐ-TTg ngày 10/7/1998 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh đến
Trang 6năm 2020
3.2 Quy hoạch và định hướng của các ngành
- Quy hoạch phát triển hệ thống mạng lưới Chợ – Siêu thị, trung tâmthương mại của 22 quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm
2010 (Sở Thương mại);
- Định hướng quy hoạch phát triển công nghiệp TP.Hồ Chí Minh đến năm
2010 có tính đến năm 2020 theo QĐ 188/2004/QĐ-TTg ngày 01/11/2004 củaThủ tướng Chính phủ;
- Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở vật chất ngành Y tế Thành phố HồChí Minh đến năm 2020 (Sở Y tế);
- Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh (Sở Giáodục và đào tạo);
- Quy hoạch phát triển mạng lưới ngành thể dục thể thao đến năm 2020(Sở Thể dục - Thể thao);
- Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở vật chất ngành văn hóa thông tinđến năm 2010 (Sở Văn hóa và thông tin);
- Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đếnnăm 2020;
- Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2010 và Quy hoạch cây xanh đô thị dàihạn đến năm 2020 (Công ty công viên cây xanh);
Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006
-2010 (Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn);
- Các quyết định phê duyệt quy hoạch: Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu
đô thị Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ ChíMinh;
- Nhiệm vụ quy hoạch chung Khu đô thị Tây bắc và kế hoạch sử dụng đất
5 năm (2006-2010) trên địa bàn Khu đô thị Tây bắc (Ban Quản lý Khu đô thịTây bắc);
- Tài liệu kiểm kê đất đai năm 2000, năm 2005 của toàn thành phố Hồ ChíMinh và của các quận huyện;
- Tài liệu đo đạc bản đồ địa chính trên địa bàn các quận huyện
4 Cơ sở khoa học và phương pháp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất
5 năm 2006 – 2010 của thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng theo trình tự từtrên xuống và kết hợp từ dưới lên; vừa dựa trên nhu cầu chung của Thành phố
về sử dụng đất (bao gồm cả nhu cầu về sử dụng đất của các Bộ, ngành Trungương), vừa dựa trên đề xuất về sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực và cácquận, huyện trên địa bàn Thành phố đến năm 2010, đặt Thành phố trong bối
Trang 7cảnh chung của cả nước, của vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểmphía Nam để dự báo biến động về quỹ đất gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh
tế, dân số và nhu cầu bảo vệ môi trường cho thời kỳ đến năm 2010 Phương ánđiều chỉnh quy hoạch sử dụng đất được kiểm tra bằng số liệu quy hoạch sử dụngđất của các quận, huyện của Thành phố, kết hợp với điều tra bổ sung theo cáctuyến Phương pháp cụ thể như sau:
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất của Thành phố tại thời điểm năm 2005,quá trình sử dụng đất trong thời kỳ 2000 - 2005, kết quả thực hiện quy hoạch sửdụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2005, điều tra,phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố làm thay đổi cơ cấu sửdụng đất trong kỳ quy hoạch sử dụng đất của Thành phố, từ đó xác định xuhướng biến động sử dụng đất và khả năng thực hiện chuyển đổi quỹ đất đối vớimột số loại đất cần quan tâm như đất nông nghiệp, đất ở và đất chuyên dùng
- Phân tích nhu cầu sử dụng đất theo các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hộigiai đoạn 2006 – 2010 theo quy hoạch phát triển các ngành, các khu vực đãđược Chính phủ và Uỷ ban nhân dân Thành phố xét duyệt trong thời gian qua
Từ đó đưa ra chỉ tiêu phát triển của từng ngành tại thời điểm 2010 cần phải bốtrí và điều chỉnh quỹ đất
- Điều chỉnh bố trí quỹ đất đối với từng loại đất để thực hiện các chỉ tiêu
phát triển của từng ngành phù hợp với hiện trạng sử dụng đất năm 2005, khảnăng thực hiện chuyển đổi quỹ đất, định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học vàcông nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất
- Kiểm tra phương án điều chỉnh bố trí quỹ đất bằng việc so sánh vớiphương án quy hoạch sử dụng đất của các quận, huyện, thị xã của Thành phố
5 Mục đích, yêu cầu Điều chỉnh quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất Thành phố:
- Đánh giá thực trạng và tiềm năng đất đai để có kế hoạch và phương ánđầu tư, sử dụng hợp lý các loại đất phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triểnkinh tế - xã hội của Thành phố và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm
2020, đồng thời đảm bảo sự phù hợp với tiến độ đầu tư giai đoạn 2006 – 2010;
- Định hướng và xây dựng bộ số liệu gốc, làm cơ sở để lập quy hoạch sử
dụng đất cho các quận, huyện; làm cơ sở cho cấp xã lập quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất chi tiết, đồng thời là tiền đề để các ngành xây dựng dự án, lập quyhoạch chi tiết các công trình, dự án đầu tư
- Làm cơ sở để quản lý thống nhất đất đai theo quy định của pháp luật,bảo vệ tài nguyên đất, môi trường sinh thái và nâng cao đời sống xã hội, pháttriển kinh tế phù hợp với việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững
Trang 8Phần I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc khu vực Nam Bộ, trong vùng phát triển kinh
tế trọng điểm phía Nam, nơi hội lưu của các con sông như sông Đồng Nai và sôngSài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có tọa
độ địa lý từ 10022’13” đến 11022’17” vĩ độ Bắc và 106001’25” đến 107001’10”kinh độ Đông, giáp ranh với các tỉnh:
- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai; phía Đông Nam giáp tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu
- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An, Tiền Giang; phía Tây Bắcgiáp tỉnh Tây Ninh
- Phía Nam giáp biển Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 209.554,47 ha, gồm 19 quận: 1, 2, 3,
4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận, Thủ Đức,Bình Tân, Tân Phú và 5 huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất cả nước, một trong những đầumối kinh tế lớn hội đủ các điều kiện thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ,đường sắt, đường hàng không, nối liền với các địa phương trong nước và quốc tế
Hệ thống thương cảng quốc tế Sài Gòn nối liền với các cảng trong nước và
thế giới (như khu cảng Sài Gòn, khu cảng Nhà Bè, khu cảng Cát Lái )
Hệ thống đường bộ có Quốc lộ 1A nối liền Thành phố với các tỉnh phíaBắc và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; Quốc lộ 22 đi Tây Ninh nối liền vớiCampuchia; Quốc lộ 13 qua Bình Dương, Bình Phước nối liền với Quốc lộ 14kéo dài suốt Tây nguyên; Quốc lộ 51 nối liền với Đồng Nai và Bà Rịa - VũngTàu; Quốc lộ 50 đi Long An, Tiền Giang và nhiều tỉnh lộ nối trực tiếp với cáctỉnh xung quanh
Thành phố cũng là đầu mối cuối cùng của đường sắt thống nhất Bắc - Nam Sân bay Tân Sơn Nhất là một sân bay quốc tế lớn của nước ta
Nhìn chung, vị trí của Thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để pháttriển thành một đô thị hiện đại, một trung tâm kinh tế lớn và năng động ngangtầm các nước trong khu vực Song đó cũng là nhân tố gây sức ép mạnh mẽđến môi trường và đất đai của Thành phố
Trang 91.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn bằng phẳng, thấp, có mộtphần diện tích dạng đất gò ở phía Bắc và Đông Bắc với độ cao giảm dần theohướng Đông Nam Địa hình Thành phố có thể chia thành bốn dạng chính:
- Dạng đất gò cao:
Có độ cao biến thiên từ 4 đến 32 m Trong đó phần diện tích có độ cao từ 4 –
10 m chiếm khoảng 19% tổng diện tích tự nhiên; phần diện tích có độ cao trên 10
m chiếm khoảng 11% tổng diện tích tự nhiên Dạng địa hình này phân bố chủ yếu
ở huyện Củ Chi và một phần ở Quận 9, Thủ Đức
- Dạng đất bằng thấp:
Chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên Độ cao 2 - 4 m, điều kiện tiêuthoát nước tương đối thuận lợi Phân bố chủ yếu ở các quận nội thành, một phần ởThủ Đức, Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và phía Nam huyện Bình Chánh
- Dạng trũng thấp, lầy ở phía Tây Nam:
Chiếm khoảng 34% diện tích tự nhiên, độ cao phổ biến từ 1 - 2 m Phân
bố dọc theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt, Tam Tân, Thái Mỹ kéo dài
từ các huyện Bình Chánh đến Củ Chi, khu vực trung tâm huyện Nhà Bè, Bưng
Sáu Xã của Thủ Đức (cũ) và phía Bắc huyện Cần Giờ.
- Dạng trũng thấp mới hình thành ven biển:
Chiếm khoảng 21% tổng diện tích tự nhiên Dạng địa hình này có độ caophổ biến khoảng 0 - 1 m, nhiều nơi có độ cao thấp hơn mực nước biển, nhìnchung đa số chịu ảnh hưởng của thuỷ triều hàng ngày
1.3 Khí hậu
Thành phố nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chấtcận xích đạo với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từtháng 12 đến tháng 4 năm sau
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình cả năm khoảng 280C
(dao động trong khoảng 26,6 - 30,1 0 C) Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng
nhất và tháng lạnh nhất khoảng 40C, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4, thấpnhất là tháng 12
Lượng bức xạ dồi dào (trung bình khoảng 140 Kcal/cm 2 /năm) nhưng có
sự khác biệt về cấu trúc mùa Mùa khô có bức xạ mặt trời cao, thời kỳ có bức xạ
cao vào tháng 4 và 5 (đạt 400 - 500 cal/cm 2 /ngày) Mùa mưa có bức xạ mặt trời
thấp hơn, cường độ bức xạ cao nhất đạt 300 - 400 cal/cm2/ngày
Trang 101.4 Thuỷ văn
Thành phố nằm giữa hai sông lớn là sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông vàchịu ảnh hưởng lớn của sông Đồng Nai
- Sông Đồng Nai:
Là sông lớn nhất trong hệ thống Đồng Nai - Sài Gòn (Sông Đồng Nai nối
thông qua sông Sài Gòn bằng hệ thống kênh Rạch Chiếc) Tại địa phận Quận 9,
sông rộng 400 - 600 m Lòng sông không sâu so với các sông khác, độ sâu trungbình 12 - 15 m, dòng chảy trung bình 500 m3/s
- Sông Sài Gòn:
Là sông có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa do vậy thuỷtriều truyền vào rất sâu và mạnh Chế độ thuỷ văn, dòng chảy của các kênh rạchtrong Thành phố chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Sài Gòn
Trang 11Hệ thống kênh rạch đổ vào sông Bến Lức và kênh Đôi, kênh Tẻ như rạchTân Kiên, rạch Bà Hom, rạch Tân Hoá - Lò Gốm Đặc điểm của các kênh rạchnày là chúng tương đối độc lập và bắt nguồn từ vùng đất cao.
Nét nổi bật chi phối tất cả các chế độ dòng chảy trong khu vực Thành phố
là sự xâm nhập của thuỷ triều Phân tích biên độ dao động của thuỷ triều tại các
trạm Bến Lức, Gò Dầu Hạ (trên sông Vàm Cỏ Đông), các trạm Nhà Bè, Phú An, Thủ Dầu Một (trên sông Sài Gòn) cho thấy biên độ dao động thuỷ triều dọc sông
Sài Gòn thay đổi và giảm dần từ cửa sông đến Dầu Tiếng và biên độ dao độngcủa thuỷ triều trên sông Vàm Cỏ Đông nhỏ hơn trên sông Sài Gòn rất nhiều Vớichế độ dòng triều như vậy cho nên hầu như các ảnh hưởng và sự trao đổi dòngchảy giữa hai sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông rất yếu và đó cũng là nguyên nhân
tạo ra các giáp nước (nơi dòng chảy đổi chiều, tốc độ dòng chảy bằng 0 hoặc
gần bằng 0) trên sông Bến Lức và kênh Thầy Cai.
2 Các nguồn tài nguyên
2.1.2 Đất mặn:
Với diện tích 25.559 ha, chiếm khoảng 12,2% diện tích tự nhiên Phân bốtập trung ở huyện Cần Giờ
Loại đất này hình thành trên trầm tích sông, biển và đầm lầy biển bị xâm
nhập mặn hơi chua ở tầng mặt (pH < 5), các tầng ở dưới ít chua đến trung tính,
đạt trị số pH 6,5 - 7 ở độ sâu trên 100 cm
Đất có thành phần cơ giới nặng; Các chỉ tiêu độ phì ở mức trung bình
khá, hàm lượng chất hữu cơ giàu (2,5 - 3,5%), hàm lượng đạm tổng số tương đối cao (0,2%) Đất mặn thích hợp cho việc trồng rừng, đặc biệt đối với cây
đước, sú, vẹt,
2.1.3 Đất phèn:
Chủ yếu là đất phèn tiềm tàng, diện tích khoảng 57.613 ha, chiếm 27,5%
Trang 12diện tích tự nhiên Phân bố ở các vùng thấp, trũng, tiêu thoát nước kém như:phía Nam huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và phía Bắchuyện Cần Giờ.
