1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận cao học: Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hoá

35 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hoá
Tác giả Nguyễn Thị Dục
Người hướng dẫn TS. Bùi Việt Phú
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Bài tập cuối kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 26,55 MB
File đính kèm GDVN trong bối cảnh quốc tế hoá.rar (27 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Đặt vấn đề Đảng và Nhà nước ta luôn xác định “phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển”, theo đó, phải ưu tiên để tạo dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Trong bối cảnh quốc tế hóa, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự tác động sâu sắc của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chủ trương này càng được quán triệt đầy đủ, để giáo dục và đào tạo thực sự là đòn bẩy của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đồng thời là tiền đề quan trọng để tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững. Ở mỗi quốc gia, việc xác định, chỉ rõ quan điểm giáo dục trong một giai đoạn cụ thể, thường thông qua hai phương thức sau: tổng kết thực tiễn giáo dục và rút ra quan điểm giáo dục phù hợp với thực tiễn, hoặc là trên cơ sở một nền giáo dục khoa học trên thế giới, rút ra quan điểm giáo dục phù hợp với nước mình. Thực tiễn cho thấy, cả hai phương thức này đều đã được lựa chọn, hoặc có sự kết hợp bởi cả hai nhưng ở các mức độ khác nhau. Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số số 29NQTW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Giáo dục Việt Nam đang trong quá trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế. Việc nghiên cứu các quan điểm, mô hình giáo dục của các nước trên thế giới để đưa ra những khuyến nghị cho giáo dục ở Việt Nam là cần thiết, góp phần vào sự thành công của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam. 2. Bối cảnh quốc tế, Việt Nam và một số nội dung cơ bản về giáo dục trong bối ảnh quốc tế hóa hiện nay 2.1. Bối cảnh quốc tế hiện nay Thế giới đã chuẩn bị đi hết thập niên thứ hai của thế kỉ XXI với những diễn biến mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến sự phát triển KTXH của Việt Nam nói chung cũng như sự phát triển giáo dục đất nước nói riêng. Một số yếu tố quan trọng có thể ảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam có thể chỉ ra ở dưới đây: Trước hết, đó là quá trình quốc tế hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ. Sự tác động của quá trình quốc tế hóa đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước mình. Bởi lẽ, muốn hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia cần xây dựng nguồn nhân lực có tri thức, kĩ năng, phẩm chất cần thiết. Do đó, quốc tế hóa trong giáo dục cũng là một thách thức đối với mỗi quốc gia, đòi hỏi cần có sự đổi mới căn bản và toàn diện. Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ (Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) được dự báo sẽ làm thay đổi đến các mặt của xã hội, trong đó có giáo dục. Do vậy, cuộc cách mạng này cũng sẽ thay đổi cách thức lao động trong lĩnh vực giáo dục. Thứ ba, sự hình thành của nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức; trong đó, tri thức có vai trò quyết định đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự hình thành của nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục phải vượt khỏi những khuôn khổ truyền thống và không ngừng đổi mới, thích nghi. 2.2. Bối cảnh Việt Nam hiện nay Nền giáo dục nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy nhân tố con người nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, chất lượng, hiệu quả GDĐT còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục; hệ thống GDĐT thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức GDĐT, còn nặng lí thuyết, nhẹ thực hành; đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng làm việc; phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập còn lạc hậu; quản lí GDĐT còn nhiều yếu kém; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp 1. Nghị quyết số 29NQTW đã đưa ra quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÀI TẬP CUỐI KÌ HỌC PHẦN: GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH

QUỐC TẾ HOÁ

Bài tập: Anh chị học được vấn đề gì khi học chuyên đề giáo dục

trong bối cảnh quốc tế hóa (Đổi mới; cải cách giáo dục; đổi mới phương pháp, hình thức dạy học,…)? Liên hệ thực tiễn ở đơn vị anh, chị đang công tác.

