1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG

119 538 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Năng Lực Cạnh Tranh Sản Phẩm Xi Măng Hương Sơn Của Công Ty Cổ Phần Xi Măng Bắc Giang
Tác giả Vũ Huy Hoàng Dương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Tâm
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI



-VŨ HUY HOÀNG DƯƠNG

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY

CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

Mã số : 60.34.05

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN THỊ TÂM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi Các sốliệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, nghiêm túc, chưađược công bố và sử dụng bảo vệ một học vị nào

Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Bắc Giang, ngày tháng năm 2012

Tác giả

Vũ Huy Hoàng Dương

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian học tập tại trường, nghiên cứu viết luận văn bản thântôi đã nhận đựoc rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức vàcác cá nhân

Trước hết cho phép bản thân tôi đựoc cám ơn các thày cô giáo trongkhoa Kế toán & Quản trị kinh doanh của Trường đại học Nông nghiệp Hà Nộitrong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài của mình

Cám ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Ngưyễn Thị Tâm đã giúp

em hoàn thành đề tài của mình

Tôi xin cám ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các cô chú, anh chịtrong Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang trong quá trình nghiên cứu và hoànthành luận văn

Cám ơn sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điềukiện, động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn

TÁC GIẢ

Vũ Huy Hoàng Dương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CÁM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 4

2.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.2 Các hình thức cạnh tranh 14

2.1.3 Các công cụ cạnh tranh sản phẩm 17

2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 25

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh sản phẩm 27

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 37

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ xi măng thế giới 37

2.2.2 Khả năng cạnh tranh của các DN SXXM của Việt Nam 39

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

3.1 Giới thiệu chung về tỉnh Bắc Giang 43

3.2 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang 45

Trang 5

3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 45

3.2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty 47

3.3 Phương pháp nghiên cứu 55

3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 55

3.3.2 Thu thập tài liệu 56

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu: 57

3.3.4 Phương pháp phân tích: 57

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59

4.1 Thực trạng NLCT sản phẩm của Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang .59

4.1.1 Tình hình SXKD XM của Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang .59 4.1.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm xi măng của Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 65

4.1.3 Đánh giá đối thủ cạnh tranh 83

4.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của SP xi măng Hương Sơn .87 4.1.5 Đánh giá KNCT của Công ty CP xi măng BG trên địa bàn tỉnh BG 92

4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 97

4.2.1 Hoạch định chiến lược giá bán sản phẩm: 99

4.2.2 Tăng cường mở rộng mạng lưới kênh phân phối 99

4.2.3 Tăng cường tiếp thị, quảng cáo SPXM tới người tiêu dùng 100

4.2.4 Tăng cường tiềm lực nội bộ của công ty qua các yếu tố 102

5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106

5.1 Kết luận 106

5.2 Kiến nghị 108

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của tỉnh Bắc Giang 45

Bảng 3.2: Tình hình lao động của Công ty 51

Bảng 3.3 Tình hình nguồn vốn, tài sản của công ty 54

Bảng 3.4 Số lượng mẫu điều tra của các đại lý cấp I 56

Bảng 3.5 Ma trận SWOT 58

Bảng 4.1: Kết quả sản xuất xi măng Hương Sơn của Công ty 60

Bảng 4.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm Xi măng Hương Sơn 61

Bảng 4.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 63

Bảng 4.4 Đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm xi măng của các Công ty trên địa bàn tỉnh 66

Bảng 4.5 Giá bán một số loại xi măng trên thị trường Bắc Giang 68

Bảng 4.6 Tổng hợp ý kiến khách hàng về mẫu mã bao bì sản phẩm 72

Bảng 4.7 DT tiêu thụ qua các kênh của Công ty cổ phần Xi măng BG 76

Bảng 4.8 Tổng hợp các kênh phân phối của một số Công ty 77

Bảng 4.9 Tổng hợp các hình thức chiết khấu, khuyến mãi của một số Công ty trên địa bàn tỉnh 79

Bảng 4.10 Chi phí quảng cáo của Công ty cổ phần xi măng 81

Bảng 4.11 Tổng hợp các công cụ đã sử dụng để yểm trợ bán hàng 82

Bảng 4.12 Tình hình doanh thu của các Công ty 83

Bảng 4.13 Tình hình lợi nhuận trước thuế của Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang và các Công ty khác 86

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ

3.1 Tổ chức bộ máy Công ty 47

Sơ đồ 3.2 Qui trình sản xuất và công nghệ 49

Sơ đồ 4.1 Mô hình kênh phân phối của Công ty cổ phần Xi măng 76

Biểu đô 4.2 Biểu đồ thị phần 93

Trang 8

1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Mở rộng thị phần, cạnh tranh sản phẩm luôn là mục tiêu hàng đầu,quyết định sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trườngdoanh nghiệp muốn tồn tại phải làm ăn “có lãi”, nhất là những doanh nghiệp

đã tiến hành cổ phần hoá (CPH) bước vào hoạt động với tư cách là công ty cổphần, vận hành theo cơ chế thị trường tự chịu trách nhiệm với công việc sảnxuất kinh doanh của mình Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của công

ty trên thị trường là nhiệm vụ chủ đạo của mỗi doanh nghiệp

Hoạt động của những doanh nghiệp sau CPH mà yếu tố được đặt lênhàng đầu là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnhtranh sản phẩm của những doanh nghiệp đó Làm rõ được vấn đề hiệu quả sảnxuất kinh doanh (SXKD), khả năng cạnh tranh sản phẩm sẽ thấy được nhữngmặt chủ yếu đã đạt được và những tồn tại vướng mắc cần giải quyết, rút kinhnghiệm để áp dụng vào giai đoạn sau

Thị trường xi măng Việt Nam đang ngày càng đa dạng, phong phú vàcạnh tranh khốc liệt Quy mô của thị trường rộng lớn, tốc độ tăng trưởng hàngnăm cao và làm tăng khả năng cạnh tranh SP xi măng trong nước với các sảnphẩm xi măng nhập khẩu Đó là cơ hội cho các nhà sản xuất nhưng cũng tạo

ra không ít những thách thức lớn trong cuộc đua chiếm lĩnh thị trường

Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang là một công ty có bề dày kinhnghiệm trong sản xuất, sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường của tỉnh vàmột số tỉnh lân cận như hiện nay Nhưng một vấn đề nổi bật là do sức ép của

cơ chế thị trường, có rất nhiều công ty xi măng mới thành lập với số vốn đầu

tư lớn, dây truyền công nghệ cao, sản phẩm mẫu mã đa dạng Hơn nữa, sảnphẩm xi măng nhập khẩu cũng làm cho thị trường xi măng trong nước cạnhtranh càng thêm khốc liệt Để thực hiện điều này, doanh nghiệp đã tiến hành

Trang 9

CPH từ năm 2002 Thực trạng hoạt động và kết quả kinh doanh trong thờigian sau CPH đã có nhiều biến chuyển theo hướng tích cực khẳng định sựđúng đắn trong quyết định đổi mới, song không vì vậy mà không có nhữngtồn tại thiếu sót cần phát hiện và sửa đổi kịp thời để Công ty ngày càng pháttriển mạnh mẽ hơn Để có chỗ đứng vững trên thị trường, Công ty cần tăngcường năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình

Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi đã chọn Đề tài “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm xi măng Hương Sơn của Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm xi măng tạiCông ty cổ phần xi măng Bắc Giang Từ đó, đề xuất những giải pháp nângcao năng lực cạnh tranh SP xi măng của Công ty trong những năm tiếp theo

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các chỉ tiêu, nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm ximăng của công ty

Trang 11

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

2.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh sản phẩm.

