Bảng chữ viết tắt UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc CGCN Chuyển giao công nghệ CNC Công nghệ cao CNTT Công nghệ thông tin CNH Công nghiệp hóa DVKH&CN Dịch vụ khoa học và cô
Trang 1NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ
HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
Những người tham gia thực hiện:
TS Đặng Duy Thịnh (Chủ nhiệm đề tài)
PGS.TS Bùi Thiên Sơn ThS Nguyễn Trọng Thụ
KS Nghiêm Thị Minh Hoà ThS Dương Thị Ninh ThS Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chương Một LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 9
I.1 HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 9
I.2 HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 11
I.3 QUAN HỆ GIỮA NC&PT VÀ ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 21
I.4 LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHẠM VI, TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 23
I.5 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 28
I.6 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ SỬ DỤNG TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP CHO HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 32
I.7 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DÀNH CHO HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 38
I.8 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ, TÍN DỤNG VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH KHÁC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 40
Chương Hai KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 46
II.1 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TÀI CHÍNH CHO NC&PT, CHƯƠNG TRÌNH KH&CN, QUỸ PHÁT TRIỂN KH&CN 46
II.2 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TÀI CHÍNH CHO CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ, QUỸ ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 51
II.3 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TÀI CHÍNH CHO TỔ CHỨC KH&CN, PHÒNG THÍ NGHIỆM TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA 58
II 4 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ THUẾ, TÍN DỤNG, CÁC CHÍNH
Trang 3II.5 KINH NGHIỆM CỦA NƯỚC NGOÀI VỀ LẬP KẾ HOẠCH VÀ SỬ
DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DÀNH CHO KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG
NGHỆ) 70
Chương Ba ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 82
III.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN CẤP NHÀ NƯỚC 82
III.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO CÁC QUỸ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 85
III.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO CÁC TỔ CHỨC KH&CN 95
III.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO CÁC PHÒNG THÍ NGHIỆM TRỌNG ĐIỂM 106
III.5 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN, ỨNG DỤNG, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 108
III.6 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH VỀ THUẾ VÀ TÍN DỤNG CHO HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 118
III.7 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC LOẠI CHI PHÍ, CÁC ĐỊNH MỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 129
III.8 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ LẬP KẾ HOẠCH, PHÂN BỔ, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DÀNH CHO KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 137
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO VĂN BẢN PHÁP LUẬT 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH BÁO, HỘI THẢO 158
PHỤ LỤC 161
I Các Hình 161
II Các Bảng 168
III Nội dung và danh sách các đơn vị điều tra, khảo sát 208
Trang 4Bảng chữ viết tắt
UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
CGCN Chuyển giao công nghệ
CNC Công nghệ cao
CNTT Công nghệ thông tin
CNH Công nghiệp hóa
DVKH&CN Dịch vụ khoa học và công nghệ
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
GTGT Giá trị gia tăng
HĐH Hiện đại hóa
HTQT Hợp tác quốc tế
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHKTvà CN Khoa học kỹ thuật và công nghệ
KHNN Khoa học nông nghiệp
KHTN Khoa học tự nhiên
KH&CN Khoa học và công nghệ
KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn
KHYD Khoa học y dược
KT-XH Kinh tế-xã hội
NSĐP Ngân sách địa phương
NSNN Ngân sách Nhà nước
NCCB Nghiên cứu cơ bản
NCKH Nghiên cứu khoa học
NCUD Nghiên cứu ứng dụng
NC&PT Nghiên cứu và phát triển
PTNTĐ Phòng thí nghiệm trọng điểm
SX-KD Sản xuất - kinh doanh
SHTT Sở hữu trí tuệ
SNKH Sự nghiệp khoa học
TNDN Thu nhập doanh nghiêp
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
UNESCO Tổ chức khoa học và giáo giục Liên hiệp quốc UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc TKTN Triển khai thực nghiệm
ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang cố gắng tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và sự đóng góp tích cực của hoạt động khoa học và công nghệ cho sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, một loạt chính sách và biện pháp quản lý vĩ mô của Nhà nước có liên quan đến đầu tư phát triển khoa học và công nghệ đã được Chính phủ, Quốc hội ban hành như Nghị định số 35-HĐBT về đổi mới công tác quản lý khoa học và công nghệ; Quyết định số 324-CT về việc tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu và phát triển; Quyết định số 782/QĐ-TTg về việc sắp xếp lại các cơ quan nghiên cứu và phát triển; Quyết định số 68/QĐ-CP về việc cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo; Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18-9-1999 về một số chính sách,
cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN; Luật KH&CN năm 2000 và các văn bản hướng dẫn Luật (NĐ 81/2002/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật KH&CN, NĐ 122/2003/NĐ-CP về thành lập Quỹ phát triển KH&CN quốc gia…), Nghị định số 115/ 2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập, Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN, Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN hướng dẫn chế
độ khoán kinh phí của đề tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước, Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước; Luật Sở hữu trí tuệ (2005), Luật chuyển giao công nghệ (2006), Luật công nghệ cao (2008)
Nhìn chung các cố gắng đó chủ yếu vẫn nằm trong khuôn khổ sử dụng ngân sách Nhà nước và thông qua hệ thống quản lý hành chính phục vụ phát triển KH&CN Trong quá trình tổ chức thực hiện, nhiều nhận định cho rằng
cơ chế, chính sách tài chính của chúng ta chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động KH&CN và chưa chú trọng đúng mức, đúng chỗ đến hỗ trợ đổi mới (công nghệ) của doanh nghiệp Điều này thể hiện ở công tác lập kế hoạch sử dụng ngân sách nhà nước hằng năm còn bất cập; triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN gặp khó khăn về thời gian; khoán chi cho các đề tài dự án KH&CN gặp nhiều vướng mắc, khó triển khai vào thực tiễn
Nguyên tắc đầu tư, hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước trong hoạt động KH&CN cũng như đổi mới chưa được làm rõ trong thực tiễn và do vậy nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau giữa các nhà quản lý khoa học, quản lý tài chính, người làm công tác khoa học về sử dụng ngân sách Nhà nước (tài chính công) với chức năng sự nghiệp hoặc làm kinh tế Luật ngân sách nhà nước
Trang 6(2002), Nghị định số 60/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân sách nhà nước và Thông tư số 59/2003/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 60/2003/NĐ-CP đã quy định và hướng dẫn chung cho việc thực hiện Luật ngân sách nhà nước đối với các lĩnh vực và các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND, đơn vị sử dụng ngân sách và đơn vị ngân sách hỗ trợ Tuy nhiên đối với đặc thù của hoạt động KH&CN cần phải có các quy định hoặc hướng dẫn
cụ thể trong việc lập dự toán sử dụng ngân sách nhà nước cho phù hợp hơn nữa
Cơ chế tài chính quỹ cho hoạt động KH&CN, quỹ đổi mới công nghệ, chương trình đổi mới công nghệ là cách thức cấp tài chính kiểu mới đều lấy kinh phí từ ngân sách nhà nước, chưa có tiền lệ, do vậy cũng cần phải có cơ chế, cách thức sử dụng phù hợp
Việc nhập làm chủ, thích nghi, cải tiến công nghệ là việc làm tất yếu của các nước kém phát triển, song chúng ta chưa có cơ chế tài chính phù hợp, đặc biệt là cơ chế phối kết hợp giữa tài chính của Nhà nước với tài chính của doanh nghiệp trong việc giải quyết vấn đề nhập các công nghệ và làm chủ, thích nghi, cải tiến đổi mới công nghệ nhập này để phổ biến rộng cho các các doanh nghiệp cùng quan tâm
Mục tiêu chính của đề tài này là trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm trong
và ngoài nước, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp, cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN, hoạt động đổi mới công nghệ giai đoạn tới Đề tài có mục tiêu sau đây:
2 - Đề xuất các cải tiến về cơ chế, chính sách tài chính Nhà nước hỗ trợ các hoạt động đổi mới công nghệ: phát triển công nghệ, sản xuất thử nghiệm, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ; làm chủ, thích nghi cải tiến, công nghệ nhập
Trang 7Vấn đề nghiên cứu
1- Cơ chế, chính sách trong công tác lập kế hoạch, phân bổ, cấp phát ngân sách nhà nước dành cho hoạt động KH&CN của Nhà nước và hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
2- Cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước cho quỹ phát triển KH&CN, quỹ đổi mới công nghệ;
3- Cơ chế sử dụng kết hợp ngân sách nhà nước và tài chính doanh nghiệp cho hoạt động NC&PT, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp; sản xuất thử nghiệm
4- Cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước và tài chính doanh nghiệp trong việc nhập, làm chủ và cải tiến công nghệ nhập
Sản phẩm nghiên cứu
Báo cáo khoa học, tổng hợp về cơ chế, chính sách tài chính (cách thức phân bổ, cấp phát/phân phối, các phân tích về định mức chi và cơ chế lập kế hoạch sử dụng ngân sách dành cho KH&CN) và cơ chế, chính sách đối với hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thời gian qua, làm rõ những bất cập và đề xuất một cơ chế tài chính mới cho việc sử dụng ngân sách Nhà nước dành cho KH&CN của Nhà nước và đổi mới của doanh nghiệp trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN và theo các chuẩn mực quốc tế
Cách tiếp cận của đề tài
Đề tài dự kiến các cách tiếp cận có tính chất hệ thống và lý luận về tài chính công và tài chính doanh nghiệp trong vấn đề đầu tư, sử dụng tài chính cho hoạt động KH&CN của Nhà nước và đổi mới của doanh nghiệp Về cụ thể cách tiếp cận sau đây được áp dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu của đề tài:
1- Căn cứ vào tính chất hàng hoá công và hàng hoá tư của hoạt động KH&CN và hoạt động đổi mới công nghệ để xem xét phạm vi trách nhiệm của tài chính Nhà nước và của doanh nghiệp trong hoạt động KH&CN và hoạt động đổi mới công nghệ
2- Áp dụng nguyên lý lợi ích công và lợi ích tư trong hoạt động KH&CN của Nhà nước và hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp để xem xét vấn đề đầu tư kinh phí từ nhà nước và từ doanh nghiệp;