Giảng viên : TS Bùi Việt Phú

Học viên thực hiện : Nguyễn Thị Dục

Lớp : K43-Giáo dục học

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2022

Trang 2

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Dục

Trang 3

2.3 Một số nội dung giáo dục trong bối ảnh quốc tế hóa

3.2 Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và giảng dạy 8

3.3 QTH kinh tế khiến giáo dục Việt Nam có nhiều cơ hội để cải cách

8

3.4 Mối quan hệ giữa chính trị và giáo dục trong QTH 9

4 Một số nội dung rút ra khi học chuyên đề giáo dục trong bối cảnhquốc tế hóa

10

4.1 Những thách thức từ QTH đối với giáo dục Việt Nam 10

4.2 Về chính sách giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa 12

4.3 Quá trình cải cách và phát triển giáo dục 13

4.4 Đổi mới một số nội dung trong giáo dục 14

4.5 Đổi mới một số phương pháp trong giáo dục 16

4.6 Một số nội dung tác động đến cải cách trong giáo dục 17

5 Liên hệ thực tiễn trong quá trình công tác 19

6 Biện pháp cần thực hiện đối với giáo dục trong bối cảnh QTH 24

6.1 Thúc đẩy mạnh mẽ hội nhập hơn nữa 24

6.2 Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục của Việt Nam

Trang 4

1 Đặt vấn đề

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định “phát triển giáo dục đào tạo là quốcsách hàng đầu”, “đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển”, theo đó, phải ưu tiên đểtạo dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp xâydựng, bảo vệ và phát triển đất nước Trong bối cảnh quốc tế hóa, sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự tác động sâu sắc của cuộc cách mạngcông nghiệp 4.0, chủ trương này càng được quán triệt đầy đủ, để giáo dục và đàotạo thực sự là đòn bẩy của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;đồng thời là tiền đề quan trọng để tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, thúcđẩy xã hội phát triển bền vững Ở mỗi quốc gia, việc xác định, chỉ rõ quan điểmgiáo dục trong một giai đoạn cụ thể, thường thông qua hai phương thức sau:tổng kết thực tiễn giáo dục và rút ra quan điểm giáo dục phù hợp với thực tiễn,hoặc là trên cơ sở một nền giáo dục khoa học trên thế giới, rút ra quan điểm giáodục phù hợp với nước mình

Thực tiễn cho thấy, cả hai phương thức này đều đã được lựa chọn, hoặc

có sự kết hợp bởi cả hai nhưng ở các mức độ khác nhau Hội nghị lần thứ 8, Banchấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóatrong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc

tế Giáo dục Việt Nam đang trong quá trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc

tế Việc nghiên cứu các quan điểm, mô hình giáo dục của các nước trên thế giới

để đưa ra những khuyến nghị cho giáo dục ở Việt Nam là cần thiết, góp phầnvào sự thành công của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ViệtNam

2 Bối cảnh quốc tế, Việt Nam và một số nội dung cơ bản về giáo dục trong bối ảnh quốc tế hóa hiện nay

2.1 Bối cảnh quốc tế hiện nay

Thế giới đã chuẩn bị đi hết thập niên thứ hai của thế kỉ XXI với nhữngdiễn biến mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến sự phát triển KT-XH của Việt Nam

Trang 5

nói chung cũng như sự phát triển giáo dục đất nước nói riêng Một số yếu tốquan trọng có thể ảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam có thể chỉ ra ở dưới đây:

- Trước hết, đó là quá trình quốc tế hóa và hội nhập quốc tế đang diễn rarất mạnh mẽ Sự tác động của quá trình quốc tế hóa đòi hỏi các quốc gia phảithúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước mình Bởi lẽ, muốn hội nhập quốc

tế sâu rộng, các quốc gia cần xây dựng nguồn nhân lực có tri thức, kĩ năng,phẩm chất cần thiết Do đó, quốc tế hóa trong giáo dục cũng là một thách thứcđối với mỗi quốc gia, đòi hỏi cần có sự đổi mới căn bản và toàn diện

- Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ(Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) được dự báo sẽ làm thay đổi đến các mặtcủa xã hội, trong đó có giáo dục Do vậy, cuộc cách mạng này cũng sẽ thay đổicách thức lao động trong lĩnh vực giáo dục

- Thứ ba, sự hình thành của nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức; trong đó,tri thức có vai trò quyết định đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Sự hìnhthành của nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục phải vượt khỏi những khuôn khổtruyền thống và không ngừng đổi mới, thích nghi

2.2 Bối cảnh Việt Nam hiện nay

Nền giáo dục nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong việc nâng caochất lượng nguồn nhân lực, phát huy nhân tố con người nhằm thúc đẩy sự pháttriển của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, chất lượng,hiệu quả GD-ĐT còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục; hệthống GD-ĐT thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức GD-

ĐT, còn nặng lí thuyết, nhẹ thực hành; đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứukhoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chútrọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng làm việc; phươngpháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập còn lạc hậu; quản líGD-ĐT còn nhiều yếu kém; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục bất cập

về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới

và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp[1]

Trang 6

Nghị quyết số 29-NQ/TW đã đưa ra quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm

vụ và giải pháp để định hướng phát triển giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa.Một hệ thống giải pháp toàn diện và đồng bộ được đưa ra, gồm:

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đối với đổimới GD-ĐT;

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GD-ĐTtheo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của người học;

- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi kiểm tra, đánh giá kếtquả GD-ĐT, đảm bảo trung thực, khách quan;

- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hệ thống giáo dục mở, họctập suốt đời và xây dựng xã hội học tập;

- Đổi mới căn bản công tác quản lí GD-ĐT, đảm bảo dân chủ, thống nhất,tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD-ĐT; coi trọng quản líchất lượng;

- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí, đáp ứng yêu cầu đổi mớiGD-ĐT;

- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng gópcủa toàn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD-ĐT;

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học côngnghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lí;

- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GD-ĐT [1] Đây là những định hướng lớn và đang được các cấp, các ngành triển khaitích cực nhằm tạo nên những bước chuyển căn bản, toàn diện trong giáo dụcViệt Nam hiện nay

