Theo kết quả điều tra vềcác yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ởnhóm tuổi từ 18-69, cho thấy Việt Nam là quốc gia có số ca mắc đái tháo đường caotrong
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân tại phòng khám nội tổng quát của Bệnh viện Đa khoa TP.Cần Thơ đã đồng ý tham gia nghiên cứu diễn ra từ tháng 9/2019 đến tháng 5/2020.
Bệnh nhân có 1 hoặc nhiều hơn 1 trong các yếu tố nguy cơ sau:
- Rối loạn glucose huyết lúc đói hay rối loạn dung nạp glucose.
- Nồng độ HDL-C < 35 mg/dl (0,9 mmol/L) và/hoặc nồng độ triglycerid > 250mg/dl (2,8 mmol/L)
- Chỉ số BMI ≥ 23 kg/m 2 (hoặc vòng bụng to: ở nam ≥ 90 cm, ở nữ ≥ 80 cm).
- Tăng huyết áp (huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg) hay đang điều trị thuốc huyết áp.
- Tiền sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ: gia đình có người bị đái tháo đường ở thế hệ cận kề (bố, mẹ, anh chị em ruột).
- Tiền sử mắc đái tháo đường thai kỳ hay hội chứng buồng trứng đa nang.
- Tiền sử bệnh lý tim mạch do xơ vữa động mạch.
- Bệnh nhân ĐTĐ type 2 đã được chẩn đoán, điều trị.
- Bệnh nhân ĐTĐ có biến chứng cấp tính hay mãn tính: hôn mê do nhiễm toan chuyển hóa, suy gan, suy thận, suy hô hấp, bệnh tim mạch nặng.
- Bệnh nhân bị xơ gan, bệnh thận mãn tính hay chạy thận nhân tạo.
- Bệnh nhân có bệnh lý nội tiết kèm theo như bệnh lý tuyến giáp, basedow, u tủy thượng thận, bệnh to đầu chi.
- Bệnh nhân bị nhiễm trùng tiểu, phụ nữ đang trong giai đoạn mang thai.
Bệnh nhân đang sử dụng thuốc steroid, thuốc ức chế α-glucosidase như acarbose, và thuốc điều trị đái tháo đường theo cơ chế ức chế SGLT 2 (protein vận chuyển natri-glucose 2).
Nhóm nghiên cứu đã phân chia thành hai nhóm: tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2, dựa trên kết quả xét nghiệm glucose máu và HbA1c, theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2018.
Nhóm 1: Nhóm tiền đái tháo đường
- Chỉ số HbA1c từ 5,7 - 6,4% và glucose máu lúc đói 5,6 - 6,9 mmol/L hoặc glucose sau 2h thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose từ 7,8 - 11 mmol/L.
Nhóm 2: Bệnh nhân ĐTĐ type 2
- Chỉ số HbA1c ≥ 6,5% hoặc/và glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/L hoặc glucose máu sau 2h thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose ≥ 11,1 mmol/L.
2.1.2 Nhóm chứng người trưởng thành khỏe mạnh
Những người đến khám sức khỏe định kỳ tại khoa khám bệnh bệnh viện Đa khoa TP.Cần Thơ thỏa các tiêu chuẩn sau:
- Không có tiền sử hay gia đình mắc bệnh đái tháo đường.
- Không có tiền sử bệnh lý tim mạch, gan, thận kèm theo.
- Không tiến hành các thủ thuật y tế trong thời gian gần đây (trong vòng 30 ngày) hoặc có kế hoạch thực hiện các thủ thuật y tế.
- Chỉ số glucose máu lúc đói 0,05 Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về tuổi và nhóm tuổi giữa hai nhóm, với tuổi trung bình của nhóm tiền ĐTĐ cao hơn nhóm ĐTĐ Nhóm tuổi 45-59 chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm tiền ĐTĐ, trong khi nhóm tuổi 60-69 chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm ĐTĐ, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,01.