Đối với nền kinh tế thị trường, các khái niệm liên quan tới cạnh tranhcòn rất khác nhau

Dưới thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển vượt bậc Mác đã quan niệmrằng: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữacác nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong quá trình sảnxuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”, có các quanniệm khác lại cho rằng “cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm,dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác ” [14]

Vào cuối thế kỷ XIX xuất hiện lý luận của trường phí cổ điển mới.Tâm điểm của lý luận này nhấn mạnh về cạnh tranh hoàn hảo Lý luận chorằng cạnh tranh hoàn hảo có nghĩa là thu nhập và của cải được phân phối đềukhắp Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, các nhà kinh tế Anh, Mỹ thể hiện sự

am hiểu về cạnh tranh không hoàn hảo

Nhà kinh tế học người Mỹ - Maurise Clack đưa ra ba luận điểm trong

Trang 12

Theo kinh tế chính trị học “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữacác đối thử nhằm giành giật thị trường khách hàng cho doanh nghiệp mình”.

Để hiểu nhất quán ta có khái niệm sau:

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữacác doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành giật được ưu thế hơn về cùngmột loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với đốithủ cạnh tranh

Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

- Cạnh tranh là một đặc tính cơ bản của thị trường, sẽ không có kinh tếthị trường nếu không có cạnh tranh Theo kinh tế học thì cạnh tranh(competion) là sự tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩmgiữa các doanh nghiệp “Như vậy đã là kinh tế thị trường thì đương nhiên cócạnh tranh và cạnh tranh theo nghĩa là tranh giành khách hàng (thị phần) thìchỉ có trong khuôn khổ của kinh tế thị trường” [20]

Vì cạnh tranh là hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường và đểđạt được mục tiêu lợi nhuận những doanh nghiệp tham gia thị trường phảithông qua sự cạnh tranh lẫn nhau nên từ lâu vấn đề cạnh tranh đã là một trongnhững nội dung quan trọng của các môn khoa học về kinh tế và là một đốitượng điều chỉnh của luật pháp Thế kỷ XIII Adam Smith, nhà kinh tế học cổđiển vĩ đại Anh trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776) đã thuyếtminh vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong bối cảnh nền kinh tế thịtrường tư bản chủ nghĩa (TBCN) đang ở giai đoạn hình thành, bị rất nhiềuràng buộc bởi những thiết chế phi tự do của nhà nước phong kiến Theo ông

"Mỗi cá nhân (doanh nghiệp) đều sử dụng vốn của mình sao cho có được sảnphẩm, có giá trị cao nhất Thông thường cá nhân này không có chủ định củng

cố lợi ích công cộng, mà cũng chẳng biết mình đang củng cố lợi ích này ởmức độ nào Cá nhân (doanh nghiệp) này chỉ có mục đích bảo vệ sự an toàn

Trang 13

và thành quả của riêng mình Trong quá trình này một bàn tay vô hình đãbuộc anh ta phải theo đuổi một mục đích không nằm trong dự định Trong khitheo đuổi lợi ích của mình anh ta đã thường bảo vệ luôn lợi ích của xã hội mộtcách biểu hiện hơn cả khi anh ta có ý định làm việc này Với Adam Smith,trật tự thị trường theo nguyên lý "bàn tay vô hình" sẽ điều hoà các hoạt độngkinh tế một cách có hiệu quả "Độc quyền là kẻ thù lớn đối với quản lý tốt, màviệc quản lý tốt không thể có được trừ khi có sự cạnh tranh tự do và rộngkhắp nó buộc những nhà sản xuất phải biết đấu tranh để bảo vệ lợi ích củachính họ" Kết luận ấy đương nhiên đưa ông đến chỗ là một trong nhữngngười cổ vũ nhiệt thành nhất cho một cơ chế kinh tế tự do và phản đối lại tìnhtrạng độc quyền cũng như sự can thiệp quá mức của chính phủ.

- Tuy nhiên, cạnh tranh thị trường không phải bao giờ cũng trôi chảy.Những mặt trái của nó được khái quát lại trong thuật ngữ "thất bại thị trường",với một trong những biểu hiện rõ nhất là những cuộc khủng hoảng kinh tếmang tính chu kỳ

Ngoài ra, theo như sự phân tích của kinh tế chính trị học Mác xít, cuộccạnh tranh trong điều kiện của kinh tế thị trường TBCN còn mang tính mùquáng và tàn bạo theo kiểu "cá lớn nuốt cá bé" Với biết bao nhiêu những hậuquả kinh tế và xã hội đè xuống đầu các giai cấp cần lao Với những nhượcđiểm trên nhiệm vụ tạo lập môi trường kinh tế có cạnh tranh, chống độcquyền đương nhiên thuộc về chức năng của nhà nước

Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì vấn đề cạnh tranhbắt đầu xuất hiện và len lỏi vào từng bước đi của doanh nghiệp Môi trườnghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lúc này đầy biến động và vấn đề cạnh

Trang 14

mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô, từ một cá nhân đơn lẻđền tổng thể toàn xã hội Cạnh tranh vốn là một quy luật tự nhiên và kháchquan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ thuộc và ý muốn chủ quan củamỗi người, bởi tự do là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh, cạnh tranh là động lựcthúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển Bởi vậy, để giành được cácđiều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanhnghiệp phải thường xuyên đổi mới, tích cực nhạy bén và năng động, phảithường xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới,

bổ xung xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc,loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ và lạc hậu và điều quan trọng là phải cóphương pháp tổ chức quản lý có hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyênmôn, tay nghề cho người lao động Cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năngsuất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hànghóa, nâng cáo chất lường sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuấtngày càng gắn liền vố tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn Bêncạnh những mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiêu hạn chế và tiêu cực, đó là

sự phân hoá sản xuất hàng hoá, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanhgặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệthấp và có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp phảinhững rủi ro khách quan mang lại như thiên tai, hoả hoạn hoặc bị rơi vàonhững hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi [2] [3]

Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất

đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trườngvới nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tựthay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận

2.1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm

Trang 15

Cạnh tranh ở đây là nói đến hành vi của chủ thể, vì vậy có hành vi củadoanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế,không có hành vi của hàng hóa Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh vớinhau, để giành lợi thế về phía minh, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiềubiện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của minh trên thị trường Các biệnpháp này thể hiện một sức mạnh, một khả năng hoặc một năng lực nào đó củachủ thể, được gọi là sức cạnh tranh của chủ thể đó hoặc khả năng cạnh tranhcủa chủ thể đó Khi muốn chỉ một sức mạnh, một khả năng duy trì được vị trícủa một sản phẩm hàng hoá nào đó trên thị trường (hàng hoá này là của mộtdoanh nghiệp nào đó, một quốc gia nào đó) thì ta cũng dùng thuật ngữ “khảnăng cạnh tranh của sản phẩm” hoặc sức cạnh tranh của sản phẩm cũng thểhiện mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó đối với khách hàng [1]