2.3 Một số nội dung giáo dục trong bối ảnh quốc tế hóa hiện nay

Một là, định hướng chung về giáo dục và vị trí, vai trò của giáo dục hiện nay

Trang 7

Trong quá trình đổi mới giáo dục cần thống nhất một số quan niệm, địnhhướng về vị trí, vai trò của giáo dục:

- Giáo dục cần hướng tới phát triển tiềm năng của người học Không chỉcung cấp tri thức, giáo dục còn rèn luyện người học toàn diện cả về năng lực vàphẩm chất

- Giáo dục cần có mô hình định hướng nhân cách nhưng không giáo điều;tôn trọng sự phát triển đa dạng của cá nhân, của từng nhân cách cụ thể

- Phát huy tinh thần tự học, học gắn với hành, lí luận gắn với thực tiễn

- Giáo dục cần thể hiện tinh thần tự do, dân chủ của xã hội, đặc biệt rènluyện và thực hành dân chủ trong giáo dục Tinh thần tự do thể hiện trong sựsáng tạo không ngừng của người dạy và người học trên cơ sở những tri thứcchung

- Giáo dục là một quá trình lâu dài, không chỉ giáo dục trong nhà trường

mà còn ở xã hội, trong gia đình,… Do vậy, cần xây dựng xã hội tri thức, xã hộihọc tập với phương châm học tập suốt đời

- Cần kết hợp giữa dịch vụ và chính sách xã hội trong giáo dục, tránh tìnhtrạng thương mại hóa quá mức giáo dục

- Ở bậc đại học, cần kết hợp giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học đểnâng cao chất lượng đào tạo cũng như đảm bảo đúng chức năng của các trườngđại học, học viện

- Tăng cường hội nhập quốc tế trong giáo dục Trong bối cảnh quốc tế hóađang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc xây dựng nền giáo dục, hệ thống giáodục theo những tiêu chuẩn quốc tế sẽ góp phần tăng cường chất lượng nguồnnhân lực, rút ngắn khoảng cách giữa nhân lực Việt Nam và nhân lực quốc tế

Hai là, về mục tiêu giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa

- Tăng cường tiếp cận theo hướng xác định chuẩn đầu ra trong giáo dục,

nghĩa là hướng tới kết quả giáo dục tiệm cận với trình độ khu vực và thế giới

Trang 8

Chú trọng thực học, chống bệnh thành tích trong giáo dục Tăng cường khảo sátnhu cầu thực tiễn đối với từng ngành học để xác định chuẩn đầu ra phù hợp.

Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, cần căn cứ vào yêu cầu xã hội để xâydựng mục tiêu đào tạo, từ đó xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp đàotạo hợp lí Điều này sẽ tạo ra sự gắn kết giữa giáo dục với thị trường, với yêucầu phát triển KT-XH của đất nước đáp ứng sự hội nhập giáo dục quốc tế

Ba là, nội dung và phương pháp giáo dục, tổ chức và quản lí đào tạo

Trong quá trình giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục theo hướngtăng cường cả tri thức, kĩ năng và phẩm chất của người học đáp ứng sự hội nhậpquốc tế hiện nay

Về nội dung, chương trình đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,kết hợp giữa lí thuyết và ứng dụng, thực hành

Về phương pháp, phương pháp giảng dạy tích cực, kết hợp với phươngtiện hiện đại nhằm nâng cao chất lượng bài giảng, tăng cường tính tích cực, chủđộng của người học Dạy người học biết cách học, tự học, tự nghiên cứu Tăngcường tính sáng tạo, tinh thần say mê, hứng thú của người học

Về quản lí quá trình đào tạo, tiến hành chuyển đổi mạnh mẽ theo những

mô hình quản lí đào tạo hiện đại trên thế giới

Bốn là, về cơ chế quản lí giáo dục

Mỗi cơ sở giáo dục gắn với nhu cầu thị trường, tăng cường tính tự chủ, tựchịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục Cụ thể, tăng cường tính tự chủ, tự chịutrách nhiệm của các cơ sở giáo dục Tự chủ đại học là một hướng đi đúng và cầnđẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới nhằm tạo cơ chế thúc đẩy sự phát triển vàhội nhập của giáo dục đại học Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục do các

có sở độc lập hoặc (kết hợp với) các cơ quan chuyên trách của nhà nước; Kếthợp quản lí nhà nước song song với tăng cường tính tự chủ của các cơ sở giáodục, thể hiện ở trách nhiệm giải trình, ở kiểm định chất lượng, ở kết quả đào tạo

và khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội của giáo dục

Trang 9

3 Tác động tích cực của quốc tế hóa (QTH) đối với giáo dục Việt Nam

Kinh tế là một trong những lĩnh vực QTH sớm nhất Trong lĩnh vực này,chúng ta có thể nhìn thấy thành quả thực tế nhất của QTH, cũng có thể nhìn thấyđộng lực trực tiếp nhất của QTH Một trong những nhận thức quan trọng vềQTH là nhận thức mối quan hệ giữa QTH kinh tế và giáo dục Dưới sự thúc đẩycủa QTH kinh tế, nền giáo dục của Việt Nam sẽ tiếp tục có những biến đổi sâusắc Nó diễn ra trước hết trong sự biến đổi của thể chế giáo dục và sau là hệthống giáo dục Đây là quá trình phủ định của phủ định trong sự phát triển, điềunày phù hợp với bản chất của giáo dục và tính logic bên trong nó

