1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại quảng ngãi.

119 652 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Quảng Ngãi
Tác giả TS. Mai Hà, TS. Nguyễn Thị Anh Thu, Ths. Cao Thu Anh, KS. Nguyễn Văn Phú, TS. Nguyễn Quang Tuấn, KS. Lê Hữu, KS. Phạm Văn Sơn, Ths. Đặng Thu Giang, CN. Nguyễn Hồng Anh
Trường học Học Viện Khoa Học và Chính Sách của Bộ Khoa Học và Công Nghệ
Chuyên ngành Kỹ Thuật và Quản Lý Nông Nghiệp
Thể loại Báo cáo tổng kết nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 CÁC TỪ VIẾT TẮT APEC Asian Pacifice Economic Cooperation - Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương ASEAN Association of SouthEast Asia Nation - Hiệp hội các nước Đông Nam Á BIO

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN

BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP THIẾT

MỚI PHÁT SINH TẠI ĐỊA PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC TIỄN ĐỂ HÌNH THÀNH KHU CÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

CAO TẠI QUẢNG NGÃI

Ban chủ nhiệm Đề tài Chủ nhiệm: TS MAI HÀ Thư ký: TS NGUYỄN THỊ ANH THU

7555

22/10/2009

Hà Nội, tháng 10/2009

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH

TS Mai Hà CN Đề tài

TS Nguyễn Thị Anh Thu TK Khoa học Đề tài

Ths Cao Thu Anh TK hành chính Đề tài

Trang 3

1

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN 3 

CÁC TỪ VIẾT TẮT 4 

ĐẶT VẤN ĐỀ 6 

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 9 

1.1.  Định nghĩa công nghệ cao 9 

1.2.  Định nghĩa khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới 9 

1.3.  Định nghĩa khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam 11 

1.4.  Sự cần thiết hình thành và phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao 13 

1.5.  Những điều kiện cần và đủ cho hình thành và phát triển khu NNUDCNC của Quảng Ngãi 18 

CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 23 

2.1.  Kinh nghiệm trong và ngoài nước trong xây dựng và phát triển khu NNUDCNC 23 

2.2.  Bài học rút ra cho Quảng Ngãi từ kinh nghiệm trong và ngoài nước 33 

2.3.  Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của Quảng Ngãi 39 

2.4.  Thị trường cho phát triển khu NNUDCNC tại Quảng Ngãi 43 

CHƯƠNG III MÔ HÌNH KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO LỰA CHỌN TẠI QUẢNG NGÃI 54 

3.1.  Quan điểm 54 

3.2.  Mục tiêu 55 

3.3.  Mô hình hoạt động 57 

3.4.  Lựa chọn địa điểm 58 

3.5.  Cấu trúc, quy mô khu NNUDCNC 69 

3.6.  Lựa chọn sản phẩm và công nghệ 70 

3.7.  Vấn đề môi trường và xã hội 75 

3.8.  Lộ trình triển khai 80 

CHƯƠNG IV NHU CẦU NGUỒN LỰC, QUẢN LÝ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 83 

Trang 4

2

4.1.  Nhu cầu tài chính 83 

4.2.  Nhu cầu nhân lực của khu NNUDCNC tại Quảng Ngãi 86 

4.3.  Phương thức quản lý 90 

4.4.  Chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với khu NNUDCNC 94 

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 98 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 

PHỤ LỤC 1 CÁC CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH CÓ LIÊN QUAN 105 

PHỤ LỤC 2 DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY THAM KHẢO 116 

Trang 5

Ban Địa Phương, Bộ Khoa học và Công nghệ

Vụ Công nghệ cao, Bộ KH&CN

Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ KH&CN

Viện rau quả Trung ương

Công ty TNHHNN Một thành viên HADICO

Trung tâm Giống và Phát triển Nông - Lâm nghiệp CNC Hải Phòng

UBND Xã Vân Nội, Đông Anh Hà Nội

UBND Tỉnh Quảng Ngãi

Sở KH&CN Tỉnh Quảng Ngãi

Sở NN&PTNT Quảng Ngãi

Trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật Nông – Lâm nghiệp Dung Quất

UBND Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi

UBND Huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi

UBND Xã Bình Nguyên, Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi

UBND Xã Bình Hòa, Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi

UBND xã Bình Chánh, Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi

UBND Xã Bình Trị, Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi

Ông Lê Quang Thích, Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Quảng Ngãi