Đất phèn được hình thành trên trầm tích đầm lầy biển (đầm mặn) Trong điều
kiện yếm khí phèn ở dạng tiềm tàng, trong phẫu diện chỉ có tầng Pyrite Khi có quátrình thoát thuỷ, tạo ra môi trường oxy hoá, tầng Pyrite chuyển thành tầng Jarositelàm cho đất chua đồng thời giải phóng nhôm gây độc hại cho cây trồng
Tầng sinh phèn và tầng phèn thường rất nông, nhiều nơi phát hiện ngay ởtầng đất mặt, hàm lượng lưu huỳnh và các độc tố Fe2+, Fe3+, Al3+ rất cao Nhìnchung đất có độ pH thấp, hàm lượng Cl- và các muối tan rất cao vì đất thườngxuyên chịu ảnh hưởng của nước biển làm cho đất phèn trở nên phức tạp và diễnbiến nhanh chóng theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất cũng như môi trường
Mg2+ và Na2+ chiếm vai trò chính trong thành phần các cation trao đổi
Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, cùng với sự tích luỹmuối phá vỡ các keo đất làm cho đất dính dẻo khi ướt, nứt nẻ và cứng khi khô
Do đất phèn được hình thành trên trầm tích Holocen, cùng với quá trình trầmtích là quá trình vùi lấp các thân xác thực vật biển trong điều kiện yếm khí nên
đất phèn thường rất giầu các hợp chất hữu cơ (5 - 12%).
Các loại đất phèn có tầng sinh phèn sâu, không còn chịu ảnh hưởng củanước biển và thường có nguồn nước tưới Hiện nay, đất phèn đã được khai tháctrồng lúa 2 - 3 vụ, rau màu và các loại cây ăn quả Còn lại một diện tích lớn cácđất phèn có tầng sinh phèn nông, còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều được sửdụng cho việc trồng và bảo vệ rừng ngập mặn
2.1.4 Đất phù sa:
Có diện tích khoảng 26.397 ha, chiếm 12,6% diện tích tự nhiên, trong đóloại đất phù sa ngọt chỉ chiếm khoảng 2,5% Phân bố chủ yếu ở vùng Nam BìnhChánh và một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, độ cao khoảng 1,5 m Các chất dinhdưỡng về mùn, đạm, lân và kali rất giàu Đây là loại đất tốt, cần thiết phải đượccung cấp nước tưới, ưu tiên sản xuất lúa nước 2 - 3 vụ và sử dụng một phần diệntích cho việc trồng cây ăn trái
2.1.5 Đất xám:
Có diện tích khoảng 40.434 ha, chiếm khoảng 19,3% diện tích tự nhiên.Phân bố chủ yếu trên vùng đất cao, gò ở huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quậnThủ Đức, quận 9 và phía Bắc huyện Bình Chánh
Đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu hình thành trên mẫu chấtphù sa cổ Tầng đất thường rất dầy, thành phần cơ giới nhẹ Đất có phản ứng
Trang 13chua; hàm lượng mùn, đạm tầng đất mặt khá nhưng rất nghèo kali do vậytrong sản xuất nông nghiệp phải đầu tư nhiều phân bón.
Loại đất này dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hoá và thích hợp với loạicây hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày Trong sử dụng phải chú ý biệnpháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung dinh dưỡng nhất
là phân hữu cơ
2.2 Các loại tài nguyên khác
2.2.1 Tài nguyên nước
2.2.1.1 Nước mặt
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng hạ lưu của hệ sông Đồng Nai Sài Gòn, giáp với biển Đông, nên nguồn nước ngọt của sông Đồng Nai là nguồnnước ngọt chính với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km2, hàng năm cung cấp
-15 tỷ m3 nước Trong thời gian qua, một số các công trình thuỷ lợi, thuỷ điệnđược xây dựng chỉ làm thay đổi lượng nước theo mùa nhưng không thay đổi vềtổng lượng nói chung
Nước mặt trên địa bàn Thành phố hiện nay chủ yếu sử dụng cho nôngnghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà
Bè và Cần Giờ với lưu lượng khoảng 100 triệu m3/năm
2.2.1.2 Nước dưới đất
Nguồn nước dưới đất phân bố khá rộng, nước dưới đất ngọt phân bố chủ yếu
ở các tầng chứa nước Pliocen ở độ sâu 100 - 300 m, cá biệt có nơi 20 - 50 m Tậptrung tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, phía Bắc huyện Bình Chánh, các quận TânBình, Gò Vấp trữ lượng khai thác ước tính 300 - 400 m3/ngày
Nước dưới đất đã được khai thác và sử dụng từ những năm đầu thế kỷ XX
và bùng nổ việc khai thác từ sau năm 1991 Tổng lưu lượng nước hiện đang khaithác khoảng 600.000 m3/ngày, chiếm trên 30% nhu cầu nước sinh hoạt củaThành phố Hiện nay, Thành phố đang mở rộng mạng lưới cấp nước, tăng khaithác nước mặt để dần dần giảm khai thác lượng nước dưới đất
Trang 142.2.2 Tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có33.857,86 ha đất lâm nghiệp; chiếm 16,16% diện tích đất tự nhiên
Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi, trong đó chủ
yếu là diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ (chiếm khoảng 94% diện tích rừng) Số
diện tích còn lại phân bố ở Bình Chánh và Củ Chi dưới dạng rừng thứ sinh tựnhiên và rừng trồng, với các loại thực vật chủ yếu là bạch đàn và keo lá tràm
Rừng Cần Giờ không những là rừng phòng hộ mà còn là khu dự trữ sinhquyển được UNESCO công nhận Động thực vật chủ yếu là các chủng loại chịu
mặn (đước, sú, vẹt, ; khỉ, chim, cá, ).
2.2.3 Tài nguyên biển
Thành phố Hồ Chí Minh duy nhất ở huyện Cần Giờ là có biển với chiềudài bờ biển khoảng 15 km kéo dài từ tỉnh Tiền Giang đến giáp ranh tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (ngược) với hai vịnh lớn nhất là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái
Nguồn lợi từ biển chủ yếu là nuôi trồng thủy hải sản, đánh bắt gần bờ
và khai thác muối Việc khai thác, đánh bắt xa bờ còn hạn chế do đầu tư chưađúng mức
Hiện nay Thành phố đang có chủ trương tận dụng các bãi biển và chuyểnđổi cơ cấu từ lúa năng suất thấp đất làm muối năng suất không ổn định sangnuôi trồng thuỷ hải sản, đồng thời đầu tư tàu công suất lớn phục vụ khai thác,đánh bắt xa bờ Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được xem xét nghiêm túc tránhtình trạng xảy ra hiện tượng xâm mặn
2.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Theo các tài liệu hiện có về tiềm năng khoáng sản và hiện trạng khai thác
mỏ, Thành phố Hồ Chí Minh có các loại khoáng sản sau:
- Than bùn: Là một dạng nhiên liệu hóa thạch gồm mùn hữu cơ và bùn
sét Phân bố rải rác ở Láng Le (Bình Chánh), Nhị Bình (Hóc Môn), Tam Tân(Củ Chi), Long Phước, Tăng Nhơn Phú (Quận 9) và các điểm than bùn ở huyệnCần Giờ Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo khoảng 3.390.000 tấn
- Kaolin: Loại đất sét mịn, trắng, là nguyên liệu chính để sản xuất gốm,
sứ, gạch men, sản xuất sơn, giấy, chất độn cho một số dược phẩm, thuốc trừ sâu,
… và có thể chế biến tạo thành zeolit Phân bố ở khu vực huyện Củ Chi, ThủĐức với chất lượng không đồng đều, độ thu hồi từ 20 - 80%, tinh quặng kaolin
có chất lượng chủ yếu thuộc hạng IV Trữ lượng thăm dò cho các mỏ Rạch Sơn,Bàu Chứa, Linh Xuân (cấp B + C1): 4.223.168 tấn Tổng trữ lượng tài nguyên
dự báo (cấp P): 12.734.340 tấn
Trang 15- Đá xây dựng: Phân bố rải rác ở một số nơi như ấp Hàm Luông, bến đò
Long Bình và ấp Giồng Chùa Tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 25 triệu m3 Mỏ
đá Long Bình đã khai thác được khoảng 1 triệu m3
- Cát xây dựng: Chủ yếu từ các thành tạo trầm tích Pleistocen muộn và
Pleistocen giữa - muộn ở các khu vực Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn và trên cáctuyến sông Cát xây dựng chưa được đánh giá trữ lượng Riêng đoạn sông từ cầuĐồng Nai đến ngã ba sông Sài Gòn (ngã ba Đèn đỏ) với chiều dài khoảng 40
km, tổng trữ lượng tài nguyên cấp C là 37.500.000 m3
- Sét gạch ngói: Phân bố nhiều nơi trên địa bàn tThành phố với 2 kiểu
nguồn gốc trầm tích và phong hóa Mỏ sét phong hóa Long Bình đã được khaithác hết với trữ lượng 11.000.000 m3 Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo trên50.000.000 m3, trong đó điển hình mỏ Tân Quy (17.000.000 m3), Vĩnh Lộc(13.365.000 m3), Tân Túc (7.764.000 m3), Nhị Bình (7.200.000 m3),…
- Sét Keramzit: Là loại vật liệu làm từ sét có tính trương phồng khi nung
nhanh ở nhiệt độ thích hợp, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất bê tông nhẹxây dựng nhà cao tầng, vật liệu cách nhiệt, cách âm, chất độn xà phòng, dungdịch khoan, ngoài ra còn có rất nhiều ứng dụng khác Chỉ ghi nhận được đượcmột điểm Keramzit ở Cần Giờ với trữ lượng cấp C2 = 3.200.000 m3, tổng trữlượng tài nguyên dự báo cấp P là 23.190.000 m3
- Đất Laterit: Phân bố rộng rãi ở phía Bắc và Tây Bắc thành phố (Quận 9,
Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn) Theo thống kê hiện nay, trên địa bàn thành phố có
17 điểm Laterit, trong đó có 7 mỏ đã được điều tra đánh giá trữ lượng tài nguyêncấp P là 14.200.000 m3
2.2.5 Tài nguyên nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh có lịch sử hơn 300 năm với nhiều công trìnhkiến trúc cổ như đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát Lớn, Bưu điện, hệ thống các
ngôi chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình Giác Viên, ), hệ thống các Nhà thờ cổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức ), hệ thống
chợ Sài Gòn, Bà chiểu, Bình Tây…
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập
của dân tộc, ở đây Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước (năm
1911) Gắn liền với sự kiện đó là các di tích quan trọng như cảng Nhà Rồng, Bảo
tàng Hồ Chí Minh Ngoài ra, một trong những đặc trưng văn hoá của 300 năm lịch
sử đất Sài Gòn - Gia Định là sự hội tụ nhiều dòng văn hoá giữa truyền thống dântộc của người Việt với những nét đặc sắc của văn hoá Đông Tây
Thành phố có nhiều dân tộc Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm, với nền văn
hoá phong phú, đa dạng Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm Văn hoá của Miền
Trang 16Nam Đây là nơi ra đời báo Quốc ngữ đầu tiên, là trung tâm hoạt động và giao lưuvăn hoá, văn học, nghệ thuật nên có ảnh hưởng lớn về văn hoá đối với cả nước.
