1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc chuyển đổi các tổ chức dịch vụ thông tin khcn công lập theo tinh thần nghị định 115-2005-nđ-cp

177 386 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Cơ Sở Khoa Học Và Thực Tiễn Phục Vụ Cho Việc Chuyển Đổi Các Tổ Chức Dịch Vụ Thông Tin KH&CN Công Lập Theo Tinh Thần Nghị Định 115/2005/NĐ-CP
Tác giả Ths. Nguyễn Tiến Đức
Trường học Bộ Khoa Học Và Công Nghệ
Chuyên ngành Thông Tin Khoa Học Và Công Nghệ
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu tình hình hoạt động của các tổ chức thông tin KH&CN công lập trong hiện tại và tương lai gần, chủ yếu tập trung các vấn đề: tổ chức, cán bộ, cơ chế hoạt động; các sản phẩm,

Trang 1

TRUNG TÂM THÔNG TIN KH&CN QUỐC GIA

Trang 2

MỤC LỤC

3 Bối cảnh hình thành Đề án và cơ sở pháp lý thực hiện Đề án 6

Phần II PHẦN NỘI DUNG - KẾT QUẢ ĐỀ ÁN

A BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN 10

Chương I Tổng quan hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam 10

I Tổng quan về Hệ thống/Mạng lưới các tổ chức thông tin KH&CN 10

1 Quá trình phát triển 10

2.3 Khái quát văn bản 20

3.1 Những kết quả 22 3.2 Một số tồn tại 24

Trang 3

1.1.1 Mục tiêu và tư tưởng chỉ đạo 41

II Những cái được và những việc phải làm khi tổ chức KH&CN

chuyển đổi theo NĐ 115

47

2.2 Những việc phải làm và những thách thức khi chuyển đổi 50

3.1 Tình hình chuyển đổi của các tổ chức KH&CN nói chung 54

3.2 Kết quả bước đầu của một số tổ chức sau chuyển đổi 55

3.4 Tình hình chuyển đổi của các tổ chức thông tin KH&CN 59

Chương III Thị trường dịch vụ, sản phẩm thông tin KH&CN: kinh nghiệm

nước ngoài và hiện trạng ở Việt Nam

67

Trang 4

I Khái niệm tổng thế về thị trường thông tin 67

II Thị trường sản phẩm và dịch vụ thông tin dưới góc độ tổ chức

hoạt động thông tin

75

2.1 Phân cấp các tổ chức thông tin trong thị trường thông tin 76

2.2 Vai trò của Nhà nước và khu vực ngoài Nhà nước trong việc tổ

chức hoạt động thông tin

77

2.2.2 Nhiệm vụ quản lý cơ sở hạ tầng thông tin của Nhà nước trong giai

đoạn chuyển đổi sang mô hình phát triển hoạt động thông tin theo kiểu thị trường

79

2.2.3 Nhiệm vụ cần đáp ứng của các tổ chức thông tin của Nhà nước 81

2.2.4 Bảo đảm tính bình đẳng trong khai thác các dịch vụ và sản phẩm

thông tin đã được tạo ra bằng kinh phí nhà nước

82

2.3 Việc chuyển hoạt động thông tin sang cơ chế thị trường

ở nước ngoài

85

3.4 Thị trường thông tin trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế 96

4.1 Nhu cầu về thông tin KH&CN và các đối tượng dùng tin 98

4.1.1 Đặc điểm định hướng nhu cầu thông tin KH&CN trong giai đoạn

công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

98

Trang 5

4.1.2 Nhu cầu thông tin chung 99

4.2.1 Các văn bản QPPL và việc phát triển thị trường thông tin KH&CN 102

4.2.3 Sản phẩm, dịch vụ có thu và nguồn thu của các tổ chức thông tin

KH&CN

104

V Kết luận 105 Chương IV Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức thông tin KH&CN

1.3 Những việc cần phải làm nhằm triển khai Nghị định 115 mạnh mẽ

hơn nữa trong thời gian tới

Trang 6

3.1 Hạ tầng thông tin quốc gia 127

IV Đề xuất các giải pháp đối với các tổ chức thông tin KH&CN 130

4.1 Về tổ chức, cán bộ 130

4.2 Về cơ sở vật chất kỹ thuật 136

4.4.1 Sản phẩm, dịch vụ phục vụ theo chức năng 138

4.5 Đảm bảo kinh phí theo cơ chế mới của Nhà nước 146

4.6 Kiến nghị về văn bản và chỉ đạo 149

B DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

C PHẦN PHỤ LỤC 174

Trang 7

2 Cơ quan thực hiện Đề án:

Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia

3 Bối cảnh hình thành Đề án và cơ sở pháp lý thực hiện Đề án

a) Bối cảnh Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập (gọi tắt là Nghị định 115) quy định các tổ chức KH&CN phải chuyển đổi sang cơ chế mới theo

3 hình thức:

- Tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên;

- Doanh nghiệp KH&CN;

- Riêng tổ chức nghiên cứu khoa học cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên nhưng theo phương thức khoán tương ứng nhiệm vụ được giao (không cấp theo biên chế) Các tổ chức này phải xây dựng đề án kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động

Thời hạn thực hiện chuyển đổi chậm nhất là đến hết tháng 12/2009, nếu không thực hiện được thì phải sáp nhập hoặc giải thể

Tổ chức thông tin KH&CN là tổ chức dịch vụ KH&CN và cũng là đối tượng phải điều chỉnh bởi Nghị định 115 Đến nay, các tổ chức thông tin KH&CN đều hoạt động theo cơ chế bao cấp, tiềm lực (hạ tầng cơ sở, cán bộ, thông tin, ) và các sản phẩm, dịch vụ thông tin KH&CN cũng còn rất hạn chế, hầu hết các sản phẩm đều bao cấp và bù lỗ Do bao cấp nên tính sáng tạo, chủ động chưa được phát huy, đời sống cán bộ khó khăn hơn so với cán bộ công tác ở các lĩnh vực KH&CN khác

Trang 8

Do vậy, việc phải chuyển đổi theo Nghị định 115 (trong thời hạn ngắn) là một thời cơ nhưng cũng đầy những thách thức, khó khăn Hiện tại, hầu hết các tổ chức thông tin KH&CN đều có những băn khoăn, vướng mắc - rất cần có sự chỉ đạo, có chính sách hỗ trợ của Nhà nước

b) Cơ sở pháp lý:

-Quyết định số 276/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ KH&CN ngày 26/02/2008 về việc phê duyệt Đề án cấp Bộ năm 2008 của Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia;

-Hợp đồng thực hiện Đề án cấp Bộ số 01/2008/HĐ/ĐA ngày 03/03/2008 giữa đại diện Bộ KH&CN và Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia;

-Biên bản Hội đồng KH&CN xét duyệt Đề cương Đề án cấp Bộ (ngày 02/01/2008) Hội đồng được thành lập theo Quyết định số 02/QĐ-BKHCN ngày 02/02/2008 của Bộ trưởng Bộ KH&CN;

-Biên bản thẩm định tài chính Đề án cấp Bộ ngày 18/02/2008 của Bộ KH&CN;

-Đề cương Thuyết minh Đề án nghiên cứu cấp Bộ " Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc chuyển đổi các tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN công lập theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ" Đề cương này

đã được chỉnh sửa theo các ý kiến của Hội đồng xét duyệt và đã được phê chuẩn

4 Mục tiêu, nội dung của Đề án

a) Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp áp dụng vào

thực tiễn phục vụ cho việc chuyển đổi tổ chức thông tin KH&CN công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 9

- Nghiên cứu tình hình hoạt động của các tổ chức thông tin KH&CN công lập trong hiện tại và tương lai gần, chủ yếu tập trung các vấn đề: tổ chức, cán bộ, cơ chế hoạt động; các sản phẩm, dịch vụ chính; nguồn thu;

- Rút ra những kết luận, những mặt làm được và, đặc biệt là những điểm hạn chế, yếu kém, những khó khăn sẽ gặp phải trong điều kiện chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP Trên cơ sở đó xem xét tính khả thi của việc chuyển đổi;

- Nghiên cứu cơ sở pháp lý (cơ chế, chính sách) đảm bảo cho việc chuyển đổi

tổ chức thông tin KH&CN sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; Đề xuất những giải pháp hỗ trợ của Nhà nước đối với các tổ chức thông tin KH&CN trong và sau quá trình chuyển đổi;

- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm hỗ trợ cho tổ chức thông tin KH&CN chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Những giải pháp đó là: 1) Về tổ chức, cán bộ, cơ chế hoạt động; 2) Về xây dựng tiềm lực (hạ tầng cơ sở, tiềm lực thông tin KH&CN; 3) Các sản phẩm và dịch vụ chính (nhằm tăng nguồn thu, góp phần phát triển hoạt động của đơn vị, nâng cao đời sống của cán bộ ); 4) Các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước

- Xây dựng Dự thảo Thông tư hướng dẫn việc chuyển đổi các tổ chức thông tin KH&CN sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-

CP

5 Sản phẩm của Đề án:

-Báo cáo tình hình hoạt động cũng như việc chuyển đổi theo Nghị định 115

và nhu cầu thực tế của các tổ chức thông tin KH&CN công lập;

- Báo cáo đề xuất những giải pháp (nguyên tắc, mô hình, sản phẩm ) của các

tổ chức thông tin KH&CN khi chuyển đổi theo Nghị định 115; Kiến nghị những chính sách, giải pháp hỗ trợ của Nhà nước đối với tổ chức thông tin KH&CN công lập trong và sau chuyển đổi;

-Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn tổ chức thông tin KH&CN chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP;

-Báo cáo tổng kết Đề án

Trang 10

6 Những người thực hiện Đề án:

-ThS Nguyễn Tiến Đức -Trưởng phòng Phòng Phát triển hoạt động

Thông tin KH&CN -TS Lê Trọng Hiển - Nghiên cứu viên, Phòng Phát triển Hoạt động

Thông tin KH&CN -TS Đặng Xuân Chế - Chánh Văn phòng Trung tâm Thông tin

KH&CN Quốc gia

- CN Lê Thị Hoa - Nghiên cứu viên, Phòng Phát triển Hoạt động

Thông tin KH&CN

- CN Vũ Thùy Trang - Nghiên cứu viên, Phòng Phát triển Hoạt động

Thông tin KH&CN

Trang 11

Phần II PHẦN NỘI DUNG – KẾT QUẢ ĐỀ ÁN

A BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN Chương I TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KH&CN