3- Áp dụng nguyên lý Chi phí/Kết quả trong hoạt động KH&CN làm thước đo cho việc xem xét sự phân bổ, cung cấp tài chính cho hoạt động KH&CN; lập dự toán cũng như lập kế hoạch tài chính của các tổ chức KH&CN và của quốc gia
Trang 84- Áp dụng nguyên lý, chế độ kế toán tổng quát/ kế toán theo nguyên tắc kế toán doanh nghiệp để xem xét, đánh giá việc xây dựng kế hoạch tài chính và cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN và của quốc gia
Phương pháp luận nghiên cứu
1- Nghiên cứu các tài liệu khoa học trong và ngoàì nước về các vấn đề tài chính liên quan đến tài chính cho hoạt động KH&CN, hoạt động đổi mới;
2- Nghiên cứu các trường hợp, khảo sát thực tế về cơ chế tài chính cho các hoạt động KH&CN, hoạt động đổi mới tại các cơ quan quản lý KH&CN,
cơ quan tài chính có liên quan, các viện trường, các doanh nghiệp: Đề tài đã tiến hành khảo sát tại 25 tổ chức, gồm 04 vụ của các bộ; 06 sở KH&CN địa phương; 13 viện, trường đại học và 02 doanh nghiêp tại 3 niềm Bắc, Trung, Nam (xem Phụ lục III)
3- Phỏng vấn, hội thảo, điều tra ý kiến chuyên gia (quản lý KH&CN, quản lý tài chính, quản lý doanh nghiệp) về cơ chế sử dụng tài chính cho hoạt động KH&CN, hoạt động đổi mới: Đề tài đã phỏng vấn, hội thảo với các chuyên gia tại 25 tổ chức được điều tra, khảo sát (xem Danh sách chuyên gia tại Phụ lục III)
Thuật ngữ Đổi mới (công nghệ)
Trong nghiên cứu, đề tài sử dụng thuật ngữ đổi mới (công nghệ) với nghĩa tương đồng với thuật ngữ innovation trong tiếng Anh (nhiều người dịch
là đổi mới) dùng trong lĩnh vực kinh tế nhằm giới hạn nội hàm đổi mới (công nghệ) là những đổi mới của doanh nghiệp trong sản xuất sản phẩm mới, quy trình công nghệ mới, marketing và tổ chức đưa sản phẩm mới vào thâm nhập thị trường Đổi mới (công nghệ) không bao hàm các nội dung đổi mới khác (vd về chính trị, )
Nội dung của báo cáo tổng hợp
Chương I: LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Chương II: KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Chương III: THỰC TRẠNG VÀ CÁC ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Trang 9Chương Một
LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
I.1 HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1.1 Khoa học
Theo UNESCO và OECD, khoa học là một tập hợp những hiểu biết về
tự nhiên, xã hội và tư duy về các quy luật khách quan, về sự tồn tại và phát triển của chúng trên cơ sở thực tiễn Các lĩnh vực KH&CN bao gồm: Khoa học tự nhiên; Khoa học xã hội, Nhân văn; Khoa học kỹ thuật và công nghệ; Khoa học Nông nghiệp; Khoa học Y dược
Theo Luật khoa học và công nghệ của Việt nam (2000), khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2006), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Các thành phần công nghệ gồm các yếu tố: Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware)
Dòng lưu chuyển công nghệ diễn ra thông qua: Con người, Tài liệu, Thiết bị và Sản phẩm Việc mua bán, chuyển giao công nghệ đều diễn ra thông qua các yếu tố này
1.1.3 Hoạt động KH&CN
Theo UNESCO và OECD, hoạt động KH&CN là hoạt động có hệ thống, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH&CN vào đời sống, xã hội Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NC&PT) và dịch vụ KH&CN Theo nghĩa hẹp hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động NC&PT và dịch vụ KH&CN
Trang 10a) Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NC&PT)
Theo UNESCO và OECD, hoạt động NC&PT là tập hợp các hoạt động
có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức bao gồm các kiến thức có liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội và nhằm sử dụng các kiến thức mới để để tạo ra những áp dụng mới Hoạt động NC&PT bao gồm hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động triển khai thực nghiệm
Luật Khoa học và công nghệ (2000) đưa ra quy định, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ
• Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH)
Theo UNESCO và OECD: NCKH có thể xác định là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức khoa học và nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn NCKH bao gồm hai hoạt động kế tiếp nhau: Nghiên cứu cơ bản (NCCB) và Nghiên cứu ứng dụng (NCUD) Trong đó, NCCB có thể xác định là bất kỳ công tác thực nghiệm hoặc lý thuyết nào được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức mới về các hiện tượng, thực tế quan sát được mà chưa có một nghiên cứu ứng dụng hoặc vận dụng đặc biệt nào; Còn NCUD được xác định như là một nghiên cứu đầu tiên được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức mới nhưng chủ yếu có một mục đích hoặc một mục tiêu thực tiễn đặc thù
• Hoạt động triển khai thực nghiệm (TKTN)
Theo UNESCO và OECD, triển khai thực nghiệm có thể xác định như
là một công việc có hệ thống nhằm vận dụng các kiến thức NCKH đạt được và/hoặc kinh nghiệm thực tiễn có được để tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới, phương pháp tiến hành mới, hệ thống dịch vụ mới và nhằm cơ bản hoàn thiện những gì đã hoặc đang sử dụng hoặc sản xuất Các hoạt động triển khai thực nghiệm gồm: chế thử đầu tiên; pilốt; sản xuất thử nghiệm,
• Hoạt động sản xuất thử nghiệm
Theo Luật khoa học và công nghệ của Việt Nam (2000), sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử
ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống
• Hoạt động phát triển công nghệ
Theo Luật khoa học và công nghệ Việt Nam (2000), phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới
Trang 11b) Hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ
• Hoạt động ươm tạo công nghệ
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2006), ươm tạo công nghệ là hoạt động hỗ trợ nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ có triển vọng ứng dụng công nghệ thực tiễn và thương mại hoá từ ý tưởng công nghệ hoặc kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
• Hoạt động ươm tạo doanh nghiệp công nghệ
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2006), ươm tạo doanh nghiệp công nghệ là hoạt động hỗ trợ tổ chức, cá nhân hoàn thiện công nghệ, huy động vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh, tiếp thị, thực hiện thủ tục pháp lý và các dịch vụ cần thiết khác để thành lập doanh nghiệp sử dụng công nghệ mới được tạo ra
Hoạt động chuyển giao công nghệ không làm cho giá trị công nghệ tăng thêm mà chỉ là làm cho công nghệ được phổ biến, nhân rộng, chuyển đến nơi tiếp nhận là những hộ, người sử dụng công nghệ
Đề tài sử dụng các khái niệm, thuật ngữ nêu trong mục I.1 Hoạt động KH&CN để làm cở cho việc xem xét, phân tích mức độ phù hợp của cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước (công ích) và của doanh nghiệp (lợi ích riêng) đối với hoạt động KH&CN tại các Chương II và Chương III của đề tài
I.2 HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
1.2.1 Đổi mới (công nghệ)
Theo OECD và UNESCO, đổi mới là việc triển khai thực hiện một sản phẩm mới hoặc sản phẩm được nâng cấp một cách rõ rệt (vật chất hoặc dịch vụ) hoặc quy trình, phương pháp marketing mới hoặc một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, tổ chức giao tiếp với các đối tác hoặc quan hệ với bên ngoài
Trang 12a) Các loại đổi mới (công nghệ)
- Đổi mới sản phẩm là việc triển khai một sản phẩm hoặc một dịch vụ
mới hoặc sản phẩm hoặc dịch vụ được nâng cấp rõ rệt với sự chú ý đến tính chất hoặc việc sử dụng theo chủ định Điều này bao gồm việc nâng cấp rõ rệt các điểm riêng biệt về kỹ thuật, các thành phần và vật liệu, cùng với phần mềm đi kèm, thân thiện với người sử dụng hoặc tính chất có tính năng riêng biệt khác
- Đổi mới quy trình là việc thực hiện việc sản xuất mới hoặc việc sản
xuất được nâng cấp rõ rệt hoặc phương pháp phân phối mới Điều này bao gồm những thay đổi rõ rệt trong kỹ thuật, thiết bị và/hoặc phần mềm
- Đổi mới marketing là việc thực hiện phương pháp marketing mới
bao gồm các thay đổi rõ rệt trong thiết kế sản phẩm hoặc bao gói, bố trí sản phẩm, xúc tiến hoặc làm giá sản phẩm
- Đổi mới tổ chức là việc thực hiện một phương pháp tổ chức mới
trong thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức giao tiếp với cấc đối tác hoặc quan hệ với bên ngoài
b) Các hoạt động đổi mới (công nghệ)
Là tất cả các bước về khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại được tiến hành hoặc chủ định sẽ tiến hành để thực hiện các đổi mới Có một số hoạt động đổi mới tự nó là đổi mới, một số hoạt động là hoạt động không có tính mới nhưng lại cần thiết cho việc thực hiện đổi mới Như vậy hoạt động đổi mới (công nghệ) bao gồm cả hoạt động NC&PT mà bản thân nó không trực tiếp dẫn đến triển khai một đổi mới riêng biệt nào
• Các hoạt động đổi mới của đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình
- NC&PT nội bộ: bao gồm tất cả các NC&PT do doanh nghiệp tự thực hiện kể cả nghiên cứu cơ bản;
- Sử dụng NC&PT bên ngoài: thuê các hoạt động NC&PT của các tổ chức nghiên cứu nhà nước hoặc nghiên cứu của tư nhân hoặc của các doanh nghiệp khác kể cả của doanh nghiệp trong cùng tập đoàn;
- Sử dụng các tri thức từ bên ngoài: tậu quyền sử dụng các sáng chế hoặc các phát minh không đăng ký sáng chế, các thương hiệu, bí quyết và các tri thức kiểu khác từ các doanh nghiệp khác, tổ chức khác như các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu nhà nước, các tổ chức không phải là NC&PT;
- Mua các máy móc, thiết bị và các sản phẩm khác: các máy móc thiết
bị tiên tiến, máy tính với phần cứng và phần mềm, nhà, đất (kể cả việc nâng cấp, biến đổi hoặc sửa chữa) mà chúng cần cho thực hiện đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình;
Trang 13- Các công việc khác đối với hoạt động đổi mới sản phẩm đổi mới quy trình: các hoạt động liên quan đến phát triển và thực hiện đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình như là việc thiết kế, kế hoạch hoá, thử nghiệm cho sản phẩm mới (vật chất và dịch vụ), quy trình sản xuất và phương pháp phân phối mà chúng chưa được đưa vào NC&PT
- Chuẩn bị thị trường cho đổi mới sản phẩm: hoạt động nhằm vào thâm nhập thị trường đối với sản phẩm và dịch vụ mới hoặc được nâng cấp rõ rệt;
- Đào tạo (bao gồm cả việc đào tạo từ bên ngoài) liên quan đến triển khai đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới quy trình cũng như thực hiện các đổi mới này
• Các hoạt động đổi mới của đổi mới marketing và đổi mới tổ chức
- Chuẩn bị cho đổi mới marketing: các hoạt động liên quan đến triển khai và thực hiện phương pháp marketing mới Hoạt động này bao gồm cả việc mua tậu tri thức từ bên ngoài, hoặc các vật chất mà chúng liên quan đến đổi mới marketing;
- Chuẩn bị cho đổi mới tổ chức: các hoạt động được tiến hành cho công tác kế hoạch hoá và thực hiện phương pháp tổ chức mới Hoạt động này bao gồm mua, tậu các tri thức khác từ bên ngoài và các sản phẩm vật chất khác mà chúng liên quan một cách riêng biệt đến đổi mới tổ chức
1.2.2 Chính sách đổi mới (công nghệ)
Đổi mới ngày nay trở thành chìa khoá của việc tăng sản lượng đầu ra và sức sản xuất của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa đổi mới và phát triển kinh tế
đã được thừa nhận rộng rãi