3 Thực trạng môi trường
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinhvật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Mối liên quan giữa việc quản lý, sửdụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường đôi khi lại bị bỏ qua hoặc không đượcchú ý đúng mức do không có công cụ hoặc giải pháp thích hợp Do vậy, khi lậpquy hoạch sử dụng đất của Thành phố Hồ Chí Minh cần phải đặc biệt quan tâmđến các vấn đề chính về môi trường dưới đây
3.1 Môi trường không khí
Từ năm 1995, Thành phố đã thiết lập hệ thống quan trắc chất lượng môitrường không khí bán tự động; năm 1996 bổ sung thêm 01 trạm Các thông số
đo đạc bao gồm: NO2, CO, bụi, chì và tiếng ồn Đến tháng 8 năm 2000 với sự tàitrợ của UNDP, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường không khí tự độngđược thiết lập; tiếp đó đến tháng 8 năm 2002 với sự tài trợ của NORAD – Na Uy
bổ sung thêm 5 trạm Các thông số đo đạc: PM10, SO2, NOx, CO, O3 Ngoài racòn có 6 trạm quan trắc không khí bán tự động để quan trắc chất lượng khôngkhí ven đường
Kết quả quan trắc chất lượng không khí cho thấy nồng độ các chất ônhiễm không khí đo được trong khu dân cư đạt tiêu chuẩn cho phép (nồng NO2
và SO2 dao động trong khoảng từ 2,3 – 40,49 g/m3 và 2,52 – 86,65 g/m3, đạttiêu chuẩn cho phép TCVN 5937: NO2 = 100 g/m3 và SO2 = 300 g/m3; nồng
độ bụi trung bình tháng dao động trong khoảng 32,78 – 148,56 g/m3 đạt tiêuchuẩn cho phép TCVN 5937: bụi = 160 g/m3)
Về chất lượng không khí ven đường, nồng độ bụi tổng từ năm 2000 đến nay
có xu hướng giảm (nhưng vẫn còn ở mức cao); nồng độ CO vào một số thời điểmvượt tiêu chuẩn cho phép (tại 2 trạm vòng xoay Hàng Xanh và ngã tư Điện Biên Phủ– Đinh Tiên Hoàng, nồng độ CO đôi khi vượt tiêu chuẩn trung bình 1,05 – 1,21 lần)
3.2 Môi trường nước
3.2.1 Môi trường nước mặt
Phần lớn nước mặt nằm trong ranh giới hành chính của Thành phố có chấtlượng nước không đạt yêu cầu khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
Hiện nay, nguồn nước mặt có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt chủ yếulấy từ sông Đồng Nai với khả năng khai thác khoảng 600.000m3/ngày, từ hệthông kênh Đông Củ Chi với khả năng khai thác khoảng 250.000m3/ngày Tuynhiên lưu lượng khai thác từ 2 nguồn này phụ thuộc vào việc tích - xả cuả hồ
Trang 17Dầu Tiếng và xâm nhập mặn, hiện nay đang có dự án mở rộng việc khai thácnước kênh Ðông để phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt cho Thành phố.
Do Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở phần hạ lưu của lưu vực sông ÐồngNai, chất lượng nguồn nước mặt bị ảnh rất lớn của hoạt động kinh tế ở thượngnguồn, do khu vực khai thác nằm ngoài địa phận nên khó kiểm soát chất lượngnước và phụ thuộc vào địa phương bạn về bảo vệ nguồn nước
Bảng 1.1 Thống kê lưu lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt (Đvt: m 3 )
Thời gian Trước 1950 1960 1996 1998 1999 Hiện nay
Q khai thác 80.000 130.000 357.628 475.492 524.456 600.000
Hệ thống quan trắc:
Từ năm 1993, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường nước mặt và thủyvăn được thiết lập bao gồm 8 trạm Phú Cường, Bình Phước, Phú An (sông SàiGòn), Hoá An (Đồng Nai), Nhà Bè, Bình Điền, Tam Thôn Hiệp và Lý Nhơn.Đến năm 2001, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường nước của TP Hồ ChíMinh bổ sung 10 trạm quan trắc chất lượng của các kênh rạch chính trong nộithành gồm: Nhiêu Lộc - Thị Nghè (tại cầu Lê Văn Sỹ, cầu Điện Biên Phủ), BếnNghé - Tàu Hủ – Đôi - Tẻ (cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường, bến Phú Định,rạch Ruột Ngựa), Tân Hoá - Lò Gốm (cầu Ông Buông, Hoà Bình) và ThamLương - Bến Cát (cầu Tham Lương, cầu An Lộc) với tần suất 02 lần trong nămvào mùa khô (tháng 4) và mùa mưa (tháng 9)
Hệ thống quan trắc chất lượng nước dưới đất bắt đầu hoạt động từ năm
2001 gồm 11 trạm Các thông số đo đạc gồm pH, T0C, EC, TDS, Cl-, NO3-,
NH4+, TOC, kim loại nặng (Pb, Cu, Zn, Ni, Cr, Cd, Hg, Al, Fe, As), tổngPhospho và tổng Coliform
Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2004 cho thấy chất lượng nước tạitrạm Hoá An (sông Đồng Nai) bị ô nhiễm hữu cơ, dầu và vi sinh; chất lượngnước tại trạm Phú Cường (sông Sài Gòn) bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh; chấtlượng nước tại các trạm khu vực Nhà Bè và Cần Giờ đạt tiêu chuẩn cho phépđối với nguồn nước loại B, tuy nhiên đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, dầu và visinh Chất lượng nước khu vực Cần Giờ đang bị ảnh hưởng bởi dòng nước bẩn
từ sông Thị Vải
Kênh rạch tại Thành phố bị ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và vi sinh, mùakhô ô nhiễm nặng hơn mùa mưa do khả năng tự làm sạch của thủy vực trongmùa mưa tốt hơn (nồng độ BOD5 ở kênh rạch nội thành TP Hồ Chí Minh vượttiêu chuẩn cho phép đối với nước mặt loại B TCVN 5942 – 1995 từ 6,2 – 12,1lần; nồng độ Coliform tại các trạm quan trắc vượt tiêu chuẩn cho phép đối vớinước mặt loại B khoảng từ 50 – 1.000 lần)
Trang 183.2.2 Nước dưới đất:
Thành phố Hồ Chí Minh có 3 tầng chứa nước chính là tầng Pleistocen QI-II, Pliocentrei N22 và Pliocen dưới N21 Khoảng phân nửa diện tích thành phốnước dưới đất lại mặn, ranh mặn hình vòng cung nằm ở phía Nam đi qua cáchuyện Bình Chánh, quận Bình Tân, 2, 9 Tổng trữ lượng của tầng chứa nướckhoảng 600.000 m3/ngày
Nguồn nước dưới đất chưa được bảo vệ và khai thác một cách hợp lý Thểhiện ở chỗ việc khai thác nước dưới đất một cách bừa bãi, các giếng khai thác lạiquá tập trung một khu vực, nhiều giếng kết cấu không đảm bảo việc cách lychống ô nhiễm do thông tầng Công tác quản lý nguồn nước dưới đất đã đượcquan tâm từ lâu, song việc đầu tư cho công tác quản lý vừa thiếu lại vừa yếu
Do còn một số những bất cập trên, nguồn nước dưới đất đang bị ô nhiễm
cả về quy mô và độ ô nhiễm, nhất là đối với tầng chứa nước gần mặt đất Mựcnước đang cạn kiệt, nhiều nơi mực nước đã hạ thấp đến trên 30 m so với mặt đất
và xu hướng này vẫn đang tiếp diễn với tốc độ từ 2 – 3 m/năm Chính sự hạ thấpmực nước lớn như vậy, hiện tượng xâm nhập mặn đã và đang xảy ra khu vựcphía Tây, Tây Nam thành phố đối với các tầng chứa nước Pliocen trên và dưới.Trong vùng phễu hạ thấp mực nước hiện tượng trồi ống chống các giếng khoan
đã và đang xảy ra
- Chất lượng nước dưới đất tầng nông đang ở mức báo động, bị ô nhiễm hữu
cơ, ô nhiễm vi sinh và nhiễm mặn ở một số khu vực Kết quả quan trắc chất lượngnước dưới đất trong 6 tháng đầu năm cho thấy giá trị pH tại các trạm dao động từ4,4 – 6,8; đa số các mẫu đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước dưới đất(TCVN 5994-1995: pH: 6,5 – 8,5); tổng cacbon hữu cơ dao động từ 0,6 – 89,8mg/l, thấp hơn so với khuyến cáo (nồng độ cacbon hữu cơ phải nhỏ hơn 2 mg/l)
3.3 Môi trường đất
3.3.1 Thoái hoá đất
Nhìn chung tình trạng thoái hoá đất ở Thành phố diễn ra khá phổ biến Đất bị
thoái hoá dưới các hình thức: Nhiễm mặn (Cần Giờ); nhiễm phèn (phía Nam huyện
Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và Bắc Cần Giờ); xói mòn rửa
trôi bề mặt ở các vùng có địa hình cao và dốc (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn); sụt lún đất (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn, Tân Bình, Quận 3, Quận 10); lầy hoá (Nhà Bè,
Thủ Đức, Quận 8, Bình Chánh), xói lở bờ sông (ở một phần kênh rạch Nhà Bè).
3.3.2 Ô nhiễm đất do thuốc bảo vệ thực vật
Các quan trắc trong đề án phân tích môi trường đất cho thấy các vùngtrồng rau là một trong những trọng điểm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều
Trang 19Riêng tại Hóc Môn, ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, bình quân một vụ rau đượcphun thuốc bảo vệ thực vật từ 10 đến 25 lần Lượng thuốc sử dụng cho 1 hatrong một năm có thể đạt tới 100 thậm chí 150 lít.
Kết quả phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại một số điểm trongđợt quan trắc tháng 7 năm 1996 đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vậttrong tầng đất mặt tại 5 trong số 8 điểm quan trắc với hàm lượng từ 0,4 - 0,9 mg/
kg, vượt quá Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-1995).
Trong các đợt phân tích hoàn toàn không phát hiện được dư lượng cácnhóm thuốc khác mặc dù lượng sử dụng có thể đạt tới 50 - 100 lít thuốc thươngphẩm trên một ha Kết quả trên đây cho thấy hiện tượng ô nhiễm đất do thuốcbảo vệ thực vật mang tính tạm thời
3.3.3 Ô nhiễm đất do chất thải đô thị
Song song với quá trình đô thị hoá, lượng rác thải hữu cơ đang có xuhướng ngày càng tăng lên Theo số liệu thống kê tThành phố Hồ Chí Minh bìnhquân hàng năm có khoảng 6 triệu tấn rác thải, trong đó có khoảng hơn 4,5 triệutấn rác thải sinh hoạt gồm phần lớn rác từ thực phẩm Nếu có quy trình côngnghệ chọn lọc và xử lý tốt thì lượng phế thải này có thể trở thành một nguồnphân hữu cơ quý góp phần cải tạo đất
Theo số liệu điều tra tại địa bàn quan trắc thuộc xã Xuân Thới Thượng Hóc Môn cho thấy bình quân mỗi vụ rau một ha đất gieo trồng có thể được bón
-từ 25 đến 80 tấn rác tươi Dưới góc độ nông hoá học, không thể phủ nhận vai tròtích cực của hữu cơ trong việc cải tạo đất Tuy nhiên, dưới góc độ môi trường,bên cạnh những ưu điểm, việc dùng phế thải đô thị thay thế phân hữu cơ khôngqua xử lý chọn lọc có thể gây ảnh hưởng đến môi trường đất
Tại các điểm quan trắc đã được xác lập từ năm 1996, kết quả quan trắc đếnnay cho thấy vấn đề ô nhiễm một số kim loại nặng gây độc và vi sinh vật gây bệnhthật sự đã và đang còn tồn tại trong đất mặc dù từ năm 2000 đất tại vùng quan trắckhông còn được bón phân rác do chính quyền đã nghiêm cấm Kết quả quan trắcnăm 2002 cho thấy hàm lượng Cu, Cr, Cd ở tầng đất mặt cao gần hoặc vượt mứcbáo động; mật độ Coliform dao động trong khoảng 132 - 170 MPN/g đất khô
3.3.4 Ô nhiễm kim loại nặng tại vùng chịu ảnh hưởng của nước thải công nghiệp và đô thị
Nước thải công nghiệp và đô thị cũng là một trong những nguyên nhân quantrọng gây ô nhiễm môi trường đất Môi trường đất tại một số khu vực sản xuấtnông nghiệp bị ô nhiễm bởi nước thải sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và bùn thải của các cống rãnh đô thị Kết quả phân tích các mẫu bùn lắng trong hệthống sông, kênh rạch và các mẫu đất tại các vùng ven, khu vực sản xuất nôngnghiệp cho thấy môi trường đất bị ô nhiễm dầu và ô nhiễm kim lọai nặng
Trang 20Thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày các khu công nghiệp đã thải ra hơn
600 ngàn m3 nước thải với mức độ ô nhiễm khác nhau Nước thải có thể xâmnhập vào đất trực tiếp do các cống thải bị vỡ thông qua hệ thống kênh rạch Kếtquả quan trắc ở vùng đất trong khu vực thuộc 2 huyện Nhà Bè và Bình Chánh làvùng đất chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước thải do các hoạt động công nghiệp
và sinh hoạt từ các quận nội thành (Quận 5, 6, 7, 11, Tân Bình) qua hệ thống
kênh Tân Hoá - Lò Gốm tiếp nối với kênh Tàu Hủ, kênh Đôi, kênh Tẻ, kênhBến Nghé và các hệ thống rạch nhỏ chằng chịt trong toàn bộ khu vực quan trắc
(rạch Ông Lớn, Xóm Củi, Bà Lào ).
