1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giá trị của 1,5 anhydroglucitol trong chẩn đoán tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2

96 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu giá trị của 1,5-anhydroglucitol trong chẩn đoán tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2
Tác giả Nguyễn Thị Tuyền
Người hướng dẫn PGS.TS.BS. Lâm Vĩnh Niên, PGS.TS.BS. Trần Anh Tuấn
Trường học Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xét nghiệm y học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. TỔNG QUAN BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 (15)
      • 1.1.1. Thực trạng bệnh đái tháo đường (15)
      • 1.1.2. Cơ chế bệnh sinh bệnh đái tháo đường type 2 (15)
      • 1.1.3. Yếu tố nguy cơ bệnh đái tháo đường type 2 (17)
    • 1.2. CÁC XÉT NGHIỆM TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (18)
      • 1.2.1. Glucose máu lúc đói (FPG: Fasting Plasma Glucose) (18)
      • 1.2.3. Xét nghiệm HbA1c (20)
      • 1.3.1. Cấu tạo, nguồn gốc và sinh lý của 1,5-anhydroglucitol (21)
      • 1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến 1,5-AG (24)
      • 1.3.3. Các phương pháp định lượng 1,5-anhydroglucitol (25)
    • 1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ 1,5- ANHYDROGLUCITOL (1,5- AG ) TRONG CHẨN ĐOÁN ĐTĐ TYPE 2 (28)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (33)
      • 2.1.1. Nhóm nghiên cứu (33)
      • 2.1.2. Nhóm chứng người trưởng thành khỏe mạnh (34)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (34)
      • 2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (34)
      • 2.2.3. Phương pháp chọn mẫu (35)
      • 2.2.4. Cỡ mẫu (35)
      • 2.2.5. Các biến số trong nghiên cứu (35)
      • 2.2.6. Phương pháp thu thập số liệu, mẫu bệnh phẩm nghiên cứu (36)
      • 2.2.7. Phân tích xử lý số liệu (37)
      • 2.2.8. Các bước tiến hành nghiên cứu (39)
    • 2.3. CÁC KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU (40)
      • 2.3.1. Các kỹ thuật xét nghiệm thực hiện tại BV đa khoaTP.Cần Thơ (40)
      • 2.3.2. Kỹ thuật định lượng HbA1c (41)
      • 2.3.3. Kỹ thuật định lượng 1,5-anhdroglucitol bằng phương pháp enzym (42)
    • 2.4. CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI TRONG NGHIÊN CỨU (46)
      • 2.4.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường và đái tháo đường (46)
      • 2.4.2. Chỉ số huyết áp (46)
      • 2.4.3. Chỉ số BMI (46)
      • 2.4.4. Chỉ số lipid máu (47)
    • 2.5. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU (48)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (49)
      • 3.1.1. Các đặc điểm tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu (49)
      • 3.1.2. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu (50)
      • 3.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu (53)
    • 3.2. NỒNG ĐỘ 1,5- AG TRÊN CÁC NHÓM NGHIÊN CỨU (54)
    • 3.3. MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA 1,5- AG VỚI GLUCOSE , A1 C (58)
      • 3.3.1. Mối tương quan giữa 1,5-AG với glucose (58)
      • 3.3.2. Mối tương quan giữa 1,5-anhydroglucitol với HbA1c (58)
  • TYPE 2 (28)
    • 3.4.1. Vai trò của 1,5 -anhydroglucitol trong chẩn đoán phân biệt tiền ĐTĐ (59)
    • 3.4.2. Vai trò của 1,5-anhydroglucitol trong chẩn đoán phân biệt ĐTĐ type 2 (62)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (65)
    • 4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (65)
      • 4.1.1. Đặc điểm tuổi, giới của nhóm nghiên cứu (65)
      • 4.1.2. Đặc điểm thể trạng BMI của đối tượng nghiên cứu (66)
      • 4.1.3. Đặc điểm lâm sàng, tiền sử bệnh của đối tượng nghiên cứu (67)
      • 4.1.4. Đặc điểm các chỉ số cận lâm sàng trên đối tượng nghiên cứu (68)
    • 4.2. PHÂN BỐ NỒNG ĐỘ 1,5- ANHYDROGLUCITOL TRÊN CÁC NHÓM NGHIÊN CỨU (68)
    • 4.3. MỐI LIÊN QUAN , TƯƠNG QUAN GIỮA 1,5- ANHYDROGLUCITOL VỚI GLUCOSE , A1 C (72)
      • 4.3.1. Mối liên quan giữa 1,5-AG với glucose máu lúc đói và HbA1c (72)
      • 4.3.2. Mối tương quan giữa 1,5-AG với glucose máu lúc đói và HbA1c (72)
    • 4.4. V AI TRÒ CỦA 1,5- ANHYDROGLUCITOL TRONG CHẨN ĐOÁN TIỀN ĐTĐ VÀ ĐTĐ (74)
      • 4.4.1. Giá trị của 1,5-anhydroglucitol trong chẩn đoán ĐTĐ type 2 (74)
      • 4.4.2. Giá trị của 1,5-anhydroglucitol trong chẩn đoán tiền ĐTĐ (77)
  • KẾT LUẬN (39)

Nội dung

Theo kết quả điều tra vềcác yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ởnhóm tuổi từ 18-69, cho thấy Việt Nam là quốc gia có số ca mắc đái tháo đường caotrong

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân tại phòng khám nội tổng quát của Bệnh viện Đa khoa TP.Cần Thơ đã đồng ý tham gia nghiên cứu diễn ra từ tháng 9/2019 đến tháng 5/2020.