Sự quan tâm đến tầm quan trọng của đổi mới ngày càng tăng làm cho đổi mới trở thành một vấn đề chủ chốt trong chương trình nghị sự chính sách của hầu hết các nước phát triển Chính sách đổi mới ban đầu phát triển lên từ chính sách KH&CN, song đã tiếp thu được các khía cạnh quan trọng của chính sách công nghiệp Cùng với sự hiểu biết về đổi mới ngày càng tốt hơn,
đã có những thay đổi lớn trong việc phát triển các chính sách liên quan tới đổi mới Ban đầu, người ta cho rằng tiến bộ công nghệ đạt được thông qua một quá trình tuyến tính đơn giản bắt đầu từ nghiên cứu khoa học cơ bản rồi tiến triển một cách tuần tự qua các mức ứng dụng cao hơn của nghiên cứu, bao gồm khoa học ứng dụng công nghệ và tiếp thị Khoa học khi đó được xem là động lực, và tất cả những gì chính phủ cần chỉ là chính sách khoa học Tư duy mới về đổi mới đưa đến cách tiếp cận mang tính liên kết hơn đối với việc soạn thảo các chính sách liên quan đến đổi mới
Trang 141.2.3 Hàng hoá công, hàng hoá tư, các lợi ích
Hầu hết tri thức công nghệ thể hiện tính chất của hàng hóa công Điều này có nghĩa là một khi tri thức công nghệ đã được phổ biến thì mọi người có thể tiếp cận để được sử dụng công nghệ đó Đặc điểm này chính là nguồn gốc của hai vấn đề chủ yếu đối với các nhà đổi mới (công nghệ) tư nhân Thứ nhất
là sự lan tỏa lợi ích của đổi mới (công nghệ) với các tác động tích cực, tức là lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích riêng của công ty (khách hàng và cả các đối thủ đều được hưởng lợi từ các đổi mới của công ty) Vấn đề thứ hai là một khía cạnh của vấn đề thứ nhất, đó là tri thức không thể để làm của riêng, tức là doanh nghiệp không thể giành lấy tất cả lợi ích do đổi mới mang lại cho riêng mình Chính điều này đã làm doanh nghiệp giảm nhiệt tình đầu tư vào các hoạt động đổi mới (công nghệ) có tính chất hàng hoá công Do vậy, ở đâu tri thức công nghệ mang đặc tính của hàng hóa công thì ở đó thị trường không phát huy tác dụng hoặc thất bại (market failure) và điều này có nghĩa là không khuyến khích các công ty đổi mới (công nghệ) có tính hàng hoá công Hay nói cách khác ở đâu cơ chế thị trường không phát huy tác dụng (thương mại) thì ở
đó cần có bàn bay của nhà nước can thiệp (công ích)
Từ lập trường mang tính lý thuyết này, nhiều nghiên cứu đã đưa ra số liệu thống kê và các chỉ số liên quan chủ yếu đến chi phí cho đổi mới (công nghệ) và tỷ suất lợi nhuận cá nhân và xã hội của các hoạt động đổi mới (công nghệ) Trong các nghiên cứu đó, lợi nhuận cá nhân của các hoạt động công nghệ được suy ra từ các phương pháp kinh tế lượng có sử dụng hàm sản xuất ước lượng, biểu thị mối tương quan giữa các đầu vào và đầu ra của các hoạt động đổi mới (công nghệ) ở mức công ty hoặc ở mức tổng thể hơn Tri thức công nghệ thể hiện có đặc tính của hàng hóa công, do vậy chính sách KH&CN phải đưa ra được giải pháp, câu trả lời đối với sự suy giảm nhiệt tình của doanh nghiệp và các thất bại thị trường khác như rủi ro và chi phí giao dịch Các công cụ chính sách chủ yếu là sự tài trợ trực tiếp, toàn phần của chính phủ cho các nghiên cứu và phát triển công ích, đặc biệt là cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng của các lĩnh vực công ích khác (chính phủ với tư cách là người cung cấp hàng hóa công) và chính phủ hỗ trợ tài chính thông qua công
cụ thuế, tín dụng cho các hoạt động đổi mới có tính chất tiền cạnh tranh do doanh nghiệp thực hiện
Cách tiếp cận hệ thống đối với đổi mới (công nghệ) dịch chuyển trọng tâm chính sách về phía nhấn mạnh đến sự tương tác giữa các thiết chế, xem xét các quá trình tương tác trong việc tạo ra tri thức, phổ biến và ứng dụng tri thức Điều này dẫn đến sự đánh giá cao hơn tầm quan trọng của các điều kiện, luật lệ và chính sách mà trong đó thị trường hoạt động, và do vậy vai trò không thể bỏ qua của chính phủ trong việc giám sát và tìm cách “tinh chỉnh” khung tổng quát đó Cụ thể là, các vấn đề thuộc về hệ thống cần được xem xét
Trang 15Nhiều nhân tố có ảnh hưởng đến hành vi của các công ty, bao gồm cả các chính sách của chính phủ Cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia với mục tiêu chính sách là cần thiết bởi:
- Không thể có được câu trả lời chính sách đơn giản cho các vấn đề phức tạp được đưa ra bởi mối quan hệ giữa công nghệ và việc làm trong một nền kinh tế dựa trên tri thức
- Một chiến lược hiệu quả về chính sách phải bao gồm nhiều hành động chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách cấu trúc
- Tính chặt chẽ của một gói chính sách là điều kiện thành công, và điều này phụ thuộc vào tính hiệu lực của khung chính sách cũng như chất lượng của quá trình hình thành chính sách
1.2.4 Các nhân tố của chính sách đổi mới (công nghệ)
Có bốn nhóm nhân tố chính liên quan trước hết đến đổi mới (công nghệ) Đó là nhân tố liên quan đến doanh nghiệp (công ty), các tổ chức KH&CN, các vấn đề chuyển giao và hấp thụ công nghệ, tri thức, kỹ năng Ngoài ra, một loạt các cơ hội cho đổi mới còn bị ảnh hưởng bởi nhóm nhân tố thứ tư – đó là môi trường xung quanh các tổ chức, các dàn xếp về pháp lý, bối cảnh kinh tế vĩ mô và nhiều điều kiện khác đang tồn tại không phụ thuộc vào các suy tính về đổi mới (công nghệ)
Bốn nhóm nhân tố lớn liên quan đến đổi mới (công nghệ) có thể được thể hiện như một sơ đồ (Hình 1) chỉ ra các lĩnh vực trong đó đòn bẩy chính sách có thể được áp dụng vào đổi mới doanh nghiệp, hoặc các lĩnh vực cần phải lưu ý đến khi các sáng kiến chính sách đang được hình thành Đây là cách thể hiện “hình thái” chính sách đối với một hệ thống đổi mới quốc gia một cách tổng quát Các yếu tố bao gồm:
a) Các điều kiện khung
Các điều kiện khung cơ bản của các nhân tố quốc gia về thể chế và cấu trúc (như luật pháp, kinh tế, tài chính, giáo dục) hình thành nên các quy tắc và
cơ hội cho đổi mới (công nghệ)
Môi trường hoạt động trong đó các công ty có thể vận động và biến đổi
là môi trường xung quanh các hoạt động đổi mới (công nghệ) ở cấp công ty (động lực đổi mới) Môi trường này bao gồm các thể chế và điều kiện cơ bản
đã được xác lập (hoặc vẫn đang phát triển) theo những nguyên lý không liên quan đến đổi mới Các nhân tố này xác lập các tham số cơ bản, theo đó công
ty tồn tại và hoạt động Các nhân tố đó, do vậy, sẽ có ảnh hưởng lớn đến đổi mới (công nghệ) của doanh nghiệp Môi trường thể chế tổng quát đó tạo ra các điều kiện khung, theo đó đổi mới (công nghệ) sẽ diễn ra Các bộ phận cấu thành bao gồm:
- Hệ thống giáo dục cơ sở cho quảng đại quần chúng
Trang 16- Cơ sở hạ tầng liên lạc, bao gồm đường sá, thông tin liên lạc
- Thể chế tài chính (vd tiếp cận các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm)
- Khung cảnh, luật pháp, chẳng hạn như luật sáng chế, thuế, các quy định về quản lý doanh nghiệp và lãi suất tiết kiệm, tỷ giá ngoại tệ, thuế xuất nhập khẩu và cạnh tranh
- Sự tiếp cận thị trường, kể cả khả năng thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng cũng như các vấn đề như qui mô thị trường và sự dễ dàng tiếp cận thị trường
- Cấu trúc ngành và môi trường cạnh tranh, kể cả sự tồn tại của các công ty cung ứng trong các ngành sản xuất hỗ trợ
Hình 1 Hình thái chính sách đổi mới và các vấn đề liên quan
CÁC ĐIỀU KIỆN KHUNG Các điều kiện và thể chế chung tạo nên các cơ hội khác nhau cho đổi mới (công nghệ)
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT Các tổ chức KH&CN làm nền cho động lực đổi mới (công nghệ)
b) Cơ sở khoa học và kỹ thuật
Cơ sở khoa học và kỹ thuật: Đó là tri thức được tích lũy và các tổ chức KH&CN làm nền tảng cho đổi mới của doanh nghiệp bằng cách cung cấp dịch
vụ đào tạo công nghệ và cung cấp tri thức khoa học cho doanh nghiệp
Tri thức khoa học và kỹ năng kỹ thuật là chỗ dựa quan trọng của đổi
CÁC NHÂN TỐ CHUYỂN GIAO Các nhân tố về con người, xã hội và văn hóa ảnh hưởng đến sự truyền đạt thông tin đến công ty và sự học hỏi của công ty
ĐỘNG LỰC ĐỔI MỚI
Các nhân tố động, hình thái đổi mới trong công ty
Trang 17chức KH&CN công Đầu ra tri thức khoa học của các tổ chức này trên phạm
vi toàn thế giới tạo ra sự hiểu biết thực chất và cơ sở lý thuyết cho đổi mới doanh nghiệp
Sự khác nhau về tính chất hoạt động của các tổ chức KH&CN và các công ty thực hiện đổi mới cần được hiểu rõ Có sự khác biệt đáng kể về động
cơ thúc đẩy hoạt động của các cộng đồng trong hai khu vực này Thành công thường nhìn nhận theo các cách khác nhau Cơ cấu thường cũng khác nhau Trong khoa học, các cá nhân thường có vai trò lớn hơn so với tổ chức họ làm việc trong đó Mặt khác, “công ty” (và do đó các vấn đề về tổ chức như các nhóm làm việc và chiến lược) dường như là quan trọng hơn so với cá nhân trong đổi mới doanh nghiệp Tuy nhiên, mạng lưới các cá nhân có vai trò then chốt trong việc thông tin giữa các nhà khoa học và giữa những người tham gia đổi mới Các tổ chức KH&CN quốc gia có thể đóng vai trò dẫn dắt có hiệu quả tại địa phương, đồng thời cung cấp nhân lực có tay nghề để giữ các vị trí then chốt liên quan đến đổi mới (công nghệ) Các tổ chức này cũng cung cấp các nguồn chuyên gia, xúc tiến hợp tác hiệu quả và cung cấp những công nghệ, thiết bị được cải tiến cho doanh nghiệp Các bộ phận của cơ sở khoa học
và kỹ thuật quốc gia gồm:
- Hệ thống đào tạo kỹ thuật chuyên ngành
- Hệ thống trường đại học
- Hệ thống hỗ trợ nghiên cứu cơ bản (bên cạnh những đột phát cơ bản
và các lợi ích lâu dài, nghiên cứu cơ bản đối khi được xem là mang lại rất ít lợi ích trực triếp cho đổi mới doanh nghiệp)
- Các hoạt động NC&PT mang tính hàng hóa công - tài trợ các chương trình và tổ chức được định hướng vào các khu vực như y tế, môi trường và quốc phòng
- Các hoạt động NC&PT mang tính chiến lược - tài trợ các chương trình và tổ chức được định hướng vào NC&PT tiền cạnh tranh hay công nghệ nguồn
- Hỗ trợ đổi mới không sinh lợi - tài trợ các chương trình và tổ chức được định hướng vào nghiên cứu các lĩnh vực mà các doanh nghiệp khó có thể có được đủ lợi ích từ chính nghiên cứu trong nội bộ của mình
c) Các nhân tố chuyển giao
Các nhân tố chuyển giao có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của các mối liên kết, các luồng trao đổi thông tin và kỹ năng, sự tiếp thu học hỏi Đây
là các nhân tố về con người mà tính chất của chúng được xác định phần lớn bởi các đặc điểm văn hóa và xã hội của nhóm người trong xã hội
Nghiên cứu về đổi mới đã nhận dạng được các nhân tố về con người, xã hội và văn hóa, có tầm quan trọng đối với hoạt động đổi mới hiệu quả ở cấp công ty Những nhân tố này liên quan đến sự dễ dàng liên lạc trong nội bộ các
Trang 18tổ chức, các mối tương tác không chính thức, sự hợp tác và các kênh thông tin
và sự truyền đạt tay nghề trong các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau, các nhân tố xã hội và văn hóa với ảnh hưởng rộng khắp đối với việc các hoạt động
và các kênh này có thể vận hành hiệu quả đến mức nào Một điểm quan trọng
mà nghiên cứu về đổi mới nêu lên là hầu hết tri thức cốt yếu, đặc biệt tri thức công nghệ, không được viết ra Do vậy, một số dạng thông tin chỉ có thể được truyền đạt thực ra là giữa hai cá nhân có kinh nghiệm - qua truyền đạt tới một
cá nhân có óc tiếp thu và đủ trình độ để hiểu hoàn toàn được thông tin, hoặc qua sự chuyển giao vật chất của những người mang tri thức đó Đây chính là học hỏi của công ty (tức là phổ biến tri thức tới nhiều cá nhân chủ chốt trong nội bộ công ty), và nó có vai trò quan trọng đối với năng lực đổi mới của công