Tuổi trung bình của nữ trong các nhóm nghiên cứu cao hơn so với nam, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng (p>0,05).
Biểu đồ 3.4 Phân bố tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.10 Đặc điểm BMI đối tượng nghiên cứu Đặc tính
Trong nhóm bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) và tiền đái tháo đường (tiền ĐTĐ), hơn 2/3 dân số có tình trạng thừa cân hoặc béo phì (BMI ≥ 23 kg/m²) Tỷ lệ béo phì độ 1 cao nhất ở nhóm ĐTĐ, trong khi nhóm tiền ĐTĐ có tỷ lệ tiền béo phì cao nhất Mặc dù BMI trung bình ở nhóm ĐTĐ cao hơn nhóm tiền ĐTĐ, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p=0,152) Tuy nhiên, khi so sánh BMI giữa nhóm chứng và nhóm tiền ĐTĐ, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,001.
Bảng 3.11.Đặc điểm lâm sàng đối tượng nghiên cứu Đặc tính
Tần số Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%)
Huyết áp tại thời điểm khám
Bình thường 29 43,28 40 59,70 0,084 Tăng huyết áp 38 56,72 27 40,30 Đặc điểm lipid máu tại thời điểm khám
Tần số Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%)
Rối loạn lipid máu 40 59,7 48 71,64 p: giá trị thống kê so sánh sự khác biệt giữa nhóm ĐTĐ với nhóm tiền ĐTĐ
Tại thời điểm khám, tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp cao nhất được ghi nhận ở nhóm tiền ĐTĐ Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về đặc điểm huyết áp giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm ĐTĐ, với giá trị p > 0,05.
Nghiên cứu so sánh đặc điểm lipid máu giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm ĐTĐ cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về các thành phần lipid máu như cholesterol, triglycerid, HDL-C và LDL-C Tuy nhiên, tỷ lệ tăng triglycerid và cholesterol ở nhóm ĐTĐ cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ, trong khi tỷ lệ tăng HDL-C ở nhóm tiền ĐTĐ lại cao hơn, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Đáng chú ý, khi so sánh giữa nhóm chứng và nhóm tiền ĐTĐ, nghiên cứu ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về đặc điểm lipid máu với p0,05.
Bảng 3.15 Nồng độ 1,5-AG trên các nhóm nghiên cứu theo nhóm tuổi
TV (TPV) TV (TPV) TV (TPV)
Biểu đồ 3.6 Phân bố nồng độ 1,5-AG theo nhóm tuổi
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi với p < 0,05, tuy nhiên không phát hiện mối quan hệ tuyến tính giữa nồng độ 1,5-AG và tuổi tác Cụ thể, trong nhóm chứng và nhóm tiền ĐTĐ, nhóm tuổi 60-69 có nồng độ 1,5-AG cao hơn so với các nhóm tuổi khác, trong khi đó, nhóm ĐTĐ cho thấy nồng độ 1,5-AG cao nhất ở nhóm tuổi ≥ 70.
Bảng 3.16 Nồng độ 1,5-AG, glucose, HbA1c trên các nhóm nghiên cứu
Giá trị thống kê p 1 (7,3 - 9,6) cho thấy sự khác biệt giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng, trong khi giá trị thống kê p 2 so sánh sự khác biệt giữa nhóm ĐTĐ và nhóm tiền ĐTĐ.
TV: tứ vị; TPV: tứ phân vị; TB: trung bình; ĐLC: độ lệch chuẩn
Biểu đồ 3.7 Phân bố nồng độ 1,5-AG trên các nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3.8 Phân bố nồng độ glucose trên các nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3.9 Phân bố nồng độ HbA1c trên các nhóm nghiên cứu Nhận xét
Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt về nồng độ 1,5-AG, glucose và HbA1c giữa các nhóm chứng, tiền ĐTĐ và ĐTĐ, với ý nghĩa thống kê p < 0,001 Cụ thể, trung vị nồng độ glucose và HbA1c ở nhóm ĐTĐ cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng, trong khi nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ lại thấp hơn nhiều so với hai nhóm còn lại.