Sức cạnh tranh của sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội của sản phẩm

đó so với các sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện cácsản phẩm tham gia cạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng

Có nghĩa là những sản phẩm mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vịgiá cả là những sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao hơn

Năng lực cạnh tranh có thể phân chia thành 4 cấp độ khác nhau: cạnhtranh cấp độ quốc gia, cấp độ ngành, cấp độ doanh nghiệp và cấp độ sảnphẩm hàng hoá Năng lực cạnh tranh của bốn cấp độ trên có mối liên hệ tươngquan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Do đó, khi xem xét, đánh giá và

đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần thiếtphải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranhtrên

Một sản phẩm hàng hoá được coi là có khả năng cạnh tranh khi nó đápứng được nhu cầu hàng hoá về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng độc

Trang 16

hàng hoá cùng loại Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với nhau Vì sức cạnhtranh của hàng hoá có được thường là do sức cạnh tranh của chủ thể doanhnghiệp Điểu này cho thấy tầm quan trọng của chủ thể doanh nghiệp trongviệc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế, cũng nhưviệc xây dựng một thương hiệu hàng hoá mạnh, có tác động tích cực đến sựphát triển của doanh nghiệp trên thị trường đó

Như vậy có thể nói năng lực cạnh tranh của sản phẩm là tổng hoà sứccạnh tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia Các yếu tố ảnh hưởng đếnsức cạnh tranh sản phẩm bao hàm các yếu tố từ phạm vi doanh nghiệp, ngànhcông nghiệp đến phạm vi quốc gia

2.1.1.3 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh [16] [4]

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranhhầu như không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanhnghiệp hầu như đã được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọihoạt động, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này thuộc

về Nhà nước Vì vậy, vô hình Nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinhdoanh, một thói quen trì trệ và ỉ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếmkhách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm tới đến doanh nghiệp Chính điều đó

đã không tạo được động lực cho doanh nghiệp phát triển Sau khi kết thúc đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạnmới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đềcạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanhnghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng như nền KTQD nói chung

Đối với nền kinh tế quốc dân.

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lựcthúc đẩy sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng suất

Trang 17

lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnhtranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp Bêncạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuấthiện của nhữnh sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngàycàng được nâng cao về chính trị, kinh tế và văn hoá Cạnh tranh bảo đảm thúcđẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngàycàng phát triển sâu và rộng Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng cóquyền lựa chọn những sản phẩm mà họ đánh giá là tốt nhất Nếu một sảnphẩm không đáp ứng được đòi hỏi của người tiêu dùng lập tức sẽ bị đào thải.

Vì vậy, cạnh tranh kích thích các nhà sản xuất phải ngày càng hoàn thiện sảnphẩm của mình hơn, thoả mãn những yêu cầu của thị trường

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nóvẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh tạo sựphân hoá giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dấn tới có những mốtlàn ăm vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, làm hàng giả, buôn bán tráiphép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm

Đối với doanh nghiệp.

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạtđộng kinh doanh trên trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại

và đứng vững Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiếnlược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ

mô Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh trạnh để giànhgiật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệpmình là tốt nhất, phù hợp với thì hiếu, như cầu người tiêu dùng nhất Doanhnghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khác hàng kịp thời, nhanh chóng và đầy

đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh

Trang 18

nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển Do vậy cạnh tranh là rất quantrọng và cấn thiết.

Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắtđầu từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất nhưthế nào? sản xuất cho ai? Nghiên cứu thì trường để doanh nghiệp xác địnhđược nhu cầu thị trường và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứkhông sản xuất những gì mà doanh nghiệp có Cạnh tranh buộc các doanhnghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với ngườitiêu dùng hơn Muốn vậy các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựưkhoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tácquản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, cử cán bộ đi học để nângcao trình độ chuyên môn Cạnh tranh thắng lợi sé tạo cho doanh nghiệp một

vị trí xứng đáng trên thị trường tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp Trên cơ sở

đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo đàphát triển mạnh cho nền kinh tế

Đối với Ngành:

Hiện nay, đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành xi măng nóiriêng, cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nâng caochất lượng sản phẩm Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đàvững chắc cho mọi ngành nghề phát triển Nhất là đối với ngành xi măng làmột ngành vai trò lớn trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Cạnh tranh

sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế vàđiểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn lao động, tài nguyên dồidào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó

Như vậy, trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy môhoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ

mô hay vi mô thì không thể thiếu vắng sự có mặt của hoạt động cạnh tranh

Trang 19

Đối với sản phẩm.

Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao

về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi íchcủa người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn.Ngày nay, các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trongnước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài Qua những ý nghĩa trên tathấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nềnkinh tế Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những doanh nghiệp lớn vàđồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đảm bảo công bằng xãhội Bởi vậy, cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của Nhànước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnhtranh không lành mạnh dẫn tới độc quyền và gây lũng loạn thị trường

2.1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường ở đâu cónền kinh tế thị trường thì ở đó có cạnh tranh Bất kỳ một doanh nghiệp nàocũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệpmình tồn tại và đứng vững thì phải cạnh tranh Trong giai đoạn hiện nay dotác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngàycàng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức caohơn rất nhiều Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải khôngngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanhnghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trongcạnh tranh Chính vì vậy năng lực cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp chodoanh nghiệp: [19]

- Giúp cho DN tồn tại và đứng vững trên thị trường: Năng lực cạnh

tranh sẽ tạo ra môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp

Trang 20

nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng.Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanhnghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

- Giúp doanh nghiệp phát triển hơn

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh là một điềukiện và là một yếu tố kích thích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lựcthúc đẩy hát triển sản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoásản xuất ra nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranhngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại bỏ những công ty làm ăn kémhiệu quả, năng suất chất lượng thấp và ngược lại nó thúc đẩy những công tylàm ăn tốt, năng suất chất lượng cao Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thìdoanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranhcủa mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng Các doanh nghiệp cầnphải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng nhưsản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lượng cao, giá cả phù hợp với chấtlượng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của từng đối tượng khách hàng

Có như vậy hàng hoá của doanh nghiệp bán ra mới ngày một nhiều, tạo đượclòng tin đối với khách hàng Muốn tồn tại và phát triển được thì doanh nghiệpcần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm khác biệt so với cácđối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng tồn tại, phát triển vàthu được lợi nhuận cao

Trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranhluôn là mục tiêu của mỗi doanh nghiệp Cũng trong nền kinh tế đó kháchhàng là người tự do lựa chọn nhà cung ứng và cũng chính là những ngườiquyết định cho doanh nghiệp có tồn tại hay không Họ không phải tìm đếndoanh nghiệp như trước đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ đợi

để mua hàng hoá dịch vụ, mà đối ngược lại trong nền kinh tế thị trường khách

Trang 21

hàng được coi là thượng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thìphải tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ Điều này đòi hỏi doanhnghiệp phải có những chương trình giới thiệu truyền bá và quảng cáo sảnphẩm của mình để người tiêu dùng biết đến, để họ có sự xem xét, đánh giá vàquyết định có nên tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp hay không? Ngàynay việc chào mời để khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình đã là vấn đềkhó khăn nhưng việc giữ lại được khách hàng còn khó khăn hơn rất nhiều.Bởi vậy mà doanh nghiệp nên có những dịch vụ trước khi bán, trong khi bán

và dịch vụ sau khi bán hàng hoá cho khách hàng, để những khách hàng đó lànhững khách hàng truyền thống của doanh nghiệp, chính họ là những nhân tốquan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