Kết quả điều tra, quan trắc cho thấy do bị ảnh hưởng của nước thải, việc ônhiễm môi trường đất ở vùng quan trắc đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất vàchất lượng nông sản, vì vậy đến năm 2002 hầu hết diện tích đất trong vùng quantrắc đều bị bỏ hoang Kết quả phân tích mẫu đất, nước tại 4 điểm quan trắc chothấy có sự tích luỹ một số kim loại nặng như Pb, Cd, Co, Cr gần bằng hoặc vượt
ngưỡng cho phép Độ dẫn điện trong đất (EC) trong tầng đất mặt khá cao đến
mức có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng
3.3.5 Xử lý chất thải rắn:
Thành phố hiện có 01 Công ty Môi trường Đô thị Thành phố, 22 Công tyDịch vụ công ích quận, huyện và 01 Hợp tác xã Công nông tham gia công tác thugom, vận chuyển rác thải Trong năm 2005, lượng rác sinh hoạt được thu gom là1.733.351 tấn (bình quân 4.749 tấn/ngày); lượng rác xà bần là 305.328 tấn (bìnhquân 836,5 tấn/ngày) Chất thải rắn đô thị chỉ mới thu gom được khoảng 70-80%,còn một lượng rác xả trực tiếp xuống kênh rạch Chất lượng vệ sinh môi trườngtrên đường phố và nơi công cộng chưa đáp ứng được yêu cầu của một thành phốvăn minh, sạch đẹp Chất thải rắn sinh hoạt và xà bần được chôn lấp tại 3 bãi rác:Phước Hiệp, Gò Cát và Đông Thạnh Chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắnnguy hại chưa được thu gom triệt để và chưa được xử lý thích hợp
3.3.6 Tình hình khai thác cát
Trong những năm trước đây, việc quản lý các hoạt động khai thác cát cònnhiều hạn chế đã dẫn đến tình trạng các công ty khai thác hoạt động không theođúng thiết kế, khai thác quá độ sâu, quá gần bờ gây những hậu quả nghiêm trọng
về môi trường Theo quyết định số 2611/UB-CNN ngày 01 tháng 8 năm 2001của Ủy ban nhân dân thành phố, hoạt động khai thác cát đã bị đình chỉ trên cáctuyến sông rạch thuộc địa bàn thành phố Hiện chỉ có hoạt động nạo vét khơithông luồng hàng hải trên một số đoạn sông có kết hợp tận thu cát Tuy nhiên,hiện nay còn tồn tại hiện tượng khai thác cát trái phép diễn ra hết sức phức tạp:các xáng cạp nạo vét không đúng vị trí khu vực được phép nạo vét, nạo vét quá
độ sâu; một số đơn vị tổ chức thi công xây dựng duy tu cảng không có thông báo
và đăng ký; hoạt động bơm hút cát trái phép trên các sông rạch
Trang 213.3.7 Tình hình lún và động đất
a Lún đất
Công tác nghiên cứu lún mặt đất chưa được tiến hành có hệ thống Mặc
dù vậy, đã có một số báo cáo khoa học đề cập đến tình trạng lún đất do xây dựngcác công trình dân dụng và do khai thác nước Hiện nay trên địa bàn thành phố(vùng nội thành) đã xuất hiện một phễu hạ thấp mực nước với diện phân bố gần400km2 Ngoài ra, cũng đã phát hiện thấy một số giếng khoan thuộc quận 6, 8,Bình Tân, Bình Chánh có hiện tượng lún Vấn đề lún đất do khai thác nước dướiđất cần phải được tiếp tục nghiên cứu thêm Xuất phát từ thực tế trên, từ năm
2005 Ủy ban nhân dân thành phố đã triển khai Đề án “Xây dựng trạm quan trắc
lún đất do khai thác nước dưới đất vùng phía Nam TP Hồ Chí Minh”.
b Động đất
Theo các kết quả nghiên cứu khoa học, động đất cực đại khu vực thànhphố Hồ Chí Minh có thể xảy ra từ 5-6 độ Ritchter với độ sâu tâm chấn từ 10-15km; kết hợp với đặc điểm địa chất công trình thì chấn động có thể đạt cấpVII-VIII Các nhà khoa học cho rằng các đới đứt gãy phương Tây Bắc-ĐôngNam, Sài Gòn-Vàm Cỏ Đông và đới đứt gãy phương kinh tuyến Lộc Ninh-ThủDầu Một-thành phố Hồ Chí Minh là các đứt gãy có khả năng sinh chấn
4 Nhận xét chung:
4.1 Những thuận lợi, lợi thế
- Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực cótốc độ phát triển kinh tế cao và năng động hàng đầu thế giới Với vị trí địa lý củamình và lợi thế phát triển so với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện
vô cùng thuận lợi để phát triển thành một đô thị hiện đại ngang tầm với các nướctrong khu vực
- Là trung tâm khu vực Nam bộ, trong Vùng kinh tế trọng điểm phíaNam, khu vực kinh tế phát triển nhất và hiệu quả nhất cả nước, với hệ thốnggiao thông huyết mạch, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ điều kiện để phát triểncác loại hình dịch vụ cao cấp như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ khoahọc, viễn thông, cảng, vận tải, hậu cần cho toàn vùng và khu vực
- Hệ thống sông rạch tự nhiên phong phú góp phần làm giàu cảnh quan vàtạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí hệ thống tiêu thoát nước đô thị
- Địa hình, địa mạo tương đối bằng phẳng, quỹ đất đai còn có khả năngđáp ứng cho nhu cầu phát triển đô thị trong tương lai
- Đặc điểm khí hậu ôn hòa, ít chịu của thiên tai bão lụt của Thành phố HồChí Minh thuận lợi cho môi trường sống dân cư
Trang 224.2 Những khó khăn, hạn chế:
- Lượng mưa phân bố không đều trong các mùa đã ảnh hưởng lớn đếnlưu lượng dòng chảy, xâm mặn gây khó khăn trong công tác cấp thoát nước
và ảnh hưởng tới nông nghiệp
- Phần diện tích thấp, trũng có độ cao dưới 2 m và diện tích mặt nướcchiếm đến 61% diện tích tự nhiên Thành phố lại nằm trong vùng có nền địa chấtyếu đòi hỏi chi phí cao trong việc đầu tư xây dựng công trình
- Nhìn chung, đất cho sản xuất nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minhthuộc loại trung bình và xấu so với Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam
Bộ Để tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp lớn, cần phải có sự đầu tư, cải tạođất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với quá trình đô thị hóa
- Tuy Thành phố rất quan tâm đến việc bảo vệ môi trường với nhiềuchương trình, dự án nghiên cứu, đánh giá tác động và đề xuất giải pháp xử lýgiảm thiểu ô nhiễm môi trường nhưng nhìn chung mức độ ô nhiễm môi trườngvẫn còn ở mức khá cao
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1 Tăng trưởng kinh tế
1.1 Kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng ngày càng cao
Thành phố đặt mục tiêu cho giai đoạn 2001 - 2005 tốc độ tăng trưởngtổng sản phẩm nội địa (GDP) cao hơn giai đoạn 5 năm trước, với mức tăng bìnhquân là 11%/năm
Kết quả tăng trưởng kinh tế 5 năm 2001- 2005 cho thấy Thành phố đã đạtđược mục tiêu tăng trưởng đề ra, đạt mức bình quân 11%/năm, cao hơn tốc độtăng 10,3%/năm của giai đoạn 1996 - 2000
Nét nổi bật là tốc độ tăng trưởng GDP trong những năm qua ngày càngcao, năm sau cao hơn năm trước (năm 2005 ước đạt 12,2%, năm 2004 đạt11,6%; năm 2003 đạt 11,4%; năm 2002 đạt 10,2%; năm 2001 đạt 9,5% và năm
2000 đạt 9,0%) Về giá trị tuyệt đối, trong năm 2005, GDP của thành phố theogiá hiện hành ước đạt 164 nghìn tỷ đồng (tương ứng với 10,4 tỷ USD)
1.2 Cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng hiệu quả hơn
Kinh tế trên địa bàn Thành phố chủ yếu dựa vào 2 khu vực công nghiệp –xây dựng và dịch vụ - thương mại:
- Khu vực công nghiệp - xây dựng luôn có tốc độ tăng giá trị gia tăng nhanh
nhất, bình quân giai đoạn 2001-2005 là 12,6%/năm (kế hoạch đề ra là 13%);
- Khu vực dịch vụ - thương mại với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng
bình quân là 9,8%/năm (kế hoạch đề ra là 9,5%);
Trang 23- Khu vực nông nghiệp (bao gồm nông lâm nghiệp và thủy sản) có tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân 3,5%/năm (kế hoạch đề ra là 2%)
Với tốc độ tăng trưởng như vậy, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiếptục diễn ra theo xu hướng như giai đoạn 1996-2000, tức là khu vực công nghiệp
có tỷ trọng tăng dần trong cơ cấu GDP của Thành phố
2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nếu cơ cấu kinh tế Thành phố năm 2000 là: nông nghiệp (khu vực I) 2,0%, công nghiệp (khu vực II) 45,4%, dịch vụ (khu vực III) là 52,6% So với mục tiêu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố đến 2005 là: Nông nghiệp 1,4%; côngnghiệp 48,8%; dịch vụ 49,8% Nghĩa là cơ cấu kinh tế Thành phố xét về tỷ trọngthứ tự vẫn là dịch vụ- công nghiệp - nông nghiệp; trong đó khu vực dịch vụ chiếm
tỷ trọng lớn nhất Thực tế tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh trong 10 nămqua, tỷ trọng khu vực công nghiệp ngày càng tăng do có tốc độ tăng trưởng caonhất trong 3 khu vực và diễn biến này cũng hoàn toàn phù hợp với thực tiễn pháttriển của Thành phố đang trong giai đoạn công nghiệp hóa nhanh
Đến cuối năm 2005, trong cơ cấu GDP của Thành phố tỷ trọng khu vực I:1,7%; khu vực II (công nghiệp - xây dựng): 47,5% và khu vực III (dịch vụ):50,8% Những kết quả đạt được phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấukinh tế Thành phố; đặc biệt, khu vực dịch vụ đã đạt tốc độ tăng trưởng bìnhquân cao hơn kế hoạch đề ra
2.1 Khu vực dịch vụ
Nét nổi bật trong cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2001-2005 là các ngành của khu vực dịch vụ đã bắt đầu phát triển khởi sắc Tuy vậycác ngành dịch vụ cao cấp vẫn chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ và hầu như không có
sự thay đổi trong suốt thời qua Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,8%/năm sovới 8,4%/năm của giai đoạn 1996-2000 Một điểm đáng lưu ý là tốc độ tăngtrưởng năm sau cao hơn năm trước, từ 7,0% năm 2000 tăng lên 7,4% năm 2001,9,3% năm 2002, 9,4% năm 2003, 11,1% năm 2004 và 12% năm 2005
Xét về cơ cấu nội bộ các ngành dịch vụ, nhận thấy:
Các loại hình dịch vụ cao cấp: tài chính - ngân hàng, tín dụng bảo hiểm, viễn
thông, công nghệ thông tin và truyền thông có tốc độ phát triển rất cao (12,2 %
năm 2001, 28,6 % năm 2002, 20,0% năm 2003, 18,7% năm 2004, và trên 20% năm 2005) nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng khá thấp Thành phố Hồ Chí Minh khó
có thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ khi
mà các dịch vụ cao cấp này chưa có sự phát triển mang tính đột phá
Dịch vụ vận tải, kho bãi, cảng chưa thực sự phát huy hết tác dụng và
Trang 24thực đạt đến trình độ tương xứng của một trung tâm lớn hiện nay Tốc độ tăngtrưởng các năm qua: 10,6% năm 2001, 12,8% năm 2002, 10,9% năm 2003,9,4% năm 2004 và năm 2005 - 8%
Dịch vụ thương mại nay đang trên đà phục hồi sau ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế khu vực, (tăng 7,0% năm 2002, 9,4% năm 2003, 10,3% năm 2004 và năm 2005 - 11,6%); thị trường nội địa phát triển ổn định, hàng hóa phong phú, đa
dạng, nhiều sản phẩm của Thành phố đã chiếm lĩnh được thị trường, giành được thịphần vững chắc; cơ sở vật chất, hạ tầng ngành thương mại đã được quan tâm đầu tưxây dựng, bước đầu phát huy tác dụng, góp phần tăng cường vai trò, vị trí trungtâm, đầu mối của Thành phố trong điều phối, cung ứng hàng hóa trong khu vực và
ra nước ngoài qua nhiều kênh phân phối đa dạng và ngày càng lớn mạnh
Xuất khẩu đã bước đầu cho thấy việc chuyển hướng chú trọng vào tinhchế, tăng giá trị, hàm lượng công nghệ, chuyển dần sản xuất gia công, chế biến
thô về vùng nguyên liệu (khảo sát hai ngành dệt may và giày dép cho thấy tỷ
trọng gia công trong xuất khẩu liên tục giảm qua các năm 2001-2005: dệt may giảm từ 78,8% xuống còn 73,4%; giày dép giảm từ 52,6% xuống còn 35,8%).