Bệnh nhân có 1 hoặc nhiều hơn 1 trong các yếu tố nguy cơ sau:

- Rối loạn glucose huyết lúc đói hay rối loạn dung nạp glucose.

- Nồng độ HDL-C < 35 mg/dl (0,9 mmol/L) và/hoặc nồng độ triglycerid > 250mg/dl (2,8 mmol/L)

- Chỉ số BMI ≥ 23 kg/m 2 (hoặc vòng bụng to: ở nam ≥ 90 cm, ở nữ ≥ 80 cm).

- Tăng huyết áp (huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg) hay đang điều trị thuốc huyết áp.

- Tiền sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ: gia đình có người bị đái tháo đường ở thế hệ cận kề (bố, mẹ, anh chị em ruột).

- Tiền sử mắc đái tháo đường thai kỳ hay hội chứng buồng trứng đa nang.

- Tiền sử bệnh lý tim mạch do xơ vữa động mạch.

- Bệnh nhân ĐTĐ type 2 đã được chẩn đoán, điều trị.

- Bệnh nhân ĐTĐ có biến chứng cấp tính hay mãn tính: hôn mê do nhiễm toan chuyển hóa, suy gan, suy thận, suy hô hấp, bệnh tim mạch nặng.

- Bệnh nhân bị xơ gan, bệnh thận mãn tính hay chạy thận nhân tạo.

- Bệnh nhân có bệnh lý nội tiết kèm theo như bệnh lý tuyến giáp, basedow, u tủy thượng thận, bệnh to đầu chi.

- Bệnh nhân bị nhiễm trùng tiểu, phụ nữ đang trong giai đoạn mang thai.

Bệnh nhân đang sử dụng thuốc steroid, thuốc ức chế α-glucosidase như acarbose, và thuốc điều trị đái tháo đường theo cơ chế ức chế SGLT 2 (protein vận chuyển natri-glucose 2).

Nhóm nghiên cứu đã phân chia thành hai nhóm: tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2, dựa trên kết quả xét nghiệm glucose máu và HbA1c, theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2018.

Nhóm 1: Nhóm tiền đái tháo đường

- Chỉ số HbA1c từ 5,7 - 6,4% và glucose máu lúc đói 5,6 - 6,9 mmol/L hoặc glucose sau 2h thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose từ 7,8 - 11 mmol/L.

Nhóm 2: Bệnh nhân ĐTĐ type 2

- Chỉ số HbA1c ≥ 6,5% hoặc/và glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/L hoặc glucose máu sau 2h thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose ≥ 11,1 mmol/L.

2.1.2 Nhóm chứng người trưởng thành khỏe mạnh

Những người đến khám sức khỏe định kỳ tại khoa khám bệnh bệnh viện Đa khoa TP.Cần Thơ thỏa các tiêu chuẩn sau:

- Không có tiền sử hay gia đình mắc bệnh đái tháo đường.

- Không có tiền sử bệnh lý tim mạch, gan, thận kèm theo.

- Không tiến hành các thủ thuật y tế trong thời gian gần đây (trong vòng 30 ngày) hoặc có kế hoạch thực hiện các thủ thuật y tế.

- Chỉ số glucose máu lúc đói 0,05 Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về tuổi và nhóm tuổi giữa hai nhóm, với tuổi trung bình của nhóm tiền ĐTĐ cao hơn nhóm ĐTĐ Nhóm tuổi 45-59 chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm tiền ĐTĐ, trong khi nhóm tuổi 60-69 chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm ĐTĐ, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,01.

Tuổi trung bình của nữ trong các nhóm nghiên cứu cao hơn so với nam, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng (p>0,05).

Biểu đồ 3.4 Phân bố tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.10 Đặc điểm BMI đối tượng nghiên cứu Đặc tính

Trong nhóm bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) và tiền đái tháo đường (tiền ĐTĐ), hơn 2/3 dân số có tình trạng thừa cân hoặc béo phì (BMI ≥ 23 kg/m²) Tỷ lệ béo phì độ 1 cao nhất ở nhóm ĐTĐ, trong khi nhóm tiền ĐTĐ có tỷ lệ tiền béo phì cao nhất Mặc dù BMI trung bình ở nhóm ĐTĐ cao hơn nhóm tiền ĐTĐ, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p=0,152) Tuy nhiên, khi so sánh BMI giữa nhóm chứng và nhóm tiền ĐTĐ, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,001.