Ở VIỆT NAM

I Tổng quan về Hệ thống/Mạng lưới các tổ chức thông tin KH&CN

1 Quá trình phát triển

Hoạt động thông tin KH&CN ở nước ta đã trải qua một quá trình gần 50 năm

và có thể phân chia khái quát quá trình đó thành 3 giai đoạn:

-Giai đoạn thứ nhất- Giai đoạn mở đầu (1959-1972): giai đoạn khôi phục và

phát triển các thư viện KHKT, đồng thời bước đầu thành lập một số phòng, ban thông tin KHKT ở một số bộ, ngành chủ chốt Trong giai đoạn này, các cơ quan thông tin KHKT có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ thông tin cho cơ quan chủ quản và đến giữa những năm 60 đã bắt đầu hình thành mạng lưới các cơ quan thông tin KHKT, đồng thời Uỷ ban Khoa học Nhà nước được giao chức năng quản lý hoạt động này trong phạm vi toàn quốc

- Giai đoạn thứ hai - Hình thành và phát triển Hệ thống (1972-1986)

Giai đoạn này bắt đầu từ sau Hội nghị thông tin KHKT toàn quốc lần thứ I (1971) và nhất là sau khi có Nghị quyết 89/CP (1972) Đây là thời kỳ hoạt động thông tin KHKT phát triển nhanh, bài bản Hệ thống thông tin KHKT quốc gia 4 cấp được hình thành với các cơ quan thông tin KH&CN ở Trung ương, Bộ/ngành, địa phương và cơ sở Có thể nói, đây là thời kỳ các cơ quan thông tin KHKT phát triển mạnh về số lượng và hoạt động theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp khá chặt chẽ

về tất cả các mặt: kế hoạch, nghiệp vụ, đào tạo cán bộ, hợp tác quốc tế Tuy nhiên, tiềm lực tư liệu, cán bộ và cả trang thiết bị của các cơ quan thông tin đều còn rất nghèo nàn Sản phẩm và dịch vụ của các cơ quan thông tin chủ yếu là các ấn phẩm thông tin và phục vụ thư viện theo phương pháp truyền thống

Trang 12

-Giai đoạn thứ ba -Thông tin KH&CN phục vụ CNH và HĐH đất nước (từ

1986 đến nay Giai đoạn này lại có thể chia thành 2:

a) Giai đoạn đầu đổi mới hoạt động TT (1986-1996)

Từ năm 1986, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong giai đoạn này, Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia vẫn phát triển Tuy nhiên, đã bắt đầu việc phân cấp trong kế hoạch hóa và đảm bảo tài chính Việc xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt thông tin KH&CN của Bộ ngành và địa phương cũng như đầu tư phát triển cho các

tổ chức thông tin KH&CN chủ yếu do chính Bộ, ngành, địa phương chủ quản quyết định

Cơ chế quản lý Nhà nước đối với hoạt động thông tin KH&CN cũng bắt đầu

có những thay đổi: chuyển dần từ việc quản lý theo kế hoạch, phân bổ dàn đều trước đây sang quản lý, đầu tư theo trọng điểm, theo dự án, nhiệm vụ, theo các mạng trao đổi, theo năng lực của tổ chức thông tin KH&CN

b) Giai đoạn nâng cao chất lượng, hiệu quả (1996 đến nay) Tức là từ khi có

có Nghi quyết TW 2 Khóa 8 - Một Nghị quyết chuyên về KH&CN Những tư tưởng nội dung chỉ đạo của Nghị quyết này đến nay vẫn còn đang được toàn ngành KH&CN tiếp tục thực hiện

Cùng với các cơ quan KH&CN, đây là giai đoạn các cơ quan thông tin KH&CN các ngành, các cấp khẩn trương đổi mới để đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH và HĐH đất nước

Đặc điểm của hoạt động thông tin KH&CN trong giai đoạn hiện tại là tăng cường kết hợp ngày càng chặt chẽ:

- Giữa hoạt động thông tin KH&CN với hoạt động thư viện và hướng tới xây dựng các thư viện điện tử;

- Giữa thông tin KH&CN với thông tin kinh tế, thông tin thị trường, thông

Trang 13

- Giữa hoạt động thông tin KH&CN với thông tin đại chúng;

- Giữa hoạt động thông tin KH&CN với tin học và viễn thông

Những nội dung cơ bản mà các tổ chức thông tin KH&CN các ngành, các cấp đều tập trung triển khai gần đây là:

- Kiện toàn bộ máy, tổ chức lại dây chuyền công nghệ theo hướng gọn nhẹ

và hiệu quả;

- Tạo lập tiềm lực thông tin cục bộ, nhất là nguồn tin nội sinh; Tăng cường nguồn tin điện tử, tận dụng khai thác INTERNET và các nguồn tin online và trên CD/ROM; Tận dụng các khả năng chia sẻ, hỗ trợ nguồn tin trong và ngoài nước;

- Cải tiến sản phẩm theo hướng hiện đại: lấy công cụ mạng và các CSDL làm xương sống cho mọi hoạt động;

- Tham gia tích cực các triển lãm, hội chợ, Techmart (chợ công nghệ và thiết bị), tăng cường góp phần tạo lập thị trường công nghệ, cung cấp thông tin KH&CN cho doanh nghiệp ;

- Áp dụng những hình thức phục vụ mới: Kho mở (với cổng từ, mã vạch), Phòng đa phương tiện; Truy cập trực tuyến;

- Đẩy mạnh việc xây dựng thư viện điện tử, các website về KH&CN;

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến KH&CN; Triển khai rộng Mô hình cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế –xã hội nông thôn, miền núi.v.v

Và, theo chúng tôi, Nghị định 159/2004/NĐ-CP và ngay sau đó là Nghị định

115/2005/NĐ-CP ra đời đã đánh dấu một mốc quan trọng cho giai đoạn mới -Ta có thể coi là bắt đầu giai đoạn thứ tư - giai đoạn nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà

nước đối với hoạt động thông tin KH&CN và tăng cường năng lực của các tổ chức thông tin KH&CN (nâng cao chất lượng các dịch vụ, sản phẩm thông tin, khả năng

Trang 14

đáp ứng nhu cầu tin) theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức thông tin KH&CN

2 Về khung khổ pháp lý

Trong suốt quá trình phát triển, hoạt động thông tin KH&CN ở nước ta luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo Cho đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cụ thể hoá chính sách phát triển của hoạt động thông tin KH&CN

2.1 Những văn bản QPPL trước năm 2000

- Nghị quyết 89-CP ngày 4/5/1972 của Chính phủ về việc tăng cường công tác thông tin KHKT Nghị quyết này đã mở đầu cho sự hình thành và phát triển hệ thống thông tin KH&CN rộng khắp trong cả nước;

- Quyết định 133/QĐ ngày 2/4/1985 của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (nay là Bộ KKH&CN) ban hành kèm theo Quy định thống nhất về tổ chức và hoạt động thông tin KHKT Trên cơ sở văn bản này, hoạt động của toàn Hệ thống Thông tin KH&CN Quốc gia đã được tăng cường toàn diện cả về tổ chức, liên kết cũng như về phát triển các sản phẩm, dịch vụ;

- Chỉ thị 95/CT ngày 04/04/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về công tác thông tin KH&CN Văn bản này nhấn mạnh một

số nội dung, nhiệm vụ trọng tâm cho các cơ quan thông tin trong giai đoạn mới phục

vụ CNH và HĐH, đó là: quy hoạch phát triển Hệ thống; xây dựng tiềm lực: thông tin, cán bộ, đầu tư kỹ thuật và nhất là việc đảm bảo kinh phí

Những văn bản này là cơ sở pháp lý chủ yếu để xây dựng và phát triển Hệ thống thông tin KH&CN ở nước ta trong mấy chục năm và Hệ thống này đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ Tuy nhiên, để hoạt động thông tin KH&CN có thể phục vụ sâu sát hơn nữa, hiệu quả hơn nữa trong thời kỳ mới - Thời kỳ Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nước, khung khổ pháp lý cho hoạt động này cần

Trang 15

Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) về KH&CN (1996)

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương Đảng Khóa VIII (số NQ/HNTW, ngày 24/12/1996) về định hướng Chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000

02-Tuy văn bản này không phải là văn bản QPPL, nhưng đây là một tài liệu chỉ đạo cực kỳ quan trọng của Đảng ta đối với việc định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Và cũng nhờ có Nghị quyết này mà hàng loạt văn bản QPPL được xây dựng khẩn trương (trong đó

có Luật KH&CN (năm 2000), Nghị định 159 (năm 2004), Nghị định 115 (năm 2005) Cũng có thể coi sự ra đời của Nghị quyết này là một mốc đặc biệt quan trọng của hoạt động KH&CN nói chung và của hoạt động thông tin KH&CN nói riêng

Đến nay, toàn Đảng và nhân dân ta nói chung, các tổ chức KH&CN cũng như cán bộ KH&CN nói riêng vẫn đang tiếp tục thực hiện những mục tiêu, nội dung mà Nghị quyết này nêu ra

2 2 Những văn bản QPPL từ năm 2000 đến nay

- Luật Khoa học và Công nghệ (ban hành ngày 22/6/2000 và có hiệu lực từ

01/01/2001)

Luật Khoa học và Công nghệ đã mở ra một giai đoạn mới về chất của khung khổ pháp lý đối với hoạt động thông tin KH&CN Với Luật này, lần đầu tiên hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam được điều chỉnh bằng luật - văn bản cao nhất của Nhà nước ta Ngoài những điều chung quy định cho hoạt động KH&CN nói chung, trong đó có hoạt động thông tin KH&CN, trong Luật KH&CN có riêng 2 điều (Điều 25 và Điều 45 về thông tin KH&CN), đặc biệt là trong Điều 45 của Luật