3.1 QTH kinh tế khiến cho tri thức sinh ra sự thay đổi mang tính bước ngoặt

Tri thức được tạo ra đang từ quy mô nhỏ bước đến quy mô đa quốc gia, sự

di chuyển chất xám xuyên biên giới thông qua sự hợp tác đa quốc gia Chínhtrong quá trình này, hệ thống phân loại kiến thức và hệ thống khái niệm khoahọc sẽ phải hướng đến thống nhất với toàn cầu Tài liệu học tập, giáo trình ở cáccấp học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam sẽ có xu hướng đạt đến sự thốngnhất với toàn cầu Tiếng Anh cũng trở thành ngôn ngữ được sử dụng ngày càngphổ biến trong các nhà trường ở Việt Nam, trở thành công cụ chung cho việc sảnsinh tri thức toàn cầu, các tạp chí học thuật xuất bản bằng tiếng Anh cũng chiếm

vị trí quan trọng trong đời sống khoa học ở Việt Nam

Trong quá trình QTH, sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ở nhữngmức độ khác nhau thúc đẩy sự lan rộng của cuộc sống xã hội trong nguyên tắc

tự do thương mại Giáo dục và tri thức của loài người cũng không thể tránh khỏiđiều này Chủ nghĩa tự do mới trong quá trình QTH (neo - liberelism) về bảnchất có mối quan hệ mật thiết với tư duy thị trường hóa Nguyên tắc kinh tế, đặcbiệt là nguyên tắc của kinh tế thị trường đã trở thành nguyên tắc cơ bản diễn giảicác lĩnh vực khác nhau của xã hội con người Khi đó, QTH kinh tế, thông quaQTH phân công lao động xã hội, QTH nguồn nhân lực, trở thành động lực mạnh

mẽ thúc đẩy giáo dục và tri thức phát triển, khiến cho giáo dục và tri thức cũng

Trang 10

được hòa nhập với quỹ đạo thị trường Điều này sẽ tạo ra cơ hội cho sự hìnhthành và phát triển thị trường giáo dục ở Việt Nam Sự xuất hiện của các trườnghọc quốc tế (từ giáo dục phổ thông cho đến giáo dục đại học) sẽ tạo ra sự cạnhtranh cần thiết, tạo cơ hội cho các trường học nội địa của Việt Nam thay đổimạnh mẽ Mặt khác, sự xuất hiện của thị trường lao động chất lượng cao mangtính quốc tế trong lĩnh vực giáo dục sẽ tạo nên những áp lực phải nâng cao nănglực chuyên môn và ngoại ngữ đối với các nhà giáo nội địa, trong đó trước hếtdiễn ra ở các thành phố lớn

3.2 Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Sự chuyển dần sang cung cấp tri thức theo nhu cầu của thị trường, côngviệc và địa vị của người học cũng trở thành nhân tố quan trọng mà giáo dụckhông thể không suy nghĩ đến

Các trường đại học, cao đẳng, trong quá trình tìm kiếm người học, nguồnquỹ nghiên cứu, sẽ dần dần trở thành một loại công ti giáo dục nhờ thông quaviệc cung cấp các dịch vụ tri thức và đào tạo kĩ năng Điều này sẽ đưa đến quátrình tái cấu trúc lại các trường đại học và định hướng giáo dục phổ thông ở ViệtNam nhằm phục vụ nhu cầu của xã hội và nhu cầu đào tạo nhân lực cho sự pháttriển Giống như ở Nhật Bản hiện nay, do kinh tế đòi hỏi sự phát triển nguồnnhân lực để hỗ trợ sự cạnh tranh toàn cầu, đã tiếp sức cho các tranh luận về việcđào tạo nguồn nhân lực tinh hoa và những tranh cãi về việc suy giảm năng lựckhoa học Điều này cũng đem lại các thay đổi trong việc chuyển các trường đạihọc thành các Trung tâm chất lượng cao và chuyển các đại học quốc gia thànhcác tập đoàn quản trị độc lập Cho nên không quá khi nói rằng, thế kỉ XX trởthành thế kỉ của vốn nhân lực (human capital) mà Mỹ là quốc gia dẫn đầu Conđường đi tới thành công cho quốc gia và cá nhân cuối cùng chính là sự đầu tưvào vốn nhân lực Trình độ giáo dục thấp sẽ ngăn cản một quốc gia tiếp cậncông nghệ và hưởng lợi đầy đủ từ nền kinh tế toàn cầu

Trang 11

3.3 QTH kinh tế khiến giáo dục Việt Nam có nhiều cơ hội để cải cách

Khi kinh tế tri thức đã xuất hiện, tri thức trở thành “hàng hóa” Điều nàycũng làm thay đổi thái độ của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục Chính phủ cóthể sẽ cắt giảm được sự chi tiêu ngân sách cho giáo dục, để chuyển sang tìmkiếm các nguồn vốn xã hội hóa để hỗ trợ việc mở rộng hệ thống giáo dục trongtương lai