Bảng 3.11.Đặc điểm lâm sàng đối tượng nghiên cứu Đặc tính

Tần số Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%)

Huyết áp tại thời điểm khám

Bình thường 29 43,28 40 59,70 0,084 Tăng huyết áp 38 56,72 27 40,30 Đặc điểm lipid máu tại thời điểm khám

Tần số Tỉ lệ (%) Tần số Tỉ lệ (%)

Rối loạn lipid máu 40 59,7 48 71,64 p: giá trị thống kê so sánh sự khác biệt giữa nhóm ĐTĐ với nhóm tiền ĐTĐ

Tại thời điểm khám, tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp cao nhất được ghi nhận ở nhóm tiền ĐTĐ Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về đặc điểm huyết áp giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm ĐTĐ, với giá trị p > 0,05.

Nghiên cứu so sánh đặc điểm lipid máu giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm ĐTĐ cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về các thành phần lipid máu như cholesterol, triglycerid, HDL-C và LDL-C Tuy nhiên, tỷ lệ tăng triglycerid và cholesterol ở nhóm ĐTĐ cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ, trong khi tỷ lệ tăng HDL-C ở nhóm tiền ĐTĐ lại cao hơn, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Đáng chú ý, khi so sánh giữa nhóm chứng và nhóm tiền ĐTĐ, nghiên cứu ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về đặc điểm lipid máu với p0,05.

Bảng 3.15 Nồng độ 1,5-AG trên các nhóm nghiên cứu theo nhóm tuổi

TV (TPV) TV (TPV) TV (TPV)

Biểu đồ 3.6 Phân bố nồng độ 1,5-AG theo nhóm tuổi

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi với p < 0,05, tuy nhiên không phát hiện mối quan hệ tuyến tính giữa nồng độ 1,5-AG và tuổi tác Cụ thể, trong nhóm chứng và nhóm tiền ĐTĐ, nhóm tuổi 60-69 có nồng độ 1,5-AG cao hơn so với các nhóm tuổi khác, trong khi đó, nhóm ĐTĐ cho thấy nồng độ 1,5-AG cao nhất ở nhóm tuổi ≥ 70.

Bảng 3.16 Nồng độ 1,5-AG, glucose, HbA1c trên các nhóm nghiên cứu

Giá trị thống kê p 1 (7,3 - 9,6) cho thấy sự khác biệt giữa nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng, trong khi giá trị thống kê p 2 so sánh sự khác biệt giữa nhóm ĐTĐ và nhóm tiền ĐTĐ.

TV: tứ vị; TPV: tứ phân vị; TB: trung bình; ĐLC: độ lệch chuẩn

Biểu đồ 3.7 Phân bố nồng độ 1,5-AG trên các nhóm nghiên cứu

Biểu đồ 3.8 Phân bố nồng độ glucose trên các nhóm nghiên cứu

Biểu đồ 3.9 Phân bố nồng độ HbA1c trên các nhóm nghiên cứu Nhận xét

Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt về nồng độ 1,5-AG, glucose và HbA1c giữa các nhóm chứng, tiền ĐTĐ và ĐTĐ, với ý nghĩa thống kê p < 0,001 Cụ thể, trung vị nồng độ glucose và HbA1c ở nhóm ĐTĐ cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng, trong khi nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ lại thấp hơn nhiều so với hai nhóm còn lại.

Vai trò của 1,5 -anhydroglucitol trong chẩn đoán phân biệt tiền ĐTĐ

Tiền đái tháo đường (+) (KTC95%) P 1,5-anhydroglucitol

Hệ số -0,572 (-0,83 - (-0,31)) 0,05).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Wang [51], cho thấy BMI trung bình của nhóm tiền ĐTĐ là 25,4± 3,1 kg/m² và nhóm ĐTĐ là 24,8± 3,37 kg/m² Theo nghiên cứu của Robertson [14], BMI của nhóm tiền ĐTĐ là 24,1± 3,7 kg/m², trong khi nhóm ĐTĐ là 25,1± 4,6 kg/m² Tuy nhiên, BMI trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi lại thấp hơn so với nghiên cứu của Malkan.

[33] với BMI trên nhóm tiền ĐTĐ là 29,6± 6,1 kg/m 2 , nhóm ĐTĐ 30,2 ± 7,1 kg/m 2

4.1.3 Đặc điểm lâm sàng, tiền sử bệnh của đối tượng nghiên cứu

Tăng huyết áp thường xuất hiện cùng với bệnh tiểu đường type 2, do sự gia tăng thể tích dịch ngoại bào và độ cứng của thành mạch, liên quan đến tình trạng kháng insulin trong máu.

