Lịch sử phát triển QTDND đã minh chứng rằng để phát triển thành côngmô hình này thì hệ thống QTDND phải có cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh baogồm 2 bộ phận, đó là bộ phận trực tiếp hoạt dộng k
Thực trạng hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Thực trạng
2.2.1 Khái quát thực trạng hoạt động
Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là tổ chức tín dụng hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện và có lợi cho các thành viên là hộ gia đình nông thôn Với mức góp vốn từ 50 nghìn đến 100 nghìn, QTDND cung cấp khả năng vay vốn linh hoạt, thủ tục đơn giản và gần gũi với người dân Để thành lập, QTDND cần sự đồng thuận của chính quyền địa phương và có cán bộ đủ tiêu chuẩn QTDND chủ yếu huy động vốn tại chỗ, đáp ứng nhu cầu vốn cho các hộ thiếu vốn ở nông thôn, tạo ra sự cạnh tranh hiệu quả với các ngân hàng thương mại trong việc mở rộng cho vay vốn cho nông dân.
Trong những năm qua, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã tích cực hỗ trợ cộng đồng bằng cách khai thác nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay, giúp thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống, đồng thời góp phần xoá đói giảm nghèo và hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn Hiện tại, cả nước có 897 QTDND hoạt động tại 52 tỉnh thành với 911.926 thành viên, trung bình mỗi quỹ có 1.016 thành viên Tổng nguồn vốn đạt 4.737,6 tỷ đồng, trong đó tổng dư nợ cho vay là 4.049,6 tỷ đồng, bình quân 4.515 triệu đồng/quỹ Hầu hết các quỹ đều hoạt động có lãi và có tích lũy Số liệu cho thấy, 30% dân số tại các địa phương có QTDND tham gia, với một số nơi lên tới 60% Trong tổng dư nợ cho vay, 52% được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, 32% cho kinh doanh dịch vụ, 7,5% cho nhu cầu sinh hoạt và 8,5% cho các mục đích khác Vốn của QTDND đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
Cả nước hiện có 900 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) với gần 1 triệu hộ gia đình tham gia Mặc dù mới hơn 10 năm hoạt động và chỉ có mặt tại 1/10 số xã phường của Việt Nam, các QTDND đã huy động được hơn 3.500 tỷ đồng tiền nhàn rỗi và cho vay trên 4.200 tỷ đồng, với chất lượng hoạt động tốt và tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% Tuy nhiên, hoạt động của QTDND cũng bộc lộ nhiều yếu kém do đây là mô hình mới tại Việt Nam, cần có kinh nghiệm và biện pháp hiệu quả để chuyển từ thế bị động sang chủ động, đảm bảo hoạt động an toàn và hỗ trợ tốt hơn cho các thành viên.
2.2.1 Về bảo hiểm tiền gửi ở QTDND :
Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là mô hình doanh nghiệp với mục tiêu hỗ trợ các thành viên trong lĩnh vực tín dụng và ngân hàng dựa trên nguyên tắc tự nguyện và đoàn kết Để đạt được mục tiêu này, QTDND hoạt động theo các nguyên tắc hợp tác xã như tự quản lý, tự giúp đỡ và tự chịu trách nhiệm Mô hình QTDND mang những đặc thù riêng, đi kèm với những thế mạnh và yếu điểm cần được khai thác và khắc phục Việc phát triển các tổ chức QTDND cần chú trọng đến những yếu tố này để đảm bảo sự phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của Quỹ Bảo hiểm tiền gửi.
Bài báo của Bùi Chính Hùng nhấn mạnh rằng quỹ tín dụng nhân dân cần được hỗ trợ để hoạt động đúng hướng, an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững Để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng đã quy định tại điều 17 theo xu thế chung của thế giới.
“TCTD có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi“.