ty Một cách tổng quát, các nhân tố chuyển giao có thể được liệt kê như sau:
- Các liên hệ chính thức và không chính thức giữa các công ty, mối quan hệ giữa những người sử dụng và người cung ứng, các cơ quan điều chỉnh pháp luật, các viện nghiên cứu và các tác nhân kích thích bên trong các
“chùm” đối thủ cạnh tranh Tất cả các mối liên hệ này đều có thể tạo ra các luồng thông tin có lợi cho đổi mới hoặc dẫn công ty đến chỗ dễ tiếp thu đổi mới hơn
- Sự hiện diện của những “người gác cổng” công nghệ, hay những người nhạy cảm công nghệ Đó là những cá nhân, bằng nhiều cách, luôn theo sát những phát triển mới nhất (kể cả công nghệ mới và tri thức được mã hóa trong các bằng sáng chế, các tài liệu chuyên môn và các tạp chí khoa học), và luôn duy trì mạng lưới riêng để tạo điều kiện cho các luồng thông tin trao đổi Yếu tố “người gác cổng” công nghệ đóng một vai trò quan trọng đối với đổi mới trong nội bộ công ty
- Các mối liên hệ quốc tế là một bộ phận quan trọng của mạng lưới thông tin Mạng lưới các chuyên gia quốc tế là phương cách quan trọng để truyền những hiểu biết mới nhất về khoa học và những phát triển công nghệ tiên tiến nhất
- Mức độ lưu chuyển của các chuyên gia khoa học hoặc công nghệ sẽ ảnh hưởng đến tốc độ lan truyền của các phát triển mới
- Sự dễ dàng tiếp cận ngành công nghệ tới các năng lực tiềm tàng của NC&PT công
- Sự hình thành công ty spin-off thường kéo theo sự chuyển giao các cá nhân có trình độ Đây là một phương cách giá trị để đạt được sự thương mại hóa các phát triển mới do nghiên cứu trong khu vực công mang lại
- Nguyên tắc xử thế, hệ thống giá trị cộng đồng, sự tin cậy và cởi mở có ảnh hưởng đến hiệu quả của các mạng lưới, các mối liên hệ và các kênh liên lạc khác, do chúng có tác động đến sự giao tiếp không chính thức giữa cá
Trang 19lập các tham số và các quy tắc xử thế được chấp nhận, theo đó liên lạc và trao đổi thông tin được thực hiện
- Tri thức được mã hóa trong các sáng chế, tài liệu chuyên môn và tạp chí khoa học
d) Động lực đổi mới
Động lực đổi mới là lĩnh vực quan trọng nhất đối với đổi mới doanh nghiệp, bao gồm các nhân tố nằm trong hoặc ngay bên ngoài công ty và có tác động trực tiếp đến tính đổi mới của công ty
Một hệ thống phức tạp các nhân tố định hình đổi mới ở cấp công ty được gọi là “động lực đổi mới” Đặt động lực đổi mới vào trung tâm của sơ đồ
là sự thừa nhận tầm quan trọng của công ty trong việc đổi mới nền kinh tế Do
đó, điều quan trọng là cần phải hiểu được các đặc điểm nào làm cho công ty trở nên đổi mới hơn hay kém đổi mới và đổi mới được phát động trong nội bộ công ty như thế nào Xu hướng đổi mới của công ty tất nhiên còn phụ thuộc vào các cơ hội công nghệ mà công ty gặp được
1.2.5 Chiến lược đổi mới và hoạt động NC&PT của doanh nghiệp
Các lựa chọn mở ra đối với một công ty mong muốn đổi mới, tức là mong muốn thay đổi tài sản công nghệ và năng lực sản xuất của mình, gồm ba loại: chiến lược, NC&PT và các hoạt động không thuộc NC&PT
- Chiến lược là một nền tảng cần thiết cho hoạt động đổi mới, công ty cần phải - một cách rõ ràng - ra quyết định về các loại thị trường mà công ty đáp ứng, hoặc tìm cách tạo ra, và các dạng đổi mới mà công ty sẽ phải thử nghiệm
- NC&PT là một số lựa chọn liên quan đến NC&PT (theo nghĩa của Tài liệu Frascati, kể cả phát triển thử nghiệm là loại đi xa hơn nghiên cứu cơ bản
+ Công ty có thể phát triển các khái niệm sản phẩm để nhận định xem liệu các khái niệm đó có khả thi và tồn tại được không Giai đoạn này gồm: i) thiết kế mẫu; ii) triển khai và thử nghiệm; iii) nghiên cứu tiếp để cải tiến thiết
kế hoặc chức năng kỹ thuật
- Việc không liên quan đến NC&PT: Công ty có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác không có bất kỳ mối liên quan trực tiếp nào đến NC&PT và
Trang 20không được định nghĩa là NC&PT, song lại đóng vai trò chủ chốt trong đổi mới doanh nghiệp và nâng cao hiệu năng doanh nghiệp như:
+ Nhận dạng các khái niệm sản phẩm mới và công nghệ mới: i) Thông qua bên tiếp thị của công ty và quan hệ với người dùng; ii) Thông qua việc nhận dạng các cơ hội cho việc thương mại hóa được hình thành từ nghiên cứu
cơ bản và nghiên cứu chiến lược của chính công ty hoặc của các công ty khác; iii) Thông qua thiết kế năng lực thiết kế và kỹ thuật của mình; iv) Bằng cách giám sát đối thủ; v) Bằng cách sử dụng nhà tư vấn
+ Phát triển dự án dẫn đường và sau đó phát triển phương tiện sản xuất
ở mức tổng thể
+ Mua thông tin kỹ thuật, trả lệ phí hoặc tiền bản quyền cho các sáng chế đã được cấp bằng (điều này thường đòi hỏi công tác nghiên cứu và kỹ thuật để thích nghi và cải tiến) hoặc mua bí quyết và kỹ năng thông qua tư vấn
kỹ thuật và thiết kế các loại khác nhau
+ Trình độ nhân lực cần cho sản xuất có thể được phát triển (thông qua đào tạo nội bộ) hoặc mua (qua thuê mướn); học hỏi ngầm và không chính thức (học qua làm)
+ Đầu tư vào thiết bị qui trình hoặc các đầu vào trung gian (các cấu kiện, các máy móc hoặc toàn bộ một nhà máy)
+ Tổ chức lại hệ thống quản lý, toàn bộ hệ thống sản xuất và các phương pháp sản xuất, bao gồm cả các dạng mới của quản lý kho hàng và kiểm soát chất lượng, và không ngừng cải tiến chất lượng
Nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm xây dựng các mô hình để tìm hiểu phương cách mà đổi mới (công nghệ) được khởi tạo trong nội bộ công ty,
và đổi mới (công nghệ) bị ảnh hưởng như thế nào bởi các yếu tố diễn ra bên ngoài công ty Một trong những cách tiếp cận hữu ích là mô hình chuỗi liên kết (Hình 2)
Hình 2 Mô hình đổi mới chuỗi liên kết
Thiết kế chi tiết và thử nghiệm
Thiết kế lại và sản xuất
Phân phối và tiếp thị
Mô hình chuỗi liên kết trình bày đổi mới dưới dạng mối quan hệ tương tác giữa các cơ hội thị trường với cơ sở tri thức và năng lực của công ty
Trang 21gốc của những ý tưởng phát minh, mà như một dạng giải quyết vấn đề được yêu cầu gọi đến vào bất kỳ thời điểm nào Khi xuất hiện vấn đề trong quá trình đổi mới, công ty sẽ cần đến cơ sở tri thức của mình vào thời điểm cụ thể
đó Cơ sở tri thức này được tạo nên từ các kết quả nghiên cứu trước đây và từ các kinh nghiệm thực tiễn và kỹ thuật Hệ thống nghiên cứu sẽ nhận lấy những khó khăn mà cơ sở tri thức hiện có không giải quyết được, và như vậy
sẽ mở rộng khả năng của cơ sở tri thức nếu giải quyết thành công các khó khăn đó
Tổng kết thực tiễn cho thấy Nghiên cứu có thể liên quan đến bất kỳ giai đoạn nào của đổi mới, nó là một hoạt động phức tạp và khác biệt từ trong nội tại, với nhiều chức năng rất đa dạng Nghiên cứu có thể là một bổ trợ cho đổi mới Nhiều hoạt động nghiên cứu sẽ được hình thành từ quá trình đổi mới Nhiều vấn đề cần giải quyết bắt nguồn từ các ý tưởng đổi mới được tạo ra ở những nơi khác Do đó, đối với mô hình chuỗi liên kết, nghiên cứu không thể được xem chỉ như là công việc khám phá diễn ra trước đổi mới mà có thể cả trong quá trình đổi mới
Đề tài sử dụng những lý luận theo quan niệm của OECD nêu trong mục I.2 Hoạt động đổi mới (công nghệ) để làm cơ sở cho việc phân tích về cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước và của doanh nghiệp đối với các hoạt động đổi mới (công nghệ) tại các Chương II và Chương III của đề tài
I.3 QUAN HỆ GIỮA NC&PT VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Từ các phần I.1 và I.2 có thể nhận thấy có sự tương tác, liên hệ giữa nghiên cứu và phát triển với đổi mới công nghệ Các hoạt động NC&PT chỉ diễn ra ở quy mô phòng thí nghiệm, hoặc xưởng thử nghiệm, xưởng bán công nghiệp với sản phẩm ở dạng sản phẩm mẫu Để có được công nghệ mới hoàn chỉnh và sản phẩm mới có thể thương mại hoá được trên thị trường thì cần phải có công việc đổi mới trong thực tiễn sản xuất (quy trình công nghệ mới thay quy trình cũ, sản phẩm mới thay sản phẩm cũ) Trong giai đoạn đổi mới này không chỉ quy trình công nghệ mới được đưa vào hoạt động, sản phẩm mới được sản xuất mà một số công tác tổ chức thâm nhập thị trường để bán sản phẩm mới cũng được xúc tiến Trong công việc này cũng có thể nảy sinh vấn đề mà cần phải tiến hành các hoạt động NC&PT bổ sung cần thiết để cho sản phẩm hoàn hảo hơn, thích hợp hơn với thị trường cần thâm nhập
Mô hình tương tác về tri thức và hệ thống đổi mới theo một cách đơn giản hoá có thể thể hiện ở Hình 3 Ở đây có thể nhận thấy hoạt động này có thể diễn ra theo kiểu Công nghệ đẩy hoặc Thị trường kéo nhưng quá trình này
là liên tục không bị ngắt quãng từ nghiên cứu cơ bản đến phân phối sản phẩm trong thị trường hoặc ngược lại Chỉ có đến thâm nhập vào thị trường thành công thì mới có thể nói đến sự thành công của quy trình sản xuất mới hoặc sản xuất thành công sản phẩm mới Nhiều kết quả rất có thể ngộ nhận là sản phẩm
Trang 22mới, quy trình công nghệ mới nhưng thực tế mới ở mức quy mô phòng thí nghiệm hoặc xưởng thực nghiệm Có một điều cần khẳng định là doanh nghiệp phải là người chủ trì của việc đổi mới công nghệ, các nhà khoa học không bao giờ và cũng không thể đóng được vai trò chủ trì công tác đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Điều này ở nhiều nước đã trở thành nguyên tắc trong việc hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp
Hình 3 Mối quan hệ giữa tri thức và
hệ thống đổi mới - cơ chế công nghệ đẩy và thị trường kéo
Mô hình trên là mô hình tuyến tính mô tả mối quan hệ trực tuyến tuần
tự nối tiếp nhau từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đến sản xuất và thương mại Vào thời điểm đến những năm 1970 quan điểm này đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới Người ta gọi đây là mô hình "Công nghệ đẩy" Tư tưởng chính của nó là công nghệ đóng vai trò động lực cho quá trình đổi mới
và phát triển của xã hội Công nghệ là sản phẩm sáng tạo của con người trong hoạt động NC&PT và khi được đưa vào sản xuất nó sẽ dẫn dắt thị trường, tạo
ra nhu cầu thị trường Nói một cách khác nhu cầu thị trường là hệ quả của phát triển công nghệ Theo lôgic hình thức thì có thể thấy như vậy là hợp lý, tuy nhiên, trong thực tiễn không thiếu những sáng tạo công nghệ không thể tạo nên phát triển thị trường do không đáp ứng được yêu cầu của xã hội
Mô hình "Công nghệ đẩy" đã không thể hiện được tầm quan trọng của yêu cầu thị trường, nhu cầu xã hội đến việc sáng tạo công nghệ mới Mô hình này thường tồn tại trong các nước đang phát triển khi mà hoạt động NC&PT phần lớn vẫn do nhà nước bao cấp Đây không phải là mô hình phát huy tốt trong cơ chế thị trường Đây chỉ là cơ chế "điểm hút" của thị trường và theo
mô hình này chủ yếu nhà nước sử dụng cho sự phát triển trong một số lĩnh vực khoa học và công nghệ
Nghiên cứu
cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ
Triển khai thương mại và sản xuất
Nhu cầu thị trường
Trang 23định của thị trường đến các hoạt động NC&PT công nghệ Tư tưởng của quan điểm này coi yêu cầu của thị trường chứ không phải các tổ chức NC&PT là
động lực cho quá trình đổi mới và sáng tạo công nghệ Khi xuất hiện yêu cầu
của thị trường thì các ý tưởng KH&CN lập tức được sản sinh ra từ các tổ chức NC&PT để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường Theo mô hình này người
ta tìm được mối liên kết chặt chẽ hơn giữa thị trường và hoạt động của các tổ chức NC&PT Đây là mô hình mà ở đó phát huy được tối đa cơ chế thị trường (cơ chế lợi nhuận) Nhà nước trong trường hợp này tạo điều kiện thuận lợi cho