Sự kết hợp giữa tăng huyết áp và đái tháo đường làm tăng nguy cơ biến chứng và tử vong do tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ huyết áp tiền tăng huyết ở nhóm tiền ĐTĐ là 56,72% và ở nhóm ĐTĐ là 40,3% Nguyên nhân có thể do đa số bệnh nhân trong nghiên cứu có tiền sử tăng huyết áp và đang sử dụng thuốc điều trị, dẫn đến chỉ số huyết áp có thể không phản ánh chính xác thực tế Kết quả của chúng tôi khác với nghiên cứu của Karen và Phạm Minh Ngọc, trong đó tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm ĐTĐ là 63,5%, cao hơn so với 49,5% ở nhóm tiền ĐTĐ, do sự khác biệt về đặc điểm dân số trong các nghiên cứu.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn lipid máu cao, với 71,64% ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ và 59,7% ở nhóm tiền ĐTĐ Trong số các thành phần lipid, tăng triglycerid và cholesterol là phổ biến nhất Cụ thể, ở nhóm tiền ĐTĐ, tỷ lệ tăng triglycerid đạt 70,15% và tăng cholesterol là 44,76% Đối với nhóm ĐTĐ, tỷ lệ tương ứng là 76,12% cho triglycerid và 52,24% cho cholesterol.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) là 79,4%, tương đồng với nghiên cứu của Viên Quang Mai, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Vũ Quỳnh Thi ghi nhận tỷ lệ này là 60,9% Điều này chỉ ra mối liên hệ giữa tình trạng rối loạn lipid máu và ĐTĐ ĐTĐ là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa, đặc trưng bởi sự rối loạn chuyển hóa glucid, và nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến các rối loạn chuyển hóa lipid và protein.

Nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2, trong đó tiền sử bệnh là yếu tố quan trọng Trong nhóm bệnh nhân ĐTĐ, tỷ lệ có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ cao nhất là 67,16%, trong khi tiền sử bệnh lý tim mạch chỉ chiếm 16,42% Đối với nhóm tiền ĐTĐ, tỷ lệ có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ và huyết áp đều là 41,79%, còn tiền sử bệnh lý tim mạch là 19,4% Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dũng cho thấy, tiền sử gia đình mắc ĐTĐ làm tăng nguy cơ mắc bệnh gấp 3 lần so với những người không có tiền sử này.

4.1.4.Đặc điểm các chỉ số cận lâm sàng trên đối tượng nghiên cứu

Khi so sánh các chỉ số xét nghiệm lipid máu giữa nhóm tiền ĐTĐ và ĐTĐ, không ghi nhận sự khác biệt với p>0,05 Trung vị nồng độ cholesterol (5,2 mmol/L), triglycerid (2,6 mmol/L), và LDL-C (2,9 mmol/L) ở nhóm ĐTĐ cao hơn nhóm tiền ĐTĐ nhưng không đáng kể Mặc dù các xét nghiệm lipid ở cả hai nhóm đều vượt quá giới hạn bình thường, mức tăng nồng độ này không ảnh hưởng đến xét nghiệm 1,5-AG.

Chỉ số xét nghiệm AST và creatinin ở cả ba nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt, trong khi chỉ số ALT ở nhóm ĐTĐ (26 U/L) cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ (18 U/L) với p= 0,003, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Mặc dù nồng độ các chất này đều trong giới hạn bình thường, đây là điều kiện cần trong tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu Nồng độ 1,5-AG bị ảnh hưởng bởi chức năng lọc của thận và ngưỡng thận của glucose, cũng như giảm ở bệnh nhân viêm gan nặng hoặc xơ gan Để đánh giá chức năng thận và gan một cách đầy đủ và chính xác, cần thực hiện thêm các xét nghiệm và chỉ số cận lâm sàng khác, đây là một hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi.

PHÂN BỐ NỒNG ĐỘ 1,5- ANHYDROGLUCITOL TRÊN CÁC NHÓM NGHIÊN CỨU

Nồng độ 1,5-AG ổn định ở trong máu của người khỏe mạnh trong một khoảng thời gian từ 2 - 3 năm vì chuyển hóa đặc trưng của 1,5-AG là chuyển hóa trơ, 1,5-

AG được hấp thu từ thức ăn qua dòng máu đến thận và gần như hoàn toàn được tái hấp thu trở lại vào máu qua ống lượn gần, sau đó tích lũy trong các mô và tế bào Nồng độ 1,5-AG ở người trưởng thành khỏe mạnh có sự dao động rộng, theo nghiên cứu của Selvin tại Mỹ, nồng độ này dao động từ 8,4 - 28,7 àg/ml Nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy giới hạn tham chiếu khoảng 12 - 40 àg/ml, và theo nghiên cứu của Lương Quỳnh Hoa cũng cung cấp thông tin tương tự.