Vào ngày 09/11/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 218/1999/QĐ-TTg thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của hình thức bảo hiểm tiền gửi đầu tiên tại hệ thống QTDND Từ năm 2000 đến 2004, 969 QTD trên toàn quốc đã tham gia vào chính sách bảo hiểm tiền gửi của Nhà nước Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã chi trả gần 14 tỷ đồng cho người gửi tiền khi đóng cửa 30 QTDND mất khả năng thanh toán, giúp hạn chế hiệu ứng dây chuyền và ngăn chặn tình trạng đổ vỡ của hệ thống QTDND như đã xảy ra vào cuối những năm 80 Điều này có nghĩa là tất cả người dân gửi tiền vào các TCTD đã tham gia bảo hiểm tiền gửi.
2.2.3 Về vai trò của QTDNDTW trong hệ thống QTDND
Trong vòng 8 tháng, QTDNDTW đã thành công trong việc sát nhập 21 QTDND thành chi nhánh, đồng thời thành lập 2 chi nhánh mới để kịp thời hỗ trợ và chăm sóc các QTDND, đảm bảo hoạt động bình thường, thuận lợi và ổn định.
QTDNDTW đã tổ chức nhiều đợt tập huấn và hội thảo về bàn giao sát nhập và cơ chế điều hoà vốn mới, nhấn mạnh vai trò quan trọng của con người trong sự thành công của công việc Các buổi tập huấn này không chỉ dành cho cán bộ QTDNDTW mà còn cho cán bộ của QTDND khu vực, với mục tiêu đảm bảo rằng ngay trong lễ khai trương hoạt động của chi nhánh, các QTDND cơ sở có thể thực hiện giao dịch theo cơ chế mới một cách bình thường, an toàn và thuận lợi.
QTDNDTW cung cấp vốn điều hoà cho các QTDND cơ sở, với nguồn vốn điều hoà đạt 1.913 triệu đồng vào tháng 11/2000, theo chỉ thị 57-CT/TW của Bộ Chính trị Sau khi chuyển đổi mô hình từ 3 cấp sang 2 cấp, vốn điều hoà từ QTDND cơ sở lên QTDNDTW đã tăng lên 71.510 triệu đồng vào ngày 31/12/2001 và đạt 314.329 triệu đồng vào ngày 31/5/2004, với tốc độ tăng trưởng 440%.
QTDNDTW đang tăng cường tư vấn và chăm sóc các QTDND cơ sở, với mục tiêu biến công tác này thành kế hoạch hàng năm Đến nay, QTDNDTW đã tổ chức tư vấn trực tiếp cho các QTDND tại Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, và Thanh Hóa, đạt được những kết quả khích lệ Sắp tới, QTDNDTW sẽ hoàn thiện và phát hành cuốn sổ tay tư vấn chăm sóc thành viên, làm tài liệu hỗ trợ cho các QTDND, đồng thời tổ chức tư vấn trực tiếp với các QTDND cơ sở ở nhiều tỉnh.
QTDNDTW đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Theo Chỉ thị 57 –CT/CT, việc củng cố và chấn chỉnh đã mang lại kết quả tích cực, với dự án doanh nghiệp nông thôn được triển khai với tổng vốn 30 triệu USD, trong đó QTDNDTW là đầu mối tiếp nhận và giải ngân Từ khi thành lập đến năm 2004, QTDNDTW đã đại diện cho hệ thống tiếp nhận hai giai đoạn vay vốn của ADB, với tổng số gần 45 triệu USD.
Thành viên Thành viên Thành viên
QTDND cơ sở QTDND cơ sở QTDNDcơ sở
Sơ đồ mô hình TDND
QTDND là một mô hình tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả ngay cả ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển như Canada và Đức, đặc biệt là trong các khu vực nông thôn.
Cuối thập kỷ 90, gần 400 Quỹ Tín Dụng Nhân Dân (QTDND) rơi vào tình trạng yếu kém do tham ô, vi phạm quy chế cho vay và môi trường pháp lý không ổn định Ngày 10/1/2000, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị số 57-CT/CT nhằm củng cố và phát triển hệ thống QTDND Thủ tướng Chính phủ cũng đã ra quyết định số 135/2000/QĐ-TTg và Ngân hàng Nhà nước có kế hoạch số 94 để chấn chỉnh hệ thống này Việc đổ vỡ của bất kỳ QTDND nào có thể ảnh hưởng đến hàng chục nghìn người gửi tiền, dẫn đến sự sụp đổ dây chuyền trong toàn bộ hệ thống tín dụng, gây mất ổn định chính trị, kinh tế và xã hội Bài học từ sự đổ vỡ của hàng nghìn HTXTD cuối thập kỷ 80 và QTD ở Anbani giữa thập kỷ 90 đã minh chứng cho sự cần thiết phải hành động.
