Câu 1: Phân tích bản chất của lý thuyết học tập nhận thức và thuyết kiến tạo. Vận dụng các lý thuyết này trong dạy học mang lại ý nghĩa gì? 1. Mở đầu Các lý thuyết học tập với tư cách đối tượng nghiên cứu của tâm lý học dạy học là cơ sở quan trọng của lí luận dạy học. Các lí thuyết học tập là những mô hình lí thuyết nhằm mô tả và giải thích cơ chế tâm lí của việc học tập. Các lí thuyết học tập đặt cơ sở lí thuyết cho lí luận dạy học trong việc tổ chức quá trình và phương pháp dạy học. Có rất nhiều mô hình lí thuyết khác nhau giải thích cơ chế tâm lí của việc học tập. Trong chương này không trình bày các mô hình cụ thể mà trình bày những nhóm lý thuyết học tập chính. Có 4 lý thuyết học tập cơ bản là: Thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov; Thuyết hành vi: Học là sự thay đổi hành vi; Thuyết nhận thức: Học là giải quyết vấn đề; Thuyết kiến tạo: Học là tự kiến tạo tri thức. Trong nghiên cứu này, chỉ đề cập đến: thuyết nhận thức và thuyết kiến tạo và vận dụng của nó trong dạy học: 2. Nội dung phân tích bản chất của lý thuyết học tập nhận thức và lý thuyết học tập kiến tạo 2.1. Bản chất của lý thuyết học tập nhận thức Thuyết nhận thức (Cognitivism) hay còn được gọi là thuyết nhận thức truyền thống ra đời vào những năm 1920 và phát triển mạnh trong nửa sau của thế kỉ XX. Đại diện tiêu biểu của thuyết này là Nhà tâm lí học người Áo Jeans Piaget. Các đại diện của lí thuyết nhận thức giải thích: hành vi của con người như là sự hiểu biết của trí óc. Học sinh được truyền thụ khả năng trừu tượng hóa và năng lực giải quyết vấn đề. Vậy, bản chất của lý thuyết học tập nhận thức: Học là giải quyết vấn đề. Tức là thông qua phát triển năng lực giải quyết vấn đề để phát triển tư duy. Học sinh nhận thức được kiến thức, tri thức ở lĩnh vực nào thì có tư duy và năng lực giải quyết vấn đề ở lĩnh vực đó. Thuyết nhận thức nhấn mạnh ý nghĩa của các cấu trúc nhận thức đối với sự học tập. Thuyết nhận thức thừa nhận tính khách quan của tri thức, nhưng cũng nhấn mạnh vai trò của chủ thể nhận thức. Là quá trình nhận thức có chọn lọc xảy ra bên trong tư duy của người học. Đối với thuyết nhận thức, kiến thức phải nằm trên đường biên giới hạn phạm vi hiểu biết của người học, nghĩa là kiến thức mới không quá xa rời kiến thức mà người học đã biết. Khi tiếp cận với kiến thức mới, tư duy người học bắt đầu xử lý nó dựa vào những kiến thức đã biết có liên quan và biến nó thành kiến thức của riêng mình. Kiến thức mà người học đã xử lý và tiếp thu không hoàn toàn giống như kiến thức ban đầu (kiến thức mới chưa được xử lý) khi tiếp cận người học. Nếu thuyết hành vi nhấn mạnh phương pháp đưa kiến thức vào, thì thuyết nhận thức nhấn mạnh quá trình xử lý kiến thức bên trong tư duy người học. Thuyết hành vi quan trọng hóa sự kích thích để người học hưng phấn tiếp thu kiến thức, thì thuyết nhận thức cá nhân hóa từng người học và nhấn mạnh những kiến thức mà người học quan tâm. Lý thuyết học tập nhận thức cho rằng học tập là những gì con người cảm nhận được thông qua tri giác và tri thức. Và là sự tổ chức và xử lý những điều khách quan của bộ não con người. 2.1.1. Những quan niệm cơ bản của các lí thuyết nhận thức Các lí thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tư cách là một quá trình xử lí thông tin. Bộ não xử lí các thông tin tương tự như một hệ thống kĩ thuật. Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi. Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử. Trung tâm của qúa trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: nhận biết, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới. Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinh nghiệm.