Các loại dịch vụ khác như du lịch, giáo dục, y tế cũng tăng trưởng cao,với tốc độ tăng bình quân hơn 10%/năm trong 5 năm qua Đây là những loạihình mà Thành phố thật sự có thế mạnh để phát triển phù hợp với định hướngchuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các loại hình dịch vụ hiện đại
2.2 Khu vực công nghiệp - xây dựng
Trong 5 năm 2001-2005, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tăng bìnhquân trên 15%/năm, chiếm tỉ trọng gần 30% so với công nghiệp cả nước Tỷ trọngcủa công nghiệp chế biến trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-2005 có tăng lên nhưng không đáng kể (96,2%
năm 2001 lên khoảng 97,2% năm 2005) Điều này cho thấy công nghiệp thành phố
mới đạt được sự thay đổi về số lượng và còn chậm thay đổi về chất lượng Nhữngngành có tỉ trọng lớn vẫn là những ngành thâm dụng lao động và hàm lượng giá trịgia tăng thấp; 4 lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao mà Thành phố chọn làm “mũi
nhọn” (điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, cơ khí chế tạo) chưa có
sự phát triển vượt trội so với các ngành khác
Ngành cơ khí chế tạo rất yếu kém, không làm được vai trò chủ đạo trongđổi mới thiết bị, do vậy hầu hết thiết bị mới đều phải nhập khẩu
Đầu tư thiếu tầm nhìn dài hạn đã làm cho nhiều doanh nghiệp đầu tư khôngđúng nhu cầu Trong công nghiệp thiếu các “nhạc trưởng” của từng lĩnh vực; mạnh
ai nấy làm, nên xảy ra tình trạng nhập trùng lắp, cạnh tranh dìm lẫn nhau không cầnthiết Trong khi đó thị trường còn bỏ ngỏ để hàng ngoại nhập chiếm lĩnh
Trong lĩnh vực xây dựng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt bình quân
Trang 2511,86% trong giai đoạn 2001 – 2005 Tuy tốc độ có chậm hơn các ngành côngnghiệp, nhưng vẫn cao hơn tốc độ của giai đoạn 1996 – 2000, chỉ đạt dưới 10%
2.3 Khu vực nông nghiệp
Trong cơ cấu GDP, khu vực nông nghiệp cũng chuyển dịch tích cực theohướng tăng tỉ trọng ngành thủy sản và chăn nuôi, giảm tỉ trọng ngành trồng trọt
Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp như sau: chăn nuôi 32,3%, thủy sản 29,5%,trồng trọt 27,9%, dịch vụ nông nghiệp 8%, lâm nghiệp 2,3% Điểm nổi bật trong
5 năm qua là sự chuyển dịch mạnh sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuấthiệu quả hơn đối với quỹ đất nông nghiệp với sự phát triển của các ngành chănnuôi, thủy sản, cây kiểng, cá kiểng
3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
3.1 Khu vực kinh tế công nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước Năm
2004 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 101.962 tỷ đồng, tăng 15,07% so với năm
2003 (giá cố định 1994), chiếm 28,8% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và
chiếm 59,32% giá trị sản xuất công nghiệp vùng Đông Nam bộ
Năm 2004, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 35.096 cơ sở sản xuấtcông nghiệp, trong đó: 217 cơ sở sản xuất công nghiệp Nhà nước; 75 cơ sở sảnxuất công nghiệp tập thể; 3.335 cơ sở sản xuất công nghiệp tư nhân; 30.891 cơ sởsản xuất công nghiệp cá thể và 578 cơ sở kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn vừa qua, công nghiệp Thành phố mới đạt được sự thayđổi về lượng và còn chậm thay đổi về chất Những ngành có tỷ trọng lớn vẫn lànhững ngành thâm dụng lao động, còn những ngành có hàm lượng chất xám cao(điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, cơ khí chế tạo) tuy có tăngnhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn
Cụ thể là, công nghiệp trên địa bàn Thành phố tập trung chủ yếu là cácngành: chế biến thực phẩm và đồ uống (19,4%), nhựa-cao su (8,8%), hoá chất(8,3%), may mặc (7,5%), giày da (7,1%), dệt (5,0%), máy móc-thiết bị điện(5,0%) Trong nhóm công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm và đồ uống
có tỷ trọng cao (chiếm 13,9%) Trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo
thành phần kinh tế, công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn
Tổng cộng có 15 khu công nghiệp tập trung đã hoạt động (gồm 12 khu
công nghiệp, 03 khu chế xuất), đến nay đã triển khai đạt 2.752 ha
Ngoài các khu công nghiệp - khu chế xuất, trên địa bàn Thành phố đãhình thành nhiều cụm công nghiệp – làng nghề được quy hoạch và xây dựngtheo Quyết định phê duyệt của Ủy ban nhân dân Thành phố nằm trong quyhoạch chung các quận huyện, với diện tích khoảng 940 ha (48 cụm, trong đó 36cụm công nghiệp - làng nghề đã đi vào hoạt động ) Theo thống kê, diện tích lấp
Trang 26đầy khoảng 224,3 ha đạt 23,8% so với quy hoạch đợt đầu.
Ngành nghề phát triển chủ yếu ở các khu cụm công nghiệp do các quậnhuyện quản lý là cơ khí (chiếm khoảng 23,7% số doanh nghiệp đăng ký hoạtđộng), dệt, da, may (khoảng 26,9%), hoá chất, nhựa, cao su (khoảng 13,3%),giấy, gỗ (khoảng 14%), chế biến thực phẩm (khoảng 6,5%)…
Một số cụm công nghiệp bố trí xen cài trong các khu dân cư, đầu tư cơ sở
hạ tầng không đồng bộ Giữa khu sản xuất và khu dân cư không có khoảng cách
ly để đảm bảo về vệ sinh, môi trường, an ninh, trật tự xã hội Việc phát triển,xây dựng nhà ở sát các khu vực tập trung các xí nghiệp sản xuất công nghiệp lànguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng đến đời sống dân cư
Các khu công nghiệp – chế xuất tập trung trên địa bàn Thành phố phầnlớn là các khu công nghiệp tổng hợp, chưa phân định rõ ngành nghề chủ đạo khókiểm soát chất lượng môi trường
Định hướng quy hoạch xây dựng công nghiệp trong quy hoạch chung củaThành phố đến năm 2020 theo quyết định 123/1998/TTg chưa quan tâm đếnviệc bố trí các khu công nghiệp gắn với các khu dân cư, đặc biệt dân cư nôngthôn nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn Chính sách giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân các khucông nghiệp chưa đồng bộ Đặc biệt chương trình di dời các cơ sở công nghiệpgây ô nhiễm trong nội thành vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tậptrung đã làm phát sinh thêm nhu cầu sử dụng đất tại các nơi này
Ngành xây dựng
Giá trị sản xuất và GDP của ngành xây dựng liên tục tăng trong giai đoạn
2001 - 2004, năm năm 2001 đạt 12.497 tỷ đồng, năm 2002 đạt 17.866,4 tỷ đồng,
năm 2003 đạt 21.282 tỷ đồng và đến năm 2004 đạt 23.436,2 tỷ đồng (giá thực
tế); GDP của ngành xây dựng tương ứng với các năm trên là: 4.682 tỷ đồng;
5.118 tỷ đồng; 6.185 tỷ đồng và năm 2004 đạt 7.186 tỷ đồng (giá thực tế).
Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2004 đạt 34.986,4 tỷ đồng, phân theo
ngành kinh tế: Ngành công nghiệp 11.009,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng cao nhất)
31,46%; ngành vận tải kho bãi và thông tin liên lạc 5.664,3 tỷ đồng, chiếm 16,19%;ngành giáo dục đào tạo 1.115,5 tỷ đồng, chiếm 3,3%; khoa học công nghệ 928,5 tỷđồng; ngành y tế và cứu trợ xã hội 664 tỷ đồng… Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tưxây dựng cơ bản liên tục tăng trong giai đoạn 2001 - 2004, năm 2001 là 13,35%;năm 2002 là 13,51%; năm 2003 là 14,78% và năm 2004 là 15,8%
3.2 Khu vực kinh tế dịch vụ
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại - dịch vụ quan trọng của
cả nước Với nguồn lực về tài chính và mạng lưới kinh doanh trải rộng khắp cácvùng sản xuất nguyên liệu, các thành phố lớn, ngành thương nghiệp Thành phố
Hồ Chí Minh góp phần quan trọng trong việc kích thích sản xuất phát triển
Trang 27thông qua việc tiêu thụ sản phẩm Mức độ ảnh hưởng của ngành thương nghiệpvượt ra khỏi phạm vi địa lý của một Thành phố với trên 6 triệu dân, ngànhthương nghiệp trên địa bàn không chỉ phục vụ cho nhu cầu của Thành phố màcòn phục vụ cho nhu cầu của cả nước, nhất là các tỉnh Nam bộ.
Giá trị GDP của các ngành dịch vụ Thành phố năm 2004 đạt 68.349 tỷđồng, chiếm 50,07% GDP của Thành phố Tốc độ tăng trưởng bình quân giaiđoạn 2001 - 2004 đạt 14,47% Số cơ sở thương mại, khách sạn, nhà hàng, dulịch và dịch vụ là 258.428 cơ sở, trong đó: Có 136.844 cơ sở thương nghiệp;36.676 cơ sở khách sạn, nhà hàng; 306 cơ sở du lịch và 84.602 cơ sở dịch vụ tiêu
dùng (Niên giám Thống kê TP năm 2004).
GDP của ngành thương nghiệp năm 2004 đạt 17.443 tỷ đồng (chiếm
12,78%), chỉ đứng vị trí thứ hai sau ngành công nghiệp chế biến (chiếm 41,40%) Giai đoạn 1994 - 1996 có mức tăng trưởng nhanh nhất, tăng bình quân
từ 12% - 23%/năm Giai đoạn 1997 - 1999, do ảnh hưởng của khủng hoảng tàichính tiền tệ thế giới và khu vực, sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung vàthành phố Hồ Chí Minh nói riêng làm tăng trưởng chậm lại
Ngành thương mại, khách sạn, nhà hàng, du lịch và dịch vụ của Thànhphố Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động, giảiquyết công ăn việc làm Năm 2004 ngành này đã thu hút được gần 637.362 laođộng, chiếm 24,89% tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
3.3 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Theo số liệu thống kê, tổng giá trị sản xuất ngành nông lâm thuỷ sản năm
2001 là 2.109,4 tỷ đồng, năm 2002 là 2.208,7 tỷ đồng; năm 2003 là 2.478,5 tỷ
đồng và năm 2004 là 2.512,6 tỷ đồng (giá cố định 1994) Tốc độ tăng trưởng bình
quân giai đoạn 2001 - 2004 đạt 7,6%
Về lâm nghiệp: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2001 đạt 40.536 triệuđồng; 2002 đạt 48.195 triệu đồng; 2003 đạt 33.442 triệu đồng và năm 2004 đạt35.819 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2004 giảm 2,2%
Trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất năm 2004 của ngành nông lâm thuỷsản, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất 63,24%, ngành thuỷ sản35,33%, ngành lâm nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ 1,43%
4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
4.1 Dân số và tỷ lệ tăng dân số
Năm 2004, dân số Thành phố Hồ Chí Minh là 6.062.993 người, chiếm7,39% dân số cả nước Trong đó dân số nội thành là 5.087.513 người, chiếm84%; dân số ngoại thành 975.480 người, chiếm 16% Mật độ là 2.920người/km2
Dân số nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ 4,13%; dân số phi nông nghiệp
Trang 28chiếm 95,87% (Niên giám thống kê Thành phố năm 2004).