2.1.2 Các hình thức cạnh tranh [13] [11]

Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức sau:

2.1.2.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh: Chia làm 3 loại

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn

ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích củamình Người bán muốn bán với giá cao nhất có thể, còn người mua muốn muavới giá rẻ nhất những chất lượng vẫn không thay đổi Tuy vậy, mức giá vẫn là

sự thoả thuận mang lại lợi ích của cả 2 bên

- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: là cuộc cạnh tranh trên cơ

sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúc nàyhàng hoá trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua có để đạt được nhu cầumong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức

độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cảhàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khinhững người mua bị thiệt thòi cả về giá và chất lượng, nhưng trong trường

Trang 22

hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra khi diễn ra hoạtđộng bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó

- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: đây là cuộc cạnh tranh

gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơncầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố cóvai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Dovậy, các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành giật những

ưu thế và lợi thế cho mình

2.1.2.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh: chia làm các

loại:

- Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn

giản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủlớn để tác động đến giá cả thị trường Nhóm người mua tham gia trên thịtrường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thịtrường được tự do hình thnàh, giá cả do thị trường quyết định

- Cạnh tranh không hoàn hảo: đây là hình thức cạnh tranh phổ biến

trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phốiđược giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại cácdịch vụ trong và sau khi bán hàng Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh

mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩmmang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét chất lượng thì sự khác biệtgiữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rấtnhiều Cạnh tranh không hoàn hảo có 2 loại:

- Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ

thể có ảnh hưởng lớn, có thể ép tất cả các đối tác của mình phải bán hoặc muasản phẩm của mình với giá cao và những người này có thể làm thay đổi giáthị trường Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc

Trang 23

quyền mua Độc quyền bán là trên thị trường có ít người bán và nhiều ngườimua Còn độc quyền mua thì ngược lại có nhiều người mua và ít người bán

+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số

ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất Lúc này cạnh tranh sẽxẩy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp Do vậy, mọi doanhnghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụthuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ kháctrên thị trường

2.1.2.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế.

- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm.Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải ápdụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng caonăng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu lợi nhuận,siêu ngạch Kết quả của cạnh tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển, điều kiệnsản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị xã hội của hàng hoá được xác địnhlại, tỷ xuất lợi nhuận giảm xuống Đồng thời các doanh nghiệp chiến thắng sẽ

mở rộng phạm vi hoạt động tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường,những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí còn bịphá sản

- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế

khác nhau nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất, là ngành cạnh tranh giữa các doanhnghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp cùng một ngành với ngành khác.Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn bị hấp dẫn bởi các ngành

có lợi nhuận cao, nên đã có sự chuyển dịch vốn từ các ngành có lợi nhuậnthấp sang các ngành có mức lợi nhuận cao hơn Sự di chuyển này sau một

Trang 24

giữa các ngành sản xuất để rồi kết quả cuối cùng là: Các chủ doanh nghiệpđầu tư ở các ngành khác nhau với cùng một số vốn chỉ thu được lợi nhuậnnhư nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành

2.1.3 Các công cụ cạnh tranh sản phẩm

Công cụ cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợpcác yếu tố, các kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động màdoanh nghiệp sử dụng nhằm vượt lên các đối thủ cạnh tranh và tác động vàokhách hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Nghiên cứu các công

cụ cạnh tranh sản phẩm cho phép các DN lựa chọn những công cụ cạnh tranhphù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanhnghiệp và đặc biệt là dựa vào đặc điểm của mỗi loại sản phẩm Từ đó mỗidoanh nghiệp phát huy được hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụcạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuân mẫu cứngnhắc nào Dưới đây là một số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng

2.1.3.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sảnphẩm thể hiện mức độ thoả mãn như cầu trong những điều kiện tiêu dùng xácđịnh, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trước kia giá cảđược coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗcho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chấtlượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của ngườitiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tếthị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập người lao động ngàycàng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn như cầu của mình, cái

mà họ cần là chất lượng và lợi ích của sản phẩm mang lại

Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ởhiện tại và tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng

Trang 25

cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi côngnghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng và saukhi tiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cảitiến sản phẩm có nhiều chủng loại mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làmcho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu dường ngày càng tăng lên khi duytrì tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp Làm tăng lòng tin cà sự trung thànhcẩu khách hàng đối với doanh nghiệp.

Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanhnghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi họ phải đương đầu với cácđối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hoádich vụ không được đảm bảo thì có nghĩa là khách hàng đến với doanh nghiệpngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suyyếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết địnhkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăngtốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳsống của sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín củadoanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Dovậy, cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cầnthiết mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều phải sử dụng nó

Thực tế cho thấy, tất cả các doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh,đều là các doanh nghiệp có thái độ tích cực như nhau trong quản lý chất lượngsản phẩm Nguyên tắc chung của họ là đảm bảo chất lượng sản phẩm tuyệtđối với độ tin cậy cao khi sử dụng và lòng trung thực trong quan hệ mua bán.Đặc biệt là các doanh nghiệp phải luôn coi việc nâng cao chất lượng sản phẩm

là một chiến lược cạnh tranh trên thị trường có phạm vi rộng lớn, chất lượngsản phẩm là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp

Trang 26

Giá cả được hiểu là toàn bộ số tiền mà người mua trả cho người bán vềviệc cung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểuhiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá

để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu.Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, kháchhàng được tôn vinh là “ Thượng đế ” họ có quyền lựa chọn những gì học cho

là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thìchắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích học thu được từ sảnphẩm là tối ưu nhất Phải nhận dạng đúng thị trường cạnh tranh và từ đó cócách định giá cho mỗi loại thị trường Do vậy, cạnh tranh bằng giá cả chính làmột công cụ hữu hiệu của doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể có các cáchđịnh giá sau đây:

Cạnh tranh với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: Giúp

doanh nghiệp đánh giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biệnpháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo thì khi đó lượngtiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều

Cạnh tranh với một mức giá thấp hơn giá thị trường: Chính sách này

được áp dụng khi cơ sở sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thuhồi vốn và lời nhanh Không ít DN đã thành công khi áp dụng chính sách

Chính sách định giá cao: Là chính sách mà giá bán sản phẩm của doanh

nghiệp cao hơn giá thống trị trên thị trường đối với sản phẩm cùng loại Chínhsách này áp dụng cho doanh nghiệp có sản phẩm hay dịch vụ độc quyền,không bị cạnh tranh

Chính sách giá phân biệt: Nếu các đối thủ cạnh tranh chưa có chính sách

giá phân biệt thì đây cũng là một thứ vũ cạnh tranh không kém phần lợi hạicủa doanh nghiệp Chính sách giá phân biệt của doanh nghiệp được thể hiện

Trang 27

là với cùng một loại sản phẩm nhưng có nhiều mức giá khác nhau và các mứcgiá đó được phân biệt theo nhiều tiêu thức giá khác nhau.