Ông Trần Chấn Diệp, Giám đốc, Sở KH&CN Quảng Ngãi

Ông Vũ Thanh Thủy, Giám đốc, Trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật Nông - Lâm nghiệp Dung Quất

Ông Hồ Ngọc Luật, Vụ trưởng, Trưởng Ban Địa phương, Bộ KH&CN

Bà Lê Kim Phương; Chánh Văn phòng, Ban Địa phương, Bộ KH&CN

Ông Phạm Viết Khánh, Chuyên viên, Ban Địa phương, Bộ KH&CN

Ông Chu Thúc Đạt, Chuyên viên, Ban Địa phương, Bộ KH&CN

Trang 6

4

CÁC TỪ VIẾT TẮT

APEC Asian Pacifice Economic Cooperation - Tổ chức Hợp tác kinh tế

châu Á Thái Bình Dương ASEAN Association of SouthEast Asia Nation - Hiệp hội các nước Đông

Nam Á BIOTEC National Center of genetic Engineering and Biotechnology- Trung

tâm công nghệ gen và công nghệ sinh học BVTV Bảo vệ thực vật

DĐĐT Dồn điền đổi thửa

EUREP European Retail Products - Tổ chức người bán lẻ và cung cấp ở

Châu Âu FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GAP Good Agricultural Practices - thực hành nông nghiệp tốt

GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

IPM Intergrated Pest Managerment - quy trình quản lý dịch hại tổng

hợp IFPRI The International Food Policy Research Institute - Viện Nghiên

cứu Quốc tế về Chính sách Thực phẩm ICARD Trung tâm Tin học và Thống kê

KH&CN Khoa học và công nghệ

KTDQ Kinh tế Dung Quất

KNNADCNC Khu Nông nghiệp áp dụng công nghệ cao

HACCP Hazard Analysis and Critical Control Points - Phân tích mối

nguy và điểm kiểm soát tới hạn HTX Hợp tác xã

NNCNC Nông nghiệp công nghệ cao

NNKTC Nông nghiệp kỹ thuật cao

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NNUDCNC Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

QLDA Quản lý dự án

Trang 8

6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, nền nông nghiệp truyền thống không đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu thực phẩm sạch, thực phẩm an toàn cả về chất lượng và số lượng cung cấp trong nước và xuất khẩu Những năm gần đây, hầu hết các mặt hàng nông sản của Việt Nam đều đạt được giá rất thấp khi bán ra thị trường thế giới Phần nhiều hàng hóa của Việt Nam chỉ dừng lại ở mức bán nguyên liệu qua sơ chế cho các hãng nước ngoài mua về, chế biến lại và bán với giá cao hơn nhiều Tình trạng này, không chỉ riêng Việt Nam,

mà nhiều nước đang phát triển khác cũng đang gặp phải Đổi mới công nghệ nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp từ khâu chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch đến bảo quản, chế biến, bao bì, mẫu mã, vận chuyển và tiêu thụ; đang là nhu cầu cấp bách với hầu hết các quốc gia Trong bối cảnh đó, phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) chính là biện pháp đột phá đã được nhiều quốc gia lựa chọn (đặc biệt là những nước có nền nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng như Việt Nam), nhằm tạo sức cạnh tranh trên thị trường Ngoài ra, NNCNC còn hỗ trợ khả năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch tri thức, bảo vệ và phát triển môi trường theo hướng bền vững

Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và đang xúc tiến mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình này đòi hòi nông nghiệp của Tỉnh phải phát triển theo hướng dựa trên công nghệ cao đúng như Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh trình bày tại Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII: “Tập trung nâng cao trình độ thâm canh, và ứng dụng công nghệ cao trên một số lĩnh vực nhằm tăng năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi”

Một nhiệm vụ quan trọng khác mà nông nghiệp Quảng Ngãi phải hướng vào phục vụ là phát triển Khu kinh tế Dung Quất Nhu cầu về nông sản sạch và có chất lượng cao của Khu Kinh tế Dung Quất sẽ rất lớn và cấp bách Chính vì vậy trong Quyết định số 04/2005/QĐ-TTg, ngày 06 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ (về Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010) đã nhấn mạnh đến việc “Hình thành vành đai nông nghiệp phục vụ Khu kinh tế Dung Quất” Đó là các yêu cầu đặt ra đòi hỏi cũng như là những

cơ sở cho phép Quảng Ngãi sớm xây dựng Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNUDCNC) phục vụ Khu kinh tế Dung Quất