Trang 1Mã số : 3204121008
Đà Nẵng, 2022
Trang 2Câu 1: Phân tích bản chất của lý thuyết học tập nhận thức và thuyết kiến tạo Vận dụng các lý thuyết này trong dạy học mang lại ý nghĩa gì?
1 Mở đầu
Các lý thuyết học tập với tư cách đối tượng nghiên cứu của tâm lý học dạyhọc là cơ sở quan trọng của lí luận dạy học Các lí thuyết học tập là những môhình lí thuyết nhằm mô tả và giải thích cơ chế tâm lí của việc học tập Các líthuyết học tập đặt cơ sở lí thuyết cho lí luận dạy học trong việc tổ chức quá trình
và phương pháp dạy học Có rất nhiều mô hình lí thuyết khác nhau giải thích cơchế tâm lí của việc học tập Trong chương này không trình bày các mô hình cụthể mà trình bày những nhóm lý thuyết học tập chính Có 4 lý thuyết học tập cơbản là: Thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov; Thuyết hành vi: Học là sự thayđổi hành vi; Thuyết nhận thức: Học là giải quyết vấn đề; Thuyết kiến tạo: Học là
tự kiến tạo tri thức
Trong nghiên cứu này, chỉ đề cập đến: thuyết nhận thức và thuyết kiến tạo
và vận dụng của nó trong dạy học:
2 Nội dung phân tích bản chất của lý thuyết học tập nhận thức và lý thuyết học tập kiến tạo
2.1 Bản chất của lý thuyết học tập nhận thức
Thuyết nhận thức (Cognitivism) hay còn được gọi là thuyết nhận thứctruyền thống ra đời vào những năm 1920 và phát triển mạnh trong nửa sau củathế kỉ XX Đại diện tiêu biểu của thuyết này là Nhà tâm lí học người Áo JeansPiaget
Các đại diện của lí thuyết nhận thức giải thích: hành vi của con người như
là sự hiểu biết của trí óc Học sinh được truyền thụ khả năng trừu tượng hóa vànăng lực giải quyết vấn đề
Vậy, bản chất của lý thuyết học tập nhận thức: Học là giải quyết vấn đề.
Tức là thông qua phát triển năng lực giải quyết vấn đề để phát triển tư duy Họcsinh nhận thức được kiến thức, tri thức ở lĩnh vực nào thì có tư duy và năng lựcgiải quyết vấn đề ở lĩnh vực đó
Trang 3Thuyết nhận thức nhấn mạnh ý nghĩa của các cấu trúc nhận thức đối với sựhọc tập Thuyết nhận thức thừa nhận tính khách quan của tri thức, nhưng cũngnhấn mạnh vai trò của chủ thể nhận thức Là quá trình nhận thức có chọn lọcxảy ra bên trong tư duy của người học Đối với thuyết nhận thức, kiến thức phảinằm trên đường biên giới hạn phạm vi hiểu biết của người học, nghĩa là kiếnthức mới không quá xa rời kiến thức mà người học đã biết Khi tiếp cận với kiếnthức mới, tư duy người học bắt đầu xử lý nó dựa vào những kiến thức đã biết cóliên quan và biến nó thành kiến thức của riêng mình Kiến thức mà người học đã
xử lý và tiếp thu không hoàn toàn giống như kiến thức ban đầu (kiến thức mớichưa được xử lý) khi tiếp cận người học Nếu thuyết hành vi nhấn mạnh phươngpháp đưa kiến thức vào, thì thuyết nhận thức nhấn mạnh quá trình xử lý kiếnthức bên trong tư duy người học Thuyết hành vi quan trọng hóa sự kích thích đểngười học hưng phấn tiếp thu kiến thức, thì thuyết nhận thức cá nhân hóa từngngười học và nhấn mạnh những kiến thức mà người học quan tâm
Lý thuyết học tập nhận thức cho rằng học tập là những gì con người cảmnhận được thông qua tri giác và tri thức Và là sự tổ chức và xử lý những điềukhách quan của bộ não con người
2.1.1 Những quan niệm cơ bản của các lí thuyết nhận thức
- Các lí thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tưcách là một quá trình xử lí thông tin Bộ não xử lí các thông tin tương tự nhưmột hệ thống kĩ thuật
- Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết địnhđến hành vi Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giáchúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử
- Trung tâm của qúa trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: nhận biết,phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiếnthức thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởngmới
- Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thànhqua kinh nghiệm
Trang 4- Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng Vì vậy muốn có sự thay đổi vớimột người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó.
- Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đạt mục đích, xâydựng kế hoạch và thực hiện Trong đó có thể tự quan sát, tự đánh giá và tự hưngphấn, không cần kích thích từ bên ngoài
2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết nhận thức
- Mục đích của dạy học là tạo ra những khả năng để người học hiểu thế giớithực tiễn (kiến thức khách quan) Vì vậy, để đạt được các mục tiêu học tập,không chỉ kết quả học tập mà quá trình học tập và quá trình tư duy là điều quantrọng
- Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thườngxuyên khuyến khích các quá trình tư duy, người học cần được tạo cơ hội hànhđộng và tư duy tích cực
- Giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tưduy Các quá trình tư duy được thực hiện không chỉ thông qua các vấn đề nhỏ,đưa ra một cách tuyến tính, mà thông qua các nội dung học tập phức hợp
- Các phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong quá trình học tậpcủa người học Các phương pháp học tập bao gồm tất cả các cách thức làm việc
và tư duy mà người học sử dụng để tổ chức và thực hiện quá trình học tập củamình một cách hiệu quả nhất
- Việc học tập được thực hiện trong nhóm có vai trò quan trọng, giúp tăngcường những khả năng về mặt xã hội
- Cần có sự kết hợp thích hợp giữa những nội dung do giáo viên truyền đạt
và những nhiệm vụ tự lực chiếm lĩnh và vận dụng tri thức của người học
Ngày nay thuyết nhận thức được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong dạyhọc Những kết quả nghiên cứu của các lí thuyết nhận thức được vận dụng trongviệc tối ưu hóa quá trình dạy học nhằm phát triển khả năng nhận thức của ngườihọc, đặc biệt là phát triển tư duy Các phương pháp, quan điểm dạy học đượcđặc biệt chú ý là dạy học giải quyết vấn đề, dạy học định hướng hành động, dạyhọc khám phá, dạy học theo nhóm
Trang 5Tuy nhiên việc vận dụng thuyết nhận thức cũng có những giới hạn: Việcdạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề, dạy học khám phá đòi hỏinhiều thời gian và đòi hỏi cao ở sự chuẩn bị cũng như năng lực của giáo viên.
Do đó những giáo viên không nhận được đầy đủ các hướng dẫn và hiểu biết cho
lí thuyết dạy học này có khuynh hướng né tránh nó Ngoài ra, cấu trúc quá trình
tư duy không quan sát trực tiếp được nên những mô hình dạy học nhằm tối ưuhóa quá trình nhận thức cũng chỉ mang tính giả thuyết
- Các lí thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tưcách là một quá trình xử lí thông tin Bộ não xử lí các thông tin tương tự nhưmột hệ thống kĩ thuật
- Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết địnhđến hành vi Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giáchúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử
- Trung tâm của qúa trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ: nhận biết,phân tích, hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thứcthức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới
- Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thànhqua kinh nghiệm
- Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng Vì vậy muốn có sự thay đổi vớimột người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó
- Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đạt mục đích, xâydựng kế hoạch và thực hiện Trong đó có thể tự quan sát, tự đánh giá và tự hưngphấn, không cần kích thích từ bên ngoài
Ví dụ: Khi dạy bài “Bóng tối” môn Khoa học lớp 4, học sinh biết được
khái niệm “bóng tối xuất hiện sau vật cản sáng” Bên cạnh đó giáo viên giảng thêm cho các em về hướng mọc và lặn của mặt trời Từ đó học sinh có thể xác định được nếu trường học quay về hướng đông thì khi các em học thể dục vào buổi chiều, các em nên đứng phía sân trước của trường để được mát Bởi vì mặt trời sẽ lặn ở hướng Tây, chính vì thế vào buổi chiều mặt trời sẽ chiếu vào tòa
Trang 6nhà của trường từ phía sau Bóng của trường sẽ đổ về phía trước nên học sinh đứng phía trước sân sẽ được bóng mát.
