Trong bối cảnh hiện nay, khi vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh ngày càng có sự liên hệ mật thiết, vấn đề xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ t
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN XUÂN THẮNG
CĂN CỨ ĐỊA BỜI LỜI - TÂY NINH TRONG
CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1945 – 1975)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8229013
LU N VĂN THẠC S
BÌNH DƯƠNG – 2022
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN XUÂN THẮNG
CĂN CỨ ĐỊA BỜI LỜI - TÂY NINH TRONG
CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1945 – 1975)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8229013
LU N VĂN THẠC S NGƯỜI HƯỚNG D N HOA HỌC
PGS.TS: HỒ SƠN ĐÀI
BÌNH DƯƠNG – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Sơn Đài Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn đảm bảo tính trung thực và được công bố đúng quy định, những trích dẫn trong luận văn đều được dẫn nguồn một cách rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa tùng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
rất nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, các cơ quan tổ chức, gia đình
và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn
chân thành nhất đến:
- Ban lãnh đạo và giáo viên Trường Trung học phổ thông Ngô Gia Tự
(huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh) đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
- Ban lãnh đạo, quý thầy cô Trường Đại học Thủ Dầu Một (Bình Dương),
Viện Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Thủ Dầu Một đã tận tình hướng dẫn,
cách thức trình bày và cách thức tiếp cận nguồn tư liệu, tài liệu để tôi hoàn thành
luận văn
- Ban lãnh đạo và cán bộ của các cơ quan: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tây
Ninh, Thư viện tỉnh Tây Ninh, Thư viện tỉnh Bình Dương; Sở Văn hóa – Thông
tin tỉnh Tây Ninh, bảo tàng tỉnh Tây Ninh, Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Tây Ninh
tại Bời Lời, Ban tuyên giáo Thị xã Trảng Bàng (Tây Ninh),… và các cơ quan,
đơn vị ở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi được tiếp cận các
nguồn tư liệu quý phục vụ quá trình nghiên cứu
- Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa
học - PGS TS Hồ Sơn Đài Thầy đã luôn quan tâm và tận tình góp ý, hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
- Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn động viên, giúp đỡ, là
động lực để tôi hoàn thành luận văn
Trân trọng!
Nguyễn Xuân Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢN ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN CĂN CỨ ĐỊA BỜI LỜI vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Tổng quan nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
5.1 Về mặt phương pháp luận 10
5.2 Về phương pháp chuyên ngành 10
6 Đóng góp của đề tài 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CĂN CỨ ĐỊA BỜI LỜI 13
1.1 Địa lý tự nhiên và hành chính vùng đất Bời Lời 13
1.2.1 Địa lý tự nhiên 13
1.1.2 Địa lý hành chính 15
1.2 Cư dân, truyền thống yêu nước và cách mạng 17
1.2.1 Cư dân 17
1.2.2 Truyền thống yêu nước và cách mạng 21
1.3 Đường lối xây dựng căn cứ địa, hậu phương cách mạng của Đảng 32
1.3.1 Đường lối xây dựng căn cứ địa của Đảng Cộng sản Việt Nam 32
Trang 61.3.2 Chủ trương xây dựng căn cứ địa của Đảng bộ Trảng Bàng (Tây Ninh)
40
* Tiểu kết chương 1 43
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CĂN CỨ ĐỊA BỜI LỜI (1945 – 1975) 44
2.1 Căn cứ địa Bời Lời trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) 44
2.1.1 Giai đoạn 1945 - 1946 44
2.1.2 Giai đoạn 1947 - 1950 50
2.1.3 Giai đoạn 1951 - 1954 60
2.2 Căn cứ địa Bời Lời trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) 68
2.2.1 Giai đoạn 1954 - 1960 68
2.2 2 Giai đoạn 1961 - 1965 73
2.2 3 Giai đoạn 1965 - 1968 78
2.2.4 Giai đoạn 1969 - 1972 85
2.2.5 Giai đoạn 1973 - 1975 90
* Tiểu kết chương 2 94
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ CỦA CĂN CỨ BỜI LỜI TRONG CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC 95
3.1 Đặc điểm 95
3.1.1 Phạm vi nhỏ nhưng án ngữ vị trí quan trọng trong hệ thống căn cứ địa của Tây Ninh và Sài Gòn – Gia Định 96
3.1.2 Xây dựng trên cơ sở tiếp nối truyền thống có từ trước Cách mạng tháng Tám 1945 98
3.1.3 Có nguồn hậu cần tại chỗ, đảm bảo được tự cung tự cấp cho các lực lượng kháng chiến trong căn cứ địa 100
3.1.4 Hệ thống công sự có cấu trúc tương đối hoàn chỉnh và đa dạng, địa hình thuận lợi cho hành động bám trụ chiến đấu bảo vệ căn cứ địa 103
3.2 Vai trò 106
3.2.1 Nơi đứng chân và hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan và lực lượng vũ trang kháng chiến 106
3.2.2 Là hậu phương tại chỗ, nơi nuôi dưỡng và tập kết lực lượng, hậu cần, kỹ thuật 109
3.2.3 Nơi bày thế trận tiêu diệt địch tại chỗ và là bàn đạp cho lực lượng vũ trang tiến công địch ngoài căn cứ 110 3.2.4 Là biểu tượng kháng chiến của nhân dân Trảng Bàng - Tây Ninh
Trang 7trong chiến tranh giải phóng 114
* Tiểu kết chương 3 118
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
PHỤ LỤC 139
Trang 903 Một số chiến khu lớn ở miền Đông Nam Bộ (1945 – 1954) 147
04 Một số căn cứ địa chính ở miền Đông Nam Bộ (1954 – 1975) 148
07 Cuộc hành quân Mastiff của Mỹ - ngụy đánh vào căn cứ địa
BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH
01 Các đơn vị và cá nhân được nhà nước phong tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân huyện Trảng Bàng 151
02
Danh sách các bà mẹ huyện Trảng Bàng được Chủ tịch nước
trao tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng,
huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
159
03 Một số hình ảnh hoạt động tại căn cứ địa Bời Lời trong chiến
04 Một số hình ảnh về Khu di tích Căn cứ Tỉnh ủy Tây Ninh tại
Bời Lời (huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh) hiện nay 170
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975), một trong những yếu tố căn bản làm nên chiến thắng trước những đội quân xâm lược lớn hơn là dân tộc Việt Nam đã biết xây dựng căn cứ địa – hậu phương vững mạnh nhằm xây dựng lực lượng, tạo thế đứng chân, chủ động tiến công đối phương
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn
kháng chiến phải có hậu phương” (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt
Trong điều kiện phải chống lại những kẻ thù xâm lược có nền công nghiệp
và khoa học kỹ thuật phát triển, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, chúng ta – một quốc gia đất không rộng, người không đông, có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu – cần có những sách lược phù hợp và hiệu quả, khi phải đối mặt với những
kẻ thù đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “…thắng lợi phải đi đôi với trường
kỳ, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa, hậu phương Vì vậy, nhất thiết phải xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa,…” (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 2002) Trên cơ sở lý
luận đó, căn cứ địa đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp miền Nam, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975)
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
có ba căn cứ địa lớn: căn cứ địa Trà Vông - Dương Minh Châu gồm khu vực hữu
Trang 11ngạn sông Sài Gòn chạy lên núi Bà Đen, sang vùng tả ngạn ở sông Vàm Cỏ Đông bao quanh Thành phố Tây Ninh về phía Đông và phía Bắc; căn cứ huyện Châu Thành gồm khu vực hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông chạy lên biên giới giáp tỉnh SvayRiêng (Campuchia) và căn cứ địa Bời Lời (Đảng bộ tỉnh Tây Ninh – Ban chấp hành Đảng bộ Thị xã Trảng Bàng, 2020)
Căn cứ địa Bời Lời là nơi bảo tồn và phát triển lực lượng kháng chiến, làm chỗ dựa cho các hoạt động chính trị, quân sự của lực lượng kháng chiến Đây còn
là địa bàn đứng chân, vành đai bảo vệ, tuyến giao thông liên lạc quan trọng của liên tỉnh miền Đông, của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Trung ương Cục và của Tỉnh ủy Tây Ninh Quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975) đã để lại nhiều bài học quý báu về sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, vận động và phát huy vai trò quần chúng cũng như trong vấn đề xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc hiện nay
Từ trước tới nay đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học về lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975) trên mảnh đất Tây Ninh Tuy nhiên, vấn đề căn cứ địa – hậu phương cách mạng vẫn còn một số nội dung cần phải tiếp tục được nghiên cứu, làm rõ hơn Trong bối cảnh hiện nay, khi vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh ngày càng có sự liên hệ mật thiết, vấn đề xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc trở thành một trong những nhiệm vụ chính trị trung tâm của lực lượng vũ trang (LLVT) các quân khu thì nghiên cứu vấn đề xây dựng hậu phương, xây dựng căn cứ địa trong quá khứ (trong đó có nghiên cứu về căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng) để rút ra những bài học kinh nghiệm, vận dụng vào hoàn cảnh lịch sử mới là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, luận văn góp phần làm rõ về quá trình xây dựng, bảo