Một mặt, do QTH thị trường lao động, sự đầu tư lớn của nhà nước chogiáo dục sẽ phải đối mặt với nhiều bất ổn do cạnh tranh lao động toàn cầu Mặtkhác, giáo dục trở thành một dịch vụ có thể mua bán và có thể mang lại một lợinhuận rất lớn, điều này khiến cho các nhà đầu tư có tiềm lực sẽ đầu tư vào dịch

vụ giáo dục, tạo thành động lực để đưa giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở bậc đạihọc được mở rộng ra thị trường quốc tế, nhất là ở các ngành học mang tính đặcthù (giống như Mỹ, Anh, Úc.v.v đang làm) Vì vậy, chúng ta càng dễ ràngnhận thấy, lĩnh vực giáo dục quốc dân của một quốc gia càng được xã hội hóa vàthị trường hóa mạnh mẽ sẽ càng tận dụng được các nguồn lực tài chính của xãhội, đồng thời giảm chi tiêu ngân sách Thậm chí hiện nay, một số nước pháttriển đã đưa ra chủ trương cải cách giáo dục từ việc cắt giảm vốn cho các lĩnhvực giáo dục đại học và khuyến khích các trường cao đẳng và đại học khai thácthị trường nước ngoài Đối với một số quốc gia phương Tây, khi các trường đạihọc thiếu đi năng lực khai thác thị trường trong nước, những trường này sẽhướng đến khai thác thị trường hải ngoại Ông R Levin, Chủ tịch Đại học Yale,từng tự hào khi nói: Chúng tôi tự hào vì đã đào tạo không chỉ bốn trong sáu vịTổng thống vừa qua của Hoa Kì, mà còn một vị Tổng thống Đức, hai Thủ tướngHàn Quốc và một Tổng thống Mexico Chúng tôi muốn thấy con số này tăngthêm

3.4 Mối quan hệ giữa chính trị và giáo dục trong QTH

Bất luận là xem xét dưới góc độ nào, giống như việc QTH kinh tế trựctiếp tác động đến chính trị các quốc gia

Bản chất sự ra đời của hệ thống giáo dục quốc gia, ở một mức độ rất lớn, làmột sự kiện lịch sử mang tính chất chính trị Giống như lời Andy Green, một học

Trang 12

giả người Anh từng nói: “Hệ thống giáo dục quốc gia ban đầu được sáng lập làvới tư cách một bộ phận của tiến trình hình thành quốc gia dân tộc hiện đại” [5;131], “Nói một cách đơn giản, nó thiết lập hoặc cố gắng thiết lập bản sắc côngdân và ý thức quốc gia - hai điều này phối hợp lẫn nhau và liên hệ mật thiết vớiquốc gia - Nó bồi dưỡng những con người sinh ra ở đó hoặc những người đượcnhận nuôi theo quy định của pháp luật thành những công dân thực sự” [5; 134].Trong quá trình QTH, đặc biệt là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, ý thức về mộttrật tự thế giới trong phạm vi toàn cầu đang dần dần thấm sâu và ảnh hưởng đến

sự phát triển của giáo dục Nó khiến cho ngày càng nhiều người đứng từ góc độcủa nhân loại chứ không phải đứng từ góc độ của quốc gia để xem xét vấn đề giáodục Ảnh hưởng của UNESCO và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủđến sự phát triển giáo dục thế giới càng ngày càng không thể xem nhẹ Tất cả cácthay đổi này đều xuất phát từ những phương diện không giống nhau, ảnh hưởngđến mối quan hệ giữa nhà nước và hệ thống giáo dục của các nước đó Trong một

ý nghĩa nhất định, nó đã khiến giáo dục bắt buộc từ một loại nghĩa vụ của côngdân đối với quốc gia chuyển sang nghĩa vụ chung của xã hội đối với cá nhân, thúcđẩy giáo dục quốc gia hướng đến các giá trị nhân loại Những đề xuất về nhiệm

vụ của giáo dục mang tính chất toàn cầu như giáo dục hiểu biết quốc tế, giáo dụcmôi trường và giáo dục hòa bình, cũng yêu cầu giáo dục vừa phải phục vụ choquốc gia đồng thời cũng phải phục vụ cho sự phát triển của con người Chức năngchính trị truyền thống của hệ thống giáo dục quốc gia không hề mất đi, nhưng bêncạnh đó là sự phát sinh thêm chức năng chính trị toàn cầu trên bình diện toànnhân loại

4 Một số nội dung rút ra khi học chuyên đề giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa

4.1 Những thách thức từ QTH đối với giáo dục Việt Nam

Trong bối cảnh QTH, giáo dục đặc biệt là giáo dục bậc cao đang có nhữngthay đổi sâu sắc Các loại liên kết và giao lưu đa quốc gia đang ngày càng tácđộng mạnh đến chức năng xã hội của văn hóa dân tộc trong lĩnh vực giáo dục

Để đẩy mạnh hội nhập với thế giới, hiện nay ở nhiều quốc gia mà tiếng Anh

Trang 13

không phải ngôn ngữ chính trong đó có Việt Nam, tiếng Anh không chỉ đượcdạy với tư cách là một môn học, mà còn là ngôn ngữ được sử dụng để truyền tảikiến thức môn học cũng đang cạnh tranh gay gắt với ngôn ngữ dân tộc Loại ýthức thế giới này đang lặng lẽ đi vào các trường học và thách thức địa vị chủ đạocủa ý thức dân tộc So với sự tương thích giữa văn hóa và tri thức, sự nghiệpgiáo dục đang đứng trước những thách thức rất lớn trong việc giải quyết mốiquan hệ giữa tính quốc tế và tính dân tộc.