2.1.3 Một số nguyên tắc của học tập theo thuyết nhận thức
1) Không chỉ kết quả học tập (sản phẩm) mà quá trình học tập và quá trình
tư duy cũng là điều quan trọng;
2) Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thườngxuyên khuyến khích các quá trình tư duy;
3) Các quá trình tư duy không thực hiện thông qua các vấn đề nhỏ, đưa ramột cách tuyến tính, mà thông qua việc đưa ra các nội dung học tập phức hợp;4) Các phương pháp học tập có vai trò quan trọng;
5) Việc học tập thực hiện trong nhóm có vai trò quan trọng, giúp tăngcường những khả năng về mặt xã hội;
6) Cần có sự cân bằng giữa những nội dung do giáo viên truyền đạt vànhững nhiệm vụ tự lực
Tóm lại, theo thuyết nhận thức, học tập là sự tiếp thu hoặc tổ chức lại cáccấu trúc nhận thức, xử lí và lưu trữ thông tin một cách chủ động của người họcthông qua các giác quan nghe và nhìn Người học thu được kết quả tốt nhất khicấu trúc được kiến thức để tạo ra sự liên kết giữa kiến thức mới và những kiếnthức có sẵn
Thuyết nhận thức được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong dạy học, đặcbiệt dạy học thiết kế và tổ chức dạy học giải quyết vấn đề, dạy học định hướnghành động, dạy học khám phá và dạy học theo nhóm Thuyết nhận thức có một
số hạn chế như: Việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề, dạy họckhám phá đòi hỏi nhiều thời gian và đòi hỏi cao ở sự chuẩn bị cũng như nănglực của giáo viên Cấu trúc quá trình tư duy không quan sát trực tiếp được nênchỉ mang tính giả thuyết
2.2 Bản chất của lý thuyết học tập kiến tạo (constructivism):
Trang 7Tư tưởng về dạy học kiến tạo đã có từ lâu, nhưng lí thuyết kiến tạo đượcphát triển từ khoảng những năm 60 của thế kỉ XX, được đặc biệt chú ý từ cuốithế kỉ XX Jeans Piaget, Watzlawich, Hans Aebli, Maria Motessori, LewS.Wygotzky là những đại diện của thuyết kiến tạo.
Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thểnhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Theo thuyết kiến tạo, mỗingười học là một quá trình kiến tạo tích cực, tự phản ánh thế giới theo kinhnghiệm của riêng mình Những gì người học lĩnh hội, phụ thuộc rất nhiều vàokiến thức và kinh nghiệm đã có vào tình huống cụ thể
Vậy, bản chất của lý thuyết học tập kiến tạo: Học tập là tự kiến tạo
Thuyết kiến tạo là quá trình nhận thức có cải tạo Người học tiếp nhận kiếnthức, xử lý kiến thức và cải tạo lại kiến thức chủ quan theo ý riêng Thuyết nhậnthức và thuyết kiến tạo có nhiều điểm tương đồng (cùng người sáng lập là JeanPiaget) vì đều nhấn mạnh chủ thể là người học, kiến thức tiếp thu được tùythuộc vào người học, đề cao người học Hơn thế nữa, thuyết kiến tạo tôn trọngquan điểm của người học, tạo điều kiện cho người học tự động khám phá vàphản ánh thế giới theo kinh nghiệm riêng Do đó, kiến thức mà người học tiếpthu phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức dựa trên những kiến thức có sẵn
và tình huống cụ thể
Khi học tập, mỗi người hình thành thế giới quan riêng của mình Tất cảnhững gì mà mỗi người trải nghiệm thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong “bứctranh toàn cảnh thế giới” của người đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình mộthình ảnh thế giới
Từ đó cho thấy cơ chế học tập theo thuyết kiến taọ trái ngược với cách họctập theo thuyết hành vi: Thay cho việc người học tham gia các chương trình dạyhọc được lập trình sẵn, người ta cho người học có cơ hội để tự tìm hiểu Họcsinh phải học tập từ lí trí riêng và có thể làm điều này càng tốt hơn nếu khôngphải tuân theo một chương trình giảng dạy cứng nhắc, mà có thể tự mình điềuchỉnh rất nhiều quá trình học tập của chính mình
Trang 8Ví dụ: Học sinh lớp 4, khi học về diện tích hình bình hành, các em có thể
đi từ công thức tính diện tích hình chữ nhật để sắp xếp và rút ra được công thức diện tích hình bình hành dựa trên công thức tính diện tích hình chữ nhật.