vệ và phát triển của căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975); từ đó rút ra những đặc điểm, vai trò của căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng Mặt khác, luận văn còn chứng minh quân và dân Đôn Thuận nói riêng và Tây Ninh nói chung đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ
Trang 12trương của Trung ương Đảng về xây dựng căn cứ địa cách mạng nhằm tạo nơi đứng chân cho các cơ quan, chỉ đạo, chỉ huy, LLVT và nhân dân trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn góp phần bổ sung tư liệu về lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở Tây Ninh; đồng thời góp thêm một số kinh nghiệm trong nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc hiện nay trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng và khu vực Đông Nam Bộ nói chung Mặt khác, luận văn còn góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ của Tây Ninh nhằm nâng cao lòng tự hào dân tộc Ngoài ra, kết quả của luận văn có thể
sử dụng làm tài liệu cho giáo viên, học sinh trong các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông vận dụng nghiên cứu và giảng dạy lịch sử
Xuất phát từ những lý do trên và mong muốn khỏa lấp một phần vào khoảng trống trong vấn đề nghiên cứu căn cứ địa - hậu phương cách mạng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975),
tác giả chọn vấn đề “Căn cứ địa Bời Lời - Tây Ninh trong chiến tranh giải phóng
dân tộc (1945 – 1975)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ, chuyên ngành
- Góp phần cung cấp những luận cứ cho việc xây dựng và củng cố thế trận
an ninh – quốc phòng ở địa bàn tỉnh Tây Ninh trong tình hình mới
2.2 Mục tiêu cụ thể
Một là, biết được những yếu tố tác động đến quá trình hình thành và hoạt
động của căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng dân tộc
Hai là, hiểu được quá trình xây dựng, bảo vệ và hoạt động chức năng của
Trang 13căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975), góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ ở Tây Ninh hiện nay Đây là nội dung chính nên tác giải đặc biệt quan tâm trong quá trình thực hiện đề tài
Ba là, những đặc điểm, vai trò của căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh
giải phóng góp phần khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của quân dân Đôn Thuận trong quá trình vận dụng quan điểm, chủ trương về xây dựng, bảo vệ căn
cứ địa của Đảng trong thời kỳ chiến tranh giải phóng
Bốn là, bổ sung bài học kinh nghiệm trong nhiệm vụ xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc hiện nay trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng và khu vực Đông Nam Bộ nói chung, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới Tây Nam của Tổ quốc
3 Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Đề tài căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng (1945 – 1975) của nhân dân Việt Nam nói chung và ở Tây Ninh nói riêng từ trước tới nay đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của không ít các cơ quan, các nhà khoa học Những công trình, bài viết, luận án, luận văn,… đề cập tới vấn đề căn cứ địa ngày càng nhiều hơn, nội dung sâu sắc hơn Có thể kể ra một số công trình liên quan tới vấn đề này như:
Công trình Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó có mục “Xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng căn cứ địa,
hậu phương của chiến tranh nhân dân” (Viện khoa học quân sự, Hà Nội, 1974)
Ở công trình này, tác giả đã khái quát những đặc trưng cơ bản của căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng; phân tích và luận giải về vai trò của căn
cứ địa cách mạng Trong đó, nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết vấn đề xây dựng địa bàn đứng chân và tiềm lực kháng chiến, nếu không có đường lối đúng đắn để thực hiện vấn đề này thì không thể tiến hành chiến tranh cách mạng lâu dài nhằm đi đến thắng lợi Tác giả khẳng định chỗ đứng chân của cách mạng để tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh là cơ sở chính trị, căn cứ địa, hậu phương Đây là vấn đề quan trọng trong đường lối quân sự của Đảng Bên cạnh đó, tác giả cũng vạch ra quy luật hình thành và phát triển của cơ sở chính trị, căn cứ địa, hậu
Trang 14phương trong chiến tranh nhân dân ở nước ta là phải triệt để dựa vào nhân dân, đi
từ xây dựng cơ sở chính trị của quần chúng đến xây dựng căn cứ địa, hậu phương
từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn chỉnh
Tác phẩm Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam (Tập 1) của tác
giả Trường Chinh do Nhà xuất bản (Nxb) Sự thật, Hà Nội phát hành năm 1975
đã dành một mục nói về Chọn căn cứ địa (từ trang 319 đến trang 321), trong đó
xác định xác định căn cứ địa là nơi có địa thế hiểm yếu, vừa có lợi cho việc tiến công, vừa có lợi cho việc phòng ngự của lực lượng du kích Việc xây dựng căn
cứ địa gắn liền với xây dựng LLVT Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa là phải có sự ủng hộ, giúp
đỡ của đông đảo quần chúng nhân dân
Trong công trình Nghiên cứu văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước của Viện Mác – Lênin và Viện Lịch sử Quân sự – Bộ Quốc phòng, (Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986) có bài Vấn đề hậu phương – căn cứ địa và tuyến hậu cần
chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Ngô Vi Thiện Bài viết
phân tích chủ trương của Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, xây dựng căn cứ địa ở chiến trường miền Nam và tuyến
hậu cần vận tải – chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ
Bài viết của nhà nghiên cứu sử học Văn Tạo Căn cứ địa cách mạng –
truyền thống và hiện tại đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự số 43 năm 1995, phân
tích nội dung và bản chất của căn cứ địa cách mạng Trong đó, tác giả luận giải điều kiện hình thành căn cứ địa, tính chất dân tộc và cách mạng của căn cứ địa thể hiện trên các mặt: địa chính trị, địa quân sự, địa kinh tế, địa văn hóa; đặc điểm, vai trò của căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Nhìn chung, những công trình trên đã khái quát những điều kiện hình thành cũng như việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa; đồng thời luận giải, phân tích vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng Những vấn đề mang tính lý luận này sẽ trở thành tư tưởng chỉ đạo và “kim chỉ nam” cho quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng
Trang 15Vấn đề căn cứ địa cách mạng tiếp tục được đề cập cụ thể hơn trong một số công trình quan trọng mang tính chất tổng kết của Ban chỉ đạo Tổng kết chiến
tranh – trực thuộc Bộ Chính trị, đó là các công trình như: Tổng kết cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996); Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Thắng lợi và bài
học (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học (xuất bản lần thứ hai), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2015) Đây là những công trình tổng kết sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ, cứu nước Trong đó tập trung vào một số nội dung cơ bản và cốt yếu về đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng; những bài học kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình tiến hành chiến tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Ở các công trình này, vấn đề căn cứ địa được luận giải, phân tích dưới góc độ là một vấn đề lớn trong đường lối kháng chiến, vấn đề cốt tử trong chiến tranh cách mạng Đồng thời cũng làm rõ vai trò của căn cứ địa trong quá trình kháng chiến được: đó là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến, nơi xây dựng lực lượng cách mạng; là bàn đạp xuất phát của LLVT tiến công địch, nơi tiếp nhận mọi nguồn chi viện và khai thác tại chỗ ngày càng nhiều sức người sức của phục vụ cho nhu cầu chiến trường Bên cạnh đó, bài học cơ bản được các công trình luận giải khá sâu sắc là phải dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng và bảo vệ căn cứ vững mạnh
Công trình Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975) của
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997) nghiên cứu và đánh giá có tính chất hệ thống và khá toàn diện về quá trình xây dựng và phát huy vai trò của hậu phương với tư cách là hậu phương tại chỗ ở trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Công trình khẳng định hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam là một trong những nhân