đã chỉ rõ: "Chính phủ đầu tư xây dựng hệ thống thông tin khoa học và công nghệ

quốc gia hiện đại, bảo đảm thông tin đầy đủ và kịp thời về các thành tựu quan trọng

Trang 16

trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ trong nước và trên thế giới; ban hành quy chế quản lý thông tin khoa học và công nghệ"

Cũng theo các điều khoản chung của Luật, hoạt động thông tin KH&CN là hoạt động được hưởng ưu tiên trong chính sách thuế của Nhà nước, đầu tư cho thông tin là đầu tư cho phát triển và thông tin KH&CN là một nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về KH&CN

-Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ

Nhằm quán triệt và hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Khoa học và công nghệ đối với hoạt động thông tin KH&CN, đặc biệt là đối với các Điều 25 và Điều 45, ngày 31 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ (gọi tắt là Nghị định 159) Nghị định thể hiện các quan điểm chỉ đạo chủ yếu sau:

-Khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển hệ thống thông tin KHCN quốc gia hiện đại (bằng chính sách và các biện pháp đảm bảo: cơ chế quản lý, tài chính, nhân lực, nguồn tin và cơ sở vật chất-kỹ thuật);

-Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các nguồn tin KH&CN, đặc biệt là nguồn tin KH&CN trong nước, nhất là thông tin, tư liệu về kết quả các nhiệm vụ KH&CN (chương trình, đề tài, đề án, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ) các nhiệm vụ điều tra cơ bản có sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước;

-Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động thông tin KH&CN, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động thông tin KH&CN;

-Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thông tin KH&CN, cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN; Bảo đảm cho

Trang 17

các tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận thông tin KH&CN được tạo ra bằng ngân sách nhà nước;

-Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho phát triển hoạt động thông tin KH&CN, khuyến khích phát triển dịch vụ thông tin KH&CN có thu, tạo lập thị trường thông tin KH&CN, đáp ứng nhu cầu tin của các tổ chức, cá nhân trong xã hội

Nghị định 159, có nhiều điều, khoản quy định về việc Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo lập tiềm lực cho tổ chức thông tin KH&CN, mở rộng, khuyến khích hoạt động dịch vụ.v.v đặc biệt là các Mục, Điều sau đây:

+ Điều 10 Quyền của tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN

+ Điều 25 Xây dựng cơ sở vật chất -kỹ thuật

+ Mục 1, Chương III Tạo lập và quản lý nguồn tin KH&CN, gồm các Điều

14, 15, 16, 17 quy định về việc tăng cường thu thập, xây dựng CSDL, quản lý nguồn tin KH&CN

+ Mục 2, Chương III Dịch vụ thông tin KH&CN, gồm các Điều 18 19, 20,

21, 22, 23 quy định về cơ chế và việc khuyến khích hoạt động dịch vụ thông tin KH&CN

+ Điều 24, Cơ chế tài chính

+ Điều 27 Chính sách thuế, tín dụng, giá cước bưu chính viễn thông

Hiện tại, Nghị định 159 là cơ sở pháp lý quan trọng nhất, đề cập toàn diện nhất về các mặt tổ chức hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam đối với tất cả các ngành, các cấp Có thể nói, những tư tưởng, nội dung đổi mới, nhất là về cơ chế quản lý, về đầu tư, xây dựng tiềm lực, về khuyến khích dịch vụ của Nghị định 159 đều tương thích, hỗ trợ tư tưởng, nội dung của Nghị định 115 (nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức thông tin KH&CN) Tuy nhiên, rất nhiều nội dung quy định trong Nghị định 159 đến nay vẫn chưa được đưa vào thực tiễn

Trang 18

- Về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 159/2004/NĐ-CP

Để triển khai Nghị định 159/2004/NĐ-CP, Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang tiếp tục chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan xây dựng những văn bản hướng dẫn cụ thể về một số điều, trước hết phải kể đến:

-Quyết định 03/2007/QĐ-BKHCN về Quy chế đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN

Để triển khai thực hiện Điều 25 Luật Khoa học và Công nghệ và các Điều

15, 16 của Nghị định 159 về hoạt động thông tin KHCN, ngày 16/3/2007, Bộ trưởng

Bộ KHCN đã ký Quyết định số 03/2007/QĐ-BKHCN về việc ban hành Quy chế đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN Quyết định này thay thế cho Quyết định số 271-QĐ-UBKHKTNN ngày 06/6/1980 của Chủ nhiệm

Uỷ ban KHKT nhà nước (nay là Bộ KH&CN) ban hành Quy định về đăng ký nhà nước đề tài nghiên cứu khoa học kỹ thuật và nộp báo cáo kết quả nghiên cứu

Hiện nay, Quy chế này vẫn đang được tăng cường triển khai ở tất cả các bộ, ngành và 63 tỉnh, TP trực thuộc Trung ương; kèm theo cả việc hướng dẫn tổ chức các CSDL "KQNC" và "DETAI" để tiến tới thành lập Mạng thông tin trao đổi về KQNC và các đề tài đang tiến hành trong cả nước phục vụ thiết thực, hiệu quả hơn cho nghiên cứu và phát triển (R&D)

-Thông tư liên tịch hướng dẫn về nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN công lập

Ngay sau khi ban hành Nghị định 159/2004/NĐ-CP, trước hết để thực hiện Điều 7 củả Nghị định (đề cập việc tổ chức mạng lưới), Bộ KH&CN đã cùng Bộ Nội

vụ tiến hành soạn thảo "Thông tư liên tịch hướng dẫn về nhiệm vụ, quyền hạn và mối

quan hệ của các tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN" và về cơ bản đã thống nhất nội

dung dự thảo trình hai Bộ phê duyệt, ban hành (dự thảo 25).Tuy nhiên, do có sự thay đổi trong cơ cấu cũng như bổ sung một số chức năng, nhiệm vụ của Bộ KH&CN

Trang 19

mới liên quan hoạt động thông tin KH&CN như thống kê KH&CN, tuyên truyền KH&CN.v.v., nhất là có sự thay đổi đối với Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (thành lập Cục Thông tin KH&CN Quốc gia để tăng cường công tác quản lý nhà nước) nên Thông tư này phải chờ để bổ sung, hiệu chỉnh và sẽ trình lại trong thời gian tới

- Nghị định số 28/2008/NĐ-CP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu của Bộ Khoa học và Công nghệ (ban hành ngày 14/3/2008) thay thế

Nghị định 54/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN và Nghị định 28/2004/NĐ-

CP ngày 16/01/2004 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

số 54/2003/NĐ-CP)

Cũng cần đề cập tới Nghị định 28 này để thấy một số chức năng, nhiệm vụ cũng như cơ cấu tổ chức mới của Bộ nhằm mục đích tăng cường công tác quản lý

của Bộ KH&CN đối với hoạt động thông tin KH&CN Trong Điều 2 Nhiệm vụ và

quyền hạn đã nêu rõ 24 nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, trong đó có nhiệm vụ 8 -

Mục 8 Về phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, tại điểm d) quy định nhiệm vụ

quản lý hoạt động thông tin, thống kê KH&CN của Bộ, cụ thể như sau:

d) Quy định và hướng dẫn hoạt động thông tin, truyền thông, thư viện, thống

kê khoa học và công nghệ và phát triển thị trường công nghệ; chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động của mạng lưới các tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ; xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho thông tin và thống kê khoa học và công nghệ, tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị, các trung tâm giao dịch công nghệ, triển lãm

khoa học và công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu về nhân lực và thành tựu khoa học

và công nghệ, đầu tư phát triển các mạng thông tin khoa học và công nghệ tiên tiến

kết nối với khu vực và quốc tế

Trong Điều 3 Cơ cấu tổ chức của Bộ, có điểm mới là thêm hai cục nhằm

tăng cường chức năng quản lý nhà nước trong hai lĩnh vực này, đó là Cục Thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia và Cục Năng lượng nguyên tử

Trang 20

- Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT -BKHCN-BNV Hướng dẫn chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về KH&CN thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện

Để tiếp tục phát huy vai trò của KH&CN rộng khắp ở các địa phương, gắn kết hơn nữa các hoạt động KH&CN với sản xuất ở địa bàn cơ sở (cấp huyện, cấp xã), ngày 18/6 năm 2008, Liên bộ Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV Hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Thông tư này thay cho Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT năm 2003, đồng thời cũng quán triệt kịp thời nội dung của Nghị định 28/2008/NĐ-CP, trong đó có mảng nhiệm vụ thông tin KH&CN, thống kê KH&CN.v.v Thông tư này có những điểm mới, trước hết đó là:

-Bổ sung một số chức năng, nhiệm vụ của cơ cơ quan chuyên môn về KH&CN cấp tỉnh, cấp huyện để đáp ứng yêu cầu phát triển KH&CN trong tình hình mới ở địa phương, trong đó có hoạt động thông tin, thống kê KH&CN;

-Cho phép tổ chức bộ máy theo hướng mở Ngoài các đơn vị cứng (bắt buộc phải có), tuỳ theo đặc điểm của từng địa phương, có thể thành lập các phòng: ví dụ Phòng Quản lý chuyên ngành (để quản lý các lĩnh vực như SHTT, an toàn bức xạ và hạt nhân, thông tin và thống kê KH&CN );

-Đặc biệt chú trọng đến hoạt động KH&CN tuyến huyện (quy định về mặt tổ chức và đảm bảo biên chế cho các đơn vị phù hợp để hoạt động);

Tại Mục II, Phần I Sở Khoa học và công nghệ ( tỉnh/TP trực thuộc Trung ương) quy định Sở có 18 nhiệm vụ, trong đó công tác thông tin, thống kê KH&CN được nêu tại điểm e thuộc Nhiệm vụ 6 Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ

"e) Tổ chức thực hiện công tác thông tin, truyền thông, thư viện, thống kê khoa học

và công nghệ và phát triển thị trường công nghệ; hướng dẫn hoạt động cho các tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ; xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho thông tin và thống kê khoa học và công nghệ, tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị,

Trang 21

các trung tâm giao dịch công nghệ, triển lãm khoa học và công nghệ, xây dựng cơ

sở dữ liệu về nhân lực và thành tựu khoa học và công nghệ, đầu tư phát triển các mạng thông tin khoa học và công nghệ tiên tiến kết nối với trung ương và các địa phương"

Về cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở KH&CN quy định tại Điểm 2, Mục III, Phần I,

trong đó có những điểm liên quan đến hoạt động thông tin KH&CN là

-Định hướng việc quản lý hoạt động thông tin KH&CN do Phòng Quản lý chuyên ngành (để quản lý các lĩnh vực như: sở hữu trí tuệ, ứng dụng bức xạ và đồng

vị phóng xạ, an toàn bức xạ và hạt nhân, thông tin và thống kê khoa học và công nghệ) Nếu không có phòng này thì chức năng quản lý sẽ thuộc một đơn vị khác

kiêm nhiệm;

- Trung tâm Tin học và Thông tin khoa học và công nghệ là một trong 3 đơn

vị sự nghiệp của Sở KH&CN Trung tâm này là tổ chức phải chuyển đổi hoạt động

theo Nghị định 115/2005/NĐ - CP

Nghị định 115 – văn bản đánh dấu giai đoạn mới của các tổ chức thông tin KH&CN

(xem Chương II, Mục 1.1.)