cơ chế thị trường phát huy hết tác dụng, không nên có các can thiệp vào các lĩnh vực KH&CN mà ở đó có thể thị trường phát huy được vai trò của mình
Trong thực tế phát triển của KH&CN, quá trình đổi mới không phải diễn ra một cách tuyến tính như đã được nêu trong mô hình trên, có nghĩa là không phải chỉ đơn thuần do sức đẩy của công nghệ mà cũng không phải luôn luôn do sức kéo của thị trường mà nó diễn ra do cả hai động lực trên trong từng hoàn cảnh cụ thể của quá trình đổi mới Chính vì vậy để mô tả một cách sát thực quá trình phát triển KH&CN người ta đưa ra mô hình hỗn hợp giữa công nghệ đẩy và sức kéo của thị trường Tuy vai trò của thị trường được đề cao nhưng không phải lúc nào thị trường cũng có tính quyết định cho quá trình đổi mới Nhà nước luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc bù đắp phần khiếm khuyết của thị trường
Theo mô hình này, khi xuất hiện yêu cầu của thị trường về một sản phẩm nào đó thì sẽ làm xuất hiện nhu cầu cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo công nghệ để sản xuất ra sản phẩm đó Như vậy thị trường đã có tác động mạnh và thúc đẩy hoạt động NC&PT phát triển Ngược lại, hoạt động NC&PT sáng tạo ra công nghệ tạo ra sản phẩm mới sẽ kích thích tiêu dùng và tạo ra nhu cầu thị trường mới và tác động lại NC&PT
Đề tài đã sử dụng triết lý đẩy, kéo nêu trên để làm cơ sở cho các phân tích về cơ chế, chính sách tài chính đối với việc tổ chức và hoạt động của các chương trình, đề tài, dự án KH&CN phải được « kéo » như thế nào thì mới thực sự gắn kết KH&CN với sản xuất ; có địa chỉ ứng dụng ; đáp ứng yêu cầu của thị trường
I.4 LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHẠM VI, TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
1.4.1 Lý luận chung về quan hệ giữa nhà nước và thị trường
Trong quá trình phát triển của kinh tế thế giới, mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường được tổng kết theo 3 mô hình như sau:
1) Trường phái "Bàn tay vô hình" mà Adam Smith là đại diện chủ trương không có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường Theo
Trang 24đó, nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển là con người - con người kinh tế
và điều kiện để họ tiến hành trao đổi chính là lợi ích tư mà họ nhận được Khi các hoạt động kinh tế được tiến hành, bàn tay vô hình chính là các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường sẽ chi phối các hoạt động Nhà nước trong những điều kiện như vậy, không cần can thiệp vào hoạt động kinh tế mà chỉ cần thực hiện những chức năng truyền thống của nhà nước của mình
2) Trường phái "Cần có sự can thiệp của nhà nước" cho rằng nền kinh
tế thị trường theo kiểu bàn tay vô hình đã không giải quyết được các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và chính bàn tay hữu hình (can thiệp của nhà nước) đã phải tham gia lập lại trật tự kinh tế Học thuyết kinh tế của M.Keynes là nền tảng tư tưởng về sự can thiệp của nhà nước Đó là vấn liên quan đến lao động, thị trường lao động, thất nghiệp; vấn đề cơ cấu kinh tế, quy mô sản xuất, quy mô tiêu dùng và thu nhập; vấn đề kích cầu, kích thích tiêu dùng, khuyến khích sản xuất và đầu tư phát triển; vấn đề tham gia tích cực vào hoạt động đầu tư; sử dụng ngân sách để khuyến khích đầu tư tư nhân; vấn đề sử dụng hệ thống tài chính, tiền tệ, thuế
3) Trường phái "Kinh tế hỗn hợp" là trường phái vừa đề cao vai trò của nhà nước, vừa đề cao vai trò năng động, tích cực của thị trường Đó là sự kết hợp giữa bàn tay vô hình của thị trường và bàn tay hữu hình (có sức mạnh của công quyền, thể chế, tài chính) Một nền kinh tế vận hành tốt chỉ khi kết hợp một cách hài hoà nhất giữa nhà nước và thị trường theo nguyên tắc: không thể
vỗ tay bằng một bàn tay Thừa nhận một cơ chế vận hành hỗn hợp, cần quan tâm cả yếu tố vô hình và hữu hình Những điều thị trường không thể giải quyết được thì nhà nước phải quan tâm giải quyết
Trên thực tế, hiện nay phần lớn các nước trên thế giới phát triển kinh tế thị trường đều thực hiện hoặc hướng theo mô hình "kinh tế hỗn hợp" Việt Nam đi theo mô hình nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, như vậy về cơ bản cũng là theo mô hình "kinh tế hỗn hợp"
Dựa theo mô hình trên, phần lớn các nước đang phát triển ban đầu luôn luôn coi phát triển KH&CN là hoạt động của nhà nước Nhà nước tổ chức, tham gia và cung cấp tài chính cho hầu hết các hoạt động KH&CN Tuy nhiên, vai trò của nhà nước ở các nước đang phát triển trong việc can thiệp để phát triển KH&CN cũng chỉ có thể dừng lại ở một mức độ nhất định Để có được những thành công lớn, nhà nước các nước trên đã hỗ trợ và khuyến khích các vai trò tác nhân trung gian tích cực tham gia vào các hoạt động phát triển KH&CN chế tạo ra nhu cầu thật sự đối với công nghệ và tạo ra động lực cho quá trình đổi mới Trong quá trình đó, nhà nước đã tạo ra được sự tin cậy lẫn nhau giữa khu vực tư nhân và nhà nước và ngay cả ở bộ máy hành chính của nhà nước Nhà nước cũng giúp thiết lập sự tin cậy lẫn nhau giữa ngành công nghiệp và các tổ chức NC&PT Bước đi đầu tiên là các tổ chức NC&PT
Trang 25chuyển giao từ nước ngoài Từ đó các tổ chức NC&PT dần tiến đến giúp các doanh nghiệp nghiên cứu khả năng thích nghi và cải tiến các quy trình công nghệ hiện có, nâng cấp công nghệ Cuối cùng các tổ chức NC&PT nhờ đó mà
có khả năng sáng tạo ra công nghệ mới và giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ Kinh nghiệm cho thấy, ở một nước thành công về phát triển công nghệ, đầu tư của công nghiệp cho NC&PT của quốc gia đã chiếm tỷ lệ 60%-70% Điều đó chứng tỏ rằng khi nhà nước đề ra được đường lối đúng đắn cho quá trình phát triển các hoạt động NC&PT thì sự phối kết hợp giữa các tổ chức nhà nước có liên quan với khu vực tư nhân (thị trường) sẽ chặt chẽ trong hoạt động KH&CN theo chức năng, cơ chế hoạt động của mỗi bên Lý thuyết về liên kết xoắn ba (Triple Helix) đã thể hiện sự cộng tác này và trên thực tế nhiều nước phát triển đã thực hiện tốt mối liên kết này trong hoạt động phát triển KH&CN, đổi mới công nghệ
Bức tranh về hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) của các nước cho thấy hiện nay đang tồn tại hai quan điểm có vẻ trái ngược nhau về hoạt động này Quan điểm đó được dựa trên hai lôgíc khác nhau Lý luận về công ích coi kết quả nghiên cứu và phát triển có thể tự do tiếp cận và sử dụng và lý luận về sở hữu coi kết quả nghiên cứu là sở hữu tư nhân Hoạt động KH&CN
là một trong những hoạt động quan trọng của xã hội và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội Trong bối cảnh hiện nay tại các nước đang phát triển, sản phẩm của NC&PT được coi là hàng hóa thương mại, đề cao vai trò của thị trường, dường như đang thách thức quan niệm cho rằng KH&CN là của công Đây là vấn đề khá phổ biến ở các nước đang phát triển và các nước đang có nền kinh tế chuyển đổi, nơi có đến 80% hoạt động NC&PT vẫn còn do chính phủ cấp tài chính Nguyên nhân chính của hiện tượng này ở các nước đang phát triển là sức ép tài chính của nhà nước quá lớn khi cung cấp cho KH&CN theo hình thức bao cấp, trong khi đó các tổ chức NC&PT hoạt động thiếu hiệu quả làm cho người ta nghĩ ngay đến việc dùng
cơ chế thị trường để điều tiết Theo quan điểm này chi phí cho NC&PT trong nhiều lĩnh vực sẽ được giảm đi, thậm chí ngay cả những lĩnh vực như y tế, giáo dục và các nghiên cứu rủi ro khác Như vậy, chính tại các nước này sẽ xuất hiện mâu thuẫn mới giữa việc hướng các hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ theo yêu cầu thị trường để phát triển kinh tế- xã hội và duy trì một
số hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ như là hoạt động công cộng vì lợi ích chung trong một số hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ Thiên về quan điểm thị trường hoá tất cả các hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ sẽ
là nguy hiểm đối với nền KH&CN của một quốc gia Nhà nước phải đảm bảo phát triển KH&CN, đổi mới công nghệ bằng cách phối hợp giữa hai cơ chế xuất phát từ chức năng của nhà nước là công ích và chức năng của thị trường
là lợi ích của doanh nghiệp
Đề tài đi theo quan điểm nêu trên và lấy đó làm cơ sở cho việc xác định vai trò của nhà nước và của thị trường trong hoạt động KH&CN, hoạt động đổi mới (công nghệ), đặc biệt là vấn đề cơ chế, chính sách tài chính của nhà
Trang 26nước chỉ có trách nhiệm cấp kinh phí 100% vào các vấn đề công ích và có trách nhiệm hỗ trợ các vấn đề đổi mới (công nghệ) của doanh nghiệp trong các Chương II và Chương III của đề tài
1.4.2 Chức năng của nhà nước và thị trường đối với hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ)
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước và doanh nghiệp công nghiệp là hai nhân tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển của KH&CN của một quốc gia Trước đổi mới, hoạt động nghiên cứu và triển khai của nước ta vẫn còn nặng về cơ chế bao cấp (làm thay doanh nghiệp), hoạt động KH&CN và đổi mới (công nghệ) là lĩnh vực chỉ có Nhà nước đầu tư và triển khai thực hiện Doanh nghiệp ỷ lại nhà nước về KH&CN và thậm chí cả đổi mới (công nghệ), chưa chủ động đầu tư, tiến hành các nhiệm vụ KH&CN, đổi mới (công nghệ) có lợi cho riêng mình Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN như hiện nay, Nhà nước cần có quan điểm mới về phát triển KH&CN, đổi mới (công nghệ), phải làm rõ trách nhiệm giữa Nhà nước và doanh nghiệp đối với hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ
Nhà nước ngoài trách nhiệm về mặt quản lý nhà nước đối với toàn bộ hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) trong quốc gia sẽ thực hiện chức năng công ích của mình Trách nhiệm trước hết của Nhà nước là tổ chức các hoạt động nghiên cứu và triển khai phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội (công ích) và thứ đến là hỗ trợ các hoạt động NC&PT của doanh nghiệp và chỉ hỗ trợ một phần nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động NC&PT của doanh nghiệp Về nguyên tắc, nhà nước chỉ thực hiện các hoạt động NC&PT công nghiệp đến giai đoạn tiền canh tranh (công nghệ nguồn, sản phẩm mẫu,…) và cho xã hội sử dụng miễn phí kết quả đó Trong một số trường hợp công ích khác (phục vụ chữa bệnh, môi trường, nông nghiệp, phòng chống thiên tai, quốc phòng, an ninh,…) nhà nước có thể không dừng ở mức nghiên cứu ra công nghệ tiền cạnh tranh mà tiến hành tạo ra công nghệ hoàn chỉnh để phục
vụ các đối tượng này
Doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với những hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ của mình phục vụ cho hoạt động kinh tế (tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích riêng) của mình Doanh nghiệp chủ động đầu tư tiến hành các hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) phục vụ cho bản thân doanh nghiệp Trong quá trình này, nhà nước chỉ hỗ trợ một phần kinh phí cho hoạt động NC&PT và các hoạt động có tính rủi ro khác (đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nhà nước có thể hỗ trợ cả việc nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp bằng cách hỗ trợ đào tạo nhân lực làm công tác NC&PT của doanh nghiệp, hỗ trợ xác định các vấn đề cần nghiên cứu của doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm chuyên gia nước ngoài am hiểu lĩnh vực công nghệ để tư vấn cho