- Phân biệt theo lượng mua: Người mua nhiều được ưu đãi giá hơn ngườimua ít (giảm giá, chiết khấu )

- Phân biệt theo chất lượng: Chất lượng loại 1,2

- Phân biệt theo phương thức thanh toán: Mức giá với người thanh toánngay phải khác với người trả chậm

- Phân biệt giá theo thời gian: Giá thời điểm này phải khác với giá tạithời điểm khác

Chính sách bán phá giá: Giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trường,

thậm chí còn thấp hơn hẳn giá thành của sản phẩm Doanh nghiệp sử dụng vũkhí giá cả làm công cụ cạnh tranh để đánh bại đối thủ, loại đối thủ cạnh tranhkhỏi thị trường Muốn đạt được, mục tiêu của chính sách này thì đòi hỏidoanh nghiệp phải có thế mạnh về tiềm lực tài chính, tiềm lực về khoa họccông nghệ và uy tín của sản phẩm trên thị trường, việc bán phá giá chỉ nênthực hiện trong một thời gian nhất định và có thể loại bỏ được một số đối thủnhỏ mà khó có thể đánh bại được đối thủ lớn trên thị trường Tuy nhiên, trongvài trường hợp pháp luật không cho phép

Khi giá cả có những tác động tích cực đến cạnh tranh của các doanhnghiệp trên thị trường thì việc các doanh nghiệp sử dụng các công cụ bằng giá

cả là một biện pháp quan trọng, những đây không phải là một biện pháp quantrọng nhất Sở dĩ như vậy là vì qua các giai đoạn phát triển khác nhau củanền sản xuất hàng hoá thì tầm quan trọng của các công cụ cạnh tranh cũngthay đổi Khi nhu cầu người tiêu dùng chưa được thoả mãn về giá cả thì lạixuất hiện những nhu cầu về chất lượng sản phẩm, phương thức cung ứng.Cạnh tranh về giá cả trên thị trường được sử dụng khi doanh nghiệp tung một

Trang 28

2.1.3.3 Cạnh tranh bằng cơ cấu chủng loại và mẫu mã bao bì sản phẩm

Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt và quyết liệt đòi hỏi sảnphẩm phải có cơ cấu, chủng loại phong phú đa dạng Cơ cấu chủng loại sảnphẩm tuỳ thuộc vào mục điach mà công ty theo đuổi Các công ty thiên vềtheo đuổi mục tiêu cung cấp một chủng loại đầy đủ hay phấn đấu để chiếmlĩnh thị trường hoặc mở rộng thị trường thường có chủng loại sản phẩm phongphú Danh mục sản phẩm được phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú, bềsâu và mức độ hài hoà của nó

Mẫu mã, bao bì được coi là một trong những công cụ hữu hiệu để nângcao sức cạnh tranh của hàng hoá đó so với các sản phẩm cùng loại của đối thủcạnh tranh Tuy nhiên, điều đó còn tuỳ thuộc vào môi trường văn hoá, luậtpháp, cạnh tranh của mỗi quốc gia Sự khác biệt giữa sản phẩm cùng loại củamình so với công ty khác nhằm mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh của sảnphẩm và cũng vì một mục tiêu bao trùm là nâng cao lợi thế của sản phẩm.Tuy nhiên trong khi cố gắng tạo ra mẫu mã bao bì cho sản phẩm, doanhnghiệp cần chú ý đảm bảo được tính hoàn mỹ, không làm thay đổi một cáchquá lớn về đặc điểm chung của sản phẩm và trên hết là phải phù hợp hơn vớinhu cầu, thị hiếu, văn hoá của quốc gia mà tại đó người tiêu dùng đang sống,tránh gây ra những cú sốc về văn hoá

Mức ấn tượng về hình ảnh, nhãn hiệu hàng hoá của nhà sản xuất Trongchiến lược sản phẩm, người ta đặc biệt quan tâm đến các quyết định gắn nhãnsản phẩm Điều này càng dễ hiểu hơn đối với các sản phẩm, vì nhãn mác cóvai trò căn bản là cung cấp thông tin và xúc tiến thương mại đối với các thịtrường mới

Nhãn hiệu sản phẩm được hiểu là tên, thuật ngữ, kí hiệu, biểu tượnghay kiểu dáng hoặc một sự kết hợp nào đó những yếu tố kể trên nhằm xác

Trang 29

nhận rằng hàng hoá hay dịch vụ của người bàn và phân biệt chúng với hànghoá của đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Do vậy, nhãn hiệu xác nhận người bán hay người sản xuất Nói đếnnhãn hiệu người ta thường ngầm hiểu yếu tố đảm bảo chất lượng đằng sau nó.Nhãn hiệu thương mại của hàng hoá tạo nên lòng tin, độ tin cậy đối với hànghoá Còn đối với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng trên thị trường thì người tiêudùng khi mua những sản phẩm đó sẽ có cảm giác bớt băn khoăn, cũng như làkhông mất nhiều thời gian để ra quyết định mua sản phẩm

2.1.3.4 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.

Phân phối và lưu thông hàng hoá là công việc rất quan trọng của từngdoanh nghiệp Trước tiên chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm thế nào là kênh phânphối? Kênh phân phối là hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực phânphối nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng và đảm bảo cho doanh nghiệpđạt được các mục tiêu kinh doanh của mình

Tronh kênh phân phối sản phẩm từ người sản xuất tới người tiêu dùngcần phải có những khâu trung gian, bởi vì những khâu trung gian sẽ đem lạihiệu quả cao trong việc phân phối và đưa hàng hoá vào thị trị trường Khâutrung gian là một người hoặc một tổ chức bất kỳ thực hiện công việc nhằmđưa hàng hoá vào thị trường Người ta thường miêu tả chiều dài của kênh theo

số cấp trung gian của kênh

- Kênh cấp không: nhà sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng

- Kênh một cấp: bao gồm một người trung gian, trên thị trường hàng tưliệu sản xuất thì người trung gian thường là các đại lý tiêu thụ

- Kênh hai cấp: bao gồm hai người trung gian, trên thị trường hàng hoánhưng người trung gian này thường là những người bán sỉ và bán lẻ, còn trênthị trường tư liệu sản xuất thi là đại lý phân phối

Trang 30

- Kênh ba cấp: gồm ba người trung gian, những người bán sỉ mua hàngcủa người bán sỉ lớn để bán cho những người bán lẻ nhỏ mà những người bán

sỉ lớn không phục vụ được

Hệ thống phân phối được hình thành thì việc tiếp theo là lập kế hoạch,thực hiện và kiểm tra việc đưa hàng hoá từ sản xuất đến chỗ tiêu dùng nhằmmục đích đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và đem lại lợi nhuận chonhững người tham gia

Tuỳ theo sự biến động của thị trường, tuỳ theo nhu cầu của người mua

và người bán, tuỳ theo tính chất của hàng hoá và tuỳ theo các kênh có thể sửdụng thêm vai trò của người môi giới Bên cạnh việc tổ chức tiêu thụ sảnphẩm, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, quảng cáo, yểmtrợ bán hàng để thu hút khách hàng Hoạt động tiếp thị bao gồm hoạt độngchiêu thị và hội chợ