2.3 Khái quát văn bản:

Có thể nói, trước 2004, hệ thống các văn bản QPPL riêng về hoạt động thông tin KH&CN chủ yếu đề cập các vấn đề về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các mối quan hệ của các tổ chức thông tin KH&CN để các tổ chức này phát triển và đảm nhận được chức năng dịch vụ công Những vấn đề về dịch vụ có thu, về phát triển sản phẩm theo hướng thị trường chưa được quy định nhiều trong các văn bản trước Nghị định 159 Cụ thể là trong các VBQPPL trước 2004 chỉ có tại Điểm 7, Chỉ thị 95/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về công tác thông tin KH&CN (04/04/1991) nêu "Các cơ quan thông tin KH&CN được phép, trong phạm vi pháp luật hiện hành, xuất bản các ấn phẩm thông tin và thực hiện các dịch vụ thông tin để

có thêm kinh phí hoạt động"

Trang 22

Nghị định 159 (2004) là văn bản đầu quy định cho việc phát triển sản phẩm, dịch vụ thông tin KH&CN theo hướng thị trường.Tại Khoản 3, Điều 5 của Nghị định

159 đã nêu "Nhà nước khuyến khích các hoạt động thông tin KH&CN, đặc biệt là thông qua hợp đồng dịch vụ để phục vụ tư vấn, chuyển giao, đổi mới công nghệ và các hoạt động khác nhằm thúc đẩy phát triển Thị trường KH&CN"; tại Khoản 2, Điều 10, Nghị định 159, nêu quyền của tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN là quyền

"Ký kết hợp đồng dịch vụ tiến hành các hình thức về khai thác, sử dụng thông tin KH&CN theo quy định của pháp luật" Và đặc biệt là toàn bộ Mục 2, Chương III Dịch vụ thông tin KH&CN, gồm 6 điều (Điều 18 19, 20, 21, 22, 23) quy định về

cơ chế và việc khuyến khích hoạt động dịch vụ thông tin KH&CN;

Nghị định 115 có thể coi là khâu "đột phá" đối với các tổ chức KH&CN nói chung và các tổ chức thông tin KH&CN nói riêng, tạo điều kiện và thúc đẩy để các

tổ chức này chuyển theo hướng năng động, chất lượng, hiệu quả Các tổ chức thông tin KH&CN phải áp dụng các điều khoản của Luật KH&CN, của Nghị định 159 và của Nghị định 115 để phát triển theo hướng vừa đảm bảo hoạt động dịch vụ công vừa theo hướng thị trường, cạnh tranh và tự chủ Chắc chắn rằng, để có thể chuyển đổi sang cơ chế mới (Nghị định 115) và hoạt động tốt sau chuyển đổi các tổ chức thông tin KH&CN cần có thêm các văn bản hướng dẫn khác cả về mặt tổ chức, cơ chế cũng như về các định mức kinh tế -kỹ thuật, v.v (ở đây ta chưa nói tới tài liệu nghiệp vụ, chuyên môn)

1.3 Nhận xét tổng thể về Hệ thống/Mạng lưới các tổ chức thông tin KH&CN

Trước đây, khái niệm Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia được sử dụng rộng rãi, kể cả trong Luật KH&CN, nhưng từ năm 2004 trong các văn bản hoặc tài liệu nghiệp vụ thường sử dụng khái niệm Mạng lưới các tổ chức thông tin KH&CN.Ví dụ trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (2004) hay trong Nghị định 159 (2004) đều không dùng “Hệ

Trang 23

3.1 Những kết quả

a) Mạng lưới các tổ chức thông tin KH&CN rộng khắp và tiếp tục phát triển,

gồm 4 cấp: Trung ương, Bộ/ngành, địa phương và cơ sở Cụ thể là:

- Cấp Trung ương gồm (3): Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia và 2 trung tâm thông tin chuyên dạng về TC và sở hữu trí tuệ;

- 43 tổ chức thông tin KH&CN cấp Bộ/ngành;

- 63 tổ chức thông tin KH&CN cấp tỉnh/ TP trực thuộc Trung ương;

- Hơn 400 đơn vị TT-TV tại các viện/trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng; Hàng chục trung tâm thông tin ở các Tổng công ty 90, 91

b) Nguồn tin KH&CN được phát triển, từng bước đáp ứng những nhu cầu

cơ bản về thông tin KH&CN của đất nước

Trong những năm gần đây, hàng năm Nhà nước đầu tư trên 2 triệu USD cho các cơ quan TT-TV để mua sách báo và các nguồn tin điện tử của nước ngoài Cho tới nay, trong toàn Mạng lưới có hơn 3 triệu đầu tên sách, 6000 tên tạp chí (tiếp tục

bổ sung hàng năm khoảng 1500 tên), vài chục triệu bản mô tả sáng chế phát minh, trên 200 nghìn tiêu chuẩn; 50 nghìn catalo công nghiệp; 20.000 báo cáo kết quả nghiên cứu, luận án tiến sĩ; hàng chục triệu biểu ghi trên CD/ROM,

c) Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng từ truyền thống tới hiện đại Trong toàn Mạng lưới có:

-Hơn 300 ấn phẩm thông tin định kỳ, trong đó có vài chục ấn phẩm bằng tiếng Anh để trao đổi quốc tế Ngoài ra, còn có nhiều ấn phẩm không định kỳ, sách chuyên đề, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu dịch, các Nông lịch được xuất bản,

-Hơn 300 CSDL tư liệu và dữ kiện nội sinh, có những CSDL lớn tới vài trăm nghìn biểu ghi Từ chỗ chỉ có các CSDL thư mục, tóm tắt đến nay nhiều cơ quan thông tin đã xây dựng các CSDL toàn văn Nhiều CSDL liên kết với nhau tạo thành Ngân hàng dữ liệu và hình thành các Thư viện điện tử về KH&CN

Trang 24

-Trong toàn Mạng lưới có hàng trăm bản tin điện tử Sản phẩm này ngày càng phát huy những ưu điểm: trao đổi thuận tiện, nhanh, bao gói thông tin dễ dàng

d) Trình độ công nghệ của nhiều tổ chức thông tin KH&CN trong Mạng lưới

đã được phát triển Nhiều tổ chức thông tin KH&CN đã áp dụng những CNTT và

truyền thông tiên tiến, những trang thiết bị hiện đại Hầu hết các cơ quan thông tin

KH&CN đã kết nối và tích cực khai thác INTERNET Một số tổ chức thông tin KH&CN đã có Cổng thông tin, Thư viện điện tử, Website, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ Đặc biệt, một số tổ chức thông tin KH&CN đã đặt mua các CSDL trực tuyến, tạp chí điện tử trực tuyến, đặc biệt là các CSDL toàn văn của Science@Direct, EBSCO Host, Blackwell, ISI Web of Science, ACS.v.v Một số nơi

đã áp dụng kho mở, mã vạch, cổng từ; phòng đọc đa phương tiện,

đ) Đã hình thành nhiều mạng thông tin KH&CN, thư viện điện tử, bước đầu

phục vụ hiệu quả cho quản lý, kinh doanh, nghiên cứu và phát triển Đến nay, hầu hết các tổ chức thông tin KH&CN ở trung ương, bộ/ngành và những tỉnh/TP lớn đều

đã xây dựng Website về KH&CN; Một số mạng thông tin điện tử với nguồn tin phong phú như: Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA); Mạng thông tin nông nghiệp nông thôn AgroViet; Mạng thông tin y dược Việt Nam (CIMSI); Mạng thông tin thương mại VITRANET,

e) Công tác phục vụ thông tin đã có bước phát triển mới về chất, đã bám sát được định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhiều yêu cầu thông tin của người dùng tin

-Công tác phục vụ thông tin KH&CN cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cho công tác quản lý ở các cấp được chú trọng với nhiều hình thức đa dạng, đặc biệt là các thông tin nhanh, thông tin chọn lọc, các tổng luận phân tích, các số liệu thống

kê, so sánh,

-Mô hình “Cung cấp thông tin phục vụ phát triển KT-XH nông thôn, miền

núi” đã được triển khai ở 36 tỉnh với 330 điểm xã/huyện, hình thành nhiều

Trang 25

webpages về nông nghiệp, nông thôn, góp phần tích cực đưa thông tin KH&CN và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về vùng sâu, vùng xa

-Công tác phục vụ thông tin cho doanh nghiệp, phát triển thị trường công nghệ có những bước tiến mới Chợ công nghệ và thiết bị đã được tổ chức ở nhiều quy mô, cấp độ khác nhau như: quy mô quốc gia (4 kỳ) quy mô vùng, tỉnh, huyện (trên 50 kỳ) Chợ ảo công nghệ và thiết bị cũng được một số cơ quan chú ý xây dựng

và phát triển; hiện đã có 3 Sàn giao dịch công nghệ

g) Đội ngũ cán bộ thông tin chuyên nghiệp được hình thành, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã được nâng cao và có bước phát triển đáng kể