Quá trình thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị và quyết định của Thủ tướng Chính phủ được NHNN và các cấp liên quan tiến hành một cách bài bản, thận trọng và linh hoạt NHNN đã tạm dừng cấp phép thành lập mới, đồng thời khẩn trương củng cố các QTDND có khả năng khôi phục hoạt động, kiên quyết thu hồi giấy phép và chấm dứt hoạt động của những QTDND yếu kém Đến hết tháng 3/2003, NHNN đã thu hồi giấy phép và ngừng hoạt động của 112 QTDND, chiếm 13% tổng số QTD trong cả nước Việc này không chỉ đơn thuần là phá sản hay giải thể, mà còn phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân, bao gồm vốn góp và tiền gửi, đồng thời thu hồi nợ vay từ những con nợ chây ỳ, yêu cầu thực hiện các nghiệp vụ thanh lý QTDND.
Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp uỷ và chính quyền địa phương, cùng với nỗ lực kiên trì của các chi nhánh ngân hàng nhà nước, cả nước đã thu hồi được 9.528 triệu đồng trong tổng số nợ phải thu 38.065 triệu đồng Các tỉnh như Hà Tây, Quảng Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, ĐakLak, An Giang, và Long An đã thu hồi trên 50% số nợ phải thu Điều này không chỉ cung cấp nguồn tài chính quan trọng để chi trả tiền gửi cho người dân mà còn tạo tác động tâm lý tích cực đối với những cá nhân chây ỳ và những người gửi tiền.
Đánh giá hoạt động
2.3.1 Các kết quả đạt đợc
2.3.1.1 QTDND với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn Đảng & Nhà nớc ta đã xác định CNH-HĐH nông nghiệp-nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH-HĐH đất nớc.Những đờng lối, định hớng cơ bản về phát triển kinh tế nông nghiệp-nông thôn với giải pháp quan trọng đó là hình thành và phát triển hệ thốngQTDND ở nớc ta, đã đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở khu vực này QTDND do các thành viên ( chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình ở nông thôn ) góp vốn lập nên, hoạt động “theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ , tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động , thực hiện mục tiêu chủ yếu là tơng trợ giữa các thành viên , nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống “ ( Chỉ thị số 57/CT-TW ngày 10/10/2000 của Chính phủ ).
Trong những năm qua, QTDND đã tích cực hỗ trợ cộng đồng bằng cách khai thác nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay, đáp ứng nhu cầu của các thành viên Điều này không chỉ giúp họ phát triển sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mà còn cải thiện đời sống, góp phần vào mục tiêu xoá đói giảm nghèo và hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn.
Sự hình thành và phát triển của Quỹ Tín Dụng Nhân Dân (QTDND) đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho hàng ngàn hộ dân gửi và vay vốn, giúp nông dân tiếp cận hoạt động ngân hàng Đồng vốn từ QTDND đã hỗ trợ các thành viên và hộ nghèo mở rộng sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống, khôi phục nghề truyền thống và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Nhiều vùng trồng cây công nghiệp và trang trại lớn đã hình thành, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân QTDND cũng tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, góp phần làm mới bộ mặt nông thôn Việt Nam Đặc biệt, QTDND đã giúp giảm thiểu tình trạng cho vay nặng lãi, cải thiện đời sống cho nhiều hộ nông dân, tạo điều kiện cho họ thoát nghèo và trở thành điển hình trong sản xuất kinh doanh Cơ cấu tín dụng của QTDND đang chuyển dịch sang cho vay trung hạn, dài hạn, hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất và mở rộng sản xuất Khi đời sống nông dân được cải thiện, niềm tin của họ vào Đảng và Nhà nước cũng tăng lên, đồng thời giúp Nhà nước tập trung vốn đầu tư cho các vùng trọng điểm khác.