tố quyết định đến thắng lợi của cách mạng, là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng và phát triển chiến
Trang 16tranh nhân dân trên khắp ba vùng chiến lược
Trên Tạp chí Phát triển Nhân lực số 3(29)-2012 có bài viết Căn cứ địa,
một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong 30 năm chiến tranh giải phóng của tác giả Trần Đơn, đã luận giải về vấn đề căn cứ địa; đồng thời
khái quát làm nổi bật vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng Việt Nam: đó là khu vực tập kết các cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến; nơi đứng chân và tổ chức chiến đấu, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy; nơi củng
cố và huấn luyện các LLVT cách mạng của toàn miền, khu và các địa phương; là đầu mối các hành lang chiến lược, là chỗ dựa tin cậy của các lực lượng kháng chiến, nơi bảo đảm một phần quan trọng tiềm lực của cuộc kháng chiến; là chỗ dựa, nơi bày thế trận tiêu diệt đối phương tại chỗ; đồng thời làm nơi xuất phát, bàn đạp cho các lực lượng kháng chiến tiến công địch ngoài căn cứ…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học về đường lối cách mạng của Đảng; luận giải làm rõ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn xây dựng, bảo vệ căn cứ địa; làm sáng tỏ bao gồm: xây dựng căn cứ địa là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của chiến tranh nhân dân; địa bàn được lựa chọn để xây dựng căn cứ phải đảm bảo thế tiến công và phòng ngự của LLVT; quy luật xây dựng căn cứ là phải dựa vào nhân dân; vai trò của căn cứ địa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ: địa bàn đứng chân của lực lượng kháng chiến, bàn đạp xuất phát tiến công địch của LLVT, hậu phương tại chỗ của chiến tranh nhân dân, đồng thời đúc rút được một
số bài học kinh nghiệm về xây dựng căn cứ địa Tuy vậy, do đối tượng nghiên cứu của các công trình nêu trên là những vấn đề chung nhất của đường lối kháng chiến nên chưa đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống về căn cứ địa với nhiều sắc thái riêng biệt của nó và càng chưa thể đề cập sâu về căn cứ địa ở một địa bàn cụ thể Dù vậy, những vấn đề mang tính lý luận trên đây sẽ là cơ sở cho việc hoạch định đường lối kháng chiến và thực tiễn chỉ đạo hoạt động xây dựng, bảo vệ, phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
Trên địa bàn Đông Nam Bộ (ĐNB), vấn đề căn cứ địa cũng nhận được quan tâm, nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu, luận án Tiến sĩ Lịch sử:
Trang 17Tác giả Hồ Sơn Đài với công trình Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945
– 1954), (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1996) nghiên cứu quá trình xây dựng,
đặc điểm phát triển và luận giải vai trò quan trọng của các chiến khu đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn miền ĐNB Bên cạnh đó, luận án
phó tiến sĩ khoa học Lịch sử Căn cứ địa kháng chiến chống thực dân Pháp ở
miền Đông Nam Bộ (1945-1954) (Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí
Minh, 1995) của tác giả Hồ Sơn Đài cũng làm rõ vấn đề căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn các tỉnh miền ĐNB Sau ngày Nam Bộ kháng chiến (ngày 23/9/1945), nhiều căn cứ địa được xây dựng như An Phú Đông (Gia Định), Rừng Sác (Gia Định, Chợ Lớn), Vườn Thơm (Chợ Lớn), Tân Uyên ( Biên Hòa, Thủ Dầu Một), Đồng Tháp Mười (Tân An), Minh Đạm (Bà Rịa), Trà Vông (Tây Ninh), Tại đây, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ,
Bộ Tư lệnh Quân Khu 7, Khu 8 và Tỉnh ủy các tỉnh, nhân dân miền ĐNB không ngừng xây dựng căn cứ địa vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu cung cấp về nhân lực và vật lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi
Luận án Tiến sĩ Lịch sử Căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) của Trần Thị Nhung (Viện Khoa học Xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) đã đi sâu khảo cứu khá công phu về tổ chức và hoạt động của các căn cứ địa ở miền ĐNB trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) Trong luận án, tác giả đã đề cập tới chủ trương tái lập và xây dựng các căn
cứ địa ở các tỉnh miền ĐNB để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Trung ương Đảng ngay sau Hiệp định Genève 1954 Đến tháng 12/1956, hai căn cứ Đông Bắc (Chiến khu Đ) và căn cứ Tây Bắc (Chiến khu Dương Minh Châu) được tái lập Đây là nơi làm việc của Đảng ủy Quân sự miền Đông (1958), Xứ ủy Nam Bộ (1960), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), Trung ương Cục, Ban Quân sự Miền (sau đổi thành Bộ chỉ huy Miền) và các đơn vị chủ lực của B2 Căn cứ địa miền ĐNB là trung tâm chính trị của cuộc kháng chiến ở miền Nam, nơi diễn ra các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng nhất và nhiều hoạt động chính trị lớn khác của cách mạng miền Nam
Riêng ở Tây Ninh, những công trình, bài viết chuyên sâu về đề tài căn cứ
Trang 18địa (nhất là căn cứ địa Bời Lời) cũng nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, các học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử,… Năm 2002, công trình:
“Căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh trong chiến tranh giải phóng (1945-1975)”
của Bộ tư lệnh Quân Khu 7 – Tỉnh ủy Tây Ninh (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002) được xuất bản, tập hợp những bài viết của nhiều tác giả về quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Đến năm 2020, sau những nỗ lực, Đảng
bộ tỉnh Tây Ninh – Ban chấp hành Đảng bộ Thị xã Trảng Bàng cho ra đời công
trình “Bời Lời – căn cứ địa huyền thoại”, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí
Minh, 2020) tập hợp những bài nghiên cứu chuyên sâu, những bài ghi chép từ lời
kể của các nhân chứng sống về quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ, các hoạt động đấu tranh vũ trang, chính trị, binh vận, các hoạt động văn hóa, y tế… tại căn
cứ địa Bời Lời
Nhìn chung, các công trình trên bằng nhiều cách tiếp cận, phân tích và luận giải khác nhau đã làm rõ những nội dung thuộc về, hoặc liên quan đến căn
cứ địa cách mạng như: bối cảnh ra đời; sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với sự thành lập và hoạt động của các căn cứ địa cách mạng; cuộc đấu tranh bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; đặc điểm của các căn cứ địa; những bài học kinh nghiệm được rút ra và vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu về căn cứ địa Bời Lời - Tây Ninh trong cuộc chiến tranh giải phóng (1945 – 1975) một cách toàn diện và có hệ thống
Dù vậy, việc nghiên cứu những công trình kể trên giúp tác giả có điều kiện
kế thừa về mặt phương pháp luận trong nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng Hơn nữa, đây cũng là một hệ thống tư liệu quý để tác giả tham khảo, khai thác,
và bổ sung rất hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn Từ đó, luận văn sẽ tiếp tục quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn để đưa ra những nhận định, đánh giá về căn cứ địa Bời Lời trong cuộc chiến tranh giải phóng, đồng thời rút
ra một số bài học kinh nghiệm trong vấn đề xây dựng thế trận quốc phòng toàn
Trang 19dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc trong tình hình mới hiện nay trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng và khu vực ĐNB nói chung
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là căn cứ địa Bời Lời Cụ thể là nghiên cứu quá trình xây dựng, bảo vệ, các hoạt động của căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng, từ đó rút ra những đặc điểm và đánh giá vai trò của căn cứ Bời Lời đối với tiến trình chung của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ khi thực dân
Pháp nổ súng xâm lược nước ta lần thứ hai (23/9/1945) đến khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975) Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, phạm vi thời gian của đề tài có đề cập tới một số sự kiện hay vấn đề lịch sử diễn ra trong khoảng thời gian trước năm 1945
Về không gian, chủ yếu là vùng đất Trảng Bàng (Tây Ninh), nơi có căn cứ
địa Bời Lời Tuy nhiên, để có những cách nhìn và đánh giá toàn diện, trong quá trình nghiên cứu, trong một số thời điểm, luận văn có thể mở rộng không gian ra khỏi địa bàn hành chính của Thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Về mặt phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh cũng như những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và căn cứ địa để làm cơ sở nghiên cứu, xem xét, đánh giá các sự kiện, vấn đề lịch sử
Trang 20cách chân thực như nó từng có
Phương pháp nghiên cứu logic được sử dụng để nghiên cứu những sự kiện