2.2.1 Những quan niệm chính của thuyết kiến tạo
- Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào
hệ thống bên trong của mình, tri thức mang tính chủ quan
- Nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích, kiến tạo trithức, thuyết kiến tạo thuộc lí thuyết định hướng chủ thể
- Cần tổ chức sự tương tác giữa học sinh và đối tượng học tập, để giúp họcsinh xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình, đã được chủthể điều chỉnh
- Học không chỉ là sự khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới trithức
2.2.2 Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo
- Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạotheo từng cá nhân thông qua tương tác giữa học sinh và nội dung học tập
- Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đềphức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể
- Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực của ngườihọc, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thểthay đổi và cá nhân hóa những kiến thức, kĩ năng đã có
- Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác xã hộitrong nhóm góp phần cho học sinh tự điểu chỉnh sự học tập của bản thân
- Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa
- Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thể họchỏi dễ nhất từ những nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính cáchthức
Trang 9- Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việcdạy và học Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có
lí trí, mà cả về mặt tình cảm, thái độ, giao tiếp
- Mục đích học tập là kiến tạo kiến thức của bản thân, nên khi đánh giá cáckết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm, mà cần kiểm tra nhữngtiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức hợp.Vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ tri thức mà còn làngười tổ chức môi trường học tập mang tính kiến tạo Môi trường học tập theothuyết kiến tạo cần thể hiện những đặc điểm của việc học tập mang tính kiến tạo
đã nêu ở trên Môi trường học tập ở đây là môi trường tương tác, học sinh tự lựclĩnh hội tri thức thông qua tương tác với nội dung học tập và tương tác xã hộigiữa học sinh trong quá trình học tập Trong đó:
- Nội dung học tập mang tính phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn, phùhợp với hứng thú người học
- Tài liệu và phương tiện dạy học cần hỗ trợ quá trình tự tìm tòi tri thức củangười học
- Phương pháp dạy học chú trọng các phương pháp làm việc nhóm và tựlực của học sinh
- Hoạt động học tập không giới hạn ở học lí thuyết mà chú trọng các hoạtđộng thực tiễn của người học
- Hệ thống các bài tập, nhiệm vụ học tập cần hỗ trợ phát triển khả năng vậndụng và khả năng sáng tạo
Như vậy cơ chế học tập ở đây không phải là giáo viên truyền thụ, học sinhtiếp thu, cũng không phải là “giáo viên thiết kế, học sinh thi công” theo nghĩa làviệc học của học sinh phải theo đúng “thiết kế” đã được giáo viên thiết kế sẵn
Có thể tóm tắt những đặc điểm của việc học trong môi trường học tập kiến tạonhư sau:
- Học là một quá trình chủ động
- Học là một quá trình tự điều khiển
- Học là một quá trình kiến tạo
Trang 10- Học là một quá trình cảm xúc.
- Học là một quá trình tình huống
- Học là một quá trình xã hội
2.2.3 Một số xu hướng của thuyết kiến tạo
Trong tranh luận khoa học ngày nay có rất nhiều xu hướng khác nhau của líthuyết kiến tạo Điều cơ bản đối với việc học tập theo thuyết kiến tạo là tính độclập của người học (học tập tự điều chỉnh trong nhóm) Nhưng các xu hướngkhác nhau của thuyết kiến tạo không nhất trí về mức độ của tính độc lập này vàảnh hưởng của giáo viên Có thể phác họa khái quát ba xu hướng cơ bản sau:
- Thuyết kiến tạo nội sinh: là quan điểm đi xa nhất Các đại diện của nó chỉmuốn tạo ra những điều kiện học tập (môi trường học tập có tính khuyến khích)sao cho nhờ những kinh nghiệm mới cũng như những kiến thức và kỹ năng đã
có từ trước, người học trong nhóm học tập có thể mở rộng và thiết kế lại tri thứccủa mình mà không cần sự giúp đỡ quan trọng của giáo viên
- Thuyết kiến tạo ngoại sinh: ủng hộ sự tác động mạnh của giáo viên, giáoviên sẽ tác động như mô hình mang nghĩa của sự học tập mang tính xã hội Họcsinh sẽ quan sát giáo viên trong hành động và tư duy, tìm cách tiếp nhận cáchành động và tư duy đó Thông qua những thử nghiệm tiếp nhận này, nhữngkinh nghiệm cũ từ trước đến nay, những kiến thức mới sẽ được kết hợp và địnhhướng vào sự hiểu biết của bản thân Mô hình do giáo viên đưa ra sẽ không chỉđược tiếp nhận mà còn được điều chỉnh cho phù hợp với sự hiểu biết của bảnthân người học
- Thuyết kiến tạo biện chứng: nằm giữa thuyết kiến tạo nội sinh và thuyếtkiến tạo ngoại sinh Những người theo thuyết kiến tạo biện chứng cho rằng nếuchỉ có sự học tập độc lập theo tinh thần của thuyết kiến tạo nội sinh thì ít có hiệuquả học tập Họ ủng hộ sự giảng dạy mà trong đó giáo viên cung cấp các trợgiúp, nhưng từ chối việc truyền đạt các cấu trúc và chiến lược có sẵn cũng nhưviệc học tập theo mô hình một cách cứng nhắc Mục đích của chúng là làm chohọc viên ngày càng trở nên độc lập hơn
Trang 11Thuyết kiến tạo ngày càng được chú ý trong thời gian gần đây Thuyết kiếntạo thách thức một cách cơ bản tư duy truyền thống về dạy học Không phảingười dạy, mà là người học trong sự tương tác với các nội dung học tập là trungtâm của quá trình dạy học Nhiều quan điểm dạy học mới bắt nguồn từ thuyếtkiến tạo: học tập tự điều chỉnh, học theo tình huống, học theo nhóm, học qua sailầm.