Mặt khác, tính thị trường toàn cầu lại mang đến cho giáo dục và tri thứctính đại chúng Điều này đã khiến cho số lượng dễ khỏa lấp cho những hạn chế

về chất lượng, thậm chí có thể trở thành thước đo quan trọng nhất của giá trị sảnphẩm văn hóa, sự bán chạy dường như đã trở thành tiêu chuẩn cơ bản để đánhgiá sự thành bại của một tác phẩm Việt Nam dường như cũng không ngoại lệ.Sáng tạo kĩ thuật nhất định phải dựa vào thị trường để đưa ra giá trị của nó, nókhông giống như công cuộc sản xuất của loài người trong xã hội truyền thống

mà chuyển thành sự kết hợp đầu tư nguồn vốn, sau đó mới đi vào xã hội Nghiêncứu cơ bản phải nhằm mục đích đạt được sự kết hợp mật thiết giữa nguồn vốnđược tài trợ, tính giá trị và tính ứng dụng Đối với Việt Nam, điều này tuy chưathể hiện một cách rõ rệt, nhưng tình hình như vậy đang tạo ra một thách thứcthực sự đối với nghiên cứu và truyền đạt tri thức ở đào tạo bậc cao

Bên cạnh đó, chúng ta rất dễ để thấy rằng, trong quá trình QTH, tác dụngcủa thị trường trong lĩnh vực giáo dục tại các quốc gia làm xuất hiện những mâuthuẫn giữa quan điểm giáo dục vị kinh tế (chủ nghĩa kinh tế giáo dục) và quanđiểm giáo dục thuần túy Khi giáo dục trở thành một loại hàng hóa dịch vụ cóthể mua bán được trên thị trường trong phạm vi toàn cầu, mục đích giáo dục đàotạo con người sẽ bị thu hẹp lại, những người được giáo dục đào tạo cũng đangtrở thành một loại công cụ kinh tế (đặc biệt khi họ được các nhà sử dụng laođộng đặt hàng trực tiếp từ các cơ sở đào tạo) Cải cách giáo dục, ngoài mục tiêu

là sự phát triển con người, ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với hội nhập vàcạnh tranh quốc tế Đây sẽ là một thách thức lớn đối với nền giáo dục của ViệtNam vốn vẫn nặng tính bao cấp

Trang 14

Cũng trong quá trình QTH, xung đột giữa chủ nghĩa tự do mới và chủnghĩa kinh tế giáo dục với sự đầu tư của nhà nước cho giáo dục cũng khiến cholĩnh vực giáo dục, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục bậc cao dẫn đến nhiều hệ lụy.Một trong số những hệ lụy trực tiếp của nó là học phí của các trường đại học,cao đẳng tăng lên theo từng năm Đây là thách thức lớn cho thị trường giáo dụcViệt Nam, vì nhu cầu học tập thì lớn nhưng khả năng chi trả thì thấp Nhữngnăm gần đây, tại các nước phương Tây người ta bắt đầu thấy các sinh viên đạihọc biểu tình để phản đối vấn đề tăng học phí và vấn nạn việc làm trong quátrình QTH Đây chỉ là một trong những mâu thuẫn xãhội được tạo ra do mâuthuẫn nói trên trong QTH Năm 2004 Liên hợp quốc đã đưa ra một nhận định vềthách thức của quốc tế hóa như sau: Nhà nước không còn là phương diện duynhất cung cấp giáo dục bậc cao, giới học thuật cũng không còn quyền quyết sáchlũng đoạn giáo dục Những thách thức này không chỉ liên quan đến việc có được

cơ hội, sự bình đẳng, tài chính và vấn đề chất lượng của giáo dục bậc cao, màcòn liên quan đến chủ quyền quốc gia, tính đa dạng văn hóa, đói nghèo và cácvấn đề phát triển bền vững [14; 5]

4.2 Về chính sách giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa

Trong thời đại của QTH, các chính sách giáo dục của các nước bên cạnhviệc phát huy nội lực, còn hướng tới kết hợp tiếp thu chính sách và kinh nghiệmphát triển giáo dục của nước ngoài Một mặt, chính sách giáo dục quốc giakhông chỉ nhằm mục đích phát triển trong nước và sự cạnh tranh giữa các quốcgia mà còn phải đối diện với rất nhiều nhiệm vụ chung của toàn cầu Một mặtkhác, chúng ta không thể không tính đến sự ảnh hưởng đến từ bối cảnh quốc tế

và các nước khác Việt Nam cũng đang trong quá trình cải cách nền giáo dục,những ảnh hưởng từ bên ngoài là không thể xem nhẹ, đặc biệt là những ảnhhưởng từ UNESCO và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ xuyênquốc gia v.v Hoạt động của những tổ chức này trực tiếp ảnh hưởng đến cáchoạt động giáo dục mang tính chất toàn cầu, đặc biệt là một loạt các quan niệmgiáo dục mới của thời đại và ảnh hưởng của nó trong sự phát triển giáo dục ngàycàng lớn mạnh