[3] thực hiện trên 218 người khỏe mạnh kết quả phân bố nồng độ 1,5-AG ở nam 12,04 - 42,5 àg/ml, nữ 8,79 - 33,7 àg/ml

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ giảm đáng kể so với nhóm tiền ĐTĐ và nhóm chứng khỏe mạnh, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Cụ thể, nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ là 6,6 ± 4,1 àg/ml, trong khi ở nhóm tiền ĐTĐ là 15,0 ± 2,67 àg/ml và nhóm người khỏe mạnh là 22,3 ± 5,5 àg/ml Kết quả này cho thấy sự giảm rõ rệt nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ so với hai nhóm còn lại.

Khi so sánh nồng độ 1,5-AG giữa các nhóm nghiên cứu theo giới, nhóm chứng cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nam (25,6 àg/ml) cao hơn nữ (18,9 àg/ml) với p=0,007 Sự khác biệt này có thể do tính chất sinh học và tỷ lệ bài tiết của thận giữa hai giới Tuy nhiên, ở nhóm tiền ĐTĐ và ĐTĐ, không có sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa nam và nữ (p > 0,05), có thể do nồng độ glucose tương đồng trong hai nhóm này, dẫn đến nồng độ 1,5-AG không khác biệt vì nó phụ thuộc vào nồng độ glucose và ngưỡng thận của glucose.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với một số nghiên cứu trước đây Cụ thể, nghiên cứu của T Yamanouchi [49] trên 1.620 đối tượng cho thấy nồng độ 1,5-AG lần lượt là 5,4 ± 5,1 àg/ml ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ, 14,8 ± 9,3 àg/ml ở nhóm tiền ĐTĐ, và 22,8 ± 8,0 àg/ml ở nhóm người khỏe mạnh Nghiên cứu của Malkan [33] cũng cho kết quả tương tự về nồng độ 1,5-AG.

Nồng độ 1,5-AG nhúm ở người khỏe mạnh thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, với giá trị AG nhúm ĐTĐ là 5,99 àg/ml và tiền ĐTĐ là 11,0 àg/ml Ngoài ra, không có sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa nam và nữ.

Nghiên cứu của Y Wang trên 1.170 đối tượng, bao gồm các nhóm dân số có nguy cơ cao với bệnh tiểu đường, cho thấy nồng độ 1,5-

Nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ, tiền ĐTĐ và nhóm chứng lần lượt là 6,1 ± 3,91 àg/ml, 13,43 ± 5,5 àg/ml và 23,07 ± 9,8 àg/ml Điểm khác biệt đáng chú ý là nồng độ 1,5-AG trung bình ở nam giới thấp hơn so với nữ giới Sự khác biệt này có thể do nồng độ glucose ở nam cao hơn và ngưỡng thận của glucose khác nhau giữa hai giới, ảnh hưởng đến khả năng tái hấp thu 1,5-AG, dẫn đến nồng độ chất này ở nam thấp hơn.

So với nghiên cứu của Pramodkumar [40] trên 210 đối tượng, nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ (7,9 àg/ml) và tiền ĐTĐ (18,0 àg/ml) cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Nghiên cứu của Chan [12] cũng cho thấy nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ (5,7 àg/ml) tương đương với kết quả của chúng tôi, nhưng nồng độ ở nhóm tiền ĐTĐ và nhóm người khỏe mạnh lại cao hơn Sự khác biệt này có thể do đặc điểm dân số và tiêu chuẩn phân loại nhóm bệnh khác nhau trong các nghiên cứu.

Nồng độ 1,5-AG ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Chil Chen Lu, với giá trị lần lượt là 4,02 ± 2,96 àg/ml và 5,03 ± 5,38 àg/ml theo tác giả Lương Quỳnh Hoa Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi đặc điểm dân số trong các nghiên cứu, trong đó bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi đã được chẩn đoán và điều trị nội trú, dẫn đến việc kiểm soát đường máu kém hơn và nồng độ 1,5-AG thấp hơn.

Bảng 4.23 Nồng độ 1,5-AG trên các nhóm nghiên cứu so với một số tác giả

Tỏc giả Nồng độ 1,5-AG (àg/ml)

Nhóm chứng Tiền ĐTĐ Nhóm ĐTĐ p

Nghiên cứu của chúng tôi 22,9 ± 5,51

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi khác nhau với p < 0,05 Tuy nhiên, không có mối tương quan tuyến tính nào giữa nồng độ 1,5-AG và phân bố nhóm tuổi Đặc biệt, trong nhóm tiền ĐTĐ, nồng độ 1,5-AG ở nhóm tuổi 60 trở lên cũng được ghi nhận.

Nghiên cứu cho thấy nồng độ 1,5-AG cao nhất ở nhóm tuổi 69 (16 àg/ml) và ở nhóm tuổi trên 70 (7,0 àg/ml) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Selvin, cho thấy sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa các nhóm tuổi, với mối tương quan nghịch giữa nồng độ 1,5-AG và tuổi Mặc dù nồng độ 1,5-AG thấp hơn ở người cao tuổi, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Ngược lại, nghiên cứu tại Mỹ không phát hiện sự khác biệt về nồng độ 1,5-AG giữa các nhóm tuổi khác nhau.