Tính đến nay, trong toàn Hệ thống có trên 5000 người, trong đó khoảng 65% cán bộ có trình độ đại học và 4% trên đại học chuyên ngành TT-TV Đội ngũ này thường xuyên được bồi dưỡng, đào tạo qua các lớp tập huấn nghiệp vụ thông tin ngắn hạn trong và ngoài nước

h) Hợp tác quốc tế được mở rộng Hiện tại, các tổ chức thông tin KH&CN

trong toàn Mạng lưới đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều tổ chức quốc tế thuộc Liên hiệp quốc, Khu vực châu Á -Thái Bình Dương, Khối ASEAN; đồng thời có quan hệ song phương với hàng chục nước khác và quan hệ trao đổi tư liệu với hơn 300 thư viện của hơn 100 nước

- Việc liên kết, chia sẻ nguồn lực thong tin còn hạn chế; Chưa có cơ chế hiệu quả trong việc điều phối bổ sung phát triển nguồn lực thông tin KH&CN của đất nước, dẫn đến sự trùng lặp trong bổ sung tài liệu;

Trang 26

- Công tác tiêu chuẩn hoá trong hoạt động thông tin KH&CN còn bất cập; Thiếu nhiều chuẩn phù hợp để tổ chức các nội dung hoạt động;

- Đội ngũ cán bộ thông tin và cộng tác viên còn mỏng, hay biến động, chưa thực sự gắn bó với nghề nghiệp;

- Chưa có nhiều các sản phẩm và dịch vụ thông tin có hàm lượng chất xám cao, ví dụ như: thông tin phân tích, tư vấn, các thông tin cảnh báo công nghệ, thông tin tình báo cạnh tranh,

- Cơ sở vật chất kỹ thuật tuy đã được cải thiện, song nhìn chung còn rất nhỏ

bé, dàn trải, chậm được nâng cấp;

- Việc quán triệt và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng cường hoạt động thông tin KH&CN còn chậm (ở cả phạm vi quốc gia, ngành và địa phương), các biện pháp chưa được đảm bảo kịp thời đầy đủ Văn bản chậm đi vào cuộc sống

II HIỆN TRẠNG CÁC TỔ CHỨC THÔNG TIN KH&CN

2.1.Về tổ chức và cán bộ

a) Khối Trung ương bộ, ngành gồm 46 đơn vị (xem Danh sách các tổ chức thông

tin KHCN Bộ, ngành trong Phần Phụ lục), trong đó:

-Tại Bộ KH&CN có 3 đơn vị thông tin, đó là: Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia trực thuộc Bộ là cơ quan đứng đầu Mạng lưới thông tin KH&CN; 2 trung tâm thông tin thuộc Tổng cục TC- ĐL- CL và Cục Sở hữu Trí tuệ

-Tại các bộ, ngành có 43 đơn vị thông tin KH&CN gồm các loại hình, tên gọi khác nhau như sau, đó là: Viện thông tin: 03 đơn vị; Trung tâm thông tin trực thuộc

Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: 29 đơn vị; Trung tâm thông tin thuộc Viện nghiên cứu đầu ngành: 9 đơn vị; Phòng thông tin thuộc Viện nghiên cứu

và đơn vị tương đương: 02 đơn vị

Các tổ chức thông tin Bộ, ngành chủ yếu hoạt động theo mô hình: Thông tin + Tư liệu (thư viện, có nơi thêm bộ phận lưu trữ) Một số ít theo mô hình: Thông tin

Trang 27

+Tư liệu + Thống kê ngành ( ví dụ: Trung tâm Tin học, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Thông tin, Bộ Lao động -TBXH thời gian trước đây)

Căn cứ các mặt: tổ chức, biên chế, kinh phí, tiềm lực thông tin, tin học hóa và nhất là kết quả hoạt động, chúng ta có thể phân loại một cách tương đối như sau: Loại 1 Các đơn vị tương đối mạnh (18 đơn vị); Loại 2 Các đơn vị loại khá (11 đơn

vị ); Loại 3 Trung bình và yếu kém (17 đơn vị)

Tuy nhiên, theo Nghị định 115, đối tượng áp dụng chuyển đổi phải là các tổ chức KH&CN có tư cách pháp nhân (có con dấu và tài khoản riêng) Do vậy, trong

số 46 đơn vị thông tin KH&CN cấp Bộ, ngành có 10 đơn vị chưa có đủ điều kiện về pháp lý Như vậy, số tổ chức có đủ tư cách pháp nhân để thực hiện việc chuyển đổi chỉ là 36 đơn vị

b) Khối địa phương gồm 63 đơn vị (xem Danh sách các tổ chức thông tin KHCN địa phương trong Phần Phụ lục), trong đó:

-35 Trung tâm thông tin (chiếm gần 56%), với một số tên gọi khác nhau:

Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN hoặc ngược lại Trung tâm Thông tin KH&CN và Tin học (đây là kết quả mấy năm thực hiện Thông tư liên bộ số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/7/2003, trong đó quy định tại các Sở KHCN các tỉnh, TP trực thuộc TW thành lập Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN Thông tư này đã được thay bằng Thông tư Liên bộ số 15/2008/TTLT-BKHCN-BNV nhưng cũng vẫn quy định tên gọi đó); Trung tâm Thông tin và ứng dụng tiến bộ KH&CN, Trung tâm Thông tin KH&CN; Trung tâm Thông tin -Tư liệu, Trung tâm Thông tin công nghệ); Trung tâm Công nghệ thông tin và Tư liệu;

-25 Phòng (chiếm hơn 39 %) với các tên gọi: Phòng Thông tin KHCN;

Phòng Thông tin tư liệu; Phòng Thông tin và Sở hữu công nghiệp; Phòng Tin học và Thông tin KHCN; Phòng Thông tin, Sở hữu trí tuệ và An toàn bức xạ;

-3 Sở KH&CN (chiếm gần 5%) chưa có tổ chức thông tin độc lập,chức năng

thông tin do Phòng Quản lý KH đảm nhận (đó là Lào Cai, Sóc Trăng, Tây Ninh )

Trang 28

Như vậy, số lượng các tổ chức thông tin KH&CN có đủ tư cách pháp nhân để chuyển đổi theo Nghị định 115 là 35 Trung tâm Thông tin của 35 Sở KH&CN các tỉnh/TP trực thuộc TW

Các tổ chức thông tin KH&CN địa phương chủ yếu hoạt động theo 5 mô hình kết hợp:

-Thông tin + Tư liệu (thư viện)

-Thông tin +Tư liệu +Tin học

-Thông tin + Sở hữu trí tuệ

-Thông tin + Sở hữu Trí tuệ + An toàn bức xạ

-Thông tin +Tư liệu + ứng dụng tiến bộ KT

Trên thực tế hoạt động thông tin đã luôn bao gồm cả tư liệu/thư viện, đồng thời có sự hỗ trợ của CNTT (tin học) CNTT là phương tiện hỗ trợ không thể thiếu,

là công cụ tiên tiến, nơi nào, ngành nào cũng cần ứng dụng Do vậy, nói gọn lại ta coi mô hình tổ chức thông tin (là bao gồm cả tư liệu và Tin học) Ngoài ra, nếu Thông tin hợp với lĩnh vực nào đó khác nữa thì ta gọi là mô hình kết hợp Chẳng hạn như: Thông tin + Sở hữu trí tuệ + An toàn bức xạ; Thông tin + Ứng dụng tiến bộ KT;

Mô hình 5 "Thông tin + Tư liệu + ứng dụng tiến bộ KH&CN" là mô hình, theo chúng tôi, có thể phát huy theo tinh thần Nghị định 115 nhờ kết hợp tốt hai mảng "thông tin" và "ứng dụng" nêu trên, nhất là ở những địa phương hoạt động thông tin chưa mạnh Hiện tại, có tới 5 địa phương theo mô hình này (Bình Thuận, Đăk Nông, Điện Biên, Ninh Thuận, Hậu Giang) Ngoài ra, năm 2007, Trung tâm Thông tin và Ứng dụng tiến bộ KH&CN (thuộc Sở KH&CN tỉnh Khánh Hòa) được thành lập - đó là Trung tâm thứ 6 theo mô hình này Nhưng điều đáng buồn là ngay sau đó Trung tâm này lại giải thể do có nhiều vướng mắc, không hoạt động được (do những nguyên nhân cả chủ quan và khách quan) Hiện tại, trong Sở KH&CN Khánh Hòa, đơn vị thông tin vẫn chỉ tồn tại dưới hình thức Phòng thông in KH&CN và Tư liệu

Trang 29

Qua khảo sát trong khuôn khổ Đề án này và tham khảo các tài liệu khác về một số mặt: tổ chức, biên chế, kinh phí, tiềm lực thông tin, tin học hóa và nhất là kết quả phục vụ thông tin, các tổ chức thông tin KH&CN địa phương có thể được chia thành 4 loại Đó là:

Loại 1 Các đơn vị tương đối mạnh (9 đơn vị), đó là: các Trung tâm Thông tin

ở các tỉnh/TP: Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Bình, Đồng Nai,

An Giang, Cần Thơ, Đà Nẵng và TP Hà Nội

Loại 2 Các đơn vị loại khá (10 đơn vị), đó là: các Trung tâm thông tin của các tỉnh/TP: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bắc Giang, Bình Thuận, Hà Giang, Nghệ An, Kiên Giang, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Vĩnh Phúc

Số còn lại: Loại 3 Các đơn vị loại trung bình (29 đơn vị) và Loại 4 các đơn

có 20 - 30 cán bộ (chiếm 50%); Còn lại (20%) là những đơn vị chỉ có trên dưới 10 cán bộ

-Ở khối địa phương (63 tỉnh/TP): Đơn vị đông nhất là Trung tâm Thông tin

TP Hồ Chí Minh: 64 cán bộ Khá phổ biến tổ chức thông tin KH&CN địa phương

Trang 30

chỉ có 3 - 4 cán bộ Thậm chí có nơi chỉ có 2 cán bộ Nếu chỉ tính riêng 35 Trung tâm Thông tin thì trung bình là: 9 cán bộ/trung tâm

-Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ (nói chung): còn mỏng, dàn trải, hay thuyên chuyển, thiếu cán bộ nòng cốt, đặc biệt thiếu cán bộ có trình độ về kinh tế, về marketing

-90% tổ chức thông tin KH&CN tự đánh giá là: đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là trong điều kiện để chuyển đổi theo Nghị định 115

c Đối tượng đủ tư cách pháp nhân chuyển đổi theo Nghị định 115:

-Đó là các tổ chức thông tin KH&CN đã ổn định về mặt tổ chức và có đủ tư cách pháp nhân Qua rà soát cho thấy số các tổ chức thông tin KH&CN bộ, ngành, địa phương đủ điều kiện pháp lý và phải làm đề án chuyển sang cơ chế mới là: 71 đơn vị (36 tổ chức Bộ, ngành và 35 tổ chức địa phương)

-Số còn lại (38 đơn vị) phải nâng cấp tổ chức để trở thành trung tâm thông tin

có pháp nhân đầy đủ (8 đơn vị) hoặc thành lập các trung tâm thông tin mới (30 đơn vị) Những tổ chức thông tin KH&CN này khi xây dựng đề án nâng cấp hoặc thành lập mới, phải quán triệt đầy đủ tinh thần Nghị định 115 (xây dựng Đề án nâng cấp, kiện toàn) Ngay sau khi được thành lập, các tổ chức thông tin KH&CN này đương nhiên phải hoạt động theo cơ mới - cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Nghị định 115

b) Hạ tầng mạng:

-Có Mạng WAN/INTRANET và kết nối Internet (hơn 90%), nhưng chủ yếu

là ADSL; Số tổ chức thông tin có kết nối Leased line còn ít (20%), chủ yếu là các tổ

Trang 31

La, Đak Lak ); Nhiều tổ chức thông tin địa phương chưa có Website riêng (mà dùng chung Website của cơ quan chủ quản là Sở KH&CN hoặc của tỉnh)

-Tự đánh giá: Hạ tầng mạng đủ đảm bảo tốt cho hoạt động của đơn vị (trên 50% đơn vị); Khả năng Mạng có thể hỗ trợ cho cơ quan khác (15% đơn vị)

-100% tổ chức thông tin KH&CN đều kiến nghị Nhà nước hỗ trợ đầu tư về hạ tầng Mạng (phần cứng và đặc biệt là phần mềm);

2.3 Tiềm lực thông tin,

a) Nguồn tin tư liệu:

1 Về khối Trung ương, Bộ, ngành:

-Tất cả các tổ chức thông tin KH&CN Bộ, ngành đều có thư viện với mức độ lớn nhỏ khác nhau Tuy nhiên, chỉ có 8 đơn vị (19%) có thư viện gọi là lớn với trên một trăm nghìn tên sách, trên một trăm tạp chí nước ngoài trở lên; 11 đơn vị (khoảng 26%) có thư viện thuộc loại trung bình (10 - 30 nghìn sách, vài chục tạp chí nước ngoài), ví dụ như : Viện thông tin Thư viện Y học TW: 10.000; Trung tâm Thông tin, Bộ Công An: 30.700; Trung tâm Thông tin, Bộ Nội vụ: 11.000 v.v Còn lại 27 đơn vị (55%) chỉ có thư viện nhỏ, thậm chí có nơi có chưa đến 1000 đầu sách

và không có tạp chí nước ngoài

-Tài liệu trong nước, về cơ bản các đơn vị thông tin Bộ, ngành đều mua hết các sách, tài liệu tiếng Việt xuất bản trong nước liên quan đến ngành, lĩnh vực của mình Nhưng có thể nói là kho tài liệu tiếng Việt ở hầu hết các đơn vị đều vẫn nghèo nàn, do số lượng sách và tài liệu tiếng Việt về KH&CN hàng năm không nhiều, lại không được lưu giứ tốt, thiếu tính hệ thống và hạn chế về độ đầy đủ Nhiều tổ chức thông tin Bộ, ngành có Kho kết quả nghiên cứu, nhưng phần lớn các kho này rất hạn chế về số lượng cũng như về việc xử lý đưa vào CSDL và đưa ra phục vụ.v.v

2 Về khối địa phương:

-Không có tổ chức thông tin địa phương nào có thư viện lớn Hầu hết chỉ có thư viện nhỏ, phổ biến là dưới 1000 đầu sách; Số đơn vị có vài nghìn sách rất ít (Bắc Ninh - 4000 cuốn, Bến Tre - 2000; Hải dương -1800; Phú Yên -2700; ngay cả Trung tâm Thông tin TP Hồ Chí Minh là đơn vị thông tin được coi là đơn vị lớn, có

Trang 32

thư viện được tổ chức bài bản, nhưng cũng chỉ có 4300 đầu sách); Thậm chí có những đơn vị không có Thư viện (mà chỉ như tủ sách với một vài trăm cuốn Về tạp chí, tại các tổ chức thông tin địa phương chủ yếu là các tạp chí trong nước và các

ấn phẩm thông tin của các ngành, các địa phương khác v.v Rất ít tổ chức thông tin KH&CN địa phương có tạp chí nước ngoài

b) Về tiềm lực thông tin số hóa:

b1.Các CSDL nội sinh tiếng Việt: Khái niệm CSDL nội sinh ở đây hiểu là những CSDL tiếng Việt do tổ chức thông tin tự xây dựng hoặc được hỗ trợ xây dựng

và tự quản trị, phát triển Ngoài ra, CSDL nội sinh của ngành hay địa phương cũng

có thể hiểu là “CSDL mà trong đó tài liệu KHCN của ngành, của địa phương hoặc tài liệu về ngành, về địa phương chiếm tỷ lệ lớn” Với khái niệm như vậy, qua khảo sát cho thấy:

Về khối các tổ chức thông tin KH&CN Trung ương, Bộ, ngành:

-Số tổ chức thông tin KH&CN Trung ương, Bộ, ngành có trên 10 CSDL:

20 tổ chức (chiếm 43 %);

-Số có từ 3 - 5 CSDL: 24 tổ chức (chiếm 52 % );

-Còn lại 2 tổ chức chỉ có 1- 2 CSDL (chiếm 5%)

-Số tổ chức thông tin mua CSDL online của nước ngoài không nhiều ( 25 %)

Về khối tổ chức thông tin địa phương:

-Số tổ chức thông tin có từ 4 CSDL nội sinh trở lên: 8 tổ chức (chiếm 11%);

đó là các tổ chức thông tin TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng, Thái Nguyên, Cần Thơ, Bình Định, Tiền Giang, An Giang, Quảng Bình

-Đại đa số có từ 2 -3 CSDL: 35 tổ chức (chiếm 54,6%);

-Số chỉ có 1 CSDL hoặc chưa có CSDL nào: 20 tổ chức (chiếm 35%)

Cũng phải nêu thêm rằng việc nhân rộng mô hình “Cung cấp thông tin phục

vụ phát triển KT-XH nông thôn, miền núi” đã tạo cho nhiều tổ chức thông tin địa

phương CSDL “CNNT” Mô hình này được xây dựng thành công đầu tiên tại Ninh

Bình năm 2002 và sau đó được nhân rộng khắp trong cả nước Đến nay, mô hình này

đã được triển khai ở 36 tỉnh/TP với 330 điểm xã/huyện

Trang 33

Bảng2 Phân loại tổ chức thông tin địa phương theo số lượng CSDL

Số cơ quan thông tin, chiếm % Ghi chú STT Số lượng CSDL nội

-CSDL phổ biến (nhiều nơi có) là : CSDL "KQNC" - Kết quả nghiên cứu; CSDL

"TULIEU" hoặc "SACH; CSDL "GIS" -

CSDL có ở một số tỉnh: CSDL Patent; CSDL về Tiêu chuẩn; CSDL "VB" Văn bản quy phạm pháp luật; CSDL về cán bộ KHCN ; CSDL chuyên gia, tư vấn CSDL kinh tế -xã hội; CSDL công nghệ, công nghiệp; CSDL thông tin thống kê; CSDL y tế

CSDL đặc thù của từng tỉnh: Ví dụ: CSDL chuyên ngành Điện tử viễn thông của

Lạng Sơn; CSDL về Rau, hoa của Lâm Đồng.v.v.…

Nhận xét:

-Hầu hết các CSDL đều nhỏ, phổ biến là mỗi CSDL có vài trăm biểu ghi (thậm chí có CSDL chỉ có 1,2 trăm biểu ghi); Có tới 40% CSDL hoạt động chưa ổn định; 60% CSDL chưa được cập nhật thường xuyên (do nhiều nguyên nhân);

-Nội dung các CSDL còn nghèo, thông tin thiếu tính hệ thống, không đầy đủ, chậm cập nhật, ít các tài liệu của địa phương, hạn chế về chất lượng xử lý, khả năng tra tìm);

-Chỉ 15% CSDL nội sinh của địa phương có thể khai thác theo chế độ trực tuyến qua INTERNET, còn lại (85%) chỉ phục vụ cho việc tìm tin cục bộ tại chỗ

-Theo tự đánh giá của các tổ chức thông tin địa phương: hầu hết các CSDL chỉ đáp ứng ở mức độ trung bình hoặc chưa đáp ứng

Trang 34

B2 Các CSDL của nước ngoài

-Số lượng các CSDL của nước ngoài có tại địa phương rất ít (chỉ khoảng 20 loại) -Cũng giống như các CSDL nội sinh, hầu hết các CSDL này (trên 80%) chưa được đưa vào khai thác trực tuyến (on-line) qua INTERNET, phần lớn chỉ có thể

khai thác theo chế độ off- line (trên CD/ROM tại chỗ)

Website về KHCN

-Số lượng: Đến nay, hầu hết các tổ chức thông tin KH&CN bộ, ngành đều có Website/cổng thông tin Tuy nhiên, số tổ chức thông tin KHCN địa phương có Website riêng lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 30%), còn lại là sử dụng Website của