Trang 27của doanh nghiệp Các số liệu thống kê cho thấy tại các nước cho thấy mức độ đầu tư cho NC&PT của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng 1/2-2/3 tổng số 2%-3% GDP đầu tư của toàn xã hội cho hoạt động này
Như vậy, quản lý Nhà nước và cơ chế thị trường (doanh nghiệp) là hai yếu tố chính có tính chất phối hợp (không loại trừ nhau) tạo ra sự sống động của hoạt động NC&PT phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội và phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng cao và yêu cầu xã hội công bằng, văn minh Đây cũng là sự thể hiện mô thức "Nhà nước và Nhân dân cùng làm"
và nguyên tắc "Hoạt động NC&PT theo cơ chế thị trường, có sự quản lý Nhà nước và theo định hướng XHCN" trong lĩnh vực quản lý KH&CN
Rõ ràng ở đây cần có sự phân công giữa vai trò nhà nước và vai trò của doanh nghiệp đối với hoạt động NC&PT Nhà nước không thể nào bao cấp hết thảy các hoạt động KH&CN trong xã hội Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công ích, nghiên cứu phục vụ chung cho toàn xã hội, còn các doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp kinh phí cho các hoạt động KH&CN tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới, những sản phẩm, công nghệ theo yêu cầu thị trường Ví dụ theo kinh nghiệm của CHLB Đức, lĩnh vực KH&CN mà nhà nước có trách nhiệm đầu tư là:
- Nghiên cứu các vấn đề về xã hội;
- Nghiên cứu cơ bản;
- Nghiên cứu về tự nhiên, năng lượng, hạt nhân, vũ trụ, đại dương, địa cực;
- Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp;
- Nghiên cứu về y tế, thuốc chữa bệnh;
- Nghiên cứu các công nghệ cơ bản, công nghệ dùng chung, công nghệ tiền cạnh tranh, một số công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ;
- Nghiên cứu các công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường, khắc phục biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai;
- Nghiên cứu và phát triển về quốc phòng, an ninh;
-
Có thể nhận thấy, các lĩnh vực nêu trên nằm trong hoạt động KH&CN
và trong hoạt động đổi mới (công nghệ) Doanh nghiệp có trách nhiệm đầu tư cho các hoạt động NC&PT tạo ra công nghệ cho doanh nghiệp và xúc tiến các hoạt động đổi mới (công nghệ) của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể tiếp nhận các công nghệ công ích của nhà nước để tiếp tục sử dụng cho mục đích nghiên cứu hoàn thiện, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoàn thiện nghiên cứu công nghệ (sản xuất thử nghiệm, bán công nghiệp, ) doanh nghiệp có thể nhận được hỗ trợ của của nhà nước nhằm giải quyết các rủi ro có thể xuất hiện
Trang 28Như vậy bộ máy quản lý nhà nước phải được tổ chức cho phù hợp với trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động KH&CN, phục vụ lợi ích chung toàn xã hội và trách nhiệm hỗ trợ các hoạt động KH&CN của doanh nghiệp
Một cách khái quát trong hoạt động NC&PT nhà nước chịu trách nhiệm
về NCCB, NCƯD, triển khai thực nghiệm trong các lĩnh vực KH&CN của một quốc gia Đối với các nghiên cứu công nghiệp nhà nước chỉ nghiên cứu đến sản phẩm tiền cạnh tranh (sản phẩm mẫu), sau đó doanh nghiệp tiếp nhận
và tiếp tục đầu tư hoàn thiện công nghệ phục vụ mục đích của doanh nghiệp Đối với các nghiên cứu khác (nông nghiệp, môi trường, quốc phòng, an ninh,
y tế,…) nhà nước đầu tư nghiên cứu đến khâu hoàn thiện công nghệ và đưa vào áp dụng trong sản xuất, đời sống Hình 4 thể hiện sự phân chia và trách nhiệm của nhà nước và của doanh nghiệp đối với hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) Ô 1, 2 và một phần ô 3 là do nhà nước đảm trách và đầu tư; ô 4, một phần ô 3 và phần nhỏ của ô 1,2 là do doanh nghiệp đảm trách và đầu tư Nguyên tắc phân công này là sự phối hợp giữa nhà nước và doanh nghiệp Doanh nghiệp mà yếu thì vai trò của nhà nước phải tăng cường về trách nhiệm
và đầu tư của mình và ngược lại
Hình 4 Trách nhiệm về hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ)
giữa nhà nước và thị trường (doanh nghiệp)
Việc phân định trách nhiệm giữa nhà nước và thị trường trong công tác
tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) được quan niệm như trên trong khuôn khổ đề tài để làm cơ sở cho việc xem xét cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước và của doanh nghiệp đối với hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ)
I.5 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
Tài chính nói chung và tài chính của nhà nước nói riêng được coi là quan trọng nhất trong 4 nguồn lực (tài chính, nhân lực, vật lực và thông tin) trong hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ Tại các nước có đồng tiền mạnh thì chỉ cần có tài chính là đã có thể tuyển dụng được cán bộ, mua được thông tin và tậu được thiết bị theo yêu cầu của hoạt động KH&CN Nguồn tài chính do vậy thường giữ vai trò điều tiết các nguồn lực khác Điều này đã được chứng minh tại các nước phát triển Có thể điều này không đúng tại một
số nước đang phát triển vì tại đây nhân lực KH&CN mới là yếu tố hàng đầu,
Trang 29nước này thiếu lao động khoa học giỏi, năng lực KH&CN trong nước hoặc vấn đề thông tin KH&CN mới là cốt yếu
Nhìn nhận theo đầu tư cho tổ chức KH&CN triển khai các hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ, ngân sách nhà nước được đầu tư theo hai nội dung chủ yếu như sau:
1) Đầu tư phát triển, trong đó cụ thể là đầu tư hạ tầng cơ sở, nhà xưởng, phòng thí nghiệm, trang thiết bị cho các tổ chức KH&CN do nhà nước thành lập; phối hợp đầu tư cùng với doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới công nghệ;
2) Đầu tư cho hoạt động thường xuyên, trong đó một số kinh phí được cấp trực tiếp cho các tổ chức KH&CN, một số kinh phí được cấp gián tiếp thông qua tuyển chọn của các chương trình, đề tài KH&CN của nhà nước, bộ ngành hoặc thông qua các quỹ phát triển KH&CN, đổi mới công nghệ quốc gia Các chương trình, quỹ này của Nhà nước là công cụ để bẻ ghi tài chính nhà nước vào thực hiện các mục tiêu đã xác định trong chiến lược phát triển KH&CN, đổi mới (công nghệ) của nhà nước
1.5.1 Tài chính cho hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ)
a) Tài chính nhà nước đầu tư phát triển xây dựng cơ sở vật chất cho KH&CN, đổi mới (công nghệ)
Tài chính của nhà nước dành cho đầu tư phát triển được sử dụng cho việc xây dựng cơ sở vất chất của hệ thống các tổ chức NC&PT, tổ chức dịch
vụ KH&CN do nhà nước thành lập Các tổ chức này triển khai các nhiệm vụ công ích của nhà nước và được tổ chức dưới dạng phi lợi nhuận (non-profit organizations) Các cơ sở vật chất của các tổ chức này không chịu chế độ khấu hao như đối với cơ sở sản xuất kinh doanh Kết quả hoạt động của các tổ chức này được chia sẻ theo hình thức sản phẩm công ích, nghĩa là mọi người được tiếp cận sản phẩm này miễn phí Trong nhiều trường hợp kết quả là công nghệ thì có thể có sự mua bán trao đổi với những người sử dụng nhưng giá cả chỉ lấy vừa đủ bù đắp chi phí, không lấy lãi
b) Tài chính nhà nước đầu tư cho NC&PT, KH&CN công ích
Đối với các hoạt động nghiên cứu công nghiệp tài chính nhà nước chỉ đầu tư cho đến khâu tạo ra sảm phẩm mẫu (prototype), sau khâu đó doanh nghiệp phải tiếp tục đầu tư tài chính để hoàn thiện công nghệ Đây cũng thể hiện tài chính đầu tư của nhà nước cho hoạt động chỉ đến khâu tiền cạnh tranh Tuy nhiên đối với hoạt động công ích trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, môi trường, quốc phòng - an ninh,… tài chính của nhà nước vẫn đầu
tư cho đến khâu hoàn thiện công nghệ cuối cùng trước khi đưa vào ứng dụng trong thực tiễn và được chuyển giao với giá rẻ (trợ giá) cho đối tượng được hưởng lợi từ các kết quả này
Trang 30Cũng với chức năng này, tài chính nhà nước được cung cấp cho các hoạt động thường xuyên của các tổ chức KH&CN và các cơ quan quản lý KH&CN Đặc biệt là cung cấp tài chính cho các chương trình, đề tài, dự án KH&CN; cho các quỹ phát triển KH&CN, quỹ đổi mới công nghệ quốc gia
c) Tài chính nhà nước hỗ trợ đổi mới (công nghệ) của doanh nghiệp
Chức năng của tài chính nhà nước đối với hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) trong trường hợp hỗ trợ này là tài trợ một phần kinh phí của các
dự án, đề tài NC&PT của các doanh nghiệp Nguyên tắc hỗ trợ tài chính ở đây
là hỗ trợ phần rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đề tài, dự án do doanh nghiệp thực hiện và hỗ trợ cho phát triển nhân lực NC&PT của doanh nghiệp Thông thường các hỗ trợ này không vượt quá 50% kinh phí cần thiết cho thực hiện đề tài, dự án KH&CN Hàng năm, các nước kinh tế thị trường như các nước OECD trợ cấp cho các hoạt động sản xuất công nghiệp chế tạo
đã lên tới 50 tỷ USD
d) Tài chính nhà nước đầu tư hoàn thiện công nghệ
Chức năng của tài chính nhà nước đầu tư hoàn thiện công nghệ là cùng đầu tư với các doanh nghiệp để hoàn thiện công nghệ đến khâu thương mại hoá và chia lợi từ đầu tư này Theo cách làm này thì tài chính dành cho hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) không còn mang tính công ích nữa mà đã mang tính kinh doanh, đầu tư kiếm lời, làm ăn kinh tế Hoạt động đầu tư mạo hiển của nhà nước trong hoạt động đổi mới (công nghệ) là một hình thức đầu
tư này Một ví dụ ở Thái lan, Nhà nước thông qua Trung tâm chuyển giao công nghệ Thái lan kết hợp với doanh nghiệp để đầu tư tạo ra công nghệ mới
1.5.2 Chuỗi đổi mới, người tham gia và tài chính nhà nước
Việc tiếp theo chính là phải xác định mối hài hoà giữa yếu tố thị trường
và khả năng đảm bảo tài chính của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN và phân công trách nhiệm trong từng hạng mục công việc KH&CN Nhà nước có thể theo nguyên tắc: Nhà nước chỉ đầu tư vào các hoạt động KH&CN mà các doanh nghiệp không đầu tư Cơ chế tài chính ở đây là ngoài phần nhà nước chủ động đầu tư vào khu vực nhà nước quan tâm thì phần nhà nước cần có cơ chế để thu hút các doanh nghiệp đầu tư kinh phí vào hoạt động NC&PT của doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng phải có chiến lược sản phẩm của mình và trong đó phải tự đầu tư cho hoạt động NC&PT của mình và cả các hoạt động chuyển giao, đổi mới của doanh nghiệp Nhà nước đối với doanh nghiệp là bà
đỡ và như vậy trong trường hợp này đó là nguyên tắc: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”
Hình 5 mô tả về tài chính của nhà nước đối với các hoạt động và tổ chức KH&CN tham gia hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) Theo đó,
Trang 31bắt đầu sản xuất, bán sản phẩm cho đến khi sản phẩm khác thay thế sản phẩn
cũ do doanh nghiệp sản xuất Như chức năng nghiên cứu của nhà nước thì việc này cho thấy đầu tư cho KH&CN, đổi mới công nghệ ở giai đoạn này là đầu tư không đặt vấn đề thu hồi kinh phí bỏ ra mà lợi ích của nhà nước ở đây