Theo số liệu năm 2004, QTDND đã cho 607.094 thành viên vay vốn với tổng số tiền 5.556,7 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ cho vay cho sản xuất chiếm 57%, dịch vụ 28,4%, nhu cầu sinh hoạt 8,9% và nhu cầu khác 5,7% Bình quân mỗi món vay là 9,2 triệu đồng, con số này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đời sống nhân dân còn thấp, giúp các hộ thành viên mua nguyên vật liệu phát triển sản xuất QTDND Mễ Sở (Hưng Yên) đã cho 24 hộ vay vốn mua 240 con bò và 20 hộ vay vốn mở trang trại 70% số thành viên đã vay vốn để cải tạo đất thâm canh cây trồng Ngoài việc vay vốn để phát triển kinh tế cá nhân, một số hộ đã góp vốn xây dựng đơn vị kinh tế tập thể tại các làng nghề ở Hà Tây, Bắc Ninh, Đồng Nai Một số QTDND cơ sở cũng đã đầu tư vốn cho các dự án nhỏ, hỗ trợ các đơn vị kinh tế tập thể.
Qua 10 năm hình thành và phát triển, đến nay hệ thống QTDND đã và đang từng bớc lớn mạnh và thực sự là một kênh dẫn vốn quan trọng góp phần tích cực trong việc cung ứng vốn phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn Hoạt động của QTDND có ý nghĩa cả về kinh tế – chính trị – xã hội, đặc biệt thắt chặt thêm mối quan hệ tình làng nghĩa xóm của những ngời nông dân trong cộng đồng làng xã
Kết quả đạt được đã chứng minh vai trò quan trọng của Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Điều này khẳng định chủ trương thành lập QTDND của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân.
2.3.3.2 Hệ thống QTDND đã đào tạo đợc đội ngũ cán bộ và tạo dựng đợc một phần cơ sở vật chất kỹ thuật, bớc đầu đáp ứng yêu cầu hoạt động của kinh tÕ tËp thÓ Đợc sự quan tâm của NHNN, công tác đào tạo cán bộ đợc coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống QTDND Với nguồn kinh phí hàng chục tỷ đồng để bồi dỡng và đào tạo cho hàng nghìn cán bộ trong các QTDND cơ sở có khả năng quản trị, điều hành, tác nghiệp Có thể nói, đội ngũ cán bộ nhân viên cơ sở của hệ thống QTDND khá hơn, đồng đều hơn so với các cán bộ nhân viên của các cơ sở kinh tế tập thể khác, đặc biệt là về quản lý tài chính Đây là một trong những nhân tố góp phần quyết định vào việc xây dựng thành công mô hình QTDN
Việc củng cố và phát triển hoạt động tín dụng của các quỹ đã tạo dựng cơ sở vật chất cần thiết, với hầu hết các cơ sở có trụ sở làm việc ổn định và khang trang Các cơ sở này được trang bị máy tính để phục vụ công tác quản lý và đảm bảo thông tin nhanh chóng trong toàn hệ thống, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ của các quỹ.
Hoạt động của các Quỹ Tín Dụng Nhân Dân (QTDND) đã được đánh giá cao bởi các cấp uỷ và chính quyền địa phương, thể hiện tính thiết thực và hiệu quả, được các thành viên và hộ nghèo tin cậy Nhiều thành viên chia sẻ rằng: “Từ ngày có QTDND, dân khỏi phải vay nặng lãi” và “QTDND là chỗ tin cậy của dân.” Một số người ở Cầu Diễn, Hà Nội cho biết: “Từ ngày có quỹ, gia đình tôi đã thay đổi được cuộc sống.” Điều này chứng tỏ rằng QTDND đã thực sự đi vào cuộc sống, phù hợp với nhu cầu khách quan tại các vùng nông thôn và nông nghiệp của Việt Nam.