Sở KH&CN hoặc của tỉnh

-Chất lượng: Nhìn chung nội dung các Website còn nghèo, mang tính chất giới thiệu thông tin, đưa tin là chính; Rất chậm cập nhật thông tin; nguồn thông tin số hóa (CSDL, bản tin điện tử) trên các Website địa phương còn ít và khả năng truy cập, khai thác các CSDL còn hạn chế

b) Các CSDL (đã nêu ở trên, xem mục b - tiềm lực thông tin số hóa);

c) Những sản phẩm, dịch vụ khác: Ngoài hai loại sản phẩm chủ chốt nêu trên, các tổ chức thông tin còn có nhiều sản phẩm dịch vụ khác: Phục vụ thông tin (tra cứu và cung cấp thông tin ); In ấn, sao quét tài liệu; Làm video; Tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm quốc tế và trong nước; Đào tạo (nghiệp vụ TT, TV, tin học); Tư

Trang 35

vấn, thiết kế (về hoạt động TT, TV, Website ); Thông tin chuyển giao công nghệ; Quảng cáo (trên ấn phẩm)

d) Những sản phẩm, dịch vụ có thu:

Tất cả những sản phẩm, dịch vụ nêu trên, về nguyên tắc ít nhiều đều có khả năng có thu.Tuy nhiên, mức độ thu rất khác nhau Ví dụ: Các ấn phẩm thông tin đều được bán, nhưng hầu hết là lỗ (phải bù) Có nơi chí biếu (không thu) Nhưng cũng

có tổ chức thông tin có những bản tin phát hành số lượng lớn và tạo được nguồn thu đáng kể như Viện Thông tin và Thư viện Y học Trung ương v.v Thực tế cho thấy: hầu hết các tổ chức thông tin KH&CN có phần thu đáng kể là các dịch vụ chứ không phải ấn phẩm Đó là các dịch vụ: Tra cứu và cung cấp thông tin; In ấn, sao quét tài liệu; Đào tạo và tin học (nhất là ở các địa phương, đặc biệt là đào tạo tin học cơ sở); Một vài tổ chức thông tin có nguồn thu từ tư vấn, thiết kế, chuyển giao CSDL v.v

Qua thực tế, nhiều tổ chức thông tin KH&CN có được nguồn thu lớn lại nhờ các hoạt động khác như quảng cáo, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, dịch tài liệu

2.5 Kinh phí cho hoạt động thường xuyên:

Tổng hợp thông tin đầy đủ về kinh phí được cấp hàng năm đối với các cơ quan thông tin KH&CN là vấn đề khó khăn Bởi lẽ, hầu hết các cơ quan không nêu hoặc nêu không đầy đủ Nhiều nơi có số liệu, nhưng cũng chỉ bao hàm kinh phí được cấp để duy trì một số hoạt động thường xuyên, tập trung chủ yếu vào xuất bản ấn phẩm, mua tài liệu, hoạt động tuyên truyền (hầu như không tính phần chi cho hoạt động của bộ máy và việc thực hiện các nhiệm vụ/đề án đột xuất cũng như kinh phí từ các nguồn khác…)

a) Khối các tổ chức thông tin Trung ương, Bộ, ngành:

- Chỉ một vài đơn vị được cấp hơn 10 tỷ /năm (Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia, Trung tâm Thông tin Bộ Quốc phòng v.v.)

-Phổ biến (trên 50%) là các tổ chức được cấp từ 1- 3 tỷ/năm;

-Có tới 30% tổ chức thông tin Bộ, ngành chỉ được cấp dưới 1 tỷ/năm (Trung tâm Tin học - Bộ Xây dựng 887 triệu/năm, Trung tâm Thông tin - Ủy ban Dân tộc -

800 triệu/năm v.v.)

Trang 36

b) Khối các tổ chức thông tin KH&CN địa phương:

Kinh phí Nhà nước cấp hàng năm cho hoạt động thường xuyên của các cơ quan thông tin địa phương rất eo hẹp Chỉ một vài tổ chức thông tin địa phương là được tính bằng con số tỷ đồng/năm (TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng ), ví dụ :

TP Hồ Chí Minh trung bình là 3,5 tỷ đ/năm Số còn lại nhiều nhất cũng chỉ 800 -900 triệu đồng/năm, còn đại đa số trung bình là 500 triệu đồng/năm Thậm chí một vài

tổ chức thông tin địa phương chỉ có 100 -200 triệu đồng/năm, ví dụ Đak Nông Tuy nhiên, theo số liệu như vừa nêu, dường như các tổ chức này không tính phần kinh phí hoạt động của bộ máy, cũng như không tính nguồn kinh phí khác

2 6 Kinh phí thu từ dịch vụ:

Để có được thông tin đầy đủ về hoạt động có thu của tất cả các tổ chức thông tin KH&CN các ngành, các cấp là điều khó hơn việc nắm được kinh phí hoạt động thường xuyên Bởi lẽ, do nhiều nguyên nhân, ít có nơi thông báo đầy đủ Hầu hết chỉ thông báo một phần, không chính xác và có nhiều nơi không thông báo (vô tình hoặc hữu ý) Qua tổng hợp cho thấy: hầu hết (có thể nói 99%) các sản phẩm, dịch vụ thông tin KH&CN trong Mạng lưới đều được Nhà nước bao cấp, đặc biệt là các xuất bản phẩm (hầu hết được bao cấp hoàn toàn) Một số ấn phẩm lấy thu bù chi, nhưng phần thu không đáng kể Một số các dịch vụ có thu lệ phí, ví dụ lệ phí phục vụ, tra cứu cung cấp tin Nhìn chung cơ chế tăng thu chưa được khuyến khích, vì theo nguyên tắc đối với những sản phẩm được tạo ra bằng kinh phí nhà nước thì thu bao nhiêu lại nộp vào ngân sách bấy nhiêu Số tổ chức thông tin KH&CN có nguồn thu đáng kể rất ít và nhiều khi lại do thu được từ các hoạt động khác Trung tâm Thông tin TC- ĐL -CL thu 2,1 tỷ/năm; Trung tâm thông tin KH&CN Quốc gia khoảng 1 tỷ/năm; Viện Thông tin Thư viện y học TW -300 triệu/năm; Trung tâm Thông tin KH&CN TP Hồ Chí Minh: 900 triệu/năm (trong đó 600 triệu từ nguồn khác); Bạc Liêu 640 triệu/năm (trong đó 600 triệu từ nguồn khác); Quảng Trị: 570 triệu/năm (từ nguồn khác); Bà Rịa Vũng Tàu: 180 triệu/năm (từ nguồn khác); Ninh Thuận: 300 triệu/năm (từ nguồn khác); Khánh Hòa: 200 triệu/năm (từ nguồn khác) Đại đa số tổ

Trang 37

vài chục triệu đồng/năm, chẳng hạn như: Phú Thọ - 30 triệu, Cao bằng: 52 triệu, Bình Định - 20 triệu, Hậu Giang: 10 triệu v.v Các nguồn thu khác không phải từ hoạt động thông tin là: hoạt động tin học, quảng cáo, tổ chức hội nghị, hội thảo, dịch thuật, giới thiệu chào bán công nghệ.v.v Qua thực tế cũng cho thấy, thậm chí

có những đơn vị thông tin chưa có hoạt động có thu như: Bến Tre, Bình Phước, Yên Bái v.v,

Tóm lại, cho đến nay, hoạt động của tất cả các tổ chức thông tin KH&CN công lập các ngành, các cấp đều được bao cấp là chủ yếu Nguồn kinh phí thu từ các sản phẩm, dịch vụ chiếm tỷ lệ nhỏ Đây cũng là một khó khăn lớn đối với các tổ chức thông tin KH&CN khi chuyển sang cơ chế mới theo Nghị định 115, khi muốn tăng nguồn thu (ngoài kinh phí thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước) để xây dựng các quỹ (theo quy định Nghị định 115 là 3 quỹ) và điều quan trong nhất là để tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên

2.7 Nhận xét chung về hiện trạng (của các tổ chức thông tin KH&CN)

Mặc dù đã có bước phát triển nhất định, nhưng hoạt động của các tổ chức thông tin KH&CN vẫn còn hạn chế về nhiều mặt Những tồn tại chung của các tổ chức thông tin KH&CN là:

a) Về tổ chức, cán bộ: Một số tổ chức thông tin KH&CN vẫn chưa ổn định

về mặt tổ chức (hay thay đổi cơ cấu, thay đổi định hướng hoạt động, thay đổi sản phẩm; cán bộ lãnh đạo) Ví dụ: 3 địa phương còn chưa có tổ chức thông tin KHCN độc lập Trong tổng số 109 đơn vị thông tin của bộ, ngành, địa phương, chỉ có 71 tổ chức có đủ tư cách pháp nhân (có con dấu, tài khoản riêng), 38 đơn vị còn lại (10 đơn vị thuộc các Bộ, ngành; 28 đơn vị địa phương) cần nâng cấp hay thành lập mới

để trở thành các đơn vị có đầy đủ điều kiện hoạt động độc lập và là đối tượng chuyển đổi theo Nghị định 115 Số đơn vị được đánh giá là tương đối có thực lực (loại 1) là 27 chiếm 25%

Trang 38

-Đội ngũ cán bộ mỏng, yếu về nghiệp vụ, dàn trải, kiêm nhiệm nhiều việc, hay thuyên chuyển công tác, chưa thật sự gắn bó với hoạt động thông tin KH&CN; thiếu cán bộ nòng cốt, cán bộ lãnh đạo; cán bộ có kinh nghiệm quản lý kinh tế

b) Cơ sở vật chất kỹ thuật (trụ sở, diện tích làm việc, trang bị kỹ thuật) tuy

đã được cải thiện, song nhìn chung còn yếu, chậm được nâng cấp; Trang bị kỹ thuật chưa đáp ứng, 60% tổ chức chưa đủ diện tích làm việc; 90% đơn vị chưa được đầu

tư xây dựng theo đề án xây dựng cơ bản

c) Tiềm lực thông tin, nhất là thông tin số hóa, còn hạn chế, tản mạn, chưa đủ

"ngưỡng" (thiếu độ đầy đủ, thiếu tính hệ thống) Hầu hết là các CSDL nhỏ, chưa được tổ chức tốt và chậm được cập nhật Nhiều CSDL chưa được đưa lên Mạng để

có thể khai thác theo chế độ trực tuyến (online), ví dụ: có tới 85% CSDL của các tổ chức thông tin địa phương chưa được đưa lên Mạng Nhiều tổ chức thông tin KH&CN, nhất là ở địa phương chưa có những CSDL nòng cốt, những CSDL toàn văn, đặc thù (trong đó chủ yếu là thông tin số hóa tài liệu của ngành, địa phương) Việc liên kết, chia sẻ nguồn lực còn hạn chế 60% tổ chức thông tin KHCN địa phương tự đánh giá là các CSDL của mình hoạt động chưa tốt, chưa hiệu quả

d) Sản phẩm: Chưa có nhiều các sản phẩm và dịch vụ thông tin có hàm lượng chất xám cao, ví dụ như: thông tin phân tích, tư vấn, các thông tin cảnh báo công nghệ, thông tin tình báo cạnh tranh, các ấn phẩm của các tổ chức thông tin, nhìn chung còn nhiều hạn chế (định kỳ thưa, đưa tin chậm, lượng tin, số liệu ít; mức