Bảng 1.2 Biến động dân số TP Hồ Chí Minh 2000 - 2004
Ghi chú: - Nguồn: Niên giám Thống kê TP Hồ Chí Minh 2004
(a) thuộc Thủ Đức cũ; (b) thuộc Nhà Bè cũ; (c) thuộc Hóc Môn cũ; (d) thuộc Tân Bình cũ; (e) thuộc Bình Chánh cũ
Theo báo cáo “Tình hình biến động dân số TP Hồ Chí Minh giai đoạn
1999-2004” của Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh tháng 02/2006, tỷ lệ tăng dân
số bình quân năm là 3,57%, trong đó, tỷ lệ tăng tự nhiên 1,27%, tỷ lệ tăng cơhọc 2,30%
Qua số liệu thống kê, dân số của Thành phố có xu hướng giảm ở các quậntrung tâm, nội thành; tăng nhiều ở các quận mới; tăng chậm ở các quận ven vàcác huyện Năm 1999, dân số tại khu vực nội thành cũ (13 quận cũ kể cả quận TânPhú tách ra từ quận Tân Bình) chiếm 67,18% tổng dân số thành phố, đến tháng10/2004 tỷ lệ này giảm còn 59,3%; dân số 06 quận mới chiếm 14,69% tổng dân sốthành phố, đến tháng 10/2004 tỷ lệ này tăng lên 22,13% Đây là kết quả bước đầu
Trang 29trong việc thực hiện chủ trương giãn dân của Thành phố trong những năm qua.
Cũng theo báo cáo trên, dân nhập cư tính tới ngày 01/10/2004 là 1.767.290người chiếm 28,9% dân số Thành phố (diện KT3, KT4)
4.2 Lao động, việc làm và mức sống dân cư
Năm 2004 dân số trong độ tuổi lao động của Thành phố Hồ Chí Minh là4.168.308 người, chiếm 68,75% tổng dân số toàn Thành phố Dân số trong độtuổi lao động tập trung chủ yếu ở thành thị với số lượng 3.550.981 người, chiếm85,19% dân số trong độ tuổi lao động của Thành phố
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch khá nhanh sang các ngành côngnghiệp (34.9%) và dịch vụ (58,8%) Năng suất lao động chung các ngành kinh tếtrên địa bàn Thành phố tăng bình quân 8,5%/năm
Cơ cấu lao động nông nghiệp có sự dịch chuyển khá nhanh sang cácngành công nghiệp và dịch vụ Lao động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệphiện chỉ còn chiếm 6,3% tổng lao động đang làm việc trên địa bàn Thành phố và25% số lao động đang sinh sống ở nông thôn
Số lao động được giới thiệu việc làm bình quân đạt 215.000 người/năm,vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 190.000 người/năm Số lượng việc làm mới tạo rahàng năm đều tăng, năm sau cao hơn năm trước; giai đoạn 2001-2005 đã tạo rađược khoảng 350.000 việc làm mới cho người lao động Bình quân hàng năm cótrên 50.000 người có việc làm mới thông qua hoạt động kinh doanh, dịch vụ cáthể, kinh tế hộ gia đình Trong khu vực nông thôn ngoại thành, nhiều ngànhnghề được khôi phục và phát triển đã tạo việc làm ổn định cho lao động, đưanhanh tỷ lệ sử dụng lao động trong nông nghiệp tăng đều qua các năm Những
nỗ lực tích cực tạo việc làm mới trong thời gian qua đã góp phần giảm tỷ lệ thấtnghiệp: tỷ lệ lao động thất nghiệp trên địa bàn Thành phố có xu hướng giảmxuống, từ mức 6,8% trong năm 2001 xuống còn 6,1% trong năm 2004
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được cảithiện Nếu tính theo tỉ giá cố định năm 1994 là 1 USD = 7.500 VNĐ thì GDPbình quân đầu người của Thành phố năm 2000: 1.365 USD/người/năm; năm2001: 1.460 USD; năm 2002: 1.558 USD; năm 2003: 1.675 USD; năm 2004:
1.800 USD (năm 2005 dự ước 1920USD( 1 )) Thu nhập ngày càng cao khiến cho
cơ cấu chi tiêu của người dân chuyển dịch theo hướng tích cực: chi cho ăn uốngngày càng giảm và tương ứng là sự gia tăng tỷ phần chi tiêu cho các hoạt độngmua sắm, giải trí khác
Công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả hết sức tích cực
1
Nếu tính theo tỷ giá hiện hành thì GDP đầu người của Thành phố năm 2000 là 990 USD và tăng lên đến mức
Trang 30khả quan Về cơ bản, đến cuối năm 2003, Thành phố đã không còn hộ nghèotheo chuẩn cũ Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số145/2004/QĐ-UB ngày 25/5/2004 phê duyệt chương trình mục tiêu xóa đói
giảm nghèo Thành phố giai đoạn 2 (2004-2010) Trên cơ sở đó, các cấp các
ngành đã có kế hoạch triển khai thực hiện, trước mắt đề ra mục tiêu tập trung hỗtrợ cho hộ nghèo nâng mức thu nhập đầu người trên 4 triệu đồng/năm và giảm
hộ nghèo trong 2 năm 2004-2005 Kết quả thực hiện đến cuối năm 2005 chothấy Thành phố cơ bản không còn hộ nghèo ở mức thu nhập này Hiện Thành
phố đang phấn đấu giảm nghèo theo tiêu chuẩn mới (6 triệu đồng/người/năm)
xuống còn 6,6%
5 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Với bình quân diện tích đất tự nhiên gần 3500 m2/người, do dân cư phân
bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở 13 quận nội thành với mật độ 25.911người/km2, trong khi đó mật độ dân số của 6 quận ven chỉ khoảng 4.992người/km2 và mật độ dân số của 5 huyện ngoại thành khoảng 610 người/km2;Căn cứ vào lịch sử hình thành và phân bố dân cư, có thể phân làm 03 khu vựcphát triển đô thị và khu dân cư nông thôn như sau:
Khu vực trung tâm: Có quá trình định hình và phát triển hàng trăm năm,
do vậy hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị hình thành từ lâu với quy mô nhỏ, khôngcòn đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai Toàn bộ diện tích đất đều đãđược sử dụng với mật độ xây dựng rất cao
Dân số tăng thấp hơn dự báo là 186.150 người (4,8%) Theo số liệu thống
kênăm 2005 đất dân dụng bình quân 25,5m2/ người, tăng so với chỉ tiêu dự báo
là 22,7m2/người Đất công trình công cộng và cây xanh đạt rất thấp 3,5m2/người
so với chỉ tiêu là 4,7m2/người Đất giao thông và bãi đậu xe đạt 2,97m2/người sovới chỉ tiêu là 3,0m2/người
Khu vực 6 quận ven: tuy mật độ dân số thấp hơn so với 13 quận nội thành,
nhưng còn bất cập về phát triển không gian đô thị, hạ tầng kỹ thuật không theokịp với tốc độ đô thị hóa và phát triển còn mang tính tự phát
Dân số tăng hơn so với dự báo là 73.023 người Năm 2005, đất dân dụngbình quân 89,2m2/người so với chỉ tiêu dự báo là 92,0m2/người
Khu vực 5 huyện ngoại thành: Mật độ dân số khá thấp, các khu vực dân
cư phân tán, thuận lợi cho việc phát triển các khu đô thị mới Dân số tăng so với
dự báo là 153.065 người Năm 2005, đất dân dụng bình quân 95,7m2/người tăng
so với chỉ tiêu dự báo là 85,6m2/người
Thành phố đã và đang triển khai nhiều khu đô thị mới hiện đại trên địabàn các quận ven và huyện ngoại thành như: Khu đô thị mới Thủ Thiêm tổngdiện tích khoảng 772 ha; Khu Nam Thành phố Hồ Chí Minh với quy mô khoảng
Trang 313.000 ha; Khu đô thị mới Tây Bắc Thành phố với quy mô khoảng 6.000 ha
6 Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
6.1 Giao thông (đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, hàng không)
Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống giao thông tương đối hoàn thiện
và đa dạng so với các tỉnh trong khu vực
- Thành phố hiện có một sân bay Tân Sơn Nhất, thuận tiện cho việc giaolưu giữa TP Hồ Chí Minh với các vùng trong nước và quốc tế Qua nhiều thời
kỳ phát triển, diện tích sân bay đã bị thu nhỏ lại từ 1500 ha xuống còn 886,3 ha
- Đường sắt khu vực Thành phố và vùng phụ cận nếu tính từ ga TrảngBom về ga Hòa Hưng dài 56 km Tổng diện tích chiếm đất của các nhà ga trênđịa bàn Thành phố là 238,4 ha Mạng lưới đường sắt và hệ thống ga chưa đápứng yêu cầu chuyên chở của khu vực phía Nam
- Mạng lưới đường bộ của Thành phố bao gồm các trục quốc lộ do Trungương quản lý và các đường tỉnh, đường liên tỉnh, đường nội đô do Thành phố quản
lý có tổng chiều dài khoảng 3.038 km; tổng diện tích chiếm đất là 2.373,2 ha
Trong những năm qua Thành phố đã từng bước nâng cấp mở rộng và xâydựng các đoạn của các tuyến đường vành đai như: đường Nguyễn Văn Linh(thuộc Vành đai 1 và 2), Xa lộ Đại hàn (Vành đai 2)
Thành phố hiện có 1.350 nút giao thông; các nút giao thông đều giao cắtđồng mức nên dễ ùn tắc Để điều hòa giao thông, tại các giao lộ có đèn tín hiệugiao thông, nhưng chưa đủ theo yêu cầu
- Trên địa bàn Thành phố hiện có khoảng 190 cầu các loại với tổng chiềudài hơn 16.215 m Khoảng 14% là các loại cầu sắt, xi măng, gạch xây, gỗ,phần lớn tập trung nhiều ở các quận ven và các huyện ngoại thành, bị hư hỏngnhiều, có nguy cơ sụp đổ Đây là một nhu cầu cấp bách và rất nặng đòi hỏiThành phố phải giải quyết trong 5 - 10 năm tới
- Hệ thống bến-bãi đỗ xe ở Thành phố Hồ Chí Minh gồm có :
+ Các bến xe liên tỉnh: 5 bến (bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe
Chợ Lớn, bến xe Cần Giuộc và bến xe Hóc Môn), tổng diện tích khoảng 18,18 ha.;
+ 1 bến xe buýt chính bố trí ở khu vực chợ Bến Thành;
+ 3 bãi đỗ xe tải bố trí ở vành đai 2 tại khu vực quận 12, An Lạc (Bình
Tân) và Hóc Môn, với tổng diện tích 3,8 ha;
+ 7 bãi đỗ xe taxi, với tổng diện tích khoảng 3,2 ha;
+ 6 bến kỹ thuật dành cho xe búyt, với tổng diện tích khoảng 8 ha
Trang 32Nhìn chung, số lượng và diện tích bến-bãi còn ít Đa số các bến xe liêntỉnh do tập trung ở trong nội đô, có vị trí không phù hợp, bị hạn chế về mặt bằngnên làm phức tạp thêm cho giao thông đô thị Hệ thống bến ô tô tải còn thiếunhiều so với nhu cầu, nhưng chưa có dự án đầu tư cụ thể
- Về giao thông vận tải đường thuỷ:
+ Tổng chiều dài các tuyến sông, kênh trên địa bàn Thành phố khoảng867,5 km Hầu hết các sông và kênh đào được khai thác sử dụng từ lâu, nhưngchưa được nạo vét, mở rộng, cải tạo
+ Hệ thống cảng sông, biển khu vực Thành phố gồm 10 cảng biển và 3cảng sông; với 29 cầu cảng biển có chiều dài 5.968 m, và 7 cầu cảng sông vớichiều dài 486 m Các cảng chính là Sài Gòn, Bến nghé, Tân Thuận đều nằm sâutrong nội thành nên lượng xe tải ra vào rất lớn, gây ùn tắc gaio thông và ô nhiễmmôi trường Trong tương lai hệ thống cảng này phải được di dời
Diện tích đất dành cho giao thông trên địa bàn Thành phố chiếm 10.816,93
ha, bằng 5,16% diện tích tự nhiên, chiếm 37,62% diện tích đất chuyên dùng, chiếm66,6% so với đất có mục đích công cộng
6.2 Thuỷ lợi (đê điều, hồ chứa nước, kênh mương, công trình đầu mối)
Chức năng của hệ thống thủy lợi và mặt nước chuyên dùng của Thành phố
Hồ Chí Minh là tưới tiêu cho nông nghiệp và điều hoà tiêu thoát nước thải choThành phố Diện tích đất thủy lợi theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005 là 2.516,52ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 33.250,02 ha
Trên địa bàn Thành phố có khoảng trên 1.200 km kênh rạch, trong đó có
234 km do Công ty thoát nước đô thị quản lý dùng cho chức năng thoát nước
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chịu tác động của chế độ bán nhật triều khôngđồng đều của biển Đông, nên gây khó khăn cho việc thoát nước của cả hệ thốngcống - kênh rạch - sông lớn Lòng lạch bị bồi lắng, làm khả năng tiêu thoát nước
tự nhiên của hệ thống này bị giảm đi khoảng 50 - 60%
Hệ thống cống ngầm được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 19, sau đóđược phát triển thêm vào cuối những năm 1960, vừa thu nước thải, vừa thu nướcmưa, đến nay phát triển mang tính chắp vá và phân bố tập trung ở các quận trungtâm Các quận mới như quận 2, quận 9, quận 12, quận Bình Tân, hệ thống thoátnước còn ít Nhiều khu tập trung dân cư ở các quận ven, trong nội thành chưa cócống thoát nước Nước thải được thải trực tiếp xuống mặt đất, chảy tràn lan và tựthấm gây ô nhiễm môi trường
Về cống thoát nước có khoảng 931 km, gần 200 cửa xả trên diện tích lãnhthổ khoảng 650 km2, phục vụ thoát nước cho 140km2 nội thành và 510 km2 khu
Trang 33vực xung quanh Mật độ mạng lưới bình quân là 0,143 m/ha Chất lượng cốngrất kém do xây dựng từ lâu, hay bị tắc nghẽn, riêng các cống tròn và cống hộp
đa số mới xây dựng nên chất lượng còn tốt
Các công trình, hệ thống thủy lợi chính của Thành phố gồm:
- Công trình thủy lợi đầu tư chủ yếu phục vụ cải tạo đất phèn, mặn, đấthoang hóa để đưa vào xản xuất, xây dựng các nông trường quốc doanh vùng venkênh Thày Cai, An Hạ, kênh Xáng, kênh Ngang, kênh A, B, C (khu Tây Băcthành phố, diện tích 20.000ha với tổng chiều dài kênh chính 100km, kênh cấp 1,2: trên 300km)
- Các công trình ngăn mặn, tạo nguồn nước ngọt cho vùng đất thấp, nhiễmmặn theo mùa ven sông Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè, Cần Giuộc như các hệthống: đê bao ven Rạch Tra - kênh Xáng, Thầy Cai, An Hạ, sông Chợ Đệm, vensông Sài Gòn - Đồng Nai, sông Nhà Bè, sông Cần Giuộc – Cây Khô với tổngchiều dài 190km
- Hệ thống tưới tiêu các vùng triền, gò thiếu nước tưới với các giếng tướicông nghiệp, bán công nghiệp phục vụ phát triển rau, màu, cây công nghiệpngắn ngày: Bến Mương - Láng The, Cây Xanh - Bà Bếp (Củ Chi), Rạch Chiếc –Trau Trảu (Quận 2, 9), Rạch Gò Dưa - Rạch Đĩa (Quận Thủ Đức) tổng chiềudài 65km
- Các công trình khai thác nguồn nước của hồ Dầu Tiếng Tây Ninh (hệ thốngkêng Đông Củ Chi), lượng nước xả các hồ Trị An, Thác Mơ (giảm mặn mùa khô, tănglượng tưới, các công trình ngăn triều cường gây úng ngập mùa mưa)
Từng bước nâng cấp, bê tông hóa, hiện đại hóa và đồng bộ hóa các côngtrình thủy lợi như kiên cố hóa kênh Đông Củ Chi, xây dựng hệ thống thủy lợiHóc Môn-Bắc bình Chánh, công trình bảo vệ bờ sông, bờ biển Cần Giờ, cáccông trình tiêu thoát nước, phòng chống úng ngập
6.3 Giáo dục - đào tạo
Ngành Giáo dục và Đào tạo Thành phố hiện có 1.425 trường học vớikhoảng 1,2 triệu học sinh, sinh viên các ngành học, bậc học Số cán bộ và giáo
viên là 52.534 người (Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ TP lần
thứ VIII).