2.3.2 Những mặt còn hạn chế.
Việc chấp hành các cơ chế và quy chế của Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng Một số QTD không tập trung vào mục tiêu hỗ trợ thành viên trong sản xuất kinh doanh, mà lại chạy theo lợi nhuận đơn thuần Điều này dẫn đến việc mở rộng hoạt động vượt quá khả năng quản lý và kiểm soát, thậm chí vi phạm các quy định pháp luật, gây ra nguy cơ mất an toàn cho một số QTDND.
Chất lượng tín dụng hiện nay còn yếu và chậm được cải thiện, với tình trạng cho vay vượt quá tỷ lệ quy định so với vốn tự có và cho vay sai đối tượng Điều này dẫn đến vi phạm các quy định về đảm bảo an toàn, kết quả kinh doanh kém, nợ quá hạn cao, và nguy cơ mất khả năng chi trả Nhiều Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) chỉ huy động được bao nhiêu thì cho vay bấy nhiêu, duy trì vốn khả dụng ở mức rất thấp, dễ gặp khó khăn khi cần chi trả tiền gửi đột xuất, đặc biệt là các khoản tiền gửi lớn Việc gửi vốn và cho vay lẫn nhau giữa các QTDND khi thừa hoặc thiếu vốn có thể gây ra ảnh hưởng dây chuyền khi một QTDND gặp khó khăn.
Công tác quản trị điều hành tại các Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đang gặp nhiều sai phạm, với một số cán bộ lợi dụng vị trí để tham ô và trục lợi, dẫn đến thất thoát tài sản Việc kiểm tra và kiểm soát nội bộ chưa được thực hiện thường xuyên, khiến cho các sai phạm trong việc chấp hành quy định pháp luật không được phát hiện và xử lý kịp thời Nhiều địa phương vẫn cho rằng hoạt động của QTDND là trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước, do đó không chú trọng vào công tác kiểm tra và quản lý.
Các QTDND đã tạo ra mối liên kết chặt chẽ để hỗ trợ nhau trong việc tồn tại và phát triển bền vững Tuy nhiên, hoạt động của các QTDND cơ sở trong những năm gần đây vẫn mang tính tự phát, thiếu sự hỗ trợ hiệu quả từ QTDNDTW Điều kiện đi lại khó khăn đã khiến nhiều QTDND cơ sở chưa dám huy động vốn, đặc biệt là tiền gửi không kỳ hạn Một số QTDND cơ sở tạm thời gửi vốn vào ngân hàng thương mại để sử dụng khi cần thiết Hệ thống QTDND vẫn chưa triển khai hiệu quả các công việc như trao đổi thông tin và tổ chức nghiệp vụ, dẫn đến mạng lưới QTDND ngày càng thu hẹp.
100 QTDND do không đủ điều kiện hoạt động phải thu hối giấy phép
Trình độ chuyên môn và năng lực quản trị của cán bộ tại các QTDND hiện nay còn thấp, chủ yếu là do phần lớn cán bộ là bộ đội chuyển ngành và không được đào tạo chính quy Mặc dù Hội đồng quản trị và ban điều hành được bầu đầy đủ, nhưng họ không thực hiện đúng vai trò của mình, dẫn đến thiếu kiểm tra và dễ phát sinh tiêu cực Cán bộ chủ yếu tham gia các lớp đào tạo ngắn hạn do NHNN tổ chức, nhưng với sự phát sinh liên tục các vấn đề mới trong chuyên môn, việc không thường xuyên bổ túc đào tạo sẽ không đáp ứng được yêu cầu phát triển.
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế.
Thứ nhất : Môi trờng kinh doanh cha ổn định
Môi trường kinh doanh ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế và đặc biệt là hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) Chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước đang trong quá trình đổi mới, dẫn đến sự điều chỉnh thường xuyên, gây khó khăn cho QTDND Việc ban hành một số chủ trương chính sách của chính phủ không lường trước được những khó khăn và vướng mắc trong quá trình triển khai, tạo ra những rủi ro không mong muốn.
Thứ hai: Khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động QTND còn cha hòan thiện