là tri thức về khoa học và tri thức về công nghệ (tiền cạnh tranh, công nghệ công ích) Hình 5 cũng cho thấy, mức cao nhất kinh phí nhà nước tập trung đầu tư cho các tổ chức KH&CN, các phòng thí nghiệm/viện nghiên cứu quốc gia để thực hiện một số nghiên cứu cơ bản và chủ yếu là nghiên cứu tạo ra công nghệ nguồn và nghiên cứu ứng dụng Thứ đến, kinh phí nhà nước đầu tư chủ yếu vào các hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu tạo ra công nghệ nguồn của các trường đại học Mức kinh phí ưu tiên số ba là ngân sách nhà nước đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng, triển khai quy trình công nghệ, triển khai sản phẩm của các viện nghiên cứu công nghiệp công lập, nhưng chỉ đảm bảo một phần kinh phí thường xuyên cho các tổ chức nghiên cứu công nghiệp này Mức thứ tư là ngân sách nhà nước dành cho hỗ trợ một phần nghiên cứu ứng dụng và chủ yếu là hỗ trợ nghiên cứu triển khai quy trình công nghệ, triển khai sản phẩm mới và tiến hành ban đầu sản xuất sản phẩm mới, quy trình công nghệ mới Cơ chế ở đây là hỗ trợ không quá 50% chi phí cho các hoạt động này Đối với việc chuyển giao công nghệ thì nhà nước không hỗ trợ tài chính trực tiếp mà thể hiện sự hỗ trợ của mình bằng chính sách thuế và tín dụng, vì các hoạt động này không nhiều rủi ro như quá trình tự nghiên cứu của doanh nghiệp
Việc ưu tiên phân bổ kinh phí đầu tư và phân công thực hiện các vùng hoạt động cho các tổ chức KH&CN và tham gia hoạt động của các tổ chức KH&CN của doanh nghiệp là tuỳ thuộc vào chiến lược của mỗi quốc gia Sơ
đồ theo Hình 5 chỉ là ước lệ và phù hợp với khung cảnh của một nước phát triển Đối với nước đang phát triển thì có thể các nghiên cứu cơ bản rất ít và nghiên cứu tạo ra công nghệ nguồn cũng ít và các tổ chức thực hiện những nhiệm vụ này cũng ít và chủ yếu tập trung tại các trường đại học Trong khi
đó các nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu quy trình công nghệ, triển khai sản phẩm mới của các tổ chức nghiên cứu công nghiệp ở một vị trí ưu tiên cao và đặc biệt các nghiên cứu thích nghi, làm chủ, cải tiến công nghệ, sản phẩm mới của doanh nghiệp và do các doanh nghiệp thực hiện được ưu tiên phát triển nhất Việc nhấn mạnh này thể hiện trong chiến lược phát triển KH&CN của mỗi quốc gia (đi tắt, đón đầu trong hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ) Trong đó cũng thể hiện rõ mối quan hệ giữa nguồn tài chính nhà nước và nguồn tài chính của doanh nghiệp trong việc phối kết hợp để nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp là nhiệm vụ trước mắt phải thực hiện, nhưng không quên nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu tạo ra công nghệ nguồn của năng lực nội sinh trong nước
Trang 32Hình 5 Chuỗi đổi mới, người tham gia và tài chính nhà nước
Các giai đoạn n/cứu
hỗ trợ của nhà nước đối với hoạt động đổi mới (công nghệ) của doanh nghiệp trình bày tại các Chương II, Chương III của đề tài
I.6 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ SỬ DỤNG TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP CHO HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
Đại học
Phòng thí nghiệm của nhà nước
KH&CN theo giai
đoạn nghiên cứu
Mức ưu tiên các tổ
chức KH&CN
được nhà nước cấp
tài chính
Trang 331.6.1 Nguồn, mạng và thể thức cấp kinh phí cho hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ)
Mỗi một quốc gia dù là phát triển hoặc đang phát triển và với quan niệm riêng về hệ thống KH&CN của mình thế nào chăng nữa, hằng năm đều dành một khoản ngân sách nhà nước nhất định đầu tư cho hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ Phần lớn tại các nước phát triển tổng đầu tư của xã hội cho hoạt động NC&PT, đổi mới công nghệ khoảng 2,5%-3,5 % GDP và các nước phát triển khoảng 0,5%-1% GDP Trong đó đa phần là từ doanh nghiệp khoảng 2/3 (Hàn quốc, Nhật bản khoảng 3/4, Đức khoảng 2/3, Mỹ khoảng trên 1/2 từ doanh nghiệp), phần từ ngân sách nhà nước khoảng 1/3 Tại các nước đang phát triển, bức tranh về chi phí nhà nước cho NC&PT, đổi mới công nghệ và chi phí của doanh nghiệp đầu tư cho NC&PT, đổi mới công nghệ là bức tranh ngược hẳn lại với các nước phát triển Ngân sách nhà nước đầu tư cho NC&PT là chủ yếu, thường chiếm 4/5 và đầu tư của các doanh nghiệp cho hoạt động này thường là 1/5 Đây thể hiện sự yếu kém của các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển đối với hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ
Ngân sách nhà nước đầu tư cho KH&CN, đổi mới công nghệ theo cơ chế bây lâu nay đã hình thành và phát triển tại các nước phát triển thì được sử dụng theo sơ đồ thể hiện tại Hình 6
Sơ đồ là một sự tổng kết về sử dụng tài chính trong hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ Từ các nguồn khác nhau, tài chính được đưa vào các mạng và thể thức phân phối nguồn tài chính này trước khi được đưa đến ba hộ sử dụng kinh phí với các tính chất hoạt động khác nhau, đó là khu vực dịch vụ chung của Nhà nước, khu vực sản xuất và khu vực viện nghiên cứu, trường đại học Đối với nguồn ngân sách nhà nước, việc đầu tư, tài trợ được thực hiện dưới dạng trực tiếp như đầu tư, trợ cấp không hoàn lại; đầu tư, trợ cấp có hoàn lại; cấp, đầu tư thông qua các dự án, đề tài KH&CN có ký kết hợp đồng với ba hộ sử dụng kinh phí nêu trên Bên cạnh việc cấp trực tiếp, ngân sách nhà nước có thể được cấp uỷ thác thông qua các tổ chức trung gian như các chương trình mục tiêu hoặc các quỹ, trong đó cơ chế có thể là trợ cấp hoàn lại hoặc không hoàn lại, có thể là cùng đầu tư hoặc hợp đồng thực hiện
dự án, đề tài KH&CN với ba hộ sử dụng ngân sách nhà nước Cơ chế cấp tài chính qua tổ chức trung gian là một cơ chế uỷ quyền và tổ chức trung gian bao giờ cũng có một quyền tự chủ nhiều hay ít
Trang 34Hình 6 Hình thức tài trợ chủ yếu cho nghiên cứu và phát triển
ĐƯỢC HƯỞNG
NHÀ NƯỚC TÀI TRỢ TRỰC TIẾP
- Trợ cấp không hoàn lại (bằng quà tặng)
- Trợ cấp phải hoàn lại (bằng tín dụng ưu tiên)
- Hợp đồng NC&PT
CÁC TỔ CHỨC TRUNG GIAN HAY CÁC QUỸ
“TIẾP SỨC” (1)
- Trợ cấp; Đầu tư
- Hợp đồng NC&PT
(1) Tùy theo từng nước:
- Các hội tư nhân
- Hội đồng hoặc quỹ nghiên cứu quốc gia hay ngành
- Quỹ đặc biệt của các nước thành viên và hiệp hội các khu
NGÂN SÁCH QUỐC GIA
QUỸ NGOÀI NGÂN SÁCH
- Chính phủ TW hoặc chính quyền bang, tỉnh
- Chính quyền địa phương và thành phố
TÀI TRỢ GIÁN TIẾP
KHU VỰC VIỆN NC, ĐẠI HỌC
- Các trường đại học
- Các trường cao đẳng
KHU VỰC SẢN XUẤT
- NC&PT liên kết với
DN, trường, viện
- NC&PT không liên kết (ngành hoặc đa ngành)
KHU VỰC DỊCH VỤ CHUNG
- Hành chính Nhà nước
- Dịch vụ công cộng
- Các tổ chức khoa học chuyên nghiệp
Trang 35Các dự án sản xuất thử thử nghiệm hoặc các dự án ươm tạo công nghệ có thể được nhà nước tài trợ một phần kinh phí là những hoạt động sau giai đoạn thành công trong phòng thí nghiệm ở giai đọan sản phẩm mẫu (prototype) Kết thúc dự án thì công nghệ được hoàn thiện và có thể thương mại hoá và có thể thành lập doanh nghiệp dựa trên công nghệ đó Vì các dự án này không còn là công ích nữa nên các chủ dự án phải là các doanh nhân/doanh nghiệp đứng ra tổ chức thực hiện Các qũi hoặc chương trình tài trợ cho việc tạo ra công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hoá hoặc thành lập doanh nghiệp spin-off đều phải xác định như vậy Nếu nhà khoa học có ý định triển khai các dự án như vậy, bó buộc họ phải trở thành doanh nhân
và phải có phương án thương mại hoá hoặc thành lập doanh nghiệp thì mới được nhận tài trợ từ ngân sách nhà nước Nguyên tắc này được các nước phát triển áp dụng rất chặt chẽ (ở Mỹ, Đức, ) trong hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ
Thông qua các chương trình của nhà nước, ngân sách nhà nước có thể sử dụng dưói dạng đầu tư mạo hiểm (vd ở Trung quốc, Hàn quốc) hoặc phối hợp đầu
tư (co-investment) để phát triển công nghệ (vd chương trình đổi mới công nghệ của Thái lan) hoặc đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu cho nhân lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (vd chương trình đổi mới công nghệ của Đức, chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ công nghệ của New Zealand)
Các hình thức sử dụng ngân sách nhà nước dành cho KH&CN, đổi mới công nghệ theo cơ chế đầu tư, tài trợ là rất phong phú Vấn đề cơ bản của mô hình đầu
tư, tài trợ này là phải kiểm tra được khối lượng tiền từ các nguồn đầu tư, tài trợ khác nhau và với chức năng của đồng tiền khác nhau, phạm vi tài trợ khác nhau Cơ chế phối kết hợp việc tài trợ của các nguồn tài chính này nếu được thực hiện tốt thì
hệ thống KH&CN sẽ phát triển có hiêu quả và đáp ứng theo yêu cầu của chiến lược phát triển KH&CN phục vụ phát triển KT-XH
Một nước không làm chủ được mạng và thể thức này nói chung và phần ngân sách nhà nước nói riêng thì hệ thống chi tiêu quốc gia cho hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ càng thiếu độ tin cậy bấy nhiêu và không đạt được hiệu quả như mong muốn
1.6.2 Vai trò của quỹ trong hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ)
Quỹ là một hình thức cấp kinh phí cho KH&CN tương đối phổ dụng ở các nước tiến tiến trên thế giới Ở các nước này, quỹ KH&CN được gọi dưới các tên khác nhau: Foundation, Fonds, Fund, Stiftung Ở Việt Nam, hình thức tổ chức trên đều gọi là quỹ Đây là điểm đã gây hiểu nhầm với quỹ tài chính ở trong nước và đã gây ra nhiều tranh luận giữa giới quản lý KH&CN và giới quản lý tài chính về cách
tổ chức và quản lý Quỹ phát triển KH&CN quốc gia của nước ta
Quỹ trong hoạt động KH&CN của nước ngoài nói chung là tổ chức phi tín dụng, phi ngân hàng, không vụ lợi và thường có ba hình thái tổ chức: i) do cá nhân thành lập và cấp kinh phí cho Quỹ hoạt động; ii) do cộng đồng khoa học thành lập theo cơ chế dân chủ (dạng hội) và hàng năm Nhà nước uỷ thác cho Qũy một khoản
Trang 36tiền để Quỹ cấp kinh phí cho các hoạt động KH&CN (hình thức tự quản); iii) do Nhà nước thành lập theo luật pháp dân sự và hằng năm Nhà nước dành một khoản kinh phí từ ngân sách Nhà nước (KH&CN) hoặc một khoản kinh phí công ích cho Quỹ hoạt động Đặc trưng lớn nhất của quỹ về tổ chức, bộ máy và phương thức hoạt động là đề cao tính tự quản, dân chủ và công khai Điều này dựa trên quan điểm mà các nước tiên tiến thừa nhận: Cộng đồng khoa học là người biết tốt nhất
về công việc khoa học cho nên cũng là người biết việc phân bổ kinh phí cho hoạt động KH&CN như thế nào là hợp lý - vì khoa học là một loại hoạt động về bản chất là rất tự do, sáng tạo (chỉ có nhà khoa học mới thấu hiểu hoạt động này)
Ở nhiều nước phát triển, ngoài hệ thống các quỹ KH&CN còn có hệ thống
kế hoạch KH&CN thể hiện dưới dạng các chương trình KH&CN ưu tiên hoặc chương trình KH&CN khung hoặc các đề tài KH&CN độc lập do Nhà nước trực tiếp tổ chức thực hiện Kế hoạch KH&CN có nội dung thực hiện trong 5 năm hoặc dài hơn và sau thời gian này người ta mới tiến hành xác định kế hoạch KH&CN mới cho thời kỳ tiếp theo Chương trình KH&CN của nhà nước là những “cú đấm”
có kế hoạch của nhà nước vào một số lĩnh vực KH&CN lựa chọn ở nhiều nước người ta đã không dùng cơ chế kế hoạch KH&CN này mà áp dụng cơ chế quỹ KH&CN để cấp kinh phí cho các hoạt động KH&CN của các tổ chức KH&CN Đặc biệt, cơ chế quỹ được các nước phát triển ưa chuộng dùng để thực hiện các hoạt động nghiên cứu cơ bản là các hoạt động cần có độ tự do và rủi ro cao hoặc hỗ trợ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ở những nước áp dụng cả hai cơ chế quỹ
và kế hoạch KH&CN thì hai cơ chế này được thiết kế để chúng bổ sung hỗ trợ cho nhau, không chồng chéo, không loại trừ nhau