Trang 15

Những năm gần đây, một số hoạt động thực tế của UNESCO ở một mức

độ tương đối đã trở thành tổ chức đứng đầu trong việc phát triển giáo dục toàncầu Những biến đổi này không chỉ làm tăng lên những thách thức của ý thứccông dân thế giới đối với ý thức công dân quốc gia trong lĩnh vực giáo dục, màtrong một mức độ nhất định cũng hình thành nên thách thức đối với hệ thốnghành chính quốc gia Năm 2004, một báo cáo về giáo dục của UNESCO cũngcho rằng: Sự xuất hiện của giáo dục bậc cao thiết lập xuyên quốc gia và thươngmại giáo dục khiến cho giáo dục bắt đầu gắn với thị trường Điều này có thể sẽảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực của nhà nước trong việc sử dụng chínhsách công để quản lí giáo dục bậc cao [14; 5] Để đối mặt với những thách thứcnày, những năm qua rất nhiều quốc gia đã đẩy mạnh cải cách giáo dục Kinhnghiệm của Mỹ cho thấy, từ những năm 90 của thế kỉ XX trở đi chính sách giáodục phân quyền đã không ngừng nâng cao vai trò chủ đạo của các bang trongphát triển giáo dục Nhà nước tăng cường quan tâm đến giáo dục nhưng không

có nghĩa là chống lại QTH, thúc đẩy quá trình “quốc gia hóa” Nhưng về tổngthể mà nói, điều này chỉ là một phần trong tiến trình lịch sử QTH

4.3 Quá trình cải cách và phát triển giáo dục

Trong quá trình này, trọng tâm của quan hệ chính trị quốc tế dần dầnchuyển hướng và mở rộng sang kinh tế và văn hóa, phá vỡ đi rào cản thươngmại và trở thành những chủ đề quan trọng trên các tọa đàm quốc tế

Những xung đột về văn hóa trở thành một trong những tiêu điểm đượcquan tâm bởi các chính trị gia và học giả quốc tế Trong bối cảnh các công tixuyên quốc gia dựa vào các nguyên tắc tự do hóa thị trường không ngừng chinhphục thế giới, các nước đang phát triển như Việt Nam, nếu không bắt kịp hoặckhông thúc đẩy việc phát triển của QTH giáo dục sẽ phải chịu những tổn thất vềkinh tế và văn hóa, mất cơ hội thu hẹp khoảng cách Kinh nghiệm từ Nhật Bản,Hàn Quốc và Singaore là những minh chứng đầy thuyết phục Ví dụ như NhậtBản, quốc gia đang phải đối mặt với nhiều thách thức của QTH như: vấn đề giàhóa dân số và sự gia tăng số luợng công nhân tạm thời, làm việc bán thời gianđến từ nước ngoài; sự phổ biến của chủ nghĩa ích kỉ và đa dạng cảm nhận về giá

Trang 16

trị Nhật Bản.v.v khiến cho các chính sách của Nhật Bản ngày càng coi trọngvai trò của công chúng Trong bối cảnh này, chính phủ Nhật Bản đặt ra yêu cầuphát triển học sinh, sinh viên tài năng Vòng quay kinh tế đòi hỏi sự phát triểncủa nguồn nhân lực để hỗ trợ cho việc thích ứng và cạnh tranh toàn cầu Và cuộccải cách giáo dục của Nhật Bản đã được xây dựng bắt đầu từ những thách thứcnhư vậy

Một thách thức nữa là QTH vẫn luôn tiềm ẩn một xu hướng nhất thể hóachính trị, trong đó giáo dục trở thành một trong những lực lượng cơ bản để thúcđẩy quá trình này Sự nhất thể hóa này bước đầu có thể chỉ dừng lại ở nhữngnhận thức hoặc những cam kết chung về những giá trị quốc tế, giá trị toàn cầutrong sự phát triển của các quốc gia để đảm bảo một sự phát triển bền vững.Những năm gần đây, thông qua các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ,những thành công của chủ đề môi trường khiến cho giáo dục môi trường trởthành một bộ phận quan trọng tổ hợp nên chính trị chung toàn cầu Trong bốicảnh của chính trị thế giới sau chiến tranh lạnh, giáo dục hiểu biết quốc tế cũngtrở thành một trong những hành động chính trị chung toàn cầu của cộng đồngquốc tế trong việc mưu cầu cho nền hòa bình nhân loại Ngoài ra, tăng cườngchức năng giáo dục là một trong những giải pháp xóa đói giảm nghèo và cũng làmột biện pháp của chính trị chung toàn cầu Cộng đồng quốc tế đã coi phổ cậpgiáo dục và thực hiện phát triển giáo dục là một trong những con đường quantrọng để xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó, cùng với lí luận cơ bản về nhânquyền của giáo dục, vấn đề phát triển giáo dục, xã hội hóa và quốc tế hóa giáodục cũng trở thành một vấn đề mang tính chất toàn cầu Nó khiến cho giáo dụctoàn dân không chỉ là trách nhiệm của các chính phủ mà còn trở thành lí luậnđược đưa ra bởi các tổ chức quốc tế QTH chính trị còn khiến cho chức năngchính trị quốc tế và ý nghĩa sâu sắc của giáo dục xuyên quốc gia ngày càng đượcthể hiện rõ ràng Vì vậy, trong khi các tổ chức quốc tế coi tài trợ giáo dục xuyênquốc gia là một bộ phận của chính trị chung toàn cầu và không ngừng đẩy mạnh,