Nồng độ 1,5-AG trong huyết thanh giảm là dấu ấn quan trọng phản ánh sự biến động đường huyết trung bình trong 1-2 tuần trước đó Tuy nhiên, nồng độ này có thể thay đổi tùy thuộc vào ngưỡng thận của glucose ở từng bệnh nhân, do đó cần thận trọng khi sử dụng chỉ thị này cho những bệnh nhân có rối loạn chức năng thận.

MỐI LIÊN QUAN , TƯƠNG QUAN GIỮA 1,5- ANHYDROGLUCITOL VỚI GLUCOSE , A1 C

Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể về các chỉ số glucose, HbA1c và 1,5-AG giữa nhóm chứng, nhóm tiền đái tháo đường và nhóm đái tháo đường, với giá trị p cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

Nồng độ glucose và HbA1c có xu hướng tăng theo diễn tiến bệnh, trong khi nồng độ 1,5-AG lại giảm Cụ thể, nồng độ glucose và HbA1c ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ lần lượt là 8,6 mmol/L và 8,3%, cao hơn so với nhóm tiền ĐTĐ (6,1 mmol/L và 6,0%) và nhóm chứng Ngược lại, nồng độ 1,5-AG ở nhóm ĐTĐ (6,0 àg/ml) thấp hơn so với nhóm tiền ĐTĐ (15,9 àg/ml) và nhóm chứng Sự giảm nồng độ 1,5-AG có thể được giải thích bởi việc đường trong máu tăng cao, dẫn đến cạnh tranh tái hấp thu giữa glucose và 1,5-AG, khiến 1,5-AG bị bài tiết vào nước tiểu và nồng độ trong máu giảm Do đó, tình trạng tăng đường máu thường xuyên sẽ gây ra sự giảm nồng độ 1,5-AG trong máu.

4.3.2.Mối tương quan giữa 1,5-AG với glucose máu lúc đói và HbA1c

1,5-Anhydroglucitol là một loại đường có nguồn gốc từ thực phẩm, có cấu trúc tương tự như glucose Sự tương đồng này khiến glucose ức chế tái hấp thu 1,5-AG ở thận, do ống lượn gần có ái lực cao hơn với glucose Do đó, khi nồng độ glucose trong máu tăng, glucose và 1,5-AG sẽ cạnh tranh nhau trong quá trình tái hấp thu, dẫn đến mối quan hệ nghịch giữa nồng độ 1,5-AG và tình trạng tăng đường huyết.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa 1,5-

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 1,5-AG có mối tương quan mạnh với glucose máu lúc đói (r = -0,742) và HbA1c (r = -0,732) với p < 0,01 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của T Yamanuochi tại Nhật Bản, trong đó 1,5-AG cũng cho thấy mối tương quan chặt chẽ với glucose máu lúc đói (r = -0,627 và r = -0,629) trên 1.620 đối tượng.

Nghiên cứu của McGill và cộng sự (2004) trên 77 bệnh nhân ĐTĐ type 2 cho thấy 1,5-AG có mối tương quan nghịch chặt chẽ với HbA1c (r = -0,646; p < 0,001) Tương tự, nghiên cứu của Pramodkumar tại Ấn Độ với 280 đối tượng cũng chỉ ra rằng hệ số tương quan giữa 1,5-AG và HbA1c là r = -0,70.

Nghiên cứu của Y Wang và cộng sự cho thấy 1,5-AG có mối tương quan vừa với glucose (r = -0,47) và HbA1c (r = -0,516) Tương tự, nghiên cứu của Sun Jie cũng chỉ ra rằng 1,5-AG có tương quan vừa với glucose máu lúc đói (r = -0,434) và tương quan chặt chẽ với HbA1c (r = -0,687) Theo nghiên cứu của Lương Quỳnh Hoa, 1,5-AG có mối tương quan chặt chẽ với HbA1c (r = -0,616) nhưng chỉ có tương quan trung bình với glucose máu lúc nhập viện (r = -0,334) Sự khác biệt trong các kết quả này có thể do đặc điểm dân số đích khác nhau trong từng nghiên cứu.

Phân tích cho thấy 1,5-AG là chỉ thị hiệu quả để phản ánh nhanh chóng tình trạng tăng đường huyết Mối quan hệ giữa glucose máu và 1,5-AG là nghịch đảo: khi mức glucose trong máu tăng, 1,5-AG sẽ giảm và ngược lại.

Bảng 4.24 So sánh tương quan giữa 1,5-AG với glucose, HbA1c so với một số nghiên cứu

Tác giả Tương quan (r) giữa

Tương quan (r) giữa 1,5-AG với HbA1c p

Sun Jie và cộng sự (2011) [44] -0,434 -0,687 < 0,001

Nghiên cứu của chúng tôi -0,742 -0,732 < 0,001

Ngày đăng: 22/06/2023, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Văn Bình (2003), Dịch tễ học bệnh đái tháo đường - Các yếu tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực nội thành 4 thành phố lớn, Hội nội tiết đái tháo đường Việt Nam, Nhà xuất bản y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường - Các yếu tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực nội thành 4 thành phố lớn
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
Năm: 2003
2. Nguyễn Hữu Dũng (2014), Nghiên cứu tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2 trên bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Huế, tr 35-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2 trên bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Huế
Năm: 2014
3. Lương Quỳnh Hoa, Nguyễn Thị Tân (2019), "Khảo sát nồng độ 1,5- anhydroglucitol trong máu ở nhóm người trưởng thành khỏe mạnh và nhóm bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương", Tạp chí nội tiết đái tháo đường 35 (1), pp.305 - 312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nồng độ 1,5- anhydroglucitol trong máu ở nhóm người trưởng thành khỏe mạnh và nhóm bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Tác giả: Lương Quỳnh Hoa, Nguyễn Thị Tân
Nhà XB: Tạp chí nội tiết đái tháo đường
Năm: 2019
4. Hội nội tiết đái tháo đường Việt Nam (2018), Khuyến cáo trong chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường, NXB giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo trong chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường
Tác giả: Hội nội tiết đái tháo đường Việt Nam
Nhà XB: NXB giáo dục Hà Nội
Năm: 2018
5. Viên Quang Mai, Nguyễn Văn Đạt, Phạm Thị Phương Thuý, cộng sự (2017), "Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến rối loạn lipid máu ở người ≥ 45 tuổi bị đái tháo đường týp 2 và tiền đái tháo đường mới được phát hiện tại tỉnh Khánh Hòa", Tạp chí y học dự phòng, 27 (8), tr. 288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến rối loạn lipid máu ở người ≥ 45 tuổi bị đái tháo đường týp 2 và tiền đái tháo đường mới được phát hiện tại tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Viên Quang Mai, Nguyễn Văn Đạt, Phạm Thị Phương Thuý, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí y học dự phòng
Năm: 2017
7. Nguyễn Vũ Quỳnh Thi, Nguyễn Thị Nam Phương, Trần Đại Minh (2018), Nghiên cứu tình trạng tiền đái tháo đường chưa được chẩn đoán, Hội nội tiết đái tháo đường Việt Nam, NXB Y học Hà Nội.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng tiền đái tháo đường chưa được chẩn đoán
Tác giả: Nguyễn Vũ Quỳnh Thi, Nguyễn Thị Nam Phương, Trần Đại Minh
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2018
8. American Diabetes Association (2015), "Standards of medical care in diabetes- 2015 abridged for primary care providers", Clinical Diabetes, 33 (2), pp.97- 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Standards of medical care in diabetes- 2015 abridged for primary care providers
Tác giả: American Diabetes Association
Nhà XB: Clinical Diabetes
Năm: 2015
9. American Diabetes Association (2018), "Classification and Diagnosis of Diabetes: Standards of Medical Care in Diabetes-2018", Diabetes Care, 41 (1), pp.13-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Classification and Diagnosis of Diabetes: Standards of Medical Care in Diabetes-2018
Tác giả: American Diabetes Association
Nhà XB: Diabetes Care
Năm: 2018
10. Anna Maria Dabrowska, Jerzy s. Tarach, Kurowska M (2012), "1,5- Anhydroglucitol (1,5-AG) and its Usefulness in Clinical Practice", Medical and Bioglogical Sciences, 36 (3), pp.11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1,5- Anhydroglucitol (1,5-AG) and its Usefulness in Clinical Practice
Tác giả: Anna Maria Dabrowska, Jerzy S. Tarach, Kurowska M
Nhà XB: Medical and Biological Sciences
Năm: 2012
11. Ba Y, Wang M, Zhang K, Chen Q, Wang J, Lv H, et al. (2019), "Intestinal Absorption Profile of Three Polygala Oligosaccharide Esters in Polygalae Radix and the Effects of Other Components in Polygalae Radix on Their Absorption", Evid Based Complement Alternat Med, 2019 (2), pp.1379531 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intestinal Absorption Profile of Three Polygala Oligosaccharide Esters in Polygalae Radix and the Effects of Other Components in Polygalae Radix on Their Absorption
Tác giả: Ba Y, Wang M, Zhang K, Chen Q, Wang J, Lv H
Nhà XB: Evid Based Complement Alternat Med
Năm: 2019