Tuy nhiên, thuyết kiến tạo cũng có những hạn chế và những phê phán:
- Quan điểm cực đoan trong thuyết kiến tạo phủ nhận hoàn toàn sự tồn tạicủa tri thức khách quan là không thuyết phục
- Một số tác giả nhấn mạnh quá đơn phương rằng chỉ có thể học tập có ýnghĩa những gì mà người ta quan tâm Tuy nhiên cuộc sống đòi hỏi cả nhữngđiều mà khi còn đi học người ta không quan tâm
- Việc đưa các kĩ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không có luyệntập cơ bản có thể hạn chế hiệu quả học tập
- Việc nhấn mạnh quá đơn phương việc học trong nhóm cần được xem xét,năng lực học tập cá nhân vẫn luôn luôn đóng vai trò quan trọng
- Dạy học theo lí thuyết kiến tạo đòi hỏi thời gian lớn và yêu cầu cao vềnăng lực của giáo viên
2.3 Ý nghĩa khi vận dụng lý thuyết học tập nhận thức và lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học
2.3.1 Ý nghĩa khi vận dụng lý thuyết học tập nhận thức trong dạy học
Thuyết học tập nhận thức có ý nghĩa to lớn trong dạy học Qua hiểu biết về
lý thuyết học tập nhận thức, khẳng định rõ mỗi người có cấu trúcnhận thức riêng Vì vậy muốn có sự thay đổi đối với một người thì cần có tácđộng phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó Từ hiểu biết đó, trong mộtlớp học, mỗi học sinh sẽ có một cách học riêng hiệu quả nhất cho mình: nhậnthức bằng trực quan hay hình ảnh, tư duy bằng ngôn ngữ hay logic, có năngkhiếu động học hay vận động cơ thể, âm nhạc hay sống nội tâm, thích làm việctheo nhóm hay làm việc độc lập,… Nếu xác định được đâu là điểm mạnh củatừng học sinh, giáo viên có thể sử dụng chúng để thúc đẩy hoạt động học tập
Trang 12nhận thức Quá trình nhận thức của học sinh cũng luôn không đồng đều, thườngxảy ra các điểm tắc nghẽn, nếu giáo viên nắm được lý thuyết học tập nhận thức,
họ sẽ biết cách giúp họ sinh gỡ rối về phương pháp nhận thức và đuổi kịp cácbạn trong lớp
Khi hiểu được lý thuyết học tập nhận thức, các giáo viên có nhiều chiếnlược cũng như hình thức học tập nhận thức hữu ích để giúp tối đa hóa thành tíchcủa học sinh
Lý thuyết học tập nhận thức hiện nay đang được ứng dụng rất mạnh mẽ,chẳng hạn như trong việc đào tạo trực tuyến Nhiệm vụ chính của giáo viên sẽkhông dừng lại ở việc cung cấp đủ kiến thức cho học sinh mà còn lên kế hoạchgiảng dạy phù hợp với năng lực của từng học sinh Muốn vậy, người giáo viêncần nắm vững các học thuyết dạy học tiên tiến, mà lý thuyết nhận thức là mộttrong số đó
Trong việc hướng dẫn học sinh, giáo viên có một vai trò tích cực, chủ độngkèm cặp với học sinh Thay vì truyền đạt một lượng lớn kiến thức cho học sinhkhi các em ngồi nghe một cách thụ động, chia sẻ kinh nghiệm học tập và khuyếnkhích các em học sinh trở nên chủ động, dấn thân hơn Luôn coi trọng học sinh
và tôn trọng ý kiến, đề xuất và quan điểm của các em Bổ sung vào những bàigiảng truyền thống với những bài thực hành để học sinh có thể tự mình trảinghiệm những nội dung đó Khuyến khích các em học sinh tự học hỏi từ nhữngngười bạn của mình Việc lắng nghe một cách cẩn thận ý kiến của bạn bè và tôntrọng những quan điểm khác nhau sẽ đem đến những lợi ích lâu dài cho các em.Bởi vì các em học sinh có những khả năng nổi bật ở những mảng kiến thức khácnhau, thế nên, việc học hỏi từ bạn của mình