Ứng dụng các kết quả của Khu NNUDCNC sẽ được triển khai ngay cho khu vực sản xuất rau hoa quả và thực phẩm sạch cung cấp cho Khu Kinh tế Dung Quất và các đô thị khu vực miền Trung Đây cũng chính là nhu cầu cấp bách đặt ra cho khu NNUDCNC Quảng Ngãi ngay trong những năm tới

Trang 9

7

Việc nghiên cứu hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao hay khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam còn đang gặp nhiều khó khăn vướng mắc Đây là một hướng đi mới, có nhiều địa phương chưa dám đặt quyết tâm để huy động mọi nguồn lực cho dự án, kinh phí hình thành dự án thường rất lớn, có khi vượt quá khả năng đầu tư của địa phương

Trên thực tế đã có một số khu/dự án NNCNC hoặc khu nông nghiệp kỹ thuật cao (NNKTC) đã được hình thành ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Cần Thơ, Hải Phòng, Sơn La, tuy nhiên, việc đưa vào hoạt động còn là một khoảng cách lớn với rất nhiều vần đề mắc về lý luận cũng như thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Quảng Ngãi sẽ cung cấp cho lãnh đạo Tỉnh những căn cứ tin cậy để tiến tới việc hình thành khu NNUDCNC tại Quảng Ngãi

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu đặt ra cho Đề tài là:

- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Quảng Ngãi hiện nay;

- Nghiên cứu điều kiện thực tiễn hình thành khu nông nghiệp ứng dụng CNC tại Quãng Ngãi;

- Đề xuất mô hình quản lý Khu NNUDCNC Quảng Ngãi

Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Đây là đề tài nghiên cứu khoa học nhằm luận cứ cơ sở khoa học và các điều kiện thực tiễn để đi đến khẳng định sự cần thiết và tính khả thi cũng như các điều kiện cần thiết cho việc hình thành khu NNUDCNC và sơ bộ đề xuất quy mô, địa điểm, cấu trúc khu NNUDCNC cũng như bộ máy quản lý của khu NNUDCNC Đề tài không nhằm thay thế dự án khả thi hay quy hoạch chi tiết khu NNUDCNC

Phương pháp tiến hành

Phương pháp xử lý tài liệu thứ cấp: dựa trên các nghiên cứu, bài viết, số liệu đã

có để chắt lọc những thông tin làm cơ sở minh chứng cho nhận định về hiện trạng, kinh nghiệm, những bài học rút ra

Phương pháp điều tra: đã tiến hành điều tra đại diện nhu cầu thị trường về sản phẩm rau quả tại Quảng Ngãi tại các điểm tiêu thụ lớn như: chợ, khách sạn, một số nhà hàng tại Quảng Ngãi

Nghiên cứu trường hợp: đã nghiên cứu các trường hợp khu NNCNC, NNUDCNC, khu sản xuất rau an toàn, bao gồm: Khu NNCNC Hà Nội, Khu NNCNC Hải Phòng, Khu NNCNC Mộc Châu (Sơn La), Vùng sản xuất RAT Vân Nội (Đông

Trang 10

8

Anh Hà Nội) Các kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu NNUDCNC/khu NNCNC thu được qua nghiên cứu trường hợp được sử dụng trong phân tích và chọn lựa những vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn để áp dụng vào trường hợp của khu NNUDCNC Quảng Ngãi

Khảo sát thực địa: Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Trung tâm Tư vấn Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật Nông –lâm nghiệp Dung Quất khảo sát 2 đợt tại địa bàn huyện Bình Sơn phục vụ cho việc lựa chọn vị trí để xây dựng Khu NNUDCNC

Điều tra nhanh: đã tiến hành điều tra nhanh đại diện lãnh đạo xã về quan điểm, những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng khu NNUDCNC tại xã Bình Hòa, Bình Nguyên, Bình Trị, Bình Chánh huyện Bình Sơn

Phương pháp chuyên gia: tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý có liên quan của địa phương và Trung ương; các chuyên gia trong các Ban Quản lý Khu NNUDCNC ở một số tỉnh/thành; các chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ, thị trường có liên quan ở địa phương và Trung ương