12. Chan CL, Pyle L, Kelsey M, Newnes L, Zeitler PS, Nadeau KJ (2015), "Screening for type 2 diabetes and prediabetes in obese youth: evaluating alternate markers of glycemia - 1,5-anhydroglucitol, fructosamine, and glycated albumin", Pediatric Diabetes, 17 (3), pp.206-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Screening for type 2 diabetes and prediabetes in obese youth: evaluating alternate markers of glycemia - 1,5-anhydroglucitol, fructosamine, and glycated albumin
Tác giả: Chan CL, Pyle L, Kelsey M, Newnes L, Zeitler PS, Nadeau KJ
Nhà XB: Pediatric Diabetes
Năm: 2015
13. Chih Chen Lu, Hing Chung Lam, Chil Hsun Chu, Et al (2003), "1,5- Anhydroglucitol Levels in Type 2 Diabetic and Non-Diabetic Subjects in Southern Taiwan", Arq Bras Endocrinol Metab, 47 (6), pp. 711-715 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1,5- Anhydroglucitol Levels in Type 2 Diabetic and Non-Diabetic Subjects in Southern Taiwan
Tác giả: Chih Chen Lu, Hing Chung Lam, Chil Hsun Chu, Et al
Nhà XB: Arq Bras Endocrinol Metab
Năm: 2003
14. D.A. Robertson, K.G.M.M. Alberti, G.K.Dowse, P.Zimmet, Et al (1993), "Is serum Anhydroglucitol an alternative to the oral glucose tolerance test for Diabetes screening", Diabet Medicine, 10 (1), pp.56-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is serum Anhydroglucitol an alternative to the oral glucose tolerance test for Diabetes screening
Tác giả: D.A. Robertson, K.G.M.M. Alberti, G.K. Dowse, P. Zimmet, Et al
Nhà XB: Diabet Medicine
Năm: 1993
15. David B. Sacks, MB, CHB, Et al (2011), "A1C Versus Glucose Testing: A Comparison", Diabetes Care, 34 (2), pp. 518-523 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A1C Versus Glucose Testing: A Comparison
Tác giả: David B. Sacks, MB, CHB, Et al
Nhà XB: Diabetes Care
Năm: 2011
16. Dungan KM, Buse JB, Largay J, Kelly MM, Button EA, Kato S, et al. (2006), "1,5-anhydroglucitol and postprandial hyperglycemia as measured by continuous glucose monitoring system in moderately controlled patients with diabetes", Diabetes Care, 29 (6), pp.1214-1219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1,5-anhydroglucitol and postprandial hyperglycemia as measured by continuous glucose monitoring system in moderately controlled patients with diabetes
Tác giả: Dungan KM, Buse JB, Largay J, Kelly MM, Button EA, Kato S
Nhà XB: Diabetes Care
Năm: 2006
17. Eric A Button , Robert Scott Foster (2015), "Identification of pre-diabetes using acombination of mean glucose and 1,5 anhydroglucitol markers", Publication Classification 36 (1), pp.1479-1489 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Identification of pre-diabetes using acombination of mean glucose and 1,5 anhydroglucitol markers
Tác giả: Eric A Button, Robert Scott Foster
Nhà XB: Publication Classification
Năm: 2015
19. Herman W. H, Dungan K. M, Wolffenbuttel B. H, Buse J. B, Et al (2009), "Racial and ethnic differences in mean plasma glucose, HbA1c, 1,5- anhydroglucitol in over 2000 patients with type 2 diabetes", J Clin Endocrinol Metab, 94 (5), pp.1689- 1694 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Racial and ethnic differences in mean plasma glucose, HbA1c, 1,5- anhydroglucitol in over 2000 patients with type 2 diabetes
Tác giả: Herman W. H, Dungan K. M, Wolffenbuttel B. H, Buse J. B, Et al
Nhà XB: J Clin Endocrinol Metab
Năm: 2009
20. International Diabetes Federation (2019), IDF Diabetes Atlas, 9 th Edition International Diabetes Federation Sách, tạp chí
Tiêu đề: IDF Diabetes Atlas, 9 th Edition
Tác giả: International Diabetes Federation
Nhà XB: International Diabetes Federation
Năm: 2019
21. Janet B. McGill, Thomas. G. Cole, William Nowatzke, Et al (2004), "Circulating 1,5-Anhydroglucitol Levels in adult patients with diabetes reflect longitudinal change of glycemia", Diabetes Care 27 (8), pp.1859- 1865 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Circulating 1,5-Anhydroglucitol Levels in adult patients with diabetes reflect longitudinal change of glycemia
Tác giả: Janet B. McGill, Thomas G. Cole, William Nowatzke, Et al
Nhà XB: Diabetes Care
Năm: 2004
22. Januszewski Andrzej. S, Karschimkus Connie, David K. E, O'Neal D, Ward G, Jenkins A. J, et al. (2012), "Plasma 1,5 anhydroglucitol levels, a measure of short-term glycaemia: assay assessment and lower levels in diabetic vs.non-diabetic subjects", Diabetes Res Clin Pract, 95 (1), pp.17-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plasma 1,5 anhydroglucitol levels, a measure of short-term glycaemia: assay assessment and lower levels in diabetic vs.non-diabetic subjects
Tác giả: Januszewski Andrzej. S, Karschimkus Connie, David K. E, O'Neal D, Ward G, Jenkins A. J
Nhà XB: Diabetes Res Clin Pract
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w