Chiêu thị bao gồm : Chào hàng, quảng cáo và khuyến mại

- Chào hàng: Là một phương pháp chiêu thị qua các nhân viên của cácdoanh nghiệp để tìm khách hàng và bán hàng Qua việc chào hàng cần nêu rõcác ưu điểm của sản phẩm so với sản phẩm cạnh tranh, tìm hiểu sở thích yêucầu của khách hàng để thoả mãn nhu cầu đó

- Quảng cáo: là nghệ thuật sử dụng các phương tiện truyền tin về hànghoá và dịch vụ của doanh nghiệp hoặc của sản phẩm và dịch vụ sẽ cung cấp rathị trường Phương tiện và hình thức quảng cáo rất phong phú: qua đài, báo,truyền hình, phim ảnh Tuy nhiên, doanh nghiệp phải lựa chọn cách quảngcáo gây ấn tượng làm khách hàng ngạc nhiên và thích thú, tạo ra sự hammuốn tiêu dùng sản phẩm Quảng cáo phải gây ra tác động mạnh vào ngườitiêu dùng và hình ảnh quảng cáo phải lưu lại trong óc họ

- Khuyến mại: Là biên pháp được doanh nghiệp sử dụng để khuyếnkhích tiêu thụ sản phẩm như tặng phẩm cho khách hàng, trưng bày hàng hoá

Trang 31

để khách hàng nhìn thấy và có điều kiện tìm hiểu về hàng hoá đó Ngoài racòn có thể sử dụng hình thức gửi mẫu hàng bán với giá đặc biệt.

Bên cạnh các công tác chiêu thị thì hoạt động tham gia hội chợ cũng rấtquan trọng Hội chợ là nơi mà các doanh nghiệp có thể trưng bày, giới thiệusản phẩm của mình, gặp gỡ với các bạn hàng khác, tìm hiểu về đối thủ cạnhtranh Việc tham gia hội trợ giúp doanh nghiệp mở rộng mạng lưới tiêu thụ cảtrong và ngoài nước

Nghệ thuật tổ chức tiêu thụ sản phẩm ảnh hướng đến cạnh tranh củadoanh nghiệp rất lớn, nhất là trong điều kiện khoa học công nghệ phát triểnmạnh mẽ, chất lượng sản phẩm ngày càng cao hoàn thiện và phổ biến, chủngloại hàng hoá ngày một phong phú

Nghệ thuật tổ chức tiêu thụ hàng hoá ngày càng ảnh hưởng đến cạnhtranh do các yếu tố tác động sau:

- Tổ chức tiêu thụ tốt giúp doanh nghiệp thu hút được khách hàng, tăngsản lượng tiêu thụ từ đó tăng doanh thu và tăng lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh

- Tạo ra uy tín của sản phẩm trên thị trường, làm cho khách hàng biếtđến và hiểu rõ tính năng, công dụng của nó

- Tổ chức tốt sẽ giúp doanh nghiệp tìm hiểu được nhiều bạn hàng mới,khai thác có hiệu quả phần thị trường của doanh nghiệp

2.1.3.5 Cạnh tranh bằng các công cụ khác

* Dịch vụ sau bán hàng: để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùngđối với người tiêu dùng về sản phẩm của mình cung cấp doanh nghiệp phảilàm tốt các dịch vụ sau bán hàng

Nội dung của dịch vụ sau bán hàng bao gồm:

+ Cam kết thu hồi lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hàng hoặc đổilại hàng nếu sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu của họ

Trang 32

+ Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định: Nếu làm tốt công tác này,doanh nghiệp sẽ nắm bắt được sản phẩm của mình có đáp ứng được nhu cầucủa khách hàng hay không.

Đối với sản phẩm xi măng là sản phẩm mang tính kỹ thuật về mặt sửdụng, bảo quản, bởi vì trong quá trình thi công nếu không nắm được kỹ thuật

sử dụng, tỷ lệ trộn, bảo quản công trình sẽ làm cho công trình không đảm bảochất lượng Chính vì vậy các DN sản xuất xi măng đều có các dịch vụ sau bánhàng đó là: hội thảo, hướng dẫn kỹ thuật bảo quản hoặc đối với người kinhdoanh, vận chuyển đến tận tay người tiêu dùng đối với những khách hàngmua với số lượng lớn, tăng số tiền chiết khấu, hoa hồng, khuyến mãi từng phùhợp với từng thời điểm, từng thị trường Qua những buổi hội thảo thì doanhnghiệp có thể lắng nghe các ý kiến của khách hàng, đại lý của mình để cóphương án nâng cáo chất lượng dịch vụ sau bán hàng được tốt hơn

* Phương thức thanh toán: là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanhnghiệp sử dung Phương thức thanh toán gọn nhẹ, thanh toán nhanh hay chậm

sẽ ảnh hưởng rất lớn tói công tác tiêu thụ từ đó làm ảnh hưởng tới khả năngcạnh tranh trên thị trường Các doanh nghiệp có thể áp dụng các phương thứcgọn nhẹ như: Đối với khách hàng ở xa có thể thanh toán qua ngân hàng Cáckhách hàng có uy tín đối với doanh nghiệp hay khách hàng mua thường xuyênsản phẩm của công ty thì có thể cho khách hàng trả chậm sau một thời giannhất định

Các doanh nghiệp có thể áp dụng chế độ thưởng đối với khách hàngthanh toán ngay với khối lượng lớn, hàng hoá tiêu thụ được dẫn tới tăng lợinhuận cho với công ty

2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Trang 33

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện thông qua chỉtiêu cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sứccạnh tranh sản phẩm thì lại thể hiện thông qua một số chỉ tiêu sau:

* Chỉ tiêu chất lượng

* Chỉ tiêu giá cả

* Chỉ tiêu chủng loại, mẫu mã bao bì sản phẩm

* Chỉ tiêu hệ thống phân phối

* Chỉ tiêu doanh thu:

Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá, sảnphẩm Doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranhsản phẩm, bởi suy cho cùng sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp là khảnăng duy trì và phát triển thêm lợi nhuận mà doanh thu là điều kiện cần để cólợi nhuận Muốn có cạnh tranh doanh nghiệp cần xem xét các chỉ số sau:

Tỷ lệ doanh thu năm sau so với năm trước

Thông qua các tỷ lệ này thì doanh nghiệp có thể đánh giá được sứccạnh tranh sản phẩm của mình hay không? Sử dụng chỉ tiêu này thì có ưuđiểm là đơn giản, dễ tính nhưng cũng khó khăn trong công việc chọn chínhxác đối thủ cạnh tranh

Chỉ tiêu lợi nhuận:

Là phần dôi ra của doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí Lợi nhuận làmột chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm

mà còn là sức cạnh tranh của doanh nghiệp Khi xem xét chỉ tiêu này ta chú ýđến tỷ suất lợi nhuận:

HQf = (LN / M)*100

LN: Tổng lợi nhuận đạt được (Lợi nhuận trước thuế)

M: Doanh thu thuần

Trang 34

Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định, doanh nghiệp thuđược bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng Chỉ tiêunày càng cao thì hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp càng cao.

Chỉ tiêu thị phần:

Đó là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dunglượng thị trường Thị phần đã trở thành một tiêu thức đánh giá sức cạnh tranhsản phẩm của doanh nghiệp Bởi thực chất khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp là khả năng duy trì và phát triển thị phần Khi đó cần chú ý tới các chỉtiêu như:

- Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường Đây chính là tỷ

lệ phần trăm (%) giữa doanh số của công ty so với doanh số toàn ngành Tỷ lệthị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ dung lượng thị trường

- Thị phần tương đối: Đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của công ty sovới đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Nó cho biết vị thế của sản phẩm trong cạnhtranh trên thị trường như thế nào

- Thị phần của doanh nghiệp trong phân đoạn mà mình phục vụ Đó là tỷ

lệ phần trăm (%) doanh số của công ty so với doanh số toàn phân đoạn

Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết mìnhđang ở vị trí nào và từ đó có chiến lược hoạt đông phù hợp với từng phânđoạn trong từng thời kỳ

* Ưu điểm của chỉ tiêu này là: Đơn giản, dễ tính toán

* Nhược: Khó đảm bảo tính chính xác do khó lựa chọn được các DNmạnh nhất, mỗi doanh nghiệp thường chỉ mạnh trong vài lĩnh vực, để đảmbảo hiệu quả doanh nghiệp cần phải phân nhỏ sự lựa chọn này thành nhiềulĩnh vực khác nhau vì vậy khó thu thập chính xác doanh thu của công ty

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh sản phẩm

Trang 35

Các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cóphạm vi rất rộng Nếu xem xét theo cấp độ tác động thì các nhân tố tác độngnày bao gồm: Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp (các nhân tố khách quan)

và các nhân tố bên trong doanh nghiệp (các nhân tố chủ quan)

Khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao thì hiệu quả kinh doanh đốivới các doanh nghiệp là cao, khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn, họ sẽđầu tư và phát triển sản xuất với tốc độ cao Như vậy, nhu cầu về tư liệu sảnxuất lại tăng

- Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác dụng nhanhchóng và sâu sắc đối vơí từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nóiriêng, nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá, cácdoanh nghiệp trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nướcngoài, vì khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn sovới đối thủ cạnh tranh ngoài nước Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến

Trang 36

của các doanh nghiệp trong nước giảm Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá.Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước

và thị trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của các doanh nghiệp giảm hơn sovới các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nước khác sản xuất

- Lãi xuất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp thiếu vốnphải đi vay ngân hàng Khi lãi suất của ngân hàng cao, chi phí của các doanhnghiệp tăng lên do phải trả lãi suất cao dẫn đến khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp giảm

Nhân tố chính trị và luật pháp

Các nhân tố này tác động đến môi trường kinh doanh theo các hướngkhác nhau Chúng có thể tạo ra lợi thế, trỏ ngại thậm chí rủi ro cho các DN.Một thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sởđảm bảo cho sự thuận lợi bình đẳng giữa các doanh nghiệp tham gia cạnhtranh và cạnh tranh có hiệu quả Chẳng hạn các luật thuế có ảnh hưởng rất lớnđến điêù kiện cạnh tranh, bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần và trên mọi lĩnh vực Hay các chính sách củachính phủ về xuất nhập khẩu, về thuế suất, thuế nhập khẩu cũng ảnh hưởngđến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước đối vớihàng hoá nước ngoài

Nhân tố kỹ thuật, công nghệ

Nhóm nhân tố này ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đếnmôi trường cạnh tranh Nhóm khoa học công nghệ tác động một cách quyếtđịnh đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo ra khả năng cạnh tranh của sản phẩm trênthị trường: Đó là chất lượng và giá bán KHCN tác động đến chi phí cá biệtcủa doanh nghiệp, qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệpnói chung và các sản phẩm nói riêng Đối với các nước đang phát triển giá cả

Trang 37

và chất lượng có ý nghĩa như nhau trong cạnh tranh Tuy nhiên trên thế giớihiện nay đã chuyển từ cạnh tranh về giá cả sang cạnh tranh về chất lượng,cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao.

- Kỹ thuật công nghệ mới sẽ giúp các cơ sở sản xuất tạo ra được nhiều

kỹ thuật công nghệ với hàm lượng kỹ thuật công nghệ tiếp theo nhằm trang bị

và tái trang bị toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Đâychính là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranhcủa mình

- Các nhân tố khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ tới quá trình thuthập và sử lý thông tin Ngày nay thông tin cần được sử lý, truyền đạt mộtcách nhanh chóng, chính xác bằng những phương tiện hiện đại đó là yêu cầubức bách để đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triểntrong cạnh tranh

- Khoa học, công nghệ sẽ tạo ra các kỹ thuật công nghệ mới, vừa nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa bảo vệ được môi trường sinh thái vànhư vậy trong cạnh tranh chắc chắn chúng có lợi thế hơn những công nghệ lạchậu, cũ

Nhân tố văn hoá, xã hội:

Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tín ngưỡng,tôn giáo ảnh hưởng đến cơ cấu nhu cầu của người tiêu dùng và do đó ảnhhưởng đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Những khu vực khác nhau

mà ở đó thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng khác nhau đòi hỏi các doanhnghiệp phải có chính sách tiêu thụ khác nhau

Các nhân tố tự nhiên:

Các nhân tố tự nhiên bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên của đất nước, vịtrí địa lý và việc phân bố địa lý của các doanh nghiệp Các nhân tố này tạo ra

Trang 38

một doanh nghiệp Nếu tài nguyên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúpcác doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí (chi phí về nguyên vật liệu, chi phí

về vận chuyển ) và dẫn đến tăng khả năng cạnh tranh Hơn nữa, vị trí địa lýthuận lợi cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp khuếch trương được sản phẩm,

mở rộng thị trường Ngược lại những nhân tố tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo

ra khó khăn cho các DN và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp đó

b Môi trường cạnh tranh trong ngành

Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trongnhững yếu tố cơ bản phản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt củacác đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng

là lực lượng tác động trực tiếp và mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động củadoanh nghiệp Trong một ngành bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau,nhưng thường trong đó chỉ một số đóng vai trò chủ chốt như những đối thủcạnh tranh chính, có khả năng chi phối và khống chế thị trường Nhiệm vụcủa mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá đúng khảnăng cạnh tranh của mỗi đối thủ chính, có khả năng chi phối và khống chế thịtrường Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin phân tích, đánhgiá chính xác khả năng của mỗi đối thủ cạnh tranh chính để xây dựng chomình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung của ngành

Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:

Những DN mới tham gia thị trường tiếp tục làm tăng tính chất và quy

mô cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng sực sản xuất trong ngành.Trong quá trình vận động của lực lượng thị trường trong từng giai đoạnthường có những đối thhủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đốithủ yếu hơn rút khỏi thị trường Để chống lại các đối thủ tiềm ẩn, các DNthường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng cao chất

Trang 39

lượng, bổ sung những đặc điểm của sản phẩm, không ngừng cải tiến hoànthiện sản phẩm nhằm làm sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệthoặc nổi trội trên thị trường hay phấn đấu giảm chi phí sản xuất và tiêu thụ Sức ép cạnh tranh của các sản phẩm mới, các doanh nghiệp mới gia nhậpthị trường, ngành phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành

và mức độ hấp dẫn của thị trường đó

Sức ép của nhà cung cấp:

Các nhà cung cấp các yếu tố sản xuất có thể chia sẻ lợi nhuận của mộtdoanh nghiệp trong từng trường hợp doanh nghiệp đó có khả năng trang trảicác chi phí phải tăng thêm trong đầu vào được cung ứng Các nhà cung cấp cóthể gây ra những khó khăn làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệptrong những trường hợp sau đây:

- Ngành cung cấp mà doanh nghiệp cần chỉ có một số công ty độc quyềncung cấp

- Tình huống không có sản phẩm thay thế nếu doanh nghiệp không cómột nguồn cung cấp nào khác thì chính doanh nghiệp sẽ yếu thế hơn trongmối tương quan thế lực với nhà cung cấp hiện có

- Doanh nghiệp mua yếu tố sản xuất nhưng không phải là khách hàngquan trọng của nhà cung cấp

- Loại vật tư của nhà cung cấp là đầu vào quan trọng nhất của doanhnghiệp Đặc biệt khi nó là yếu tố quyết định quá trình sản xuất và chất lượngcủa sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp khi đó nhà cung cấp có thế lực đáng

kể đối với doanh nghiệp

- Các nhà cung cấp vật tư có khả năng khép kín sản xuất Nếu nhà cungcấp có khả năng về các nguồn lực thể hiện các điều kiện sản xuất riêng cho

họ, có hệ thống mạng lưới phân phối hoặc mạng lưới bán lẻ thì họ sẽ có thế

Trang 40

Tất cả những điều nêu trên, nhà cung cấp buộc các doanh nghiệp phảiphụ thuộc vào họ hoặc là không có yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sảnxuất, không có sản phẩm bán ra và cuối cùng là thị trường bị các đối thủ cạnhtranh chiếm lĩnh.

Để giảm bớt những ảnh hưởng xấu từ nhà cung cấp, các doanh nghiệpcần có mối quan hệ tốt với họ, hoặc mua của nhiều người trong đó chọn ranhà cung cấp chính Nghiên cứu tìm sản phẩm mới, dự dữ nguyên vật liệu

Sức ép của khách hàng:

Những khách hàng mua sản phẩm của một ngành nào đó có thể làmgiảm lợi nhuận của ngành đó bằng cách yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơnhoặc dịch vụ sau bán hàng nhiều hơn, có thể dùng doanh nghiệp này chống lạidoanh nghiệp kia Như vậy khách hàng cũng tác động đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Trên thực tế khách hàng thường có quyền lực trongcác trường hợp sau:

- Khách hàng được tập trung hoá hoặc mua một khối lượng lớn hơn sovới toàn bộ doanh thu của ngành thì khi đó họ sẽ có quyền nhất định về giá cả

- Các sản phẩm mà khách hàng mua phản ánh một tỷ lệ đáng kể trongchi phí của người mua Nếu sản phẩm chiếm một tỷ trọng lớn trong chi phícủa người mua thì giá cả là một vấn đề quan trọng đối với khách hàng đó

- Những sản phẩm mà khách hàng mua thường đạt tiêu chuẩn hoặckhông được phân hoá Trong trường hợp này, khách hàng có xu hướng thiên

về việc đóng vai trò là một người bán chống lại các doanh nghiệp khác

Khách hàng phải chịu một ít chi phí đặt cọc, do đó chi phí đặt cọc sẽdàng buộc khách hàng với người bán nhất định

- Khi chất lượng sản phẩm của khách hàng bị phụ thuộc lớn bởi những gì

họ mua từ doanh nghiệp thì những người mua có thế lực yếu hơn đối với nhàcung cấp

Ngày đăng: 25/05/2014, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chu Văn Cấp (2003). Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Khác
3. Nguyễn Quốc Dũng (2000) Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hà Nội Khác
4. Đỗ Thị Huyền (2006). Nâng cao năng lực cạnh tranh một số sản phẩm chủ yếu tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu. Luận văn thạc sỹ kinh tế, trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
5. Nguyễn Bách Khoa (1999) Giáo trình Maketing thương mại, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Khác
6. Trang web của Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang, Công ty cổ phần xi măng Thăng Long, Xi măng Hoàng Thạch, Hiệp hội xi măng Việt Nam, Tổng công ty xi măng Việt Nam Khác
7. Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang. Báo cáo tài chính đã được kiểm toán các năm 2009-2011 Khác
8. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang các năm 2010, 2011 Khác
9. Cục thống kê tỉnh Bắc Giang. Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang (2009-2011) Khác
10. Kiều Đình Thép (2004). Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam trên thị trường tỉnh Thái Nguyên. Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
11. Nguyễn Việt Hà (2007). Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm nuôi tỉnh Thái Bình. Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
12. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (2002). Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhà xuất bản Giao thông vận tải Hà Nội Khác
13. Đỗ Thành Mai (2012). Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân trong quá trình hội nhập quốc tế. Tạp chí cộng sản Khác
14. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Khác
15. Philip Kotler (1999). Maketing căn bản. Nhà XB Thống kê Hà Nội Khác
16. Michael poter (1985). Lợi thế cạnh tranh. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
17. PGS.TS Lê Công Hoa và Lê Chí (2006). Đánh giá năng lực cạnh tranh bằng ma trận. Tạp chí công nghệ số tháng 11/2006, trang 24 Khác
18. Nguyễn Hùng Tuấn. Nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo của Công ty LD Hải Hà - Kotobuky - Báo cáo tốt nghiệp. Đại học Thương mại Hà Nội Khác
19. Trung tâm đào tạo QTKD tổng hợp (1999). Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp. Đại học KTQD Hà Nội Khác
20. Bùi Tất Thắng - Tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay - Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 11 năm 2000 - tr.25 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 3.1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU (Trang 51)
3.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
3.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty (Trang 53)
Bảng 3.4. Số lượng mẫu điều tra của các đại lý cấp I - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 3.4. Số lượng mẫu điều tra của các đại lý cấp I (Trang 62)
Bảng 3.5. Ma trận SWOT - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 3.5. Ma trận SWOT (Trang 64)
Bảng 4.1: Kết quả sản xuất xi măng Hương Sơn của công ty - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.1 Kết quả sản xuất xi măng Hương Sơn của công ty (Trang 66)
Bảng 4.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng Hương Sơn - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng Hương Sơn (Trang 67)
Bảng 4.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty (Trang 69)
Bảng 4.4. Đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm xi măng của  các công ty trên địa bàn tỉnh - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.4. Đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm xi măng của các công ty trên địa bàn tỉnh (Trang 72)
Bảng 4.5. Giá bán một số loại xi măng trên thị trường Bắc Giang Tên Sản phẩm Giá bán của Xi - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.5. Giá bán một số loại xi măng trên thị trường Bắc Giang Tên Sản phẩm Giá bán của Xi (Trang 74)
Bảng 4.6. Tổng hợp ý kiến khách hàng về mẫu mã bao bì sản phẩm - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.6. Tổng hợp ý kiến khách hàng về mẫu mã bao bì sản phẩm (Trang 78)
Bảng 4.7. DT tiêu thụ qua các kênh của Công ty cổ phần xi măng BG - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.7. DT tiêu thụ qua các kênh của Công ty cổ phần xi măng BG (Trang 82)
Bảng 4.12. Tình hình doanh thu của các Công ty - NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY  CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
Bảng 4.12. Tình hình doanh thu của các Công ty (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w