cũng góp phần không nhỏ cho mộtnền giáo dục toàn diện Giáo viên để cho các em học sinh được học hỏi từ sailầm của mình Sai lầm cho thấy các em đang cố gắng tương tác với thế giớixung quanh và từ đó các em có thể đưa ra những ý tưởng mới cho mình Trongquá trình dạy học, giáo viên tập trung vào quá trình cũng như tập trung vào kếtquả Thay vì chỉ tập trung vào câu trả lời chính xác, giáo viên hãy chú ý đếnnhững bước khác nhau để có thể đạt được một kết quả hoàn chỉnh nhất Tôn
Trang 13trọng sở thích, khả năng và giới hạn của từng em học sinh Những đứa trẻ khácnhau sẽ đạt được sự phát triển ở các giai đoạn khác nhau Thay vì tạo áp lực đểcác em thích ứng với một cách học tập nào đó, hãy chú ý đến các giai đoạn pháttriển của từng đứa trẻ và đưa ra những cách học phù hợp Khuyến khích sự độclập, học tập thực hành và tạo cơ hội khám phá Giáo viên có thể lập kế hoạchmột loạt các hoạt động trong lớp học phù hợp với các phong cách học tập khácnhau, chẳng hạn như thông qua thị giác hoặc thính giác Việc học ở lớp nên lấyhọc sinh làm trung tâm và thực hiện thông qua việc học chủ động khám phá Vaitrò của người thầy là tạo điều kiện cho việc học hơn là trực tiếp giảng bài
- Lí thuyết nhận thức được vận dụng trong việc tối ưu hoá quá trình dạyhọc nhằm phát triển khả năng nhận thức của người học, đặc biệt là phát triển tưduy Chiến lược nhận thức của người học được xác định trong thuyết nhận thức
là chiến lược thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin trong cấu trúc nhận thức Do
đó, trong quá trình dạy học, người dạy cần dẫn dắt và thúc đẩy quá trình học tậpcủa người học thông qua các nhiệm vụ học tập để phát triển tư duy, giải quyếtvấn đề Người học chịu trách nhiệm tiếp thu tài liệu, xử lí và xây dựng lược đồnhận thức cho bản thân
Thuyết nhận thức được vận dụng rộng rãi trong dạy học đặc biệt là dạy họcgiải quyết vấn đề, dạy học khám phá, dạy học theo nhóm
-Thuyết nhận thức chỉ ra rằng, học là quá trình xử lí thông tin nên ngườigiáo viên cần nhận ra được rằng: quá trình tư duy chỉ xảy ra khi học sinh gặpvấn đề khó và hữu ích cho cuộc sống của bản thân họ Vì vậy, giáo viên cần nắm
kĩ nội dung kiến thức mới, biến nó thành những vấn đề mà học sinh quan tâm.Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, mức độ vấn đề đó học sinh có thể giải quyết được, nóphải nằm trong phạm vi hiểu biết của người học, kiến thức mới không quá xá rờivới kiến thức đã biết Tư duy người học xử lý kiến thức mới dựa vào những kiếnthức đã biết có liên quan trước đó và biến nó thành kiến thức của riêng mình Đóchính là vùng “phát triển gần” của học sinh Nhiệm vụ của người giáo viên làphải tìm ra vùng “phát triển gần” của học sinh ứng với từng đơn vị kiến thức
Trang 14mới Sau đó, trong bước khởi động, giới thiệu bài, giáo viên cần giúp học sinh
ôn lại kiến thức cũ có liên quan
- Quá trình giải quyết vấn đề cần sử dụng nhiều thao tác tư duy nhưng cầntuân theo mức độ phù hợp từ dễ đễn khó Vì vậy, hệ thống câu hỏi và các nhiệm
vụ để giải quyết vấn đề cũng phải được thiết kế từ đơn giản đến phức tạp
- Giáo viên cũng cần quan tâm đến dạy học phân hóa, với những em học
có tư chất tốt cần có những câu hỏi đòi hỏi tư duy cao hơn