Những năm 50, các quỹ KH&CN của các quốc gia lớn như Mỹ, Đức và nhỏ như Thuỵ sỹ đã được thành lập và đi vào hoạt động Kết quả hoạt động của các quỹ này sau 50 năm hoạt động đã được đánh giá rất cao trong phát triển KH&CN trong nước và trên thế giới Các nước như Nga, Trung quốc, Hàn quốc, Thái lan, New Zealand, vào những năm 80 và 90 đã thành lập các quỹ phát triển KH&CN Đặc biệt năm 2005 sau 2 năm chuẩn bị, EU cũng đã quyết định thành lập quỹ phát triển KH&CN của mình Như vậy bên cạnh các chương trình KH&CN có tính chiến lược, dài hạn và ngắn hạn, 5 năm đang vận hành lâu nay thì EU đã thành lập quỹ KH&CN cho phù hợp và đáp ứng nhu cầu và tình hình mới của EU
1.6.3 Vai trò của chương trình KH&CN nhà nước đối với hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ
Chương trình KH&CN là một dạng kế hoạch hoá NC&PT có tính chiến lược
về một lĩnh vực KH&CN lựa chọn, tập trung vào một hoạt động KH&CN nhất định Chương trình KH&CN được thực hiện thông qua đề tài, dự án NC&PT Một chương trình KH&CN thường có nhiều đề tài, dự án NC&PT có mối quan hệ gắn kết và liên ngành với nhau theo một logic và triết lý giải quyết tổng thể và trọn vẹn
Trang 37nhìn trước (foresight), phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, lập các hội đồng chuyên ngành xác định ưu tiên Việc sử dụng phương pháp nào là do điều kiện, bối cảnh cụ thể của quốc gia quy định Người quản lý có năng lực sẽ biết lựa chọn một phương
pháp thích hợp cho việc xác định các chương trình NC&PT trong từng thời kỳ
Dự án/Đề tài NC&PT (R&D Project) là quá trình tiến hành một công việc, một vấn đề, một nhiệm vụ nào đó nhằm đạt được những mục tiêu đã định rõ trong khuôn khổ một khoản ngân sách và theo một thời gian xác định Dự án NC&PT là phương thức thực hiện chương trình NC&PT
Chương trình KH&CN của nhà nước thường được nhà nước đưa ra down) các chủ đề chính, các trọng tâm nghiên cứu và công bố Các nhà khoa học căn cứ vào đó xác định tên đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển cụ thể, xây dựng thuyết minh đề cương và nộp cho ban quản lý các đề tài, dự án tuyển chọn và cơ quan nhà nước liên quan phê duyệt thực hiện
(top-Chương trình được cân đối một khoản kinh phí hằng năm từ ngân sách nhà nước và cơ quan quản lý thực hiện đề tài sẽ cấp cho đơn vị chủ trì các dự án, đề tài Các chương trình KH&CN có mục tiêu có các đặc điểm sau:
- Được xây dựng không phải theo ngành hay lãnh thổ mà theo nguyên tắc đảm bảo giải quyết vấn đề có liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương khác nhau theo xu thế phát triển tổng thể, liên ngành Đó là tính chất tổng thể, liên ngành
và hệ thống của chương trình NC&PT
- Các mục tiêu của chương trình KH&CN phải gắn trực tiếp với một hệ thống các biện pháp, điều kiện để thực hiện chúng, trong đó tài chính đóng vai trò rất quan trọng
- Các biện pháp thực hiện các chương trình đồng bộ, có mục tiêu phải được đảm bảo bằng các nguồn lực như vật tư, thiết bị, cơ sở vật chất, nhân lực KH&CN, các nguồn tài chính và các nguồn thông tin KH&CN trong nước, ngoài nước
- Quy định rõ quyền hạn và nghĩa vụ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia trong từng vấn đề, nhiệm vụ và biện pháp thực thi chương trình NC&PT
Các chương trình có thể là chương trình dài hạn mang tính chất chiến lược, thích hợp các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu tạo ra công nghệ nguồn (generic) Các chương trình cũng có thể là chương trình ngắn hạn, tạo ra các kết quả đáp ứng ngay cho các nhu cầu của KT- XH, đặc biệt là ứng dụng cho sản xuất, cho các doanh nghiệp, đó là các chương trình nghiên cứu ứng dụng Do tính chất mà cách thức hình thành và cấp tài chính, cơ chế quản lý của chương trình rất khác nhau và nguồn kinh phí và người tham gia thực hiện cũng rất khác nhau Đối với chương trình dài hạn thì chủ yếu Nhà nước là người cung cấp tài chính Đối với chương trình ngắn hạn thì nguồn tài chính huy động một phần từ các doanh nghiệp Doanh nghiệp có trách nhiệm đầu tư kinh phí của mình để triển khai kết quả vào sản xuất
Đề tài sử dụng mô hình sử dụng, quản lý tài chính, các lý luận về cơ chế quỹ, chương trình nêu trên làm cơ sở cho việc phân tích cơ chế, chính sách tài chính của
Trang 38Nhà nước (vì lợi ích công) và của doanh nghiệp (vì lợi ích riêng) đối với hoạt động KH&CN, đổi mới (công nghệ) tại các phầnnghiên cứu của đề tài
I.7 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DÀNH CHO HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
1.7.1 Lập kế hoạch, phân bổ, sử dụng, kiểm soát ngân sách KH&CN
Các nước đều có Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, trong đó quy định cụ thể về lập dự toán, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước và về nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước các cấp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, các nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước
Từ thực tiễn khảo sát tại Đức và ở Việt Nam, có thể nhận thấy ngân sách nhà nước dành cho KH&CN, đổi mới công nghệ đều có những tương đồng nhất định ở hai nước Hàng năm, dự toán ngân sách nhà nước được tổ chức xây dựng, tổng hợp
từ các đơn vị sử dụng ngân sách theo thời gian và biểu mẫu quy định Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng, Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà nước; thông báo số kiểm tra dự toán thu chi đầu tư phát triển, thu chi thường xuyên về tổng mức và từng lĩnh vực thu chi đối với các bộ Về ngành, lĩnh vực KH&CN, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước và các tổ chức được nhà nước hỗ trợ phải lập dự toán thu, chi ngân sách trong pham vị nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên và cuối cùng Bộ KH&CN tổng hợp lại thành dự toán ngân sách của Bộ về ngành, lĩnh vực KH&CN
và báo cáo cho Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT theo chức năng của mình có trách nhiệm kiểm tra, thẩm định dự toán của Bộ, cơ quan ngang
bộ, sau đó tổng hợp dự toán trình Chính phủ xem xét, quyết định và Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương năm sau Dự toán sau khi được Quốc hội phê duyệt, Thủ tướng chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao dự toán ngân sách, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán có trách nhiệm phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được giao Nguyên tắc giao thông thường được quy định là:
1) Tổng số giao cho các đơn vị trực thuộc không vượt quá dự toán được cấp
có thẩm quyền giao cả về tổng mức và chi tiết Đối với nhiệm vụ chi xây dựng cơ bản, việc giao dự toán chỉ thực hiện khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;
2) Dự toán giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ chi tiết theo mục chi chủ yếu của Mục lục Ngân sách nhà nước
Trang 39Nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương trong hoạt động KH&CN theo các văn bản luật ngân sách nhà nước đều bao gồm hai nội dung lớn và căn bản là:
- Chi đầu tư phát triển (cho KH&CN chủ yếu là xây dựng cơ bản, trang thiết
Trong hai nội dung chi trên, có nhiều hạng mục liên quan đến định mức Thủ tướng hoặc Bộ tài chính phối hợp với các Bộ ban hành xây dựng các định mức phân bổ, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước để phục vụ cho việc lập dự toán ngân sách nhà nước
Căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước quyết định chi gửi Kho bạc Nhà nước Kho bạc Nhà nước kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ điều kiện quy định như sau:
- Đã có trong dự toán ngân sách được giao;
- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
- Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi
Thủ tưởng cơ quan Kho bạc Nhà nước có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đủ các điều kiện quy định nêu trên và phải chịu trách nhiệm
về quyết định của mình
Trong một số trường hợp nhất định có thể cho phép áp dụng cơ chế chi ứng trước ví dụ nhiệm vụ quan trọng được xác định thuộc dự toán năm sau, nhưng phải thực hiện ngay trong năm, chưa được bố trí dự toán và nguồn dự phòng không đáp ứng được
Các khoản chi ngân sách thuộc dự toán năm trước, nhưng nếu chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện hết không được chuyển sang năm sau; trừ trường hợp được Bộ trưởng Bộ Tài chính (ngân sách trung ương), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (ngân sách địa phương) quyết định cho chi tiếp thì hạch toán và quyết toán như sau: trong thời gian chỉnh lý quyết toán thì hạch toán, quyết toán vào năm trước, nếu quyết định thực hiện trong năm sau thì làm thủ tục chi chuyển sang năm sau và thực hiện hạch toán, quyết toán vào ngân sách năm sau
Trang 40Trường hợp đã tạm ứng chi phí trong dự toán để chi đến hết ngày 31/12 chưa
đủ thủ tục thanh quyết toán, được tiếp tục thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán và quyết toán vào ngân sách năm trước
1.7.2 Các căn cứ, tiêu chí, định mức cho việc xác lập dự toán và phân bổ tài chính
Theo quy định của Luật pháp về sử dụng ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ liên quan xây dựng các căn cứ, tiêu chí, định mức cho việc xây dựng dự toán và thanh quyết toán sau này Trong hoạt động KH&CN các căn cứ, tiêu chí, định mức được sử dụng cho công lác lập dự toán là:
- Biên chế, tiền lương;
- Thực hiện các nhiệm vụ KH&CN: các đề tài, dự án KH&CN; kinh phí bình quân đầu cán bộ khoa học làm nghiên cứu; định mức liên quan đến công tác phí, hội thảo hội nghị; thuê mướn lao động, điều tra khảo sát; hợp tác quốc tế;
- Kinh phí cho đào tạo cán bộ, thông tin tư liệu;
- Mua sắm, sửa chữa, đổi mới trang thiết bị, nhà xưởng;
- Kinh phí cho hoạt động của bộ máy
Việc xây dựng định mức chi cho cán bộ nghiên cứu có thể ở mỗi nước một khác Ở Việt Nam tại các tổ chức KH&CN nhiều năm nay sử dụng nhiều cơ chế khác nhau, ví dụ cơ chế phân bổ kinh phí nghiên cứu thường xuyên theo bình quân đầu người cán bộ làm công tác nghiên cứu hoặc theo cơ chế có hệ số theo học vị, học hàm, chức danh nghiên cứu và năm công tác để làm công tác dự toán, phân bổ kinh phí nghiên cứu thường xuyên cho cán bộ nghiên cứu Tại các nước có nền kinh tế phát triển thường áp dụng các tiêu chí, định mức về chi phí và hiệu quả của cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học để làm cơ sở cho lập dự toán và phân bổ kinh phí nghiên cứu thường xuyên Đối với việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN,
ở Việt Nam lấy định mức kinh phí theo chuyên đề áp dụng cho các loại đề tài, dự
án KH&CN các cấp, còn ở các nước phát triển thường lấy người/ngày/tháng lương cần cho việc triển khai đề tài dự án KH&CN làm cơ sở cho việc xác định dự toán một đề tài, để án KH&CN
Lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách trong hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ đề cập trong mục I.7 là cơ sở cho việc phân tích, so sánh, xem xét tính hợp lý hoặc chưa hợp lý của việc quản lý, phân bổ ngân sách nhà nước dành cho hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ tại Chương II và Chương III của đề tài
I.8 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ, TÍN DỤNG VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH KHÁC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)