Vai trò của 1,5 -anhydroglucitol trong chẩn đoán phân biệt tiền ĐTĐ
Tiền đái tháo đường (+) (KTC95%) P 1,5-anhydroglucitol
Hệ số -0,572 (-0,83 - (-0,31)) 0,05).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Wang [51], cho thấy BMI trung bình của nhóm tiền ĐTĐ là 25,4± 3,1 kg/m² và nhóm ĐTĐ là 24,8± 3,37 kg/m² Theo nghiên cứu của Robertson [14], BMI của nhóm tiền ĐTĐ là 24,1± 3,7 kg/m², trong khi nhóm ĐTĐ là 25,1± 4,6 kg/m² Tuy nhiên, BMI trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi lại thấp hơn so với nghiên cứu của Malkan.
[33] với BMI trên nhóm tiền ĐTĐ là 29,6± 6,1 kg/m 2 , nhóm ĐTĐ 30,2 ± 7,1 kg/m 2
4.1.3 Đặc điểm lâm sàng, tiền sử bệnh của đối tượng nghiên cứu
Tăng huyết áp thường xuất hiện cùng với bệnh tiểu đường type 2, do sự gia tăng thể tích dịch ngoại bào và độ cứng của thành mạch, liên quan đến tình trạng kháng insulin trong máu.
Sự kết hợp giữa tăng huyết áp và đái tháo đường làm tăng nguy cơ biến chứng và tử vong do tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ huyết áp tiền tăng huyết ở nhóm tiền ĐTĐ là 56,72% và ở nhóm ĐTĐ là 40,3% Nguyên nhân có thể do đa số bệnh nhân trong nghiên cứu có tiền sử tăng huyết áp và đang sử dụng thuốc điều trị, dẫn đến chỉ số huyết áp có thể không phản ánh chính xác thực tế Kết quả của chúng tôi khác với nghiên cứu của Karen và Phạm Minh Ngọc, trong đó tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm ĐTĐ là 63,5%, cao hơn so với 49,5% ở nhóm tiền ĐTĐ, do sự khác biệt về đặc điểm dân số trong các nghiên cứu.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn lipid máu cao, với 71,64% ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ và 59,7% ở nhóm tiền ĐTĐ Trong số các thành phần lipid, tăng triglycerid và cholesterol là phổ biến nhất Cụ thể, ở nhóm tiền ĐTĐ, tỷ lệ tăng triglycerid đạt 70,15% và tăng cholesterol là 44,76% Đối với nhóm ĐTĐ, tỷ lệ tương ứng là 76,12% cho triglycerid và 52,24% cho cholesterol.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) là 79,4%, tương đồng với nghiên cứu của Viên Quang Mai, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Vũ Quỳnh Thi ghi nhận tỷ lệ này là 60,9% Điều này chỉ ra mối liên hệ giữa tình trạng rối loạn lipid máu và ĐTĐ ĐTĐ là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa, đặc trưng bởi sự rối loạn chuyển hóa glucid, và nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến các rối loạn chuyển hóa lipid và protein.
Nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2, trong đó tiền sử bệnh là yếu tố quan trọng Trong nhóm bệnh nhân ĐTĐ, tỷ lệ có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ cao nhất là 67,16%, trong khi tiền sử bệnh lý tim mạch chỉ chiếm 16,42% Đối với nhóm tiền ĐTĐ, tỷ lệ có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ và huyết áp đều là 41,79%, còn tiền sử bệnh lý tim mạch là 19,4% Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dũng cho thấy, tiền sử gia đình mắc ĐTĐ làm tăng nguy cơ mắc bệnh gấp 3 lần so với những người không có tiền sử này.