Để tăng cường nguồn nhân lực có chất lượng cao, Thành phố đã thực hiệnthành công và tiếp tục triển khai chương trình đào tạo 300 thạc sỹ và tiến sỹ,chương trình đào tạo 1.000 giám đốc các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tính đến tháng 9 năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 556 trường giáodục mầm non, 443 trường tiểu học, 228 trường trung học cơ sở, 115 trường
Trang 34trung học phổ thông và 29 trường trung học chuyên nghiệp, trong đó có 17trường trung học chuyên nghiệp do Thành phố quản lý và 54 trường đại học –
cao đẳng (Báo cáo tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục của Sở Giáo dục và
Đào tạo TP Hồ Chí Minh tháng 9/2005).
Phần lớn các trường tiểu học của Thành phố, nhất là ở khu vực nội thànhkhông đạt chuẩn quốc gia theo Quyết định số 1366/GD-ĐT ngày 26/4/1996 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Về cơ sở vật chất trường lớp nhìn chung tuy đã cảithiện nhiều, nhất là vài năm gần đây, nhưng so với mục tiêu đào tạo mới đượcLuật Giáo dục quy định thì vẫn còn bất cập; chất lượng kiến trúc trường khácách biệt giữa nội thành - ngoại thành
- Bình quân 1,4 xã/ phường có 1 trường THCS ; tương ứng khoảng 26.776dân và đạt khoảng 53 học sinh cấp 2/1.000 dân ; tỷ lệ lớp bình quân/1 trường là31,40; cơ sở vật chất của các trường tương đối tốt
- Bình quân 2,7 xã/phường có 1 trường THPT, tương ứng khoảng 51.640dân và đạt 27 học sinh THPT/1.000 dân (tỷ lệ này giảm dần từ nội thành ra ngoạithành) Kiến trúc các trường khá tốt, đảm bảo tiêu chuẩn cho việc dạy và học
Thành phố đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở vàonăm 2002 Hiện đang tiến hành phổ cập giáo dục bậc trung học, đã có 129/317
phường xã đạt chuẩn phổ cập bậc trung học (đạt 40,7%) Dự kiến đến hết năm
2005 sẽ hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông trung học các quận nội thành.Năm 2005, tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi cấp trung học cơ sở ước đạt 86,4%
và phổ thông trung học ước đạt 53,6% (Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu
Đảng bộ TP lần thứ VIII).
Đầu tư cho giáo dục tăng dần (24% trong ngân sách chi thường xuyên củaThành phố được đầu tư cho giáo dục và khoảng 20% tổng ngân sách đầu tư xâydựng cơ bản giành để xây dưng trường lớp), công tác xã hội hóa giáo dục ngày
càng đạt hiệu quả tốt và được sự hưởng ứng, đồng tình của xã hội (Báo cáo
chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ TP lần thứ VIII).
Hiện nay, tỷ lệ các trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp: trường tiểu học có
20/443 trường (chiếm 4,51%); trường trung học cơ sở có 7/228 trường (3,07%); trường trung học phổ thông có 1/115 (0,86%) đạt chuẩn quốc gia Chủ yếu là do
các trường ở thành phố không bảo đảm chuẩn tối thiểu về diện tích/mỗi học
sinh Tổng số diện tích trường học thuộc hệ thống giáo dục phổ thông (Mầm
non, Tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông) trên địa bàn Thành phố
hiện nay mới có 515,24 ha Trong đó diện tích bình quân một trường, đối vớitiểu học là 0,4 ha; đối với trung học cơ sở là 0,55 ha và đối với trung học phổthông là 0,87 ha; diện tích bình quân trên một học sinh tương ứng với các cấp là4,27 m2; 3,99 m2; 6,30 m2 (Báo cáo tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục của
Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh tháng 9/2005).
Trang 35- Về Trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX), học tập cộng đồng (HTCĐ) Hiện nay Thành phố có 26 trường GDTX, 24 HTCĐ Trong đó có một
số trung tâm lớn như: Trung tâm GDTX Chu Văn An - Trung tâm cấp Thànhphố với khoảng trên 3.000 học viên, cơ sở vật chất đang cần tu sửa nâng cấp để
có thể đáp ứng yêu cầu học tập của khoảng trên 5.000 học viên; Trường Bổ túc
dân chính Lê Quí Đôn (lớp đêm): khoảng 800 học viên, chủ yếu là cán bộ, công
nhân viên chức, nhưng không có cơ sở riêng, phải mượn địa điểm của trườngTHPT Lê Quý Đôn - Quận 3; Ngoài ra mỗi quận, huyện còn có 1 Trung tâmGDTX với qui mô từ 600 - 2.000 học viên Một số quận, huyện như Nhà Bè,Quận 4 chưa có Trung tâm GDTX
- Về giáo dục trung học chuyên nghiệp (THCN): Trên địa bàn thành phốhiện nay có 29 trường Trung học Chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật, 12trường đại học, cao đẳng có hệ THCN trực thuộc nhiều Sở, Bộ ngành quản lý.Hầu hết các trường này được thành lập từ sau ngày giải phóng 1975 Từ năm
1990 trở lại đây có 10 trường THCN (8 trường thuộc thành phố và 2 trường
thuộc Trung ương) được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại hoặc nâng cấp từ các
trường nghiệp vụ, trường trung học nghề Tất cả các trường THCN đều là loạitrường đào tạo theo hệ trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật cùng cácloại bồi dưỡng, dạy nghề ngắn hạn
- Về cơ sở dạy nghề: Thành phố thành lập và đăng ký mới trên 100 cơ sở,nâng tổng số cơ sở dạy nghề đến cuối năm 2005 đóng trên địa bàn là 290 cơ sở.Mạng lưới này phân bố ở khắp 24 quận, huyện, có quy mô đào tạo trên 30 nghìn
học sinh công nhân kỹ thuật và 300 nghìn học viên ngắn hạn (Báo cáo chính trị
trình Đại hội đại biểu Đảng bộ TP lần thứ VIII).
- Về giáo dục đại học, sau đại học: Công tác giáo dục đại học và sau đại họckhông chỉ phục vụ cho nhu cầu Thành phố mà còn cho các tỉnh phía Nam Sốtrường đại học-cao đẳng (ĐH-CĐ) trên địa bàn Thành phố tăng nhanh từ năm
1994-1998 (năm 1990 có 21 trường, năm 1994 tăng lên 25 trường, năm 1995 tăng
lên 29 trường, năm 1997 tăng lên 37 trường và năm 1998 là 38 trường).Tính đến
nay trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã có 54 trường ĐH-CĐ, trong đó TP quản lý 2
trường ĐH và 8 trường CĐ (Báo cáo tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục của
Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh tháng 9/2005).
- Trong những năm qua thành phố thực hiện chủ trương xã hội hóa bằngnhiều hình thức đa dạng như huy động các thành phần kinh tế trong và ngòai nướcđầu tư xây dựng các trường dân lập, tư thục và bán công Hiện thành phố có 85trường bán công (chiếm 6,3%), 244 trường dân lập (chiếm 18,1%) và một sốtrường đại học tư thục mới vừa được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập
6.4 Y tế
Hoạt động y tế Thành phố trong thời gian qua đã đạt được những thành
Trang 36tựu đáng kể, ngày càng thể hiện vai trò trung tâm y tế của Vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam và Nam bộ Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nângcao, công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngày càng phát triển, mạng lưới y tế
cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển, công tác xã hội hóa y tế đã đạt đượcnhững kết quả khả quan
Loại hình y tế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có 8 loại với tổng số 398 cơ
sở trong đó trạm y tế phường xã là 317 cơ sở, chiếm 79,65%; bệnh viện 38 cơ
sở, chiếm 9,54; phòng khám khu vực 29 cơ sở, chiếm 7,28%; còn lại là các loại
cơ sở khác như nhà điều dưỡng, trại phong, nhà hộ sinh…
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn có 10.849 cơ sở Y tế tư nhânhoạt động và một số bệnh viện tư nhân (24 bệnh viện tư nhân) trong và ngòainước Tuy nhiên chỉ có 03 bệnh viện (Việt Pháp, Tâm Đức, Triều An) là đầu tưmới với quy mô lớn, các bệnh viện còn lại đều sử dụng mặt bằng nhà ở hoặc cơ
sở kinh doanh trong khu vực nội thành nên quy mô rất nhỏ
Trên địa bàn Thành phố còn có cơ sở đào tạo đại học y dược do Bộ Y Tếquản lý và trường trung học y tế, trường nữ hộ sinh trung cấp là nguồn cung cấpcán bộ hỗ trợ, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên môn ngành y
Số giường bệnh trên 10.000 dân ở các bệnh viện công lập đã tăng từ 30
giường năm 2000 lên 32,5 giường năm 2004 (Báo cáo chính trị trình Đại hội
đại biểu Đảng bộ TP lần thứ VIII).