2.3.2 Ý nghĩa khi vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học
Quan điểm của Việt Nam luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Trướcbối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của quốc tế: Cuộc cách mạng khoahọc công nghệ đã và đang phát triển với tốc độ nhanh, mạnh hơn; nền kinh tế thếgiới đang chuyển dần kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức; toàn cầu hóa vàhội nhập quốc tế đang là xu thế tất yếu và phổ biến, giáo dục từ xa, sự phát triểncủa các phương tiện truyền thông, công nghệ tin học,… Giáo dục trong xã hộiViệt Nam hiện nay cũng cần sự chuyển mình thay đổi để sớm hòa nhập với thếgiới Cùng với sự hòa nhập về các lĩnh vực thì nền giáo dục bắt đầu có sự thayđổi nhưng vẫn đảm bảo đúng theo quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục theoQuyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ về Chiếnlược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 Hiện nay hệ thống giáo dục đangđón chờ sự hay đổi sách giáo khoa mới trong chương trình giáo dục phổ thông
2018 Với định hướng đón đầu những tri thức của thế giới, tăng cường các kĩnăng cho học sinh và đồng thời giúp các em phát triển toàn diện về mọi mặt nhưmục tiêu đề ra Để điều này thành công cần có sự thay đổi các phương pháp dạyhọc cho phù hợp, có như vậy ta mới có đầy đủ sự chuẩn bị và thay đổi cả vềlượng lẫn chất trong giáo dục Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong giáo dục đóngvai trò then chốt, có tác động mạnh mẽ và ý nghĩa nhất đối với giáo dục ViệtNam hiện nay
Thuyết học tập kiến tạo thách thức một cách cơ bản tư duy truyền thống vềdạy học Không phải người dạy, mà là người học trong sự tương tác với các nộidung học tập sẽ nằm trong tâm điểm của quá trình dạy học Học sinh phải học
Trang 15tập từ lí trí riêng, tự định hướng, thiết kế, điều chỉnh quá trình học tập của chínhmình Lí thuyết này hữu ích cho việc xây dựng cấu trúc môi trường học tập,chẳng hạn như mô phỏng thế giới, để giúp người học có đủ khả năng xây dựngcác cấu trúc khái niệm nhất định thông qua quá trình tham gia và trải nghiệm cáchoạt động tự định hướng đó
Nhiều quan điểm dạy học mới bắt nguồn từ thuyết kiến tạo: học tập tự điềuchỉnh, học tập với những vấn đề phức hợp, học theo tình huống, học theo nhóm,học qua sai lầm, nhấn mạnh nhiều hơn vào dạy học định hướng quá trình thaycho định hướng sản phẩm Kiến tạo có ý nghĩa đối với phương pháp sư phạmhoặc các lí thuyết về giáo dục Phát hiện, thực hành, kinh nghiệm, hợp tác, dự án
và học tập dựa trên nhiệm vụ là một số ứng dụng của lí thuyết kiến tạo trong dạyhọc
Thuyết kiến tạo góp phần làm thay đổi mục tiêu quá trình giáo dục - từ giáodục cho tất cả mọi người sang mục tiêu lớn hơn là sự nghiệp giáo dục được tạo
ra bởi tất cả mọi người Đó là xã hội hóa giáo dục, học lẫn nhau, dạy lẫn nhaunhằm phát huy tiềm năng tri thức xã hội và tri thức cá nhân một cách tổng lực để
có một xã hội văn minh, văn hóa, thực hiện mục đích tự giáo dục bằng học tậpsuốt đời
Mục đích cuối cùng của tất cả các thuyết đều nhằm giúp người học tăngcường tự trải nghiệm để tiếp thu tri thức và có thể tự xây dựng tri thức cho mình,
từ đó hình thành nên các phẩm chất nhân cách của con người phù hợp yêu cầucủa thời đại