và rất nhiều quốc gia xuất phát từ lợi ích chính trị quốc tế của bản thân cũng rấtnhiệt tình tham gia vào tài trợ giáo dục xuyên quốc gia Ngược lại, cũng sẽ có

Trang 17

Việt Nam, một quốc gia có thể chế chính trị đặc thù, những tác động này sẽ làmột thách thức không nhỏ cho mục tiêu giáo dục của quốc gia trên con đườnghội nhập Nó đòi hỏi giáo dục phải quan hệ mật thiết hơn với không chỉ chính trịquốc gia (đường lối, chính sách) mà còn với các mục tiêu toàn cầu (thông quacác thiết chế khu vực và toàn cầu).

4.4 Đổi mới một số nội dung trong giáo dục

4.4.1 Nâng cao vai trò, trách nhiệm của ngành Giáo dục về thực hiện chủ trương của Đảng đối với việc thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GD-

ĐT

Nâng cao chất lượng GD-ĐT là vai trò, trách nhiệm của toàn Đảng, toàndân, toàn xã hội là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị Ưu tiênđầu tư xây dựng trường lớp theo hướng đạt chuẩn quốc gia; giữ vững kết quảphổ cập giáo dục đã đạt được Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầutrong việc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch Đồng thời, xác định rõ vaitrò, trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, của người học,gia đình và xã hội trong thực hiện các nhiệm vụ và nội dung đổi mới GD-ĐT

4.4.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục

Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí, đáp ứng yêu đổi mới ĐT; thực hiện chuẩn hóa, đảm bảo đồng bộ về cơ cấu đội ngũ nhà giáo, cán bộquản lí ở các trường học

GD-Đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố quyết định sự thành côngcủa sự nghiệp đổi mới giáo dục Vì vậy, cần chú trọng bồi dưỡng, tạo động lực

để giáo viên hăng say với nghề, có trí tuệ, tâm huyết; tạo điều kiện cho cán bộgiáo viên được tham quan học tập mô hình dạy học mới; tích cực xây dựng các

mô hình dạy học điển hình tiên tiến, đổi mới phương pháp bồi dưỡng về nănglực sư phạm cho giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, thaysách giáo khoa mới Đặc biệt, cần thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối vớinhà giáo và cán bộ quản lí trên cả nước, đảm bảo quyền lợi cho cán bộ, côngchức viên chức,…

Ngày đăng: 22/06/2023, 09:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1] Trần Lê Bảo, 2010. Đối thoại giữa các nền văn hóa trong xu thế quốc tế hóa. Vns.hnue.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại giữa các nền văn hóa trong xu thế quốc tế hóa
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Vns.hnue.edu.vn
Năm: 2010
[2] Martin Carnoy, 1999. Globalization and Educational Reform: What Planners Need to Know. Paris: UNESCO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Globalization and Educational Reform: What Planners Need to Know
Tác giả: Martin Carnoy
Nhà XB: UNESCO
Năm: 1999
[3] Carnoy M, Rhoten D, 2002. What does globalization mean for educational change? a comparative approach. Comparative Education Review, 2002, 46(1), p1-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What does globalization mean for educational change? a comparative approach
Tác giả: Carnoy M, Rhoten D
Nhà XB: Comparative Education Review
Năm: 2002
[4] Phạm Văn Đức, 2006. Quốc tế hóa và sự tác động của nó đối với Việt Nam hiện nay. Tạp chí Triết học, Số 3(178), tháng 3 – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc tế hóa và sự tác động của nó đối với Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Đức
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2006
[5] Andy Green, 1997. Education, Globalization and the Nation State.London: MacMillan Press Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Education, Globalization and the Nation State
Tác giả: Andy Green
Nhà XB: MacMillan Press Ltd
Năm: 1997
[6] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2013
[7] Phạm Minh Hạc (1999). Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI. NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 1999
[8] Trần Bá Hoành (2010). Vấn đề giáo viên – Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo viên – Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
[9] Bộ GD-ĐT (2015). Một số tài liệu dùng cho Ban xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tài liệu dùng cho Ban xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2015
[10] Đỗ Minh Cương – Nguyễn Thị Doan (2001). Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2001
[11] Chính phủ (2010). Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011- 2020. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011- 2020
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[12] Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w