Cơ sở vật chất ngành y tế không ngừng được nâng cấp và mở rộng trongthời gian qua, đã khánh thành và đưa vào hoạt động nhiều cơ sở y tế như Trungtâm y tế chuyên sâu của bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, cơ sởmới của bệnh viện Hùng Vương, Khoa thận của bệnh viện Nhân dân 115, Trungtâm y tế quận 12
6.5 Văn hoá
Trong những năm gần đây, Thành phố đã thực hiện tốt các chương trình
hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về “ Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; cuộc vận
động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” được thực hiện rộng khắp; các chương trình “Năm trật tự đô thị”, “Năm kỷ cương, văn minh đô thị” được khiển
khai đã có kết quả bước đầu, góp phần xây dựng môi trường văn hóa đô thị vàdiện mạo văn hóa mới cho Thành phố
Năm 2004, Thành phố có 21 rạp chiếu bóng - video, 25 thư viện (trong đó
cấp quận, huyện là 24), 9 bảo tàng, 10 nhà truyền thống, 12 di tích lịch sử và
khá nhiều đình, chùa, miếu, nhà thờ, có 4 nhà văn hoá gắn với hoạt động đối
Trang 37ngoại nhằm mở rộng giao lưu văn hoá thế giới Ngành văn hóa thông tin cónhiều cố gắng phục vụ nhu cầu của xã hội nhưng chất lượng và hiệu quả chưacao, chưa tương xứng với tầm cỡ của một thành phố lớn Mạng lưới văn hóathông tin phân bổ không đều, nhiều cơ sở có từ trước giải phóng, các quận huyệnmới thì thiếu, các quận nội thành sử dụng không hết công suất Cơ sở xuất bản, in
ấn báo chí trên địa bàn Thành phố khá nhiều, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ vàsáng tạo
Chủ trương xã hội hóa trong các hoạt động văn hóa xã hội được thực hiệnthường xuyên và có hiệu quả cao, huy động được tiềm lực vật chất và tinh thầncủa nhân dân, có ý nghĩa sâu rộng trên các mặt đời sống chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội
và rộng khắp, các hoạt động thể dục thể thao quần chúng gắn với các ngày lễ lớncủa đất nước đã trở thành truyền thống
Công tác đào tạo vận động viên (VĐV) trong giai đoạn 2001 - 2005 được tổ
chức đào tạo ở 38 môn và được phân thành 4 tuyến: dự tuyển, năng khiếu tậptrung, dự bị tập trung và trọng điểm Hệ thống đào tạo ngày càng hoàn thiện và cótính khoa học cao đã đáp ứng được chất lượng đào tạo trong giai đoạn phát triểncủa xã hội nói chung và ngành thể dục thể thao nói riêng Công tác đào tạo vậnđộng viên thể thao thành tích cao cũng được chú trọng thông qua việc tổ chức tậphuấn nước ngoài, mời chuyên gia cho các đội thể thao Sự đầu tư chuyên môn tăngđều hàng năm ở cả số lượng môn và số lượng nhân sự tập huấn
Sự đầu tư tài năng thể thao Thành phố trong giai đoạn 2001 - 2005 manglại kết quả rất khả quan thông qua thành tích thi đấu tại các giải trong nước vàquốc tế Cụ thể: đạt hạng nhất toàn đoàn tại hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc lầnthứ VI năm 2004 tại Huế; đoạt 15 HCV, 20 HCB; 20 HCĐ trong các giải thi đấuquốc tế năm 2001; 42 HCV, 29 HCB; 28 HCĐ trong các giải thi đấu quốc tếnăm 2004 Đặc biệt, trong giai đoạn này thể thao Thành phố đã đóng góp nhiềucán bộ, HLV, VĐV tham dự các kỳ SEA Games (năm 2001 & 2003), Olympic
2000 và Asiad 2002 hơn 22 môn thể thao và đã đạt được kết quả rất cao, đặcbiệt hơn là năm 2003 nước ta là nước chủ nhà của SEAGames 22, các VĐV
Trang 38Thành phố đóng góp vào đội tuyển quốc gia tham gia thi đấu 24/32 môn và đãđạt được 25 HCV - 19HCB - 22HCĐ.
Cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành thể thao Thành phố cũng được cảithiện đáng kể, một số cơ sở sân bóng chuyền, bóng rổ, sân quần vợt, sân cầulông, sân bóng bàn, bóng ném được làm mới và nâng cấp cải tạo thườngxuyên, các cơ sở lớn như: SVĐ Thống Nhất, SVĐ Quân khu 7, Nhà thi đấuPhan Đình Phùng, Nhà thi đấu Phú Thọ, Trung tâm TDTT Thành long, Hồbơi Yết Kiêu - Lam Sơn - Tân Sơn Nhất có khả năng phục vụ thi đấu trongnước và quốc tế
Lợi thế của Thành phố là có 3 cơ sở lớn về đào tạo chuyên ngành thể dụcthể thao là: Trường Đại học Thể dục Thể thao II - Thủ Đức; Trường Cao đẳng
sư phạm thể dục thể thao II - Nguyễn Trãi; Trường Nghiệp vụ thể dục thể thaothuộc Sở Thể dục Thể thao Thành phố, là nơi đào tạo cung ứng lực lượng vận
động viên thi đấu chủ yếu cho Thành phố và quốc gia (Những năm qua 1/3 số
vận động viên cấp quốc gia được đào tạo từ đây).
Thực hiện chủ trương xã hội hóa, hiện nay nhiều cơ sở ngòai công lập đãphát triển như đầu tư sân bóng đá, bóng bàn, cầu lông, quần vợt, thể dục thẩm
mỹ và hồ bơi … Tuy nhiên do chi phối bởi Luật Doanh nghiệp nên việc quản lý
về chuyên môn nhằm đảm bảo an tòan, sức khỏe cho người đến tập luyện chưađược chặt chẽ
6.7 Năng lượng
Nhu cầu tiêu thụ điện của Thành phố Hồ Chí Minh rất lớn, trong đó bêncjcạnh nhu cầu điện sử dụng cho sản xuất kinh doanh, điện phục vụ cho tiêudùng dân cư cũng rất cao Tính chung tốc đọ tăng trưởng tiêu dùng điện năngtoàn Thành phố cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP
Nguồn cấp điện tại chỗ của Thành phố là nhiệt điện với các nhà máy nhiệtđiện Thủ Đức, Chợ Quán, Hiệp Phước Tuy nhiên nguồn điện trên chỉ đáp ứngđược một phần nhu cầu của Thành phố, vì vậy trong cơ cấu điện năng phụ thuộcnhiều vào nguồn cung cấp từ các tỉnh lân cận, như Đồng Nai, Bà Rịa – VũngTàu, Bình phước
Hệ thống cung cấp điện của Thành phố khá phát triển với trạm nguồn 500
kV tại Phú Lâm, các trạm nguồn 220 kV Phú Lâm, Hóc Môn, Nhà Bè, Sài Gòn,Cát Lái, Tao Đàn và hệ thống trạm nguồn 110kV, 66kV bố trí đều khắp địa bàn
(30 trạm) Hiện Thành phố có kế hoạch cải tạo các trạm 66 kV lên 110 kV đẻ
thuận tiện trong việc quản lý, vận hành và sửa chữa
6.8 Bưu chính viễn thông
Trang 39Xác định bưu chính viễn thông là chìa khóa trong hội nhập quốc tế và làmột tiền đề tăng khả năng cạnh tranh, thu hút đầu tư, thời gian qua Thành phốrất quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng và hiện đại hóa công nghệ Tốc độ tăng trưởngbưu chính, viễn thông luôn đạt mức 20-21%/ năm, đáp ứng phần lớn nhu cầuthông tin liên lạc phục vụ phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.
Hiện nay, Thành phố có 03 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại cốđịnh phục vụ khoảng 880.000 thuê bao và 05 đơn vị cung cấp điện thoại di động
sử dụng công nghệ khác nhau (GSM, CDMA, iPASS) với dung lượng thuê bao
khoảng 1.900.000 Mật độ thuê bao điện thoại đạt 45 máy/100 dân
Tốc tăng trưởng cung cấp và thuê bao Internet rất cao: 100-200%/ năm,với quy mô khoảng 800.000 thuê bao quy đổi và khoảng 10.000 thuê bao ADSL
Hệ thống bưu điện trung tâm, các bưu cục và các điểm bưu điện văn hóaquan tâm đầu tư và phân bổ rộng khắp địa bàn dân cư
Tổng diện tích đất dành cho chuyển dẫn năng lượng và truyền thông đạt63,56 ha
6.9 Khoa học và công nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh, với vai trò trung tâm khoa học và công nghệphía Nam đã và đang tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu các đề tài ứng dụng, chuyểngiao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế và mọi mặt đời sống Hiện nay Thànhphố đang tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao như: thông tin, sinh học, cơkhí – tự động, vật liệu mới nhằm mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng sứccạnh tranh của nền kinh tế
Công viên Phần mềm Quang trung, với quy mô sử dụng đất 44 ha, đã thuhút 68 doanh nghiệp hoạt động (có 31 doanh nghiệp nước ngoài), tổng vốn đăng
ký 1.000 tỷ đồng với trên 3.300 người đang làm việc và học tập
Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai đầu tư xâydựng trên quy mô diện tích 913 ha, hiện đã có 17 dự án đầu tư, trong đó đầu tưtrực tiếp nước ngoài có 10 dự án với số vốn 712,5 triệu USD và 7 dự án đầu tưtrong nước với tổng số vốn 933,6 tỷ đồng
Sự gắn kết giữa khoa học và công nghệ với quá trình phát triển kinh tế
-xã hội có bước tiến bộ mới, tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học khoảng60-80% Sự liên kết giữa doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lýnhà nước được hình thành, thị trường khoa học công nghệ được tạo lập góp phầntăng năng lực cạnh tranh và lợi nhuận cho các doanh nghiệp
7 Quốc phòng, an ninh
Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò then chốt trong việc bảo vệ chủ quyền
Trang 40quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, do đó tăng cường tiềm lực quốc phòng và anninh, tiếp tục giữ vững và ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tạo môitrường ổn định cho đầu tư, sản xuất - kinh doanh; thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội trên địa bàn Thành phố và khu vực Nam bộ luôn được xác định là nhiệm vụchính trị quan trọng hàng đầu.
Hiện Thành phố đã giành 490 khu vực với diện tích khoảng 2.047 ha để
bố trí các công trình phục vụ quốc phòng, an ninh
8 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội gây áp lực đối với đất đai
Những phân tích trên về phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố trong 5năm qua đã phản ánh những áp lực đối với qui mô đất đai của thành phố Đó làtác động của các yếu tố sau:
- Sự đề cao các mục tiêu về số lượng, chưa chú trọng đầy đủ các yếu tố vềchất lượng trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trước đây đãlàm cho các ngành, các cấp, các địa phương của thành phố chưa quan tâm đúngmức về chất lượng phát triển nói chung và môi trường sống của cư dân nói riêng
- Một số các công trình, chương trình trọng điểm về phát triển cơ sở hạ tầng
và dịch vụ đô thị triển khai chậm, làm hạn chế khả năng phát triển kinh tế của thànhphố và cải thiện chất lượng đô thị Tính đồng bộ các công trình chưa được đề cao.Chất lượng một số công trình đầu tư chưa đạt yêu cầu, nhanh xuống cấp
- Công tác quy hoạch đô thị, quản lý thực hiện quy hoạch của bộ máyChính quyền các cấp còn yếu kém làm phát sinh tình trạng xây dựng tự pháttrong dân cư, thiếu kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội chung củathành phố, làm phát sinh những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường, giaothông, tiện ích công cộng và các vấn đề xã hội khác Các quy hoạch dài hạn liênquan đến phát triển đô thị bền vững còn thiếu
- Sự gia tăng dân số nhanh, chủ yếu là tăng cơ học đang gây áp lực rất lớn
về nhu cầu sử dụng đất xây dựng đô thị, đặc biệt ở các quận nội thành Trong đóđáng kể là nhu cầu đất cho các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật tăng cao Sựphối hợp phát triển với các tỉnh xung quanh còn chậm, chưa phát huy đầy đủ vaitrò của thành phố như là hạt nhân của Vùng, vừa hợp tác vừa hỗ trợ các tỉnhphát triển, kết nối hạ tầng đồng bộ trong Vùng còn nhiều bất cập
- Việc nâng cấp, cải tạo, chỉnh trang đô thị phục vụ cho mục tiêu hiện đạihoá, công nghiệp hoá cũng yêu cầu diện tích đất không nhỏ, đi kèm với giảiquyết hàng loạt vấn đề về như bồi thường, giải phóng mặt bằng, di dời các cơ sở
ô nhiễm, xây dựng các khu tái định cư