và tư liệu lịch sử trong giai đoạn điển hình nhằm nghiên cứu, vạch ra bản chất , cách thức, biện pháp xây dựng, bảo vệ và các chức năng hoạt động của căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như so sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích, tổng hợp, điền dã… , phương pháp liên ngành, kế thừa thành quả của các bộ môn khoa học khác như địa lý quân sự, khoa học quân sự, chính trị học, đồ bản, để nghiên cứu tổng quát các vấn đề nội dung luận văn
6 Đóng góp của đề tài
Một là, luận văn góp phần làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình hình
thành và hoạt động của căn cứ địa Bời Lời, từ đó phân tích làm rõ quá trình xây dựng, bảo vệ và hoạt động chức năng của căn cứ địa Bời Lời trong chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975)
Hai là, luận văn đánh giá một cách tương đối khách quan về đặc điểm, vai
trò của căn cứ địa Bời Lời trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Từ đó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của quân dân Trảng Bàng trong quá trình vận dụng quan điểm, chủ trương về xây dựng, bảo vệ căn cứ địa của Đảng trong thời
kỳ chiến tranh giải phóng
Ba là, luận văn tập hợp, giới thiệu nguồn tư liệu có độ tin cậy cao về vấn
đề căn cứ địa ở Bời Lời nói riêng và vùng ĐNB nói chung, phục vụ cho việc tham khảo, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử
Bốn là, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giáo dục truyền thống
cách mạng cho thế hệ trẻ ở Tây Ninh hiện nay Những bài học kinh nghiệm rút ra
từ luận văn góp phần vào việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc hiện nay trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng và khu vực Đông Nam Bộ nói chung trong tình hình mới
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu (12 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (8
Trang 21trang), Phụ lục (28 trang), nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương
Trang 22CHƯƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CĂN CỨ ĐỊA BỜI LỜI
1.1 Địa lý tự nhiên và hành chính vùng đất Bời Lời
1.2.1 Địa lý tự nhiên
Bời Lời là vùng đất thuộc xã Đôn Thuận (Thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh), nằm về hướng Đông Bắc của Thị xã Trảng Bàng, giới hạn trong phạm vi kinh độ, vĩ độ địa lý: từ 106021' đến 106026' kinh độ Đông và từ 10002' đến
11008' vĩ độ Bắc, gồm có 6 ấp (Bà Nhã, Bến Kinh, Sóc Lào, Thuận Tâm, Trảng
Cỏ, Trảng Sa), tiếp giáp ranh giới với các đơn vị hành chính sau:
- Phía Đông: giáp xã Hưng Thuận và tỉnh Bình Dương
- Phía Tây: giáp xã Phước Đông, xã Bàu Đồn của huyện Gò Dầu
- Phía Nam: giáp phường Lộc Hưng, phường Gia Lộc, xã Hưng Thuận
- Phía Bắc: giáp tỉnh Bình Dương và xã Bến Củi của huyện Dương Minh Châu
Với diện tích khoảng 58,58 km2, dân số 12.332 người1, mật độ dân số khoảng 207 người/km2
, xã Đôn Thuận cách trung tâm Thị xã Trảng Bàng khoảng 21km, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi Đường thủy có sông Sài Gòn nằm cặp về hướng Đông của xã, từ Cầu Tàu (Dầu Tiếng) đến Bùng Binh dài 13km là con đường thuỷ giao lưu kinh tế từ các tỉnh miền Tây lên miền Đông Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, con sông này trở thành đường vận chuyển chiến lược của cả ta và địch Đoạn sông từ Bùng Binh lên Cầu Tàu (Dầu Tiếng) uốn khúc, sầm uất có nhiều địa thế chiến đấu, quân dân xã Đôn Thuận cùng với quân dân các xã bạn bằng nhiều cách đánh mưu trí linh hoạt đã nhận chìm tàu chiến của giặc
Về đường bộ, xã có các đường bộ chính: lộ 6 nối liền với trung tâm Thị xã Trảng Bàng; lộ 15 đi qua trung tâm xã, hướng Tây Bắc của xã có lộ 19 từ ngã ba Bàu Đồn xuyên rừng lên Bà Nhã giáp lộ 15; phía Bắc của xã có lộ 26 từ ngã ba
1
Theo số liệu của Chi cục thống kê Thị xã Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh) ngày 12/01/2021
Trang 23Đất Sét đến Cầu Tàu (Dầu Tiếng) Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa hàng ngàn dân di cư từ miền Bắc vào lập khu dinh điền ở ấp Trảng Sa, chúng đắp một con lộ sỏi từ Suối Bà Tươi về rừng Trảng Sa Năm 1969, để thực hiện kế hoạch ủi rừng, phá căn cứ Bời Lời, giặc Mỹ đắp một con lộ sỏi từ ngã ba cầu Xe qua Trảng Cỏ, gọi là lộ 15 cụt, từ đó, Mỹ - ngụy tạo được thế giao thông trong toàn xã rất cơ động (Ban chấp hành Đảng bộ xã Đôn Thuận, 2017)
Khí hậu Đôn Thuận được hình thành từ tác động luân phiên của các khối khí của lục địa châu Á và khối khí của Thái Bình Dương từ vịnh Thái Lan sang biển Đông Do cường độ và phạm vi hoạt động của các khối không khí nói trên chuyển động theo mùa, cho nên khí hậu xã Đôn Thuận được chia thành hai mùa
rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, hay còn gọi là thời kì “gió mùa mùa hạ”, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, hay còn gọi là thời kì “gió mùa mùa đông” Ở Đôn Thuận không có khái niệm bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông như miền Bắc Việt Nam mà nhìn chung ổn định
Mùa mưa của Đôn Thuận trùng với gió mùa tây - nam Lượng mưa hàng năm trung bình đạt 1.800 đến 2.200 mm Mưa phân bố không đều, có khi rất lớn
và liên tục, có khi lác đác và đôi khi có mưa ngay trong mùa khô và trong ngày Tết Nhìn chung vùng đất Đôn Thuận có chế độ nhiệt đới gió mùa, thể hiện rất rõ giữa mùa mưa và mùa khô, được xem là xứ “nóng ẩm mưa nhiều” và hầu như không có rét lạnh hay bão, lũ Phong cảnh cao ráo, hanh khô của Đôn Thuận rất đặc trưng cho vùng đất ĐNB, đặc biệt với điều kiện nắng ẩm mưa nhiều (độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 70 – 86%), cho nên Đôn Thuận có nguồn động thực vật vô cùng phong phú, là nguồn cung cấp chính về gỗ và đặc sản thú rừng như nai, cheo, hổ, heo rừng, ong, dầu rái, mù u,… cho nhân dân trong vùng
Địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là ruộng lúa, độ dốc hầu hết nhỏ hơn 80, có vùng phân bố trầm tích phù sa cổ, nền móng tương đối vững Địa hình của xã Đôn Thuận mang đậm vùng đồng bằng ĐNB, là điểm tiếp nối giữa miền cao nguyên và miền duyên hải theo hướng nghiêng dần từ đông - bắc xuống tây - nam Độ cao trung bình của toàn thị xã từ 3m đến 9m so với mặt biển và không
Trang 24có ngọn núi nào Vì vậy nên rất phù hợp với nhiều loại cây trồng như: mía, mì, lúa và những loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như: Cao su, đậu phộng, tiêu, điều và hoa màu các loại; đồng thời còn thuận lợi cho việc xây dựng các công trình như: giao thông, công nghiệp, các ngành phụ trợ phát triển nông nghiệp
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xã Đôn Thuận có rừng rậm liên hoàn từ Củ Chi đến chiến khu Dương Minh Châu Xã Đôn Thuận nằm trong khu “Tam giác sắt”2
(Trảng Bàng - Bến Cát - Củ Chi thuộc Tây Ninh, Bình Dương và Sài Gòn), có rừng Bời Lời là căn cứ địa cách mạng, tiến công thuận lợi, phòng thủ vững chắc, có hành lang quần chúng rất đông để bảo vệ, cách trung tâm Sài Gòn 40km theo đường chim bay, do đó, xã Đôn Thuận là địa bàn chiến lược, nơi trú đóng của Xứ uỷ, Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Đông, Tỉnh uỷ Tây Ninh , Huyện uỷ Trảng Bàng, Đặc khu Sài Gòn - Gia Định, nên kẻ thù đánh phá ác liệt, xem nơi đây là vùng tự do bắn phá, rải chất độc hoá học huỷ diệt rừng để biến xã Đôn Thuận thành vùng trắng Trước sự đánh phá của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trảng Bàng, trực tiếp
là Đảng bộ xã, quân dân trong xã vượt qua mọi hy sinh gian khổ, kiên cường bám trụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu bẻ gãy mọi cuộc càn quét của địch, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân trong huyện
1.1.2 Địa lý hành chính
Trong bối cảnh chung của Nam Bộ trước thế kỷ XVII, vùng đất Bời Lời nói riêng và Tây Ninh nói chung vẫn còn là vùng đất hoang vu, chưa được khai thác nhiều, có nhiều rừng rậm và thú dữ dân cư còn rất thưa thớt, thậm chí là
hoang vắng bóng người Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Minh: “Tây Ninh vốn là
một vùng đất hoang vu, với tên gọi là Romdum Ray (Chuồng Voi) Nơi này vốn
xưa kia chỉ có rừng rậm là nơi cư ngụ của các loài thú dữ như: voi, cọp, hổ, rắn….” (Huỳnh Minh, 2001)
Trải qua bao thăng trầm và biến đổi của lịch sử, tên gọi và địa giới của
2
Tên gọi do giới quân sự Mỹ đặt Theo sách “Lịch sử Miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1954-1975)”, thì: “Trên bản đồ vùng đất mà địch gọi là “Tam giác sắt” là một vùng hình tam giác với các đỉnh là thị tứ Bến Súc (thuộc xã Thanh Tuyền), thị trấn Bến Cát và ngã ba sông Thị Tính gặp sông Sài Gòn, cách Sài Gòn 20-30 km về hướng Tây Bắc” (Xem: Hồ Sơn Đài - chủ biên, 2011, tr.554)
Trang 25Trảng Bàng nhiều lần thay đổi Năm 1808, dưới thời vua Gia Long, tại vùng đất Tây Ninh, Trảng Bàng thuộc đạo Quang Hóa Theo đó về mặt hành chính, một phần đất của huyện nằm trong tổng Bình Cách (sau tách đổi thành Bình Cách Trung), huyện Thuận An, phủ Tân An và một phần thuộc tổng Dương Hòa Trung, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, cả hai phủ đều thuộc trấn Phiên An Sau năm 1833, triều đình Huế thành lập “Nam Kì lục tỉnh”, trấn Phiên An đổi