Phương pháp hội thảo: đã tổ chức các hội thảo chuyên đề và 4 hội thảo lớn (3 hội thảo kết quả trung gian, 1 hội thảo về kết quả cuối cùng) tại Hà Nội và Quảng Ngãi

Phương pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng trong quá trình viết các chuyên đề và báo cáo tổng hợp: Phân tích các mô hình Khu NNUDCNC trong và ngoài nước (tên gọi, mục tiêu, quy mô, cấu trúc, sản phẩm, thị trường, quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý hoạt động của khu, đầu tư, kết quả hoạt động, đào tạo nhân lực, chính sách ưu đãi, hỗ trợ, kinh nghiệm cho Quảng Ngãi; Phân tích kinh nghiệm các tỉnh về: chủ trương của lãnh đạo, lợi thế của tỉnh trong phát triển khu NNUDCNC, chính sách của các tỉnh, kết quả thực hiện, những khó khăn trong hình thành và hoạt động của khu NNUDCNC, kinh nghiệm rút ra cho các tỉnh khác; Phân tích các trường hợp cụ thể (Dự án NNCNC Hà nội, Hải Phòng, Khu sản xuất RAT Vân Nội, Khu Da lat Hasfarm, Khu sản xuất NNCNC Mộc Châu); Đúc kết các bài học cho Quảng Ngãi trong xây dựng và hình thành Khu NNUDCNC

Cấu trúc báo cáo

Báo cáo gồm phần đặt vấn đề, 4 chương, phần kết luận, đề xuất và tài liệu tham khảo, 2 phụ lục

Trang 11

9

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 1.1 Định nghĩa công nghệ cao

Ở nước ta, về mặt pháp lý, gần đây cũng đã có thay đổi cách định nghĩa về công nghệ cao Theo Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2003 Về việc ban hành Quy chế Khu công nghệ cao: “công nghệ cao là công nghệ được tích hợp từ các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, có khả năng tạo ra sự tăng đột biến về năng suất lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá, hình thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới có hiệu quả kinh tế -

xã hội cao, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng”

Sau khi Luật Công nghệ cao được ban hành và có hiệu lực từ 01/07/2009, công nghệ cao được định nghĩa là “công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo

ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”

Sản phẩm công nghệ cao cũng có thay đổi trong quy định pháp lý của Việt Nam Theo Nghị định 99/2003/NĐ-CP, sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm được tạo

ra nhờ áp dụng công nghệ cao Còn Luật Công nghệ cao quy định chi tiết hơn, rõ hơn

về mặt định tính của sản phẩm công nghệ cao, cụ thể “sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường”

1.2 Định nghĩa khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới

Các khu NNCNC trên thế giới có các tên gọi khác nhau: khu NNCNC, khu NNUDCNC, khu công viên nông nghiệp, khu nông nghiệp kỹ thuật cao, hay còn gọi nông nghiệp công nghệ cao Tất cả các tên gọi khác nhau này, thực chất đều có yếu tố công nghệ cao trong đó, tuy nhiên mức độ có khác nhau Khi thống kê số lượng các khu NNCNC, người ta thường thống kê tất cả các loại hình trên Điểm khác nhau ở chỗ quan niệm về khu NNCNC hay nông nghiệp CNC Trên thế giới, có hai quan niệm chính về nông nghiệp công nghệ cao

Theo thuyết của J.H Von Thunew, khu NNCNC là nơi hội tụ các thành tựu tiên tiến nhất về công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ thông tin và tự động hóa trong một hệ thống nông nghiệp tập trung nhằm tạo ra một quy mô sản xuất và

Trang 12

Chức năng chính của khu nông nghiệp công nghệ cao gồm có 5 nội dung: một

là, điểm trình diễn sáng tạo; hai là, nơi hội tụ các nhân tài; ba là, được đầu tư tập trung; bốn là, địa điểm để đổi mới công nghệ; năm là, khu ươm tạo và đào tạo công nghệ Tuy nhiên, các chức năng được vận dụng khác nhau đối với từng loại khu NNCNC

Mô hình các khu NNCNC trên thế giới cũng rất đa dạng Ở các nước phát triển như: Pháp, Hà Lan, Nhật, khu nông nghiệp công nghệ cao có 2 công năng: một là, chủ yếu phục vụ thưởng thức cảnh quan và nâng cao hiểu biết của người dân về những thành tựu khoa học & công nghệ trong nông nghiệp, thông qua giới thiệu, trưng bày,

mô hình trình diễn; hai là, thay đổi phương thức nghỉ ngơi, tạo điều kiện cho những người hàng ngày lao động ở văn phòng tiếp xúc với lao động chân tay, thông qua du lịch sinh thái, ứng dụng thực tế các thành tựu khoa học trong nông nghiệp