độ xử lý tin chưa sâu, chưa có nhiều thông tin mang tính, thống kê, phân tích, tư vấn)

-Hầu hết các tổ chức thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu tin Các tổ chức thông tin địa phương tự đánh giá chỉ đáp ứng được 30 - 40% yêu cầu

đ) Thị trường thông tin KH&CN và nguồn thu:

Hầu hết các sản phẩm thông tin KH&CN đến nay đều do Nhà nước bao cấp

Số ít sản phẩm được đưa ra phục vụ theo hướng tăng thu, bù chi, nhưng hầu hết phải

bù lỗ Rất ít sản phẩm có lãi nhiều Một vài tổ chức có nguồn thu dịch vụ tốt là nhờ

Trang 39

nhờ dịch vụ tra cứu, cung cấp tài liệu đặc thù là các tiêu chuẩn hay Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia có dịch vụ "Bạn đọc đặc biệt" mới được mở rộng trong 2 năm gần đây v.v

Tóm lại, nguồn kinh phí thu được từ dịch vụ của hầu hết các đơn vị thông tin còn rất khiêm tốn (nếu không nói là rất ít) Một số đơn vị còn chưa tiến hành hoạt động có thu Nhiều tổ chức thông tin KH&CN có được nguồn thu, nhưng lại chủ yếu

từ các hoạt động khác như tin học, quảng cáo, tổ chức hội nghị, hội thảo, dịch thuật.v.v

2.8 Kiến nghị của các tổ chức thông tin KH&CN

-Tăng cường chỉ đạo của Bộ KH&CN trong công tác quản lý hoạt động thông tin KH&CN Một mặt, để các tầng lớp, nhất là lãnh đạo các cấp quan tâm hơn nữa

và đầu tư thỏa đáng cho hoạt động này; Mặt khác, để các tổ chức thông tin phát triển đúng hướng, nhanh, liên kết rộng, hoạt động thiết thực và hiệu quả, trong đó có hiệu quả kinh tế;

-Tăng cường đầu tư hạ tầng cơ sở (trụ sở, trang thiết bị, hạ tầng mạng);

-Tăng cường hỗ trợ xây dựng tiềm lực thông tin, nhất là nguồn tin số hóa (những tài liệu hạt nhân, có giá trị lâu dài của ngành, địa phương cần được Nhà nước đầu tư số hóa); Chú trọng điều phối việc chia sẻ nguồn lực thông tin theo hướng hiện đại hóa, liên kết mạng, xây dựng các CSDL dùng chung;

-Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cán bộ thông tin, đặc biệt theo hướng hiện đại hóa và tin học hóa trong hoạt động thông tin - thư viện (chú trọng cả đào tạo, tập huấn ở nước ngoài);

-Hướng dẫn cụ thể hơn về triển khai Nghị định 115 (bằng văn bản, bằng chỉ đạo trực tiếp), hỗ trợ làm việc, giải quyết vướng mắc với các ngành chức năng (nhất là Nội vụ, Tài chính) trong các khâu thủ tục khi xây dựng Đề án và trong triển khai các hoạt động sau khi chuyển đổi

2.9 Kết luận

1 Hoạt động thông tin KH&CN ở nước ta có quá trình phát triển 50 năm Hoạt động này luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, điều này thể hiện qua khung

Trang 40

khổ pháp lý, gồm nhiều văn bản QPPL trong suốt quá trình phát triển Với sự quan tâm đó, cùng với sự nỗ lực của các thế hệ cán bộ thông tin KH&CN, hoạt động thông tin KH&CN đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: Mạng lưới các tổ chức thông tin KH&CN được tạo lập rộng khắp; Đội ngũ cán bộ thông tin chuyên nghiệp được hình thành; Nguồn tin KH&CN được chú trọng phát triển (cả nguồn tin trong nước và của nước ngoài); Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng và đã phục vụ kịp thời, thiết thực cho nhiều yêu cầu của người dùng, nhất là các yêu cầu của Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý; Ứng dụng nhiều thành tựu và công nghệ tiên tiến trong hoạt động; Hợp tác quốc tế được mở rộng

Tuy vậy, Mạng lưới này còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH và HĐH đất nước và còn nhiều hạn chế: tiềm lực thông tin chưa đủ ngưỡng; việc liên kết, chia sẻ kém; Công tác chuẩn hóa chưa tốt; Đội ngũ cán bộ mỏng; Chưa

có nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin có hàm lượng chất xám cao, có chỗ đứng trên thị trường thông tin và mang lại nguồn thu cao, v.v

2 Xét hiện trạng thực tê, ta thấy, hầu hết tổ chức thông tin KH&CN vẫn còn rất nhiều khó khăn, hạn chế: cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu; đội ngũ cán bộ mỏng, không ổn định; tiềm lực thông tin, nhất là thông tin số hóa rất hạn chế, tản mạn; khả năng phục vụ, đáp ứng yêu cầu tin thấp (đa số tổ chức thông tin chỉ đáp ứng được từ 40-50% yêu cầu tin); sản phẩm, dịch vụ và các hoạt động có thu chưa được triển khai mạnh v.v.Về mặt tổ chức cán bộ, cũng còn nhiều đơn vị chưa ổn định Trong tổng số 109 đơn vị thông tin KH&CN Bộ, ngành và địa phương, chỉ có 71 đơn vị có

đủ tư cách pháp nhân, 38 đơn vị còn lại cần tiếp tục được nâng cấp hay thành lập như những đơn vị mới Trong số 109 đơn vị thông đó, theo khảo sát đánh giá sơ bộ chỉ có 27 đơn vị (xếp loại 1), được coi là có thực lực, có thể hoạt động khả dĩ theo

cơ chế mới (chiếm khoảng 25%)

3 Rõ ràng rằng, để chuyển các tổ chức thông tin theo hướng thị trường, mở đầu là chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Nghị định 115, chúng

ta còn rất nhiều việc, nhiều vấn đề cần phải tập trung đầu tư, giải quyết Bên cạnh sự

Ngày đăng: 25/05/2014, 10:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ Quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 115/2005/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2005
1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương Đảng Khóa VIII (số 02/NQ/HNTW ngày 24/12/1996) về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 Khác
4. Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ Khác
5. Nghị định số 28/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Bộ Khoa học và Công nghệ Khác
6. Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/3/2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ Khác
7. Nghị định thống kê số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 về thống kê khoa học và công nghệ Khác
8. Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT -BKHCN-BNV ngày 18/6/2008 Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về KG&CN thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Khác
11. Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 5/6/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP Khác
12. Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 18/6/2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định 80 Khác
13. Thông tư liên tịch số 11/2007/TTLT/BCA-BKHCN ngày 27/7/2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an hướng dẫn tổ chức KH&CN công lập mời chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài hoạt động KH&CN nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức KH&CN trong hợp tác quốc tế Khác
14. Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT/BKHCN-BTC ngày 7/5/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước Khác
15. Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BKHCN-BTC ngày 4/10/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ khoán kinh phí đề tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước Khác
16. Quyết định số 08/2007/QĐ-BKHCN ngày 6/4/2007 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành Quy định về Tiêu chí xác định tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước Khác
17. Nghị định 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế Khác
18. Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BNV-BTC ngày 24/9/2007 của Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 132/2007/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế Khác
19. Công văn số 2855/BKHCN-TCCB ngày 02/11/2007 của Bộ Khoa học và công nghệ về việc hỗ trợ các tổ chức KH&CN ở địa phương chuyển đổi theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP Khác
20. Công văn số 3831/BKH-PTDN ngày 04/6/2007 của Bộ KH&ĐT về việc đăng ký kinh doanh đối với các tổ chức KH&CN công lập Khác
21. Công văn số 460/BKHCN-TCCB ngày 04/3/2008 của Bộ KH&CN và Công văn số 500/CV-LS-XNC ngày 04/3/2008 của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao về việc cấp hộ chiếu công vụ cho cán bộ của các tổ chức KH&CN chuyển đổi theo Nghị định 115.II. TÀI LIỆU CHIẾN LƯỢC, KỶ YẾU, BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU, BÁO CÁO HỘI NGHỊ HỘI THẢO Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.  Thí dụ về các lĩnh vực và bộ phận chính của thị trường thông tin thế giới - nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc chuyển đổi các tổ chức dịch vụ thông tin khcn công lập theo tinh thần nghị định 115-2005-nđ-cp
Bảng 3. Thí dụ về các lĩnh vực và bộ phận chính của thị trường thông tin thế giới (Trang 75)
Bảng 4 . Sự phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng - nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc chuyển đổi các tổ chức dịch vụ thông tin khcn công lập theo tinh thần nghị định 115-2005-nđ-cp
Bảng 4 Sự phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng (Trang 93)
5. Hình thức kết hợp khác (đề xuất theo ý kiến chủ quan) - nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc chuyển đổi các tổ chức dịch vụ thông tin khcn công lập theo tinh thần nghị định 115-2005-nđ-cp
5. Hình thức kết hợp khác (đề xuất theo ý kiến chủ quan) (Trang 132)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w