thành tỉnh Gia Định (Vương Công Đức, 2016) Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính
Thân, 1836), chuẩn tấu lời tâu của đình thần Trương Minh Giảng và Trương
Đăng Quế, vua Minh Mạng cho “đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định Đổi
An - Biên tổng đốc làm Định - Biên Tổng Đốc…đặt thêm phủ Tây Ninh, lãnh 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007)
Năm 1867, Pháp xâm chiếm Nam Kì và chia Nam Kì lục tỉnh thành 24 khu (hạt) thanh tra sau đổi thành khu tham biện Tây Ninh có khu tham biện Tây Ninh và khu tham biện Quang Hóa Đến năm 1872, Pháp bỏ 24 khu tham biện, thành lập 18 khu hành chính và sau bỏ luôn khu hành chính, thành lập hạt Tây Ninh trên địa phận tỉnh Tây Ninh ngày nay Hạt Tây Ninh bao gồm 2 quận: Thái Bình (huyện Tân Ninh cũ) và Trảng Bàng (Quang Hóa cũ) Năm 1897, làng Đôn Thuận thuộc tổng Hàm Ninh Thượng, quận Thái Bình (Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2006), đến năm 1942, quận Thái Bình đổi tên là quận Châu Thành Đến năm 1957, xã Đôn Thuận thuộc tổng Hàm Ninh Hạ, quận Trảng Bàng
Về phía chính quyền cách mạng, trước tình hình địch ráo riết thực hiện chính sách bao vây ta về mọi mặt, năm 1951 Trung ương Cục miền Nam quyết định bố trí lại chiến trường, bố trí lại lực lượng, toàn Nam bộ lấy sông Tiền làm ranh giới chia thành hai phân liên khu: Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây
Thực hiện chủ trương của cấp trên, tỉnh Tây Ninh với 2 huyện Đức Hoà Thành, Trung Huyện của tỉnh Chợ Lớn và 2 huyện Gò Vấp, Hóc Môn của tỉnh Gia Định sáp nhập lại thành tỉnh Gia Định Ninh Đồng thời một số xã trong tỉnh Tây Ninh cũng sáp nhập lại thành liên xã, trong đó hai xã Đôn Thuận và Thuận Lợi sáp nhập thành xã Đôn Thuận Lợi Đến năm 1954, xã Đôn Thuận Lợi được
Trang 26tách ra, xã Đôn Thuận thuộc huyện Trảng Bàng
Tháng 10/1967, huyện Trảng Bàng được sát nhập vào Phân khu I để thuận tiện cho chỉ đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mâu Thân năm 1968 (Ban chấp hành huyện Đảng bộ Trảng Bàng, 1997) Sau năm 1975, Chính quyền Sài Gòn sụp đổ, tỉnh Hậu Nghĩa giải thể, quận Trảng Bàng đổi thành huyện Trảng Bàng và sáp nhập trở lại tỉnh Tây Ninh Thời điểm đó, Trảng Bàng có 1 thị trấn
và 9 xã (thị xã Trảng Bàng và các xã: An Hòa, An Tịnh, Bình Thạnh, Đôn Thuận, Gia Bình, Gia Lộc, Lộc Hưng, Phước Chỉ, Phước Lưu)
Ngày 12/01/2004, trước yêu cầu mới, xã Đôn Thuận được quyết định chia làm hai xã: Đôn Thuận và Hưng Thuận (thành lập xã Hưng Thuận trên cơ sở 1.681 ha diện tích tự nhiên và 2.636 người của xã Lộc Hưng; 2.606 ha diện tích
tự nhiên và 6.281 người của xã Đôn Thuận)
Ngày 10/01/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 865/NQ-UBTVQH14 (có hiệu lực từ ngày 01/02/2020) Theo đó: Thành lập Thị
xã Trảng Bàng trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Trảng Bàng, xã Đôn Thuận trực thuộc địa phận của Thị xã Trảng Bàng như hiện nay
1.2 Cư dân, truyền thống yêu nước và cách mạng
1.2.1 Cư dân
Giữa thế kỷ XVII, Trịnh - Nguyễn phân ranh, nội chiến kéo dài gần nửa thế kỷ (1627 - 1672) làm cho đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ, một số đồng bào miền Trung rời bỏ quê hương đi dần vào Nam, đến Cần Giờ, Bến Nghé làm
ăn sinh sống Sau đó, có một chiếc tàu lớn do Chánh Tòng, Thống lãnh sự Việt Ngạn chỉ huy cùng lực lượng khoảng 50 người theo sông Sài Gòn đi dần lên phía Bắc, lòng sông chật hẹp, cây cối um tùm, đoàn người phải vất vả vừa đi, vừa dọn dẹp, dần dần tàu cũng đến được Bùng Binh, xây dựng doanh trại bắt đầu cuộc sống mới (Ban chấp hành Đảng bộ xã Đôn Thuận, 2017)
Những cuộc di dân của người Việt đến định cư tại các triền sông Quang Hóa, sông Tân Bình được sử liệu của triều Nguyễn ghi chép lại Theo Lê Quý
Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục, khoảng năm 1776 chỉ trên hai bờ sông Quang Hóa,
triều đình nhà Nguyễn đã bố trí đến 720 lính biền binh, chia làm 25 “thuyền” để
Trang 27bảo vệ cư dân người Việt và vùng biên giới với Chân Lạp Một số không nhỏ lính biền binh này về sau đã định cư tại huyện Quang Hóa (Viện Sử học, 2007)
Trong buổi đầu của tiến trình khai phá và lập nghiệp ở Trảng Bàng, những lớp cư dân mới người Việt chủ yếu từ vùng Thuận Quảng vào, đa phần là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ Ngoài ra còn có những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, người Hoa tị nạn chính trị,… Họ rời bỏ “nơi chôn nhau cắt rốn” để phiêu bạt
về đây với nhiều mục đích khác nhau
Vùng đất Đôn Thuận thuở ấy còn có cư dân người Khmer ở tại xóm Bưng; người Lào ở Ngã ba (ngày nay còn gọi là ngã ba Sóc Lào); người Khmer ở Bến Kinh, Bà Nhã Họ chuyên sống bằng săn bắn thú rừng, làm rẫy, trĩa lúa, nhưng với lối sông du canh, du cư nên sau vụ mùa họ lại tìm đến nơi khác canh tác Cứ như thế, họ lần lần tiến về phía Bắc để sinh sống Đến cuối thế kỷ XVIII, đã có nhiều người Việt, người Hoa và người Cao Miên đến định cư và sinh sống ở
thượng nguồn sông Quang Hóa Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí
có ghi chép việc này như sau: “Sông Quang Hóa ở thượng lưu sông Thuận An,
cách trấn lị về phía tây 160 dặm rưỡi, thủ sở ở bờ bắc sông lớn, người Kinh, người Trung Hoa, người Cao Miên ở lẫn lộn với nhau để làm ăn, có tuần ti thu lấy cước thuế đồn, phòng giữ biên giới…” (Trịnh Hoài Đức, 1998) Sách của
Trịnh Hoài Đức không nói rõ là việc làm ăn, buôn bán nói trên đã bắt đầu từ năm nào Vì sách được dâng vua Minh Mạng vào năm 1820 nên có thể khẳng định là việc này đã diễn ra ít nhất cũng vài mươi năm trước đó, tức khoảng cuối thế kỷ XVIII
Nhìn chung, dù là người miền Trung vào hay từ Trung Hoa sang, thì những lưu dân này đều gần như có chung cảnh ngộ - vì nghèo khổ và là nạn nhân của sự bóc lột, của sự tranh chấp quyền lực đẫm máu giữa các tập đoàn phong kiến đương thời - mà phải phiêu dạt nơi đất khách quê người, tạo cơ sở cho
những lưu dân “đối xử với nhau thân ái, bình đẳng, sẵn sàng giúp đỡ nhau khắc
phục những khó khăn trong cuộc sống ở một vùng đất mới xa lạ và nhiều gian khổ” (Huỳnh Lứa, 1987) Từ đó, hình thành nên rất nhiều đức tính cao đẹp như
Trang 28giàu lòng trọng nghĩa khinh tài, thủy chung, chan hòa, đùm bọc trong quan hệ xóm làng, cương trực, thẳng thắn, hiếu khách, không sợ khó sợ khổ,… Đây chính
là nét đặc trưng tiêu biểu trong tính cách của những người khai hoang, mở đất vùng Đôn Thuận nói riêng và Nam Bộ nói chung
Xét về thành phần dân cư, trên địa phận thị xã Trảng Bàng hiện nay, bên cạnh một số ít tộc người khác lập nghiệp, sinh sống thì cộng đồng dân cư chủ yếu
ở đây là người Việt Tuy có đặc điểm là vùng dân cư hỗn hợp, nhưng quan hệ đoàn kết gắn bó giữa các tộc người ở đây đã tạo nên sức mạnh cho công cuộc khai hoang để cùng tồn tại và phát triển Đặc biệt, trong đó người Việt trên con đường vạn dặm xây đắp một quốc gia lãnh thổ thống nhất từ Bắc vào Nam luôn giữ vững và phát huy ý thức thống nhất dân tộc, coi đó là một nhân tố của sự
Thiên Chúa giáo có mặt ở Trảng Bàng đầu thế kỷ XIX và có ảnh hưởng rất lớn tới vùng đất Bời Lời Các linh mục bị triều đình Huế truy nã phải lánh vào miền Nam Họ tìm đến vùng đất Tha La quy tụ một số đồng bào ở Lò Mo (khu phố An Quới) và Trường Đà (An Lợi), lập nên họ đạo Tha La Khi Pháp chiếm Tây Ninh (1861), họ đạo Tha La phát triển mạnh Họ đã cử nhiều linh mục đi nhiều nơi trong tỉnh để thành lập các họ đạo khác Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược, Pháp, Mỹ và tay sai đã sử dụng một số linh mục làm tuyên úy công giáo, lôi kéo một bộ phận giáo dân hoạt động chống phá cách mạng, gây không ít khó khăn cho nhân dân, cho cách mạng Nhưng tín đồ Thiên chúa giáo đa số là
Trang 29dân lao động bị áp bức bóc lột, căm thù giặc sâu sắc Nhiều tín đồ và một số linh mục yêu nước cùng với nhân dân địa phương giúp đỡ cán bộ, ủng hộ cách mạng
và trực tiếp tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và xây dựng đất nước hiện nay
Đạo Cao Đài ra đời từ năm 1926, tại Gò Kén (Hòa Thành), do một số viên chức, quan lại, địa chủ đứng ra thành lập và được truyền bá đến vùng đất Đôn Thuận vài năm sau đó Ở đây, Tín đồ đạo Cao Đài sống tập trung chủ yếu ở, Bùng Binh Trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975), một bộ phận chức sắc và tín đồ Cao Đài bị địch mua chuộc, đã có những hoạt động chống phá cách mạng, chống lại nhân dân (Ban chấp hành huyện Đảng bộ Trảng Bàng (1997) Nhưng đa số quần chúng tín đồ đều thấy rõ âm mưu của kẻ thù, gắn bó với cách mạng, tham gia kháng chiến chống xâm lược, lao động để xây dựng và bảo vệ đất nước
Tóm lại, tuy thành phần dân cư và tôn giáo ở vùng đất Bời Lời nói riêng