Khu nông nghiêp công nghệ cao ở các nước đang phát triển như: Đài loan, Thái Lan, Israel, thì khu nông nghiệp công nghệ cao đưa mục tiêu sản xuất là chính Trong khu nông nghiệp công nghệ cao, người ta thường trình diễn các loại sản phẩm có giá trị cao, các thiết bị sản xuất có hàm lượng chất xám cao, ở các khu nông mghiệp này

có khả năng đào tạo và chuyển giao công nghệ

Tại Trung Quốc, khu NNCNC là những khu nông nghiệp để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp đồng nhất có chất lượng cao bằng trình độ quản lý và công nghệ tiên tiến trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất đến thị trường, trong đó gắn kết 5 cao và 6 hóa, cụ thể là:

- 5 cao: năng suất lao động cao, năng suất trên đơn vị diện tích cao, hiệu quả đầu

tư cao, hàm lượng KH&CN cao, thu nhập của người nông dân và người lao động cao

- 6 hóa: tiêu chuẩn hóa, cơ giới hóa, xã hội hóa, khoa học hóa, sinh thái hóa, nhất thể hóa

Các loại hình, tên gọi của khu NNCNC trên thê giới cũng đa dạng, tùy theo mức độ cao của công nghệ hoặc tùy theo mục tiêu, chức năng của khu Các loại hình

có trên thế giới hiện nay là: Khu Trình diễn NNCNC (High-Tech Agricultural Demonstration Zone) như khu Khu Trình diễn NNCNC Yaling (Trung Quốc); công

Trang 13

11

viên nông nghiệp công nghệ cao (công viên nông nghiệp và công nghệ sinh học Pingtung, Đài Loan); vườn nông nghiệp CNC; khu NNCNC; Khu NNKTC,…

1.3 Định nghĩa khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam

Định nghĩa về khu NNUDCNC gần đây được đưa vào Luật Công nghệ cao, trong đó khẳng định khu NNUDCNC là khu CNC Như vậy, khu NNUDCNC hay khu NNCNC ở nước ta đều có nghĩa là một, bởi “ Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ

cao là khu công nghệ cao tập trung thực hiện hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên

cứu và phát triển công nghệ cao vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Công nghệ cao”, đó là:

a) Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; b) Phòng, trừ dịch bệnh;

c) Trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao;

d) Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp;

đ) Bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp;

e) Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

g) Phát triển dịch vụ công nghệ cao phục vụ nông nghiệp

Cũng theo Luật CNC, khu công nghệ cao là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao

Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có các nhiệm vụ sau đây:

a) Thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình diễn mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

b) Liên kết các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp;

c) Đào tạo nhân lực công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp;

d) Tổ chức hội chợ, triển lãm, trình diễn sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

đ) Thu hút nguồn đầu tư, nhân lực công nghệ cao trong nước và ngoài nước thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp

Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao muốn được thành lập phải đáp ứng các quy định sau:

a) Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển nông nghiệp và nhiệm vụ quy định của khu NNUDCNC;

Trang 14

12

b) Có quy mô diện tích, điều kiện tự nhiên thích hợp với từng loại hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp; địa điểm thuận lợi để liên kết với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có trình độ cao;

c) Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thuận lợi đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, đào tạo, thử nghiệm và trình diễn ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp;

d) Có nhân lực và đội ngũ quản lý chuyên nghiệp

Về mặt thẩm quyền quyết định thành lập, theo Luật Công nghệ cao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các

bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, ban hành quy chế hoạt động của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Theo Luật Đầu tư, Khoản 4 Điều 47 quy định Chính phủ quy định việc phân cấp thẩm tra và cấp Giấy chứng nhận đầu tư, và Khoản 2 Điều 38 của Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Đầu tư quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao đối với những địa phương chưa thành lập Ban Quản lý khu công nghệ cao Như vậy, có sự khác nhau về thẩm quyền ra quyết định thành lập khu CNC trong đó có khu NNUDCNC theo Luật Đầu tư và Luật Công nghệ cao Luật Công nghệ cao không đề cập đến thẩm quyền của UBND tỉnh trong việc ra quyết định thành lập khu CNC Do đó, việc ban hành quyết định thành lập một khu NNUDCNC, tỉnh phải cân nhắc loại hình cho hợp lệ

Một loại hình khu NNCNC được thành lập ở một số địa phương nước ta, đó là khu nông nghiệp kỹ thuật cao (NNKTC) Khu nông nghiệp kỹ thuật cao là nơi tập trung loại hình sản xuất cơ bản áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất/kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp (như công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ dinh dưỡng,…) để tạo ra lượng hàng hóa nông sản lớn, chất lượng tốt, có khả năng cạnh trạnh trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, trong khu NNKTC, công nghệ quản lý, trình độ cán bộ công nhân là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự thành công của mô hình Trong giai đoạn hiện nay của nước ta, theo một số chuyên gia, đây là mô hình dễ được phổ biến nhân rộng trong sản xuất một khi nó được tập trung đầu tư và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội Đây cũng là nơi thu hút các nhà khoa học thông qua cơ chế đặt hàng để chuyển giao KTTB/công nghệ tiên tiến/mới nhất vào trong sản xuất Tuy nhiên, do yêu cầu mang lại hiệu quả kinh tế cao là mục tiêu hàng đầu, do đó các nhà đầu tư thường tập

Trang 15

mà ở đó các loại hình công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự sinh học) được ứng dụng tổng hợp, theo một quy trình khép kín, hoàn chỉnh nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn tài nguyên tự nhiên (đất đai, khí hậu) và tiềm năng của giống để đạt năng suất và chất lượng cao nhất một cách bền vững3 Ở các nước phát triển, công nghệ cao được ứng dụng trên quy mô toàn quốc như vậy sẽ không còn khái niệm khu NNCNC Tại các nước đang phát triển, NNCNC tập trung trong những khu vực có quy mô từ vài ha đến hàng trăm ha

Đối với Khu NNUDCNC cấp tỉnh, trong điều kiện hiện nay, theo Đề tài, cách

tiếp cận của Trung Quốc là tương đối thích hợp với Việt Nam Theo đó, Khu

NNUDCNC là nơi tập hợp các tiến bộ kỹ thuật mới về sinh học, hóa học, cơ khí, tự động, kết hợp với những kinh nghiệm truyền thống/bản địa để tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm và cho hiệu quả kinh tế cao Khu NNUDCNC có thể

thực hiện một số chức năng của khu CNC mà không nhất thiết phải có tất cả các chức năng

1.4 Sự cần thiết hình thành và phát triển các khu nông nghiệp công nghệ

cao

1.4.1 Trên thế giới

Nông nghiệp công nghệ cao đang phát triển mạnh mẽ trên diện rộng ở các nước phát triển Khu NNCNC của các nước này được hình thành khoảng hơn 30 năm trước (Mỹ từ năm 1980, Phần Lan từ 1981)4 Các khu NNCNC đã tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, an toàn đáp ứng yêu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Ứng dụng công nghệ cao đã đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, như: nhờ công nghệ gen, các nước đã tạo ra những giống cây trồng kháng bệnh, năng suất cao; công nghệ lai tạo, chọn lọc giống cây trồng vật nuôi rút ngắn được thời gian; công nghệ sinh học ứng dụng trong phòng trừ sâu bệnh, sản xuất phân

1 Xem: PGS TS Nguyễn Văn Tuất Bàn về xây dựng và phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam Kỷ yếu hội thảo Phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam 24-10-2007

2 Ý kiến ông Nguyễn Văn Giàu, Giám đốc Sở NN và PTNT Đồng Nai

3 PGS TS Nguyễn Văn Bộ Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam Kỷ yếu Hội thảo Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, 24-10-2007

4 Nguồn: TS Đào Xuân Thảng Xây dựng và phát triển mô hình nông nghiệp theo hướng công nghệ cao Kỷ yếu Hội thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr 41

Trang 16

14

vi sinh hạn chế được ảnh hưởng đến môi trường; sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước,…Các nước ứng dụng công nghệ cao điển hình như Mỹ, Nhật, Anh, Hà Lan, Isreal, Trung Quốc, Thái Lan, Australia,…

Khu NNCNC trên thế giới đã đem lại lợi ích:

- Năng suất lao động trong nông nghiệp tăng cao từ 50-100 lần, giúp giải phóng lao động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác;

- Tăng năng suất và sản lượng nông sản trên một đơn vị diện tích từ 10-15 lần, tiết kiệm đất nông nghiệp để chuyển một phần sang phát triển đô thị, công nghiệp, dịch

vụ và trồng cây xanh, trồng rừng,

- tạo ra nông sản sạch, đồng nhất, chất lượng tốt, ít tổn thất, tỷ lệ thành phẩm cao;

- Tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường;

- Có tính lôi cuốn cao, khuyến khích nông dân áp dụng kỹ thuật thay đổi phương thức sản xuất, phát triển nông thôn đồng đều giữa các vùng lãnh thổ;

- Tạo sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội, đặc biệt là các nhà: khoa học, doanh nhân, nông dân, nhà nước

1.4.1.1 Nhật Bản

Nhật Bản đã ứng dụng rất sớm kỹ thuật cao Các khu NNCNC được hình thành cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng và ban hành pháp luật về bảo vệ môi trường Nhà kính được sử dụng khá rộng rãi để tối ưu hóa các điều kiện môi trường cho sinh trưởng của cây trồng Nông dân Nhật Bản sử dụng mạng polietylen trong canh tác để hạn chế côn trùng và cỏ dại, tiết kiệm nước tưới Hệ thống cơ giới hóa, tự động hóa được sử dụng phổ biến trong chu trình khép kín từ khâu trồng đến thu hoạch, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Sử dụng hệ thống điều chỉnh ánh sáng trong trồng trọt để làm thay đổi hàm lượng chất dinh dưỡng,…Công nghệ thông tin và công nghệ tự động hóa đã được sử dụng trong dự báo dinh dưỡng và dịch hại

Để sản xuất cây giống hiệu quả cao, các công ty Nhật Bản đã thành lập nhà máy thực vật sản xuất cây giống bằng nuôi cấy mô để cung cấp cho thị trường Hệ thống sản xuất cây con được tự động hóa Cây con chủ yếu là cây lâm nghiệp, cây rau và hoa các loại

1.4.1.2 Australia

Australia, một đất nước rộng lớn về diện tích (768 triệu ha=7.680.000 km2), rộng gấp 23 lần diện tích Việt Nam, trong đó gần 2/3 diện tích có thể canh tác (436 triệu ha) , nhưng Australia chỉ sử dụng có 46 triệu ha canh tác, gồm 18 triệu ha trồng trọt và 28 triệu ha đồng cỏ Lao động nông nghiệp của Australia chỉ có 372.900 người, mỗi người có thể nuôi được 204 người Giá trị nông sản của Australia đạt khoảng 25 tỷ

Trang 17

15

USD/năm, trong đó xuất khẩu 18-20 tỷ USD5 Để có được năng suất cao như vậy, Australia đã thành lập các Trung tâm Xuất sắc (Center of Excellence) để nghiên cứu công nghệ cao nhằm xây dựng mô hình đồng bộ từ tạo gióng cây/con đến canh tác, thu hoạch, tiếp thị Khâu quản lý sau thu hoạch và kiểm tra chất lượng do các chuyên viên thuộc các ngành nghề và cơ quan khác nhau cùng phối hợp trong một sự án Trung tâm Xuất sắc Thực hành Nông nghiệp Tốt (GAP – Good Agriculture Practice) cũng đã được nghiên cứu, tổ chức và nghiêm chỉnh thực hiện trong từng khâu của dây chuyền sản xuất và cho từng loại cây/con để đảm bảo nông sản an toàn vệ sinh, đáp ứng yêu cầu chất lượng của nhà sản xuất và tiêu thụ trong và ngoài nước

Nhờ những mô hình triển khai ở các Trung tâm Xuất sắc, ngành rau – hoa – quả

đã trở thành một ngành mũi nhọn của nông nghiệp Australia Hiện nay, hầu như toàn

bộ vành đai xanh ven các thành phố lớn hoặc vùng làng xa xôi của Australia đã sản xuất rau, hoa, quả theo công nghệ cao Năng suất cà chua đạt 500 tấn/ha/năm, dưa chuột đạt 450 tấn/ha/năm Thu nhập bình quân của nông dân trồng rau, hoa, quả đạt ½ triệu USD/5000 m2 nhà kính/năm (1triệu USD/ha nhà kính/năm)

1.4.1.3 Trung Quốc

Trung Quốