1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định thành phần loài nấm móng bằng kỹ thuật soi và nuôi cấy trên bệnh nhân tại bệnh viện da liễu thành phố hồ chí minh năm 2020

96 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định thành phần loài nấm móng bằng kỹ thuật soi và nuôi cấy trên bệnh nhân tại bệnh viện da liễu thành phố hồ chí minh năm 2020
Tác giả Huỳnh Văn Trung Hiếu
Người hướng dẫn GS.TS.BS Trần Thiện Trung, PGS.TS.BS Trần Phủ Mạnh Siêu
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1. Đại cương về nấm và nấm da (14)
      • 1.1. Một số khái niệm chung (14)
      • 1.2. Một số thuật ngữ về nấm da (15)
      • 1.3. Đặc điểm sinh học của nấm da (15)
      • 1.4. Hệ thống phân loại và định danh nấm da (18)
      • 1.5. Dịch tễ học bệnh nấm (21)
      • 1.6. Đại cương về móng và bệnh nấm móng (25)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (38)
    • 2.2. Thời gian nghiên cứu (38)
    • 2.3. Địa điểm nghiên cứu (38)
    • 2.4. Thiết kế nghiên cứu (38)
    • 2.5. Cỡ mẫu (38)
    • 2.6. Tiêu chuẩn chọn mẫu (38)
    • 2.7. Thực hiện nghiên cứu (39)
    • 2.8. Các biến số trong nghiên cứu (47)
    • 2.9. Phân tích, xử lý số liệu và đánh giá kết quả (50)
    • 2.10. Y đức trong nghiên cứu (50)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (51)
    • 3.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (51)
    • 3.2. Xác định thành phần loài tác nhân gây bệnh nấm móng bằng kỹ thuật soi cấy, định (55)
    • 3.3. Phân bố nhiễm nấm móng theo đặc điểm đối tượng nghiên cứu (57)
    • 3.4. Các yếu tố liên quan với tình trạng nhiễm nấm móng (59)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (66)
    • 4.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (66)
    • 4.2. Xác định thành phần loài tác nhân gây bệnh nấm móng bằng kỹ thuật soi cấy, định (69)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến nhiễm nấm ở móng (73)
    • 4.4. Mô tả đặc điểm tổn thương móng với các tác nhân gây bệnh (78)
  • KẾT LUẬN (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (82)
  • PHỤ LỤC (89)

Nội dung

Một nghiên cứu của tác giả Ramesh [30] đã kết luận rằng bệnh nấm móng, còn được gọi là tinea unguium, là một bệnh nhiễm nấm phổ biến chiếm 15% trong tất cả các rối loạn móng, trong khi n

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Các loài nấm gây bệnh nấm móng

- Người bệnh đến khám bệnh tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020.

Địa điểm nghiên cứu

- Khoa khám bệnh bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh

- Khoa xét nghiệm bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh

- Trung tâm Kiểm chuẩn Xét nghiệm - trường Đại học Y Dược thành phố HồChí Minh.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu.

Cỡ mẫu

Lấy mẫu thuận tiện từ tháng 29/11/2019 đến 30/04/2020

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tại Khoa khám bệnh của Bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh, tất cả bệnh nhân có tổn thương móng được chỉ định soi cấy nấm sẽ được lựa chọn để khám.

- Cận lâm sàng: Soi tươi bệnh phẩm trực tiếp với KOH 20%: có hình ảnh sợi tơ nấm có vách ngăn hoặc hạt men, sợi tơ nấm giả

- Bệnh nhân viêm quanh móng do vi khuẩn.

- Bệnh nhân đã được điều trị với thuốc kháng nấm.

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không thỏa điều kiện đưa vào.

Thực hiện nghiên cứu

Bệnh nhân tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh được khám và đánh giá bệnh nấm móng Sau khi đạt tiêu chuẩn nghiên cứu, bác sĩ sẽ chỉ định lấy mẫu xét nghiệm và cấy định danh vi nấm Xét nghiệm viên thực hiện lấy mẫu bệnh phẩm móng để soi tươi trực tiếp và nuôi cấy trên môi trường phù hợp Kết quả được ghi nhận 2 ngày 1 lần, bao gồm nấm sợi tơ, màu sắc khúm nấm, tốc độ mọc và đặc điểm tính chất của khúm Đối với vi nấm hạt men, mẫu được cấy trên Chorm agar và định danh theo tiêu chí của nhà sản xuất.

Bệnh phẩm được lấy từ sang thương của bệnh nhân và soi tại phòng xét nghiệm Nếu phát hiện sợi tơ nấm có vách ngăn hoặc tế bào nấm men, mẫu sẽ được chuyển đến trung tâm kiểm chuẩn xét nghiệm Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh để nuôi cấy và định danh Quy trình thực hiện được tiến hành theo các bước cụ thể.

- Bước 1: Thu thập mẫu bệnh phẩm móng (vảy móng hoặc rìa mô quanh móng), làm phương pháp soi tươi bằng KOH 20% để sàng lọc vi nấm.

- Bước 2: Lấy mẫu bệnh phẩm còn lại cho vào đĩa petri mẫu (nếu kết quả soi tươi dương tính).

- Bước 3: Cấy phân lập vi nấm từ bệnh phẩm lên môi trường Sabouraud Agar, Chrom Agar và định danh vi nấm.

Chi tiết các bước tiến hành được thực hiện như sau: a) Hỏi bệnh:

- Nghề nghiệp, địa chỉ (nông thôn, thành thị).

Các yếu tố liên quan đến nấm móng bao gồm: tần suất tiếp xúc với nước, sự tiếp xúc với vật nuôi, thói quen mang tất, môi trường sống tập thể, tình trạng mắc bệnh mạn tính, và việc điều trị hoặc tự ý mua thuốc trước đó Khám lâm sàng là bước quan trọng trong việc chẩn đoán.

- Khai thác thời gian bị bệnh: Được chia thành các mốc 0,05.

Những người có tiền sử mắc bệnh mạn tính có nguy cơ mắc bệnh nấm móng cao gấp 3 lần so với những người không mắc bệnh mạn tính, với giá trị p là 0,004 Khoảng tin cậy 95% cho thấy tỷ lệ odds (OR) dao động từ 1,44 đến 6,57.

- Không có mối quan hệ giữa yếu tố sống tập thể và hoạt động thể lực thường xuyên với bệnh nấm móng với p > 0,05.

Bảng 3.15 Liên quan giữa nhiễm nấm Trichophyton sp với môi trường sống và đặc điểm cá thể (n = 25) Đặc điểm Có nhiễm nấm Không nhiễm nấm

Nuôi, tiếp xúc vật nuôi

- Những người mắc bệnh nấm móng do Trichophyton sp có mắc thêm những bệnh mạn tính kèm theo chiếm tỷ lệ 16,7 % (2/12)

- Những người thường xuyên tiếp xúc với nước nhiễm nấm Trichophyton sp cũng chiếm tỷ lệ 37,5% (3/8)

- Những ngưởi thường xuyên tiếp xúc với vật nuôi thì có tỷ lệ nhiễm nấm

Trichophyton sp cao nhất trong tất cả các yếu tố liên quan được phân tích trong nghiên cứu này với tỷ lệ 46,6% (7/15).

- Những người thường xuyên hoạt động thể lực cũng cho thấy tỷ lệ 42,9% (6/14) với nấm móng do Trichophyton sp.

- Không có ca nhiễm nấm móng trong yếu tố sống tập thể.

3.4.3 Liên quan giữa nhiễm nấm với thời gian mắc bệnh và điều trị trước Bảng 3.16 Liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm với đặc điểm về thời gian mắc bệnh và tiền sử điều trị trước khi đến khám (n = 146)

*: Kiểm định chính xác Fisher's

- Có mối liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm với thời gian mắc bệnh, thường các ca mắc bệnh đều kéo dài trên 6 tháng. Đặc điểm

Có mối liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm và tiền sử điều trị trước khi khám, với giá trị p = 0,031 Những người đã từng điều trị có nguy cơ nhiễm nấm cao gấp 2,29 lần so với những người chưa điều trị, với khoảng tin cậy 95%.

BÀN LUẬN

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

4.1.1 Độ tuổi, giới tính của mẫu nghiên cứu.

Kết quả từ bảng 3.1 cho thấy đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 40,08 ± 15,15, với độ tuổi nhỏ nhất là 1 tuổi và lớn nhất là 71 tuổi Nhóm tuổi từ 36 đến 55 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 42,46%, trong khi tỷ lệ nữ giới cao gấp 1,76 lần so với nam giới.

Theo nghiên cứu của Sofia Perea và cộng sự vào năm 2000 tại Tây Ban Nha, nhóm đối tượng tham gia có độ tuổi trung bình từ 31 đến 40 tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất là 21,8% Tương tự, tác giả Lacaz đã thực hiện khảo sát từ năm 2002 đến 2006.

Nghiên cứu tại bệnh viện ở São Paulo, Brazil, với 5407 đối tượng mắc bệnh nấm móng, cho thấy độ tuổi trung bình là 46,9 ± 17,02, với độ tuổi nhỏ nhất là 3 tháng và lớn nhất là 98 tuổi Nhóm tuổi từ 41 đến 50 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 22,43%, trong khi tỷ lệ nữ/nam là 2,05/1,25.

Nghiên cứu của Tsentemeidou và cộng sư [34] thực hiện từ tháng 10/2016 – 02/2017 tại khoa Da Liễu Đại Học Aristotle ở Thessaloniki, Hy Lạp cho thấy độ tuổi trung bình là 53,43 ± 10,72.

Nghiên cứu này cho thấy kết quả tương đồng với các tác giả trước đó, chỉ ra rằng thương tổn lâm sàng ở móng thường liên quan đến vi nấm Candida spp và Trichophyton spp., đặc biệt phổ biến ở đối tượng trung niên trên 40 tuổi.

Bệnh nấm móng thường phổ biến ở người cao tuổi, trong khi người trẻ và trẻ nhỏ ít bị nhiễm do móng của họ mọc nhanh hơn, giảm khả năng xâm nhập của tế bào vi nấm Tỷ lệ giới tính trong mẫu nghiên cứu này tương tự như các nghiên cứu trước đó.

4.1.2 Đặc điểm nghề nghiệp và nơi sinh sống của đối tượng nghiên cứu

Kết quả từ Bảng 3.2 chỉ ra rằng đối tượng nghiên cứu chủ yếu sống ở thành phố, với tỷ lệ lên tới 80,83% so với nông thôn.

Theo bảng 3.3, công nhân có tỷ lệ mắc bệnh nấm móng cao nhất với 30,82%, tiếp theo là nội trợ 26,71%, viên chức 16,44%, và sinh viên – học sinh 10,96% Ngoài ra, trẻ nhỏ chưa đi học và người cao tuổi đã về hưu chiếm 13,01%.

Bệnh nấm móng có liên quan đến thói quen tiếp xúc thường xuyên với nước, động vật nuôi trong nhà như chó, mèo, và môi trường sống đông đúc, nơi mầm bệnh dễ dàng lây lan Theo Bảng 3.3, đối tượng thường đến khám và điều trị nấm móng chủ yếu là công nhân và nội trợ, những người có khả năng tiếp xúc với nước cao nhất.

4.1.3 Một số yếu tố về môi trường sống và đặc điểm cá nhân

Theo Bảng 3.4, khoảng 67,78% đối tượng nghiên cứu thường xuyên tiếp xúc với nước Y văn cho thấy vi nấm phát triển mạnh ở nhiệt độ 25 - 28 °C và độ ẩm cao, đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của vi nấm Do đó, điều kiện nóng và ẩm là yếu tố thuận lợi cho sự lây nhiễm vi nấm ở người.

Nấm móng là một bệnh nhiễm trùng do nấm ở móng, chiếm đến 30% các chẩn đoán bệnh nấm nông Bệnh này thường gặp ở những người có bàn tay và bàn chân ẩm ướt, như nhân viên bán nước giải khát, người bán trái cây, đầu bếp, nông dân, thợ giặt quần áo, thợ làm tóc, rửa xe, và người chăn nuôi.

Móng tay có thể bị sưng tại nếp gấp khi tiếp xúc với nước trong thời gian dài, dẫn đến việc lớp biểu bì tách ra khỏi tấm móng Điều này làm mất khả năng kín nước, tạo điều kiện cho các tác nhân như nấm men xâm nhập vào không gian dưới da, gây ra tình trạng sưng thêm ở nếp gấp móng.

Nghiên cứu của Flores và cộng sự ở Peru vào năm 2009 [44] ở 166 đối tượng tham gia có thói quen mang tất cho thấy tỉ lệ bị bệnh nấm móng ở chân là 24%,

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 166 đối tượng thường xuyên tiếp xúc với vật nuôi, trong đó 61,2% nuôi chó, 38,7% nuôi mèo và 16,2% nuôi chim Tỷ lệ tiếp xúc với vật nuôi được ghi nhận là 54,01%.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 60,27% bệnh nhân đến khám nấm móng đang mắc các bệnh mạn tính như tiểu đường và cao huyết áp, đồng thời đang sử dụng thuốc điều trị Theo nghiên cứu của Trương Quang Ánh và Tôn Nữ Phương Anh năm 2003, tỷ lệ mắc nấm móng có thể gia tăng ở những người có lối sống tập thể, sử dụng nhà tắm công cộng, mang giày chật, và những người thường xuyên sử dụng thuốc gây suy giảm miễn dịch.

Nghiên cứu cho thấy hầu hết đối tượng mắc bệnh nấm móng do tiếp xúc thường xuyên với nước (67,78%), vật nuôi (54,01%) và mắc bệnh mạn tính (60,27%) Chỉ một tỷ lệ nhỏ (9,59%) đối tượng sống tập thể.

4.1.4 Thời gian mắc bệnh trước khi đến khám

Nghiên cứu này khảo sát các yếu tố liên quan đến bệnh nấm móng và sử dụng phương pháp nuôi cấy để định danh Nó không bao gồm mẫu nghiên cứu từ những bệnh nhân đã điều trị kháng nấm trong 15 ngày gần đây hoặc đang trong quá trình điều trị, vì điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả Ngoài ra, vấn đề sử dụng thuốc trước khi điều trị, bao gồm kháng sinh, kháng nấm và corticoids, cũng không nằm trong phạm vi nghiên cứu.

Xác định thành phần loài tác nhân gây bệnh nấm móng bằng kỹ thuật soi cấy, định

4.2.1 Xác định nấm qua soi tươi, thời gian nuôi cấy nấm.

Bảng 3.6 cho thấy trong 146 mẫu xét nghiệm soi tươi trực tiếp trên KOH 20%, có 38 mẫu (26,03%) chứa tế bào hạt men, 83 mẫu (56,85%) có tế bào hạt men và sợi tơ nấm giả, trong khi chỉ 25 mẫu (17,12%) là sợi tơ nấm có vách ngăn Thời gian mọc trung bình của Trichophyton rubrum là 22,62 ± 12,21 ngày, với thời gian nhanh nhất là 17 ngày và lâu nhất là 32 ngày Đối với Trichophyton mentagrophytes, thời gian mọc trung bình là 13,42 ± 6,81 ngày, với thời gian nhanh nhất là 8 ngày và chậm nhất là 23 ngày Kết quả của Candida spp được đọc sau 48 giờ cấy theo khuyến cáo của nhà sản xuất, không khác biệt nhiều so với các nghiên cứu gần đây về cấy nấm định danh.

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thắng tại Viện Sốt Rét - Ký sinh trùng thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 cho thấy tỷ lệ nhiễm và thành phần nấm da, với thời gian mọc trung bình của nấm sợi là 32,1 ± 16,9 ngày, trong đó thời gian mọc nhanh nhất được ghi nhận.

6 ngày và lâu nhất là 80 ngày.

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Minh Mẫn về nấm da ở bệnh viên Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 [16] cho thấy thời gian mọc trung bình của

Trichophyton mentagrophytes là 8,9 ± 3,2 ngày Thời gian mọc nhanh nhất là 6 ngày và chậm nhất là 17 ngày Thời gian mọc trung bình 18,1 ± 3,5 ngày đối với

Trichophyton rubrum, trong đó thời gian mọc nhanh nhất là 13 ngày và lâu nhất là 27 ngày.

Khi Frías-De-León nuôi cấy Trichophyton mentagrophytes trên môi trường SDA ở nhiệt độ phòng, nấm này phát triển trong khoảng thời gian từ 7 đến 10 ngày Nghiên cứu của Yue và cộng sự cũng đã chỉ ra những thông tin quan trọng về nấm móng.

Trichophyton rubrum thì thời gian mọc khoảng 28 ngày [38].

Kết quả nghiên cứu về thời gian mọc của nấm sợi cho thấy sự tương đồng với các nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước.

4.2.2 Kết quả nuôi cấy và định danh nấm móng

4.2.2.1 Kết quả nuôi cấy nấm móng

Kết quả nuôi cấy nấm cho thấy tỷ lệ cấy mọc nấm bệnh đạt 47,26% (69/146) Trong 146 mẫu móng được soi tươi bằng KOH 20% trên kính hiển vi quang học, nấm men chiếm ưu thế với tỷ lệ 82,87% (121/146), trong khi nấm sợi chỉ chiếm 17,12% (25/146).

Nghiên cứu của Hainer Barry L cho thấy xét nghiệm trực tiếp với dung dịch KOH 20% cho phép chẩn đoán bệnh nhanh chóng và là cơ sở tốt cho quyết định điều trị Mặc dù nuôi cấy nấm tốn thời gian và chi phí, nhưng nó quan trọng trong các trường hợp bệnh nấm móng kháng thuốc bôi hoặc khó chẩn đoán Các trường hợp xét nghiệm dương tính nhưng không cấy được có thể do mật độ vi nấm thấp hoặc kỹ thuật cấy mẫu Môi trường Sabouraud, mặc dù là cơ bản cho cấy nấm, không ức chế được vi nấm loạn nhiễm, gây khó khăn trong nuôi cấy Tác giả Perea tại Tây Ban Nha ghi nhận các loại vi nấm ngoại nhiễm trong nghiên cứu.

Aspergillus persicolor, Aspergillus niger và Chrysosporium sp.

4.2.2.2 Kết quả định danh nấm móng

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.7 cho thấy có sự xuất hiện các giống của

Trong các giống nấm Candida, Candida albicans chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,86%, tiếp theo là Candida tropicalis với 27,53% Đối với dermatophytes, Trichophyton rubrum chiếm 10,14% và Trichophyton mentagrophytes chỉ chiếm 1,46% Nghiên cứu của Lacaz và cộng sự từ năm 2002 đến 2006 tại São Paulo, Brazil cho thấy dermatophytes chiếm tỷ lệ cao nhất với 68,6%, trong khi Candida spp chỉ chiếm 27,5% Trong số các tác nhân nấm sợi, Trichophyton rubrum chiếm 55,7% và Trichophyton mentagrophytes chiếm 6,8%.

Nghiên cứu của Khadime Sylla và cộng sự về dịch tễ học của nấm móng từ năm 2012 đến 2016 tại Bệnh viện Đại học Quốc gia tỉnh Dakar, Senegal cho thấy kết quả tương đồng với nghiên cứu này, với tỷ lệ tác nhân gây bệnh giống nhau.

Candida species account for 75.9% of infections, while dermatophyte strains represent 14.5% Among yeast infections, Candida albicans is the most prevalent at 42.7%, followed by Candida tropicalis at 2.6% In terms of filamentous fungi, Trichophyton rubrum constitutes 1.3%, and Trichophyton mentagrophytes makes up 0.4%.

Một nghiên cứu tại Singapore do Shiu Ming Pang và cộng sự thực hiện từ năm 2005 đến 2014 cho thấy Trichophyton rubrum là tác nhân gây bệnh nấm móng chính, tiếp theo là Trichophyton mentagrophytes Theo Havlickova B và cộng sự, sự phân bố của các tác nhân gây bệnh này thay đổi tùy thuộc vào vùng địa lý, môi trường, yếu tố văn hóa và nghề nghiệp.

Các phân tích kết quả nghiên cứu về vi nấm gây bệnh ở móng đã đóng góp quan trọng vào việc đánh giá dịch tễ học các tác nhân gây bệnh tại Việt Nam Những thông tin này cũng cung cấp tư liệu hữu ích cho các vấn đề y học liên quan đến bệnh nhiễm vi nấm.

Một số yếu tố liên quan đến nhiễm nấm ở móng

4.3.1 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm với đặc điểm dân số, nhóm tuổi.

Kết quả trình bày ở bảng 3.8 cho thấy trong số 69 bệnh nhân nhiễm nấm móng của nghiên cứu có 25 nam chiếm tỷ lệ 47,17% và 44 nữ chiếm tỷ lệ 47,31%.

Tỷ lệ nam giới mắc nấm móng tương đương với nữ giới, nhưng độ tuổi mắc bệnh cao nhất là trên 55 tuổi với tỷ lệ 57,7% Theo bảng 3.9, nhóm tuổi từ 36 đến 55 chiếm 56,45%, trong khi hơn 57% người trên 55 tuổi đến khám vì nhiễm nấm móng, cho thấy tỷ lệ này cao hơn so với các nhóm tuổi khác Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi mắc bệnh nấm móng chủ yếu là trên 55 tuổi với tỷ lệ 57,69%, tiếp theo là nhóm từ 36 đến 55 tuổi với tỷ lệ 56,45% Ngược lại, tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm tuổi 35 trở xuống thấp hơn Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Nghiên cứu của Lacaz và cộng sự (2002 – 2006) tại São Paulo, Brazil chỉ ra rằng độ tuổi trung bình nhiễm nấm móng cao nhất là từ 31 - 60 tuổi, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Tỷ lệ mắc nấm móng giữa nam và nữ tương đương, tuy nhiên, nghiên cứu của Flores và cộng sự (2009) tại Peru cho thấy nam giới bị nhiễm nấm móng nhiều hơn với tỷ lệ 64% so với 36% ở nữ giới, và sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).

Một nghiên cứu khác của Sofia Perea và cộng sự ở Tây Ban Nha năm 2000

Theo phân tích hồi quy logistic đa biến, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới và nữ giới là tương đương nhau, với rủi ro tương đối (RR) là 1.03.

Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm bệnh giữa nam và nữ có thể được giải thích bởi các nghề nghiệp thường xuyên tiếp xúc với nước ngọt, như nước trái cây, hoặc thói quen mang tất và tiếp xúc với vật nuôi Tuy nhiên, một hạn chế trong nghiên cứu này, cũng như các nghiên cứu tại các cơ sở điều trị khác, là chỉ đánh giá tỷ lệ nhiễm bệnh ở những người có triệu chứng lâm sàng, mà không phản ánh tỷ lệ thực sự trong quần thể và cộng đồng.

Bệnh nấm móng xuất hiện ở mọi lứa tuổi, với độ tuổi nhỏ nhất là 1 và lớn nhất là 71, cùng độ tuổi trung bình là 40,08 ± 15,15 Đặc biệt, nhóm tuổi từ 36 đến 55 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 42,46%.

Nghiên cứu về tỷ lệ bệnh nấm móng cho thấy sự khác biệt theo độ tuổi, với độ tuổi mắc bệnh cao nhất thay đổi tùy theo từng nghiên cứu Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu y khoa đều ghi nhận rằng nhóm tuổi từ 36 đến 55 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất.

4.3.2 Liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm với nơi sống và nghề nghiệp

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm ở công nhân và nội trợ cao hơn so với học sinh – sinh viên và công nhân viên chức Theo y văn, những nghề nghiệp có thói quen tiếp xúc với nước, sử dụng nguồn nước không sạch, và thường xuyên mang ủng, tất lâu ngày dễ dẫn đến nấm móng ở chân.

Nghiên cứu của Bùi Văn Đức cho thấy tỷ lệ bệnh nấm móng cao ở công nhân, đặc biệt là những người làm trong ngành hải sản do thường xuyên tiếp xúc với nước và sử dụng găng tay, ủng Một nguyên nhân khác là một số loại nấm có keratinase, cho phép chúng phát triển trên keratin của móng Ngoài ra, nông dân cũng có nguy cơ cao do tiếp xúc với động vật, đất và nước, tạo điều kiện cho sự lây truyền mầm bệnh Nghiên cứu của Parvaneh Afshar tại Iran xác nhận rằng những người thường xuyên tiếp xúc với nước và vật nuôi có tỷ lệ mắc bệnh nấm móng cao Những phân tích này nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình tầm soát bệnh nấm móng cho nông dân, công nhân và lao động phổ thông.

4.3.3 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm với đặc điểm về thời gian mắc bệnh và điều trị trước khi đến khám

Kết quả từ bảng 3.16 cho thấy 21,73% bệnh nhân đến khám có thời gian mắc bệnh dưới 3 tháng, 22,58% trong khoảng từ 3 đến dưới 6 tháng, và hơn 60% mắc bệnh từ 6 tháng trở lên Điều này chỉ ra rằng chỉ có 21,73% bệnh nhân đi khám trong vòng 3 tháng kể từ khi xuất hiện thương tổn, trong khi sự chậm trễ trong thăm khám có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như lan rộng vùng thương tổn, chàm hóa khó điều trị, hoặc lây bệnh cho người khác Do đó, cần tăng cường tuyên truyền về bệnh nấm móng trong cộng đồng để khuyến khích bệnh nhân đi khám sớm và nhận được điều trị kịp thời.

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thắng tại Viện Sốt Rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP Hồ Chí Minh năm 2017 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đến khám trong vòng 3 tháng đầu là 17,1%, trong khoảng 3 đến dưới 6 tháng là 20,04%, và từ 6 đến 12 tháng là 18,2%.

Hơn 60% đối tượng mắc bệnh trên 6 tháng cho thấy nhiều người không điều trị hoặc tự ý sử dụng thuốc mà không có chỉ định Thời gian mắc bệnh kéo dài có thể do phác đồ điều trị chưa hiệu quả hoặc không đúng căn nguyên Dữ liệu từ bảng 3.10 chỉ ra mối liên quan giữa nhiễm nấm và điều trị trước khi khám với p = 0,031 Những người đã từng điều trị thuốc trước khi khám có nguy cơ nhiễm nấm cao gấp 2,29 lần so với những người không điều trị, với khoảng tin cậy 95% và OR từ 1,04 đến 5,16.

4.3.4 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm với đặc điểm về môi trường sống và đặc điểm cá thể

Bảng 3.14 chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng nhiễm nấm và các yếu tố môi trường sống như tiếp xúc với nước, vật nuôi, và bệnh mạn tính Kết quả cho thấy người thường xuyên tiếp xúc với nước có nguy cơ nhiễm nấm Candida spp cao gấp 2,55 lần so với người không tiếp xúc, với khoảng tin cậy 95% (OR từ 1,08 đến 5,96, p = 0,03) Tuy nhiên, đối với những người có thói quen tiếp xúc với vật nuôi hoặc nuôi động vật, không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm nấm (p > 0,05).

Những người mắc bệnh mạn tính như tiểu đường và cao huyết áp có nguy cơ nhiễm nấm móng do Candida spp cao gấp 3 lần so với những người không mắc bệnh, với khoảng tin cậy 95% và tỷ lệ odds (OR) từ 1,4 đến 6,4, p = 0,004.

Nghiên cứu còn ghi nhận không có mối liên quan giữa yếu tố sống tập thể và yếu tố thường xuyên hoạt động thể lực, giá trị p > 0,05

Vi nấm phát triển mạnh mẽ trong môi trường ẩm ướt và có nhiệt độ cao, do đó việc giữ cho móng và vùng da xung quanh luôn khô ráo là rất quan trọng để ngăn ngừa nhiễm nấm Vệ sinh cá nhân kém có thể dẫn đến tỷ lệ nhiễm nấm móng cao hơn, vì vậy hạn chế tiếp xúc của móng với nước là một biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Nghiên cứu của Halim và cộng sự năm 2013 tại Casablanca, Maroc chỉ ra rằng có sự liên quan giữa thói quen tiếp xúc với nước và nấm móng do Candida spp., với giá trị p < 0,05.

Mô tả đặc điểm tổn thương móng với các tác nhân gây bệnh

Nghiên cứu cho thấy hai loại tác nhân chính gây bệnh nấm móng là Candida spp và Trichophytons spp Đối với nấm móng do Trichophyton, các triệu chứng lâm sàng bao gồm móng dày hơn, có nếp gấp ly trên bề mặt, màu móng trắng đục và trở nên nông hơn Khi tổn thương nặng, có thể xuất hiện chấm trắng gần gốc móng hoặc toàn bộ móng bị thương tổn Ngược lại, nấm móng do Candida spp có biểu hiện lâm sàng khác biệt, với vùng móng đỏ ửng, đau và có thể có dịch tiết Khi bệnh nặng hơn, có thể xuất hiện viêm gốc móng, tổn thương phì đại, móng sần sùi và có dạng sọc, thậm chí là hủy hoại hoàn toàn móng.

Nghiên cứu của Westerberg và cộng sự (2013) chỉ ra rằng tổn thương móng do Trichophyton sp bắt đầu từ bờ xa và lan dần vào tấm móng, dẫn đến tình trạng móng dày lên và chuyển màu trắng hoặc nâu đen Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến bội nhiễm vi khuẩn Đối với tổn thương móng do Candida spp, tổn thương bắt đầu từ góc móng bên trong và lan ra ngoài, gây phân hủy móng, làm cho móng trở nên sần sùi và xuất hiện dịch.

Ngày đăng: 22/06/2023, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Ký sinh trùng, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (2015). Ký sinh trùng y học, NXB Y Học, tr. 442-448 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng y học
Tác giả: Bộ môn Ký sinh trùng
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 2015
2. Hoa Tấn Dũng, Nấm móng và cách điều trị, &lt;https://suckhoedoisong.vn/nam-mong-va-cach-dieu-tri-n76222.html,07:17 17/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm móng và cách điều trị
Tác giả: Hoa Tấn Dũng
Nhà XB: Sức khỏe và Đời sống
Năm: 2017
3. Lâm Văn Cấp (2001), “Tình hình, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan tới viêm quanh móng do Candida khám tại Viện Da liễu từ năm 1996-2001”, Luận văn Thạc sĩ Y học chuyên ngành Da liễu, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan tới viêm quanh móng do Candida khám tại Viện Da liễu từ năm 1996-2001
Tác giả: Lâm Văn Cấp
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2001
5. Lê Thành Đồng (2018).Quy trình nuôi, cấy phân lập nấm bằng phương pháp định danh thông thường.Viện sốt rét -ký sinh trùng côn trùng thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình nuôi, cấy phân lập nấm bằng phương pháp định danh thông thường
Tác giả: Lê Thành Đồng
Nhà XB: Viện sốt rét - ký sinh trùng côn trùng thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
6. Nguyễn Đức Thắng (2017). Tỷ lệ nhiễm, thành phần loài nấm da và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đến khám tại viện sốt rét – ký sinh trùng – côn trùng thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ y học, trường đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm, thành phần loài nấm da và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đến khám tại viện sốt rét – ký sinh trùng – côn trùng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đức Thắng
Nhà XB: trường đại học Tây Nguyên
Năm: 2017
7. Nguyễn Hữu Sáu và Quách Thị Hà Giang (2010), "Nghiên cứu tình hình, đặc điểm bệnh nấm nông và kết quả xét nghiệm soi nấm trực tiếp tại khoa xét nghiệm bệnh viện da liễu Trung Ương", Y học thực hành, (9), tr. 8 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình, đặc điểm bệnh nấm nông và kết quả xét nghiệm soi nấm trực tiếp tại khoa xét nghiệm bệnh viện da liễu Trung Ương
Tác giả: Nguyễn Hữu Sáu, Quách Thị Hà Giang
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2010
8. Nguyễn Ngọc Thụy (2004), “Các bệnh nấm da”, Bệnh ngoài da, NXB Y học Hà Nội, tr.36- 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh nấm da
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thụy
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2004
9. Nguyễn Tất Thắng, Nguyễn Thị Đào (2009), "Tỉ lệ bệnh da và những yếu tố liên quan trên các học viên trường cao đẳng quân sự quân đoàn 4", Y học thành phố Hồ Chí Minh, (13), tr.316-323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ bệnh da và những yếu tố liên quan trên các học viên trường cao đẳng quân sự quân đoàn 4
Tác giả: Nguyễn Tất Thắng, Nguyễn Thị Đào
Nhà XB: Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
10. Nguyễn Vũ Giang Bắc, Nguyễn Thu Cương, Nguyễn Đinh Nga (2012), “Khảo sát mức độ đáp ứng của một số chủng nấm da ly trích từ bệnh nhân với Ketoconazol”, Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh tập 16(1), trang 90-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát mức độ đáp ứng của một số chủng nấm da ly trích từ bệnh nhân với Ketoconazol
Tác giả: Nguyễn Vũ Giang Bắc, Nguyễn Thu Cương, Nguyễn Đinh Nga
Nhà XB: Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2012
11. Phùng Đức Truyền (2018), Giáo Trình Ký sinh trùng y học, trường Đại Học Nguyễn Tất Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình Ký sinh trùng y học
Tác giả: Phùng Đức Truyền
Nhà XB: trường Đại Học Nguyễn Tất Thành
Năm: 2018
12. Trần Phủ Mạnh Siêu, Lê Mạnh Hùng, Trần Thị Kim Dung, Trần Vinh Hiển. Một trường hợp nhiễm nấm Aspergillus flavus ở da tại Bệnh viện Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh. TC Y Học Quân Sự, trang 128-132, số CĐ1-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trường hợp nhiễm nấm Aspergillus flavus ở da tại Bệnh viện Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Phủ Mạnh Siêu, Lê Mạnh Hùng, Trần Thị Kim Dung, Trần Vinh Hiển
Nhà XB: TC Y Học Quân Sự
Năm: 2009
14. Trần, Bảo Châu SVTH, và ThS Trần. "Tình hình nhiễm nấm da trên những bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng tại bệnh viện da liễu Thành phố Hồ Chí Minh." (2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm nấm da trên những bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng tại bệnh viện da liễu Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần, Bảo Châu SVTH, ThS Trần
Năm: 2019
15. Trương Quang Ánh và Tôn Nữ Phương Anh (2003), "Bước đầu khảo sát tình hình nhiễm nấm da và nấm ngoại biên ở bệnh nhân được xét nghiệm nấm tại Khoa Ký sinh trùng - Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Huế ", Phòng chống bệnh Sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, (6), tr.80-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu khảo sát tình hình nhiễm nấm da và nấm ngoại biên ở bệnh nhân được xét nghiệm nấm tại Khoa Ký sinh trùng - Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Huế
Tác giả: Trương Quang Ánh, Tôn Nữ Phương Anh
Nhà XB: Phòng chống bệnh Sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2003
16. Nguyễn Quang Minh Mẫn (2019). Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tình hình dịch tể trên bệnh nhân nhiễm nấm da ở bệnh viện Da Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tình hình dịch tể trên bệnh nhân nhiễm nấm da ở bệnh viện Da
Tác giả: Nguyễn Quang Minh Mẫn
Năm: 2019
17. Bùi Văn Đức và cộng sự (2004), "Góp phần nghiên cứu tác dụng của Griseofulvin trong điều trị bệnh nấm da do Dermatophytes ở bệnh nhân nghiện ma túy", Y học Thành phố Hồ Chí Minh, (8), tr.32-39.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu tác dụng của Griseofulvin trong điều trị bệnh nấm da do Dermatophytes ở bệnh nhân nghiện ma túy
Tác giả: Bùi Văn Đức, cộng sự
Nhà XB: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
18. AGupta, K., et al. "The prevalence of unsuspected onychomycosis and its causative organisms in a multicentre Canadian sample of 30 000 patients visiting physicians' offices." Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology 30.9 (2016): 1567- 1572 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prevalence of unsuspected onychomycosis and its causative organisms in a multicentre Canadian sample of 30 000 patients visiting physicians' offices
Tác giả: AGupta, K., et al
Nhà XB: Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology
Năm: 2016
19. Baran, Robert, and Rodney PR Dawber, eds. Diseases of the nails and their management. Oxford: Blackwell Scientific Publications, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diseases of the nails and their management
Tác giả: Robert Baran, Rodney PR Dawber
Nhà XB: Blackwell Scientific Publications
Năm: 1994
20. Charif M A, Elewski B E. A historical perspective on onychomycosis. Dermatol Ther. 1997; 3: 43–45.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: A historical perspective on onychomycosis
Tác giả: Charif M A, Elewski B E
Nhà XB: Dermatol Ther
Năm: 1997
21. Elewski, Boni E. "Onychomycosis: pathogenesis, diagnosis, and management." Clinical microbiology reviews 11.3 (1998): 415-429 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Onychomycosis: pathogenesis, diagnosis, and management
Tác giả: Boni E. Elewski
Nhà XB: Clinical microbiology reviews
Năm: 1998
22. Garg J., Tilak R. et al (2009) “Rapid detection of dermatophytes from skin and hair” BMC Research Notes, Vol.2(60), http://www.biomedcentral.com/1756-0500/2/60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rapid detection of dermatophytes from skin and hair
Tác giả: Jaya Garg, Ragini Tilak, Atul Garg, Pradyot Prakash, Anil Kumar Gulati, Gopal Nath
Nhà XB: BMC Research Notes
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w