4.1.4.Đặc điểm các chỉ số cận lâm sàng trên đối tượng nghiên cứu
Khi so sánh các chỉ số xét nghiệm lipid máu giữa nhóm tiền ĐTĐ và ĐTĐ, không ghi nhận sự khác biệt với p>0,05 Trung vị nồng độ cholesterol (5,2 mmol/L), triglycerid (2,6 mmol/L), và LDL-C (2,9 mmol/L) ở nhóm ĐTĐ cao hơn nhóm tiền ĐTĐ nhưng không đáng kể Mặc dù các xét nghiệm lipid ở cả hai nhóm đều vượt quá giới hạn bình thường, mức tăng nồng độ này không ảnh hưởng đến xét nghiệm 1,5-AG.
Chỉ số xét nghiệm AST và creatinin ở cả ba nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt, trong khi chỉ số ALT ở nhóm ĐTĐ (26 U/L) cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ (18 U/L) với p= 0,003, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Mặc dù nồng độ các chất này đều trong giới hạn bình thường, đây là điều kiện cần trong tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu Nồng độ 1,5-AG bị ảnh hưởng bởi chức năng lọc của thận và ngưỡng thận của glucose, cũng như giảm ở bệnh nhân viêm gan nặng hoặc xơ gan Để đánh giá chức năng thận và gan một cách đầy đủ và chính xác, cần thực hiện thêm các xét nghiệm và chỉ số cận lâm sàng khác, đây là một hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi.
PHÂN BỐ NỒNG ĐỘ 1,5- ANHYDROGLUCITOL TRÊN CÁC NHÓM NGHIÊN CỨU
Nồng độ 1,5-AG ổn định ở trong máu của người khỏe mạnh trong một khoảng thời gian từ 2 - 3 năm vì chuyển hóa đặc trưng của 1,5-AG là chuyển hóa trơ, 1,5-
AG được hấp thu từ thức ăn qua dòng máu đến thận và gần như hoàn toàn được tái hấp thu trở lại vào máu qua ống lượn gần, sau đó tích lũy trong các mô và tế bào Nồng độ 1,5-AG ở người trưởng thành khỏe mạnh có sự dao động rộng, theo nghiên cứu của Selvin tại Mỹ, nồng độ này dao động từ 8,4 - 28,7 àg/ml Nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy giới hạn tham chiếu khoảng 12 - 40 àg/ml, và theo nghiên cứu của Lương Quỳnh Hoa cũng cung cấp thông tin tương tự.
[3] thực hiện trên 218 người khỏe mạnh kết quả phân bố nồng độ 1,5-AG ở nam 12,04 - 42,5 àg/ml, nữ 8,79 - 33,7 àg/ml
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ giảm đáng kể so với nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng khỏe mạnh, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Cụ thể, nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ là 6,6 ± 4,1 àg/ml, trong khi ở nhóm tiền ĐTĐ là 15,0 ± 2,67 àg/ml và nhóm người khỏe mạnh là 22,3 ± 5,5 àg/ml Kết quả này cho thấy sự giảm rõ rệt nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ so với hai nhóm còn lại.
Khi so sánh nồng độ 1,5-AG giữa các nhóm nghiên cứu theo giới, nhóm chứng cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nam (25,6 àg/ml) cao hơn nữ (18,9 àg/ml) với p=0,007 Sự khác biệt này có thể do tính chất sinh học và tỷ lệ bài tiết của thận giữa hai giới Tuy nhiên, ở nhóm tiền ĐTĐ và ĐTĐ, không có sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa nam và nữ (p > 0,05), có thể do nồng độ glucose tương đồng trong hai nhóm này, dẫn đến nồng độ 1,5-AG không khác biệt vì nó phụ thuộc vào nồng độ glucose và ngưỡng thận của glucose.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với một số nghiên cứu trước đây Cụ thể, nghiên cứu của T Yamanouchi [49] trên 1.620 đối tượng cho thấy nồng độ 1,5-AG lần lượt là 5,4 ± 5,1 àg/ml ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ, 14,8 ± 9,3 àg/ml ở nhóm tiền ĐTĐ, và 22,8 ± 8,0 àg/ml ở nhóm người khỏe mạnh Nghiên cứu của Malkan [33] cũng cho kết quả tương tự về nồng độ 1,5-AG.
Nồng độ 1,5-AG nhúm ở người khỏe mạnh thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, với giá trị AG nhúm ĐTĐ là 5,99 àg/ml và tiền ĐTĐ là 11,0 àg/ml Ngoài ra, không có sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa nam và nữ.
Nghiên cứu của Y Wang trên 1.170 đối tượng, bao gồm các nhóm dân số có nguy cơ cao với bệnh tiểu đường, cho thấy nồng độ 1,5-
Nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ, tiền ĐTĐ và nhóm chứng lần lượt là 6,1 ± 3,91 àg/ml, 13,43 ± 5,5 àg/ml và 23,07 ± 9,8 àg/ml Điểm khác biệt đáng chú ý là nồng độ 1,5-AG trung bình ở nam giới thấp hơn so với nữ giới Sự khác biệt này có thể do nồng độ glucose ở nam cao hơn và ngưỡng thận của glucose khác nhau giữa hai giới, ảnh hưởng đến khả năng tái hấp thu 1,5-AG, dẫn đến nồng độ chất này ở nam thấp hơn.
So với nghiên cứu của Pramodkumar [40] trên 210 đối tượng, nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ (7,9 àg/ml) và tiền ĐTĐ (18,0 àg/ml) cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Nghiên cứu của Chan [12] cũng cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ (5,7 àg/ml) tương đương với kết quả của chúng tôi, nhưng nồng độ ở nhóm tiền ĐTĐ và nhóm người khỏe mạnh lại cao hơn Sự khác biệt này có thể do đặc điểm dân số và tiêu chuẩn phân loại nhóm bệnh khác nhau trong các nghiên cứu.
Nồng độ 1,5-AG ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Chil Chen Lu, với giá trị lần lượt là 4,02 ± 2,96 àg/ml và 5,03 ± 5,38 àg/ml theo tác giả Lương Quỳnh Hoa Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi đặc điểm dân số trong các nghiên cứu, trong đó bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi đã được chẩn đoán và điều trị nội trú, dẫn đến việc kiểm soát đường máu kém hơn và nồng độ 1,5-AG thấp hơn.
Bảng 4.23 Nồng độ 1,5-AG trên các nhóm nghiên cứu so với một số tác giả
Tỏc giả Nồng độ 1,5-AG (àg/ml)
Nhóm chứng Tiền ĐTĐ Nhóm ĐTĐ p
Nghiên cứu của chúng tôi 22,9 ± 5,51
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi khác nhau với p < 0,05 Tuy nhiên, không có mối tương quan tuyến tính nào giữa nồng độ 1,5-AG và phân bố nhóm tuổi Đặc biệt, trong nhóm tiền ĐTĐ, nồng độ 1,5-AG ở nhóm tuổi 60 trở lên cũng được ghi nhận.
Nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG cao nhất ở nhóm tuổi 69 (16 àg/ml) và ở nhóm tuổi trên 70 (7,0 àg/ml) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Selvin, cho thấy sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa các nhóm tuổi, với mối tương quan nghịch giữa nồng độ 1,5-AG và tuổi Mặc dù nồng độ 1,5-AG thấp hơn ở người cao tuổi, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Ngược lại, nghiên cứu tại Mỹ không phát hiện sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa các nhóm tuổi khác nhau.
Nồng độ 1,5-AG trong huyết thanh giảm là dấu ấn quan trọng phản ánh sự biến động đường huyết trung bình trong 1-2 tuần trước đó Tuy nhiên, nồng độ này có thể thay đổi tùy thuộc vào ngưỡng thận của glucose ở từng bệnh nhân, do đó cần thận trọng khi sử dụng chỉ thị này cho những bệnh nhân có rối loạn chức năng thận.
MỐI LIÊN QUAN , TƯƠNG QUAN GIỮA 1,5- ANHYDROGLUCITOL VỚI GLUCOSE , A1 C
Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể về các chỉ số glucose, HbA1c và 1,5-AG giữa nhóm chứng, nhóm tiền đái tháo đường và nhóm đái tháo đường, với giá trị p cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Nồng độ glucose và HbA1c có xu hướng tăng theo diễn tiến bệnh, trong khi nồng độ 1,5-AG lại giảm Cụ thể, nồng độ glucose và HbA1c ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ lần lượt là 8,6 mmol/L và 8,3%, cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ (6,1 mmol/L và 6,0%) và nhóm chứng Ngược lại, nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ (6,0 àg/ml) thấp hơn so với nhóm tiền ĐTĐ (15,9 àg/ml) và nhóm chứng Sự giảm nồng độ 1,5-AG có thể được giải thích bởi việc đường trong máu tăng cao, dẫn đến cạnh tranh tái hấp thu giữa glucose và 1,5-AG, khiến 1,5-AG bị bài tiết vào nước tiểu và nồng độ trong máu giảm Do đó, tình trạng tăng đường máu thường xuyên sẽ gây ra sự giảm nồng độ 1,5-AG trong máu.
4.3.2.Mối tương quan giữa 1,5-AG với glucose máu lúc đói và HbA1c
1,5-Anhydroglucitol là một loại đường có nguồn gốc từ thực phẩm, có cấu trúc tương tự như glucose Sự tương đồng này khiến glucose ức chế tái hấp thu 1,5-AG ở thận, do ống lượn gần có ái lực cao hơn với glucose Do đó, khi nồng độ glucose trong máu tăng, glucose và 1,5-AG sẽ cạnh tranh nhau trong quá trình tái hấp thu, dẫn đến mối quan hệ nghịch giữa nồng độ 1,5-AG và tình trạng tăng đường huyết.
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa 1,5-
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 1,5-AG có mối tương quan mạnh với glucose máu lúc đói (r = -0,742) và HbA1c (r = -0,732) với p < 0,01 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của T Yamanuochi tại Nhật Bản, trong đó 1,5-AG cũng cho thấy mối tương quan chặt chẽ với glucose máu lúc đói (r = -0,627 và r = -0,629) trên 1.620 đối tượng.
Nghiên cứu của McGill và cộng sự (2004) trên 77 bệnh nhân ĐTĐ type 2 cho thấy 1,5-AG có mối tương quan nghịch chặt chẽ với HbA1c (r = -0,646; p < 0,001) Tương tự, nghiên cứu của Pramodkumar tại Ấn Độ với 280 đối tượng cũng chỉ ra rằng hệ số tương quan giữa 1,5-AG và HbA1c là r = -0,70.
Nghiên cứu của Y Wang và cộng sự cho thấy 1,5-AG có mối tương quan vừa với glucose (r = -0,47) và HbA1c (r = -0,516) Tương tự, nghiên cứu của Sun Jie cũng chỉ ra rằng 1,5-AG có tương quan vừa với glucose máu lúc đói (r = -0,434) và tương quan chặt chẽ với HbA1c (r = -0,687) Theo nghiên cứu của Lương Quỳnh Hoa, 1,5-AG có mối tương quan chặt chẽ với HbA1c (r = -0,616) nhưng chỉ có tương quan trung bình với glucose máu lúc nhập viện (r = -0,334) Sự khác biệt trong các kết quả này có thể do đặc điểm dân số đích khác nhau trong từng nghiên cứu.
Phân tích cho thấy 1,5-AG là chỉ thị hiệu quả để phản ánh nhanh chóng tình trạng tăng đường huyết Mối quan hệ giữa glucose máu và 1,5-AG là nghịch đảo: khi mức glucose trong máu tăng, 1,5-AG sẽ giảm và ngược lại.
Bảng 4.24 So sánh tương quan giữa 1,5-AG với glucose, HbA1c so với một số nghiên cứu
Tác giả Tương quan (r) giữa
Tương quan (r) giữa 1,5-AG với HbA1c p
Sun Jie và cộng sự (2011) [44] -0,434 -0,687 < 0,001
Nghiên cứu của chúng tôi -0,742 -0,732 < 0,001