và Trảng Bàng nói chung khá đa dạng, nhưng những lớp cư dân quần tụ về đây đều có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của lịch sử và góp phần làm phong phú thêm văn hóa của vùng đất Trảng Bàng trung dũng, kiên cường
Xuất phát từ những đặc điểm tự nhiên, lịch sử và xã hội nêu trên, trong thời kỳ chiến tranh giải phóng, Bời Lời có vị trí đặc biệt quan trọng để xây dựng căn cứ địa cách mạng Nằm trên địa bàn của huyện Trảng Bàng (ở vào địa thế chốt chặn cửa ngõ Sài Gòn) căn cứ Bời Lời tiến công thuận lợi, phòng thủ vững chắc, có hành lang quần chúng rất đông trực diện với kẻ thù, cách trung tâm Sài Gòn khoảng 45km tính theo đường chim bay Ở trong thế tam giác giữa Đức Hòa, Hóc Môn, Thủ Dầu Một, một khu vực đông dân cư, đã có phong trào cách mạng từ trước nên căn cứ địa Bời Lời có sự tác động chặt chẽ, trực tiếp của khu vực này Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, từ căn cứ địa Bời Lời đã cung cấp sức người, sức của cho Tỉnh và Khu, cung cấp phần lớn cán
bộ cho Khu và nhiều cán bộ cho Thành phố Hồ Chí Minh
Trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975), căn cứ Bời Lời
là địa bàn đứng chân của quân ta, là trọng điểm đánh phá của địch và là vùng
Trang 30tranh chấp quyết liệt giữa địch và ta Ba mươi năm đấu tranh chống xâm lược là
30 năm thử thách đầy hy sinh gian khổ, là 30 năm “trung dũng kiên cường” của Đảng bộ và nhân dân Đôn Thuận nói riêng và quân dân Trảng Bàng nói chung
1.2.2 Truyền thống yêu nước và cách mạng
Sau khi chuẩn bị lực lượng, sáng ngày 01/9/1858, quân Pháp với sự hỗ trợ của Tây Ban Nha đã nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Sau 5 tháng chiến đấu quyết liệt, quân triều đình và nhân dân địa phương đã làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của quân xâm lược, buộc chúng phải chuyển hướng tấn công vào Gia Định
Tháng 02/1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã chiếm được thành Gia Định, quân triều đình lui về lập phòng tuyến ở đồn Chí Hòa
Ngày 23/02/1861, liên quân Pháp - Tây Ban Nha do Đề đốc Charner chỉ huy với khoảng 8.000 quân và nhiều khẩu thần công các loại, bắt đầu tấn công Đại đồn Chí Hòa Về phía triều đình, tướng Nguyễn Tri Phương với khoảng 30.000 quân thường trực, quân nghĩa dõng và dân phu kháng cự mãnh liệt (Vương Công Đức, 2016)
Sang ngày 24 và 25/02/1861, liên quân Pháp - Tây Ban Nha tiếp tục tấn công Hai bên đánh nhau ác liệt cả ở bên trong và bên ngoài thành Chí Hòa Cuối cùng, mặc dù chiến đấu hết sức dũng cảm, nhưng trước những vũ khí hiện đại, đại đồn Chí Hòa bị chọc thủng, quân triều đình đành rút lui, Nguyễn Tri Phương
bị trọng thương và lui quân về Hóc Môn, sau đó lại rút về Biên Hòa cố thủ Quân Pháp - Tây Ban Nha chiếm được đại đồn và sau đó cho san bằng (Vương Công Đức, 2016)
Trong số quân chính quy của triều đình bảo vệ thành Chí Hòa có sự tham gia của quân nghĩa dõng của Đặng Văn Tòng3 từ Trảng Bàng xuống Sau khi nghe tin Pháp tấn công Đại đồn Chí Hòa, Đặng Văn Tòng đã mang hơn 300 quân nghĩa dõng từ Trảng Bàng vượt qua các đồn bót của quân Pháp ở vùng Hóc Môn,
3
Còn có tên là Đặng Thế Tòng, Lược sử Tây Ninh cho rằng: Ông là con của Đặng Văn Trước, người có
công đầu trong việc xây dựng nên làng Phước Lộc (phường Gia Lộc, Thị xã Trảng Bàng hiện nay), khi mất, ông được phong thành hoàng Tuy nhiên, theo gia phả họ Đặng ở Trảng Bàng thì Đặng Văn Tòng là cháu gọi Đặng Văn Tước là chú ruột
Trang 31Bà Điểm, Bà Quẹo để đến chi viện cho mặt trận Chí Hòa Sau trận đánh bảo vệ Đại đồn Chí Hòa thất bại, quân triều đình tan vỡ, Đặng Văn Tòng đưa tàn quân
về Trảng Bàng Tại Trảng Bàng, ông cùng các con và nghĩa dõng lập các căn cứ
bí mật, củng cố đồn Trảng Bàng để chuẩn bị đánh Pháp lâu dài ngay trên quê hương mình
Sau khi chiếm được thành Gia Định, liên quân Pháp - Tây Ban Nha bắt đầu đưa quân lên chiếm cứ các phủ, huyện trực thuộc của tỉnh Gia Định Từ Gia Định, Pháp đưa quân lên công phá và đóng đồn ở Trảng Bàng4 Trước sự tấn công của quân Pháp, Lãnh binh Tòng5 chỉ huy nghĩa binh Trảng Bàng đã anh dũng chống cự quân Pháp bằng vũ khí thô sơ, làm cho thực dân Pháp mất ăn, mất ngủ Nhưng do chênh lệch về phương tiện, vũ khí chiến tranh nên nghĩa binh nhanh chóng thất bại, quân Pháp đã chiếm được toàn bộ đồn, chúng đốt sạch doanh trại, nhà cửa trong đồn và ra lệnh cho dân chúng về quê làm ăn
Chính giữa lúc phong trào kháng chiến trong nhân dân Trảng Bàng nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung đang lên cao, ngày 05/6/1962, triều đình nhà Nguyễn ký với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất, cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn cho Pháp Mặc dù vậy, phong trào đấu tranh chống Pháp ở đây vẫn tiếp tục nổ ra quyết liệt
Tại An Hòa, Hương sư Trịnh Văn Đống (tự Thiện) cũng theo Trương
4 Sách Địa chí Tây Ninh của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (Sở Văn hóa Thông tin Tây Ninh xuất bản,
2006) cho rằng quân Pháp đã đưa quân lên Tây Ninh bằng đường Cống Sứ (nay là tỉnh lộ 782 hay tỉnh lộ
19 cũ), như vậy phải lên Tây Ninh từ Gia Định theo đường Thiên Lý (nay là Quốc lộ 22) Tuy nhiên, có thể điều này chưa hợp lý Điều này tác giả đồng ý với phân tích của tác giả Vương Công Đức, ông cho rằng quân Pháp đã lên Tây Ninh lần đầu tiên bằng đường sông, còn việc đi lên Tây Ninh bằng đường Cống Sứ hay Thiên Lý chỉ là sau đó Lí do là quân đội Pháp ban đầu có quân số không nhiều, sức mạnh chủ yếu nằm trong hỏa lực của pháo binh hạng nặng Pháo binh lại bố trí trên tàu chiến lớn chứ không thể trên phương tiện đường bộ vì chưa có xe vận tải như bây giờ Nếu đi đường bộ thì đường xa nên không mang theo được pháo binh, lại dễ rơi vào trận phục kích của quân triều đình với quân số vượt trội, khi đó những trận đánh xáp lá cà sẽ gây nhiều bất lợi cho quân Pháp với ưu thế pháo binh và súng trường… Mặt khác quân Pháp cũng từng sử dụng các chiến hạm lớn trên sông để tiến đánh các thành Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên chứ không phải đường bộ” (Xem: Vương Công Đức, 2016, tr.181)
5 Về chức vụ của Đặng Văn Tòng, các sách sử địa phương đều ghi ông là Lãnh binh Tuy nhiên, xét thấy điều này không hợp lý, vì chức “Lãnh binh” của nhà Nguyễn là một chức vụ lớn (nắm quân đội của 1 tỉnh), vậy nên việc phân phong chức này và hành trạng của nhân vật lịch sử này chắc chắn sẽ được ghi
trong bộ Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn Do đó, tác giả cũng đồng thuận với ý kiến của tác giả cuốn Trảng Bàng phương chí chí – Lịch sử, văn hóa vùng đất con người nam Tây Ninh (Nxb Tri thức, Hà Nội,
tr.183) Chức Lãnh binh của Đặng Văn Tòng là do nhân dân phong (kiểu như Bình tây đại nguyên soái của Trương Định)
Trang 32Định chống Pháp từ năm 1862 và từng dự các trận đánh ở Kì Sơn, Nhật Tảo và
Gò Công Sau đó ông theo chỉ thị của Trương Định rút về sông Vàm Cỏ Đông lập hai căn cứ ở Vàm Trảng và ở giữa rạch Kè (An Thới) Sau khi Trương Định
bị kẻ phản bội chỉ điểm cho lính Pháp, ông bị Pháp bắt, sau đó do cải đạo Thiên Chúa nên được thả ra và ông lại tiếp tục cùng các ông Trịnh Văn Lương và Trần Văn Đức chống Pháp tại Trảng Bàng
Tại An Tịnh, Đốc Khoa (tên khác là Đốc Tám) cùng với Thống Thi và Đội
Lý cắt máu ăn thề, kết nghĩa huynh đệ cùng nhau chiêu binh, tổ chức cơ sở bí mật trong vùng rừng Cây Sơn (nay thuộc Lộc Hưng) để chống Pháp Quân kháng chiến ngày đêm bí mật tấn công quân Pháp gây nhiều hoang mang cho chúng
Ở Lộc Hưng, có phong trào kháng chiến của ông Yên, ông Chữ Sau khi triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp, hai ông chống lệnh bãi binh của triều đình, xây dựng căn cứ, chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp tại Truông Dài
và rừng Suối Sụp gây khó khăn không ít cho quân Pháp
Ở các xã phía tây bắc (thuộc Bến Cầu ngày nay) có lực lượng kháng chiến của lãnh binh Két Lợi dụng thế rừng rậm và đầm lầy ở Long Giang, lãnh binh Két tụ tập nghĩa quân về đây lập chiến khu chống Pháp Ông đã nhiều lần đưa quân tấn công vào đồn giặc, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề Đây là chiến khu được giữ vững nhiều năm ở Trảng Bàng
Theo các tư liệu lịch sử, trong phong trào kháng Pháp lúc bấy giờ, các cuộc khởi nghĩa ở Trảng Bàng có mối quan hệ mật thiết với các cuộc khởi nghĩa tại Đức Hòa, Long An Từ khoảng năm 1865, các nghĩa dõng tham gia phong trào kháng chiến của Đốc binh Kiều, Thiên Hộ Dương do bị Pháp truy kích liên tục nên từ Gò Bắc Chiên, Gò Tháp tụ tập về tổng Cầu An Hạ (nay là vùng Hậu Nghĩa, Đức Hòa) lập thành một trung tâm kháng chiến của nghĩa binh Long An Tại đây phong trào phát triển mạnh dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Tài, ông thường bí mật dẫn binh đánh các đồn Trảng Bàng và Thuận Kiều Tuy nhiên cuối cùng thì phong trào cũng tan vỡ
Phong trào kháng chiến chống Pháp nổi bật hơn hết trọng giai đoạn này là lực lượng nghĩa quân của Trương Quyền (con trai của Trương Định) Sau khi
Trang 33Trương Định hy sinh, Trương Quyền đưa quân về vùng Truông Mít, Trảng Bàng, Hóc Môn - Bà Điểm tổ chức đánh Pháp Sau đó phối hợp với nghĩa quân Khmer của Pu Kom Pô thành lập nghĩa quân Việt – Khmer Nghĩa quân đã tấn công vào Thị xã, Trảng Bàng, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại Tháng 7/1866, Trương Quyền đã dẫn hơn 400 quân nghĩa dõng xuất phát từ Trảng Bàng bất ngờ tấn công quân Pháp tại Củ Chi và tiến quân xuống tận trung tâm Sài Gòn Quân Pháp hoảng loạn đã phải tập trung đông đảo chống đỡ mới tạm yên (Vương Công Đức, 2016)
Năm 1869, Trương Quyền lại dẫn hơn một trăm quân nghĩa dõng mai phục tấn công quân Pháp do tên quan hai Ey Mard chỉ huy ở khu vực khu phố Bình Nguyên, phường Gia Bình ngày nay Trong trận đánh này, nghĩa quân
“người người miệng ngậm tăm, tay cầm sẵn gươm, đao nằm im đến giờ Ngọ chờ cho quân Pháp đi bố quay về chủ quan không phòng bị, Quyền cho quân bất ngờ xông ra chặn đầu, chặn đuôi, kẻ đâm, người chém, quân Pháp bất ngờ trở tay không kịp bị chết gần hết, chỉ còn lại mấy người liều chết bảo vệ chỉ huy chạy được về đồn ” 6
An Hòa ngày nay), mũi đường thủy thứ hai theo sông Tân Bình đổ bộ ở khu vực Bời Lời, Sóc Lào, Đôn Thuận Tuy nhiên tại khu vực rừng Bời Lời, quân Pháp đã
bị nghĩa quân mai phục trong các trảng trống tấn công giết chết 6 lính (Vương Công Đức, 2016)
Đến tháng 10/1869, quân Pháp quyết tâm đưa thêm 4 tiểu đoàn lên Trảng Bàng và Tây Ninh nhằm trấn áp các lực lượng nghĩa binh Được thêm sư hậu
6 Tài liệu được dẫn theo Thư của quan Tri huyện Quang Hóa gởi về phủ đường Tây Ninh 24//3/1869 Ban
Khoa học – Lịch sử sưu tầm được tại Kho NK4/BQP tháng 8/1985 – Lưu tại Ban Lịch sử Quân sự, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh (Xem: Vương Công Đức, 2016, tr.188)
Trang 34thuẫn của một số giáo dân cực đoan và một số người bất mãn triều đình, quân Pháp củng cố thế chủ động và đẩy nghĩa quân kháng chiến vào tình thế khó khăn Phong trào đấu tranh của quân dân Trảng Bàng dưới sự lãnh đạo của các quan lại yêu nước địa phương đã liên tục diễn ra, nhưng tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, cho nên nhanh chóng bị tan rã
Những năm đầu thế kỷ XX, các tổ chức yêu nước khác như Thiên Địa Hội, phong trào Nguyễn An Ninh hình thành và phát triển mạnh ở Gia Định, Chợ Lớn đã ảnh hưởng trực tiếp đến Trảng Bàng Tổ chức chống Pháp đầu tiên ở Trảng Bàng phải kể đến chính là tổ chức Thiên Địa Hội Tổ chức này được lập ở làng An Tịnh do ông Hồ Văn Chư (1856 - 1926), hương cả của làng quy tụ các nhà nho yêu nước chống Pháp, sau đó lan rộng ra An Hòa, Đôn Thuận, Vàm Trảng, Gia Bình và nhiều nơi khác Tại rừng Bời Lời (xã Đôn Thuận), các ông Huỳnh, ông Trợt, ông Trung, ông Đào, ông Chuốt, ông Ngót, ông Trác, ông Ba Hứng, ông Tư Dân đã tập hợp gần 30 người vào tổ chức Thiên Địa Hội
Hàng tháng, Thiên Địa Hội tổ chức họp hai lần vào các ngày 15 và 30 để bàn kế hoạch khống chế bọn tề làng, thông báo tin tức, đồng thời đưa lực lượng đánh vào chủ sở cao su ở Đôn Thuận, lấy tiền của chúng về cấp phát cho dân nghèo và tổ chức nhân dân tuần tra canh gác chống trộm cướp Có tổ chức Thiên Địa Hội lãnh đạo, nhân dân xã Đôn Thuận vô cùng phấn khởi, tự động xé giấy thuế thân, trấn áp bọn tề làng Tên tề làng Trưởng Trí hoảng sợ phải đem nộp cho Thiên Địa Hội một khẩu súng hai nòng Từ đây tổ chức Thiên Địa Hội phát triển mạnh, trang bị 03 khẩu súng và nhiều dao, mác để trừng trị những tên tề làng ác
ôn, thường xuyên ức hiếp đồng bào, như Tên xã Hường, Hội đồng Sông, Hưorng Phó xã Lộc Hưng, bắn tên chủ Diệp bị thương (Ban chấp hành Đảng bộ xã Đôn Thuận, 2017)
Tại Gia Bình nổi lên nhóm hội kín của Soái Lễ Soái Lễ có tên là Vương Văn Lễ, người Việt gốc Hoa, đã tập hợp các hội viên bí mật ở khu vực cầu Bình Thủy (phường Gia Bình, giáp ranh An Hòa) để tuyên truyền và kêu gọi dân chúng đánh Pháp Đã có nhiều câu chuyện thần bí thêu dệt đối với đội quân của Soái Lễ Tuy vậy sư nghiệp chống Pháp cũng bất thành, Soái Lễ và các đồng chí
Trang 35của mình bị Pháp bắt và kết án lưu đày biệt xứ đi Côn Lôn
Như vậy đến trước năm 1920, về cơ bản Hội kín của người Việt ở Trảng Bàng theo mô hình Thiên Địa Hội của người Hoa đã bị tan rã
Trong những năm 1923 - 1924, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh đã lên Trảng Bàng diễn thuyết, tuyên truyền cách mạng, xây dựng phong trào, nhưng ảnh hưởng của phong trào chưa nhiều (Ban chấp hành huyện Đảng bộ Trảng Bàng, 1997)
Phong trào Thiên Địa Hội, Nguyễn An Ninh ở Trảng Bàng đã khơi dậy trong nhân dân Trảng Bàng lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức chống áp bức, bất công, tàn ác của thực dân xâm lược và tay sai, khi có ánh sáng cách mạng của Đảng soi rọi vào là họ đi với cách mạng Từ đó, phong trào quần chúng đấu tranh chống thực dân Pháp hình thành phát triển vững chắc và sâu rộng
Năm 1930, ánh sáng của Đảng soi rọi về Trảng Bàng Tuy hoạt động ở đây còn đơn lẻ, chưa đủ điều kiện để hình thành tổ chức Đảng lãnh đạo thống nhất trong huyện, nhưng đây chính là những nhóm lửa nhỏ nhen nhóm lên trong lòng quần chúng Những đảng viên ấy, với lòng yêu nước, thương dân đã không ngại khó khăn, gian khổ, mang đến cho người dân nghèo Trảng Bàng chân lý mới: Độc lập, tự do và quyền sống
Năm 1937, ở Phước Chỉ, một nhóm thanh niên yêu nước, nòng cốt là anh Vẳng, Ngỡi, Thạnh (không rõ họ) được sự chỉ đạo của một cán bộ Tổng ủy tổng Cầu An Thượng7
(quần chúng gọi là ông già Điều) hoạt động tổ chức Hội Ái hữu (thực chất đây là tổ chức của Đảng Cộng sản) giúp nhau cày cấy, ma chay, cưới xin, giỗ chạp Hội đã thu hút đông đảo thanh niên tham gia hoạt động Riêng ở Phước Hưng, Hội đã phát triển hàng trăm hội viên Ở Rạch Tràm còn có các nhóm đấu tranh xin giảm thuế, được quần chúng ủng hộ
Đến năm 1938, phong trào quần chúng lên mạnh, được sự chỉ đạo của cán
bộ Đảng, anh Vẳng tổ chức Ủy ban Hành động, gồm 14 người, trụ sở đặt tại chợ Rạch Tràm Ủy ban Hành động hoạt động ngày càng mở rộng, thu hút nhiều
7 Tổng Cầu An Thượng thành lập ngày 07/12/1901 có 5 làng là An Ninh, Đức Lập, Hiệp Hòa, Tân Mỹ và Tân Phú Thượng, năm 1913 sáp nhập thêm làng Lộc Giang, thuộc tỉnh Chợ Lớn
Trang 36quần chúng tham gia Hoảng sợ trước sự lớn mạnh của phong trào dân chủ, bọn chúng tìm cách để ngăn chặn
Tháng 8/1938, Chính quyền Pháp đưa lính khố xanh, khố đỏ từ tỉnh đường Tây Ninh xuống đóng đồn ở Rạch Tràm và cấm việc tụ họp đông người Tuy nhiên phong trào bắt đầu gây tiếng vang đến Tây Ninh buộc Chủ tỉnh Tây Ninh
là Renoux phải thân chinh xuống Rạch Tràm để tổ chức gặp mặt diễn thuyết cho dân chúng Lợi dụng cuộc diễn thuyết của Chủ tỉnh Renoux, Hội Ái hữu liền vận động hàng trăm người tham gia đưa yêu sách giảm thuế của dân làng Phước Chỉ Ban đầu chỉ có 300 người, cuối cuộc diễn thuyết lên đến gần 1.000 người (Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2006) Tuy nhiên cuộc diễn thuyết của Renoux không mang lại kết quả và yêu sách của Hội Ái hữu cũng không thành công do Renoux không giải quyết mà chỉ hứa gửi thỉnh nguyện thư cho Thống đốc Nam
Kỳ Những người tham gia Hội Ái hữu như các ông Vẳng, Ngỡi, Thạnh về sau đều tham gia phong trào cộng sản ở Trảng Bàng và trở thành lớp đảng viên cộng sản đầu tiên của huyện
Tại vùng Bùng Binh, Đôn Thuận, trong những năm 30 của thế kỷ XX, ông Nguyễn Văn Kỉnh, Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ được đưa về hoạt động bí mật với
bí danh “Nguyễn Thượng Vũ” trong vỏ bọc một thầy giáo Mục đích là vận động
tổ chức và gây cơ sở cho phong trào cộng sản ở Trảng Bàng, Tây Ninh
Như vậy, trong những năm 1936 - 1939, Mặt trận nhân dân Pháp với Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt giành được thắng lợi trong tổng tuyển cử tháng 4/1936 và lập ra Chính phủ Mặt trận nhân dân có xu hướng chính trị tiến bộ Nhân dịp này, Đảng ta phát động cuộc vận động “Mặt trận Dân chủ Đông Dương” Từ đây, cùng với cả nước, phong trào cách mạng ở Tây Ninh được nhen nhóm trở lại dưới dạng đấu tranh công khai, họp pháp Tại xã Đôn Thuận, trên
100 công nhân sở cao su Sina đình công, không cạo mủ Anh Ná, đại diện cho công nhân đứng lên đấu tranh với tên chủ sở và bọn cai cao su, đòi giảm giờ làm việc, tăng lương, không phân biệt đối xử nam nữ Với sức mạnh đoàn kết của công nhân buộc chúng phải đồng ý giải quyết theo yêu cầu của công nhân (Ban chấp hành Đảng bộ xã Đôn Thuận, 2017)
Trang 37Sau Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, nhờ có địa thế rừng, Tây Ninh lạì trở thành nơi ẩn náu của lực lượng cách mạng các địa phương khác Một cánh quân khởi nghĩa của Gia Định, do hai đồng chí Võ Công Bĩnh và Lê Bình Đăng chỉ huy gần 100 người với 20 khẩu súng, đã rút lên vùng Truông Mít (thuộc huyện Dương Minh Châu ngày nay), dựa vào địa thế rừng hiểm trở để duy trì lực lượng Nghĩa quân đã được đong bào trong vùng bí mật tiếp tế lương thực, cung cấp tin tức và giúp đỡ việc liên lạc Nghĩa quân tạm trú ở đây gần một tháng, thực dân Pháp phát hiện, chúng tập trung quân tấn công, do tương quan lực lượng không cân sức, nghĩa quân đã rút xuống xã Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng) Tại đây, trước tình cảnh khó khăn của nghĩa quân, nhân dân trong vùng đã tham gia đóng góp lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân Nghĩa quân ở đây không bao lâu, giặc Pháp lại bủa vây truy kích, nghĩa quân rút về xã Lộc Hưng, qua Bàu Công Đồng chí Võ Công Bỉnh, Chỉ huy trưởng lực lượng nghĩa quân bị địch phục kích bắn bị thương và bị bắt Từ đó, lực lượng nghĩa quân phân tán thành nhiều nhóm nhỏ rút về Đồng Tháp Mười
Phong trào khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, thực dân Pháp khủng bố ở khắp nơi, cơ sở cách mạng bị tiêu hao Tại sở cao su Sina, anh Ná người có nhiều công lao xây dựng cơ sở cách mạng và trực tiếp lãnh đạo công nhân đấu tranh đã bị bắt, bị đánh đập dã man và đày đi mất tích Phong trào tạm lắng xuống
Đến năm 1943, phong trào cách mạng ở xã Đôn Thuân được khôi phục lại, đồng chí Ba Hân cán bộ Kỳ bộ Việt Minh Nam kỳ nhận nhiệm vụ về xã Đôn Thuận bám trụ tại nhà ông Öt Lơ, ông Öt Cầm để tuyên truyền xây dựng phong trào cách mạng, nhất là trong công nhân cao su và nông dân, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp
Tháng 9/1944, ông Huỳnh Văn Thanh theo lệnh Xứ ủy Nam Kỳ về Tây Ninh triệu tập các nhóm chống Pháp, tuyên truyền chủ trương của Việt Minh để hợp sức đánh Pháp Tại Trảng Bàng bắt đầu hình thành nhóm chống Pháp thân Việt Minh, trong đó có các ông Huỳnh Hà, Lê Phẩm Ba Tuy nhiên về mặt tổ chức, nhóm Việt Minh ở Trảng Bàng chịu sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh ở tỉnh Tây Ninh, dưới sự chỉ huy của Huỳnh Văn Thanh, còn nhóm cộng sản ở
Trang 38Phước Chỉ theo sự tổ chức và chỉ đạo của Tổng ủy tổng Cầu An Thượng, Đức Hòa Ở xã Đôn Thuận, lợi dụng tình hình Nhật đảo chính Pháp, anh Trần Văn Phán đập đầu tên chủ sở cao su Beauno, thu một súng hai nòng, một thanh kiếm
và 25 viên đạn, mang đến rừng Bời Lời để về với Việt Minh Nhưng anh chưa liên lạc được với tổ chức Việt Minh thì bị lính Nhật bắt, giải về huyện lỵ Trảng Bàng phơi nắng 7 ngày Không khuất phục được ý chí của anh, chúng xử bắn anh tại sân vận động Trảng Bàng (Ban chấp hành Đảng bộ xã Đôn Thuận, 2017)
Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp thành công vào đêm 09/3/1945, tướng Minoda, lãnh sự Nhật tại Sài Gòn là Iida Shojiro (sau làm Tổng ủy viên phụ trách Thể dục, Thể thao và Thanh niên Đông Dương) đã cho mời Bác sĩ Phạm Ngoc Thạch đứng ra thành lập ở Sài Gòn một phong trào cho thanh niên lấy tên Thanh niên Tiền phong (TNTP) với chủ trương kêu gọi độc lập cho Việt Nam và đặt trọng trách lên đôi vai của thanh niên Việt Nam TNTP được thành lập ngày 21/4/1945, nhanh chóng thu hút mạnh mẽ thanh niên khắp các tỉnh miền Nam
Tại Tây Ninh, chính quyền Nhật vẫn duy trì viên Tỉnh trưởng từ thời Pháp
đô hộ là Đốc phủ Lê Văn Thạnh và cho thành lập phong trào TNTP của tỉnh Người đứng đầu phong trào này ban đầu là ông Nguyễn Công Mạnh, cựu Chủ sự thương chánh của Chính quyền Pháp trước đó, bên cạnh có ông Trần Văn Hương, Đốc học tỉnh Tây Ninh (sau làm Phó Tổng thống rồi Tổng thống Việt Nam cộng hòa) Từ tháng 7/1945, nhận thấy vai trò và vị thế của TNTP đang lên cao đầy khí thế, Xứ ủy Nam Kỳ đưa ra sách lược đưa người vào để hướng phong trào này vào mục đích của Xứ ủy Tại Tây Ninh, Xứ ủy đã cử người móc nối với Nguyễn Công Mạnh, Trần Văn Hương, Trương Văn Có, những nhà lãnh đạo của TNTP để bàn việc hợp tác chống Pháp và cả Nhật
Ở Trảng Bàng, người lãnh đạo phong trào TNTP là thầy giáo Trương Văn
Có Trong từng làng xóm ở Trảng Bàng, từng nhóm thanh niên trai trẻ đêm đêm luyện tập võ nghệ, tập đi đều bước với vũ khí thô sơ (chỉ là tầm vông vạt nhọn)
để chuẩn bị sẵn sàng đánh Pháp, tiếp quản chính quyền từ tay quân Pháp và Nhật TNTP phát triển lên đến hàng ngàn trai tráng và nhanh chóng trở thành lực lượng bán võ trang nhân dân mạnh nhất tại Trảng Bàng vào thời điểm trước tháng 8
Trang 39năm 1945 Tại xã Đôn Thuận, lực lượng TNTP do các đồng chí Ba Hân, Tám Bang phụ trách đã cùng với các ông Tư xồi, út Trỏ, Chín Nhiêu trước kia đi lính cho Pháp, nay giác ngộ cách mạng trở về tham gia lực lượng thanh niên đảm trách huấn luyện quân sự cho anh em Với tầm vông vạt nhọn, dao, mác, lực lượng thanh niên luyện tập suốt ngày đêm và canh phòng bảo vệ xóm làng
Trong khi phong trào quần chúng ở tỉnh đã chuyển thành cao trào cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa, tin phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện ngày 15/8/1945 truyền về tỉnh như một luồng gió mới, tăng thêm khí thế cách mạng của quần chúng Trước tình hình đó, ngày 16/8/1945 đồng chí Huỳnh Văn Thanh triệu tập hội nghị ở nhà đồng chí Tư Đẩu (gần chợ cũ Tây Ninh) Hội nghị nhất trí đánh giá tình hình cách mạng đã chín muồi, quyết định thành lập Ban vận động cướp chính quyền, phân công các đồng chí tích cực chuẩn bị mọi mặt và giao nhiệm vụ cho đại bộ phận còn lại đi các nơi tổ chức LLVT, lực lượng quần chúng, chuẩn bị cướp chính quyền trong toàn tỉnh
Sau khi nhận được chỉ thị tổ chức mít tinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị giành chính quyền ở tỉnh, các đảng viên ở huyện Trảng Bàng đã họp bàn thống nhất kế hoạch hành động và thành lập Ủy ban chỉ đạo khởi nghĩa, gồm các đồng chí: Huỳnh Hà, Lê Phẩm Ba
Sáng sớm ngày 25/8/1945, hơn 2.000 người, chủ yếu là TNTP, lực lượng Cao Đài và các lực lượng nhân dân trong các xã (trong đó có xã Đôn Thuận) đã kéo về quận đường Trảng Bàng Đoàn người với vũ khí thô sơ tiến hành diễu hành biểu dương lực lượng, đi qua các con phố của trung tâm Trảng Bàng Tuy nhiên quân Nhật và chính quyền thân Nhật ở quận đường vẫn cương quyết giữ chính quyền nên các lực lượng biểu tình tự động rút lui (Vương Công Đức, 2016) Sau đó các lực lượng biểu tình bèn kéo về các làng nơi bộ máy chính quyền hương chức yếu thế để giành lấy chính quyền
Đến tối ngày 25/8/1945, các ông Huỳnh Hà, Lê Phẩm Ba và các đồng chí trong ủy ban Chỉ đạo khởi nghĩa cùng khoảng 30 TNTP được trang bị 2, 3 khẩu súng dài, số còn lại là giáo mác, vũ khí thô sơ kéo đến bao vây quận đường Tên quận trưởng Huỳnh Tường Tấn nghe động ra lệnh khóa chặt cổng Anh Phiên
Trang 40(thư ký quận) được ta móc nối ra mở cổng đưa vào Dưới áp lực của ta, tuy không dám chống cự, nhưng giằng co đến mấy giờ đồng hồ sau, tên Tấn mới đồng ý giao chính quyền cho ta (Ban chấp hành huyện Đảng bộ Trảng Bàng, 1997) Lúc này, quận đường đã về tay nhân dân, tin được truyền đi khắp nơi trong huyện Hôm sau, khi trời vừa sáng, cờ đỏ sao vàng đã phấp phới bay trên nóc quận đường và khắp nơi trong Thị trấn
Cùng ngày 25/8, chính quyền tại Phước Chỉ, Gia Bình, An Hòa, Gia Lộc,
An Tịnh, Lộc Hưng, Đôn Thuận cũng lần lượt bàn giao cho các lực lượng võ trang nhân dân Tại Lợi Thuận và vùng Bến Cầu, nhân dân và các lực lượng võ trang các làng cũng giành được chính quyền trong ngày 25/8/1945
Sau khi giành chính quyền, ta tiến hành thành lập ngay ủy ban Hành chánh huyện, xã, ủy ban Hành chánh huyện đầu tiên gồm 7 thành viên8 do ông Huỳnh
Hà được cử làm chủ tịch Lần đầu tiên trong lịch sử huyện Trảng Bàng, chính quyền dân chủ nhân dân ra đời Sau khi được thành lập, ủy ban Hành chánh huyện cử cán bộ đi các nơi giúp dân xây dựng chính quyền ở cơ sở Tại Đôn Thuận, chính quyền cách mạng xã được thành lập Ông út Cầm được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính xã Đôn Thuận, ông Ba Hà, Phó Chủ tịch, ông Nguyễn Văn Phán, Thư ký Ủy ban Các ông Öt Lơ, Chín Nghỉ, Tám Đương phụ trách Quân sự, ông Ba Hiếu phụ trách tự vệ chiến đấu, cô Bảy Bần phụ trách Hội Phụ nữ Ông Ba Khiêm, Tám Khiết phụ trách Hội Nông dân, ông Năm Kiềm phụ trách Công an, ông Năn phụ trách tài chính (Ban chấp hành Đảng bộ xã Đôn Thuận, 2017)
Cách mạng tháng Tám ở Trảng Bàng với thời cơ ngàn năm có một được tiến hành nhanh gọn, đã đập tan xiềng xích gần 100 năm nô dịch của thực dân Pháp Lần đầu tiên nhân dân ta được hưởng độc lập tự do Thắng lợi ấy bắt nguồn từ truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân, từ lòng căm thù chế độ
áp bức bất công của thực dân phong kiến, nhanh nhạy tiếp nhận ảnh hưởng các
8 7 thành viên gồm ông Huỳnh Hà làm chủ tịch, ông Lê Phẩm Ba làm phó chủ tịch Các ủy viên gồm thầy giáo Trương Văn Có, ông Thắng (đại diện Thiên Chúa giáo), ông Mười Cường (Chánh trị sự Cao Đài), cô giáo Trương Thị Thể (con gái ông Hương chủ làng An Tịnh Trương Quang Tiền), đặc biệt là ông Phiên, cựu thơ ký Quận đường Trảng Bàng được cử làm Tổng thơ ký (lúc bấy giờ gọi là “Tổng thơ ký” chứ không phải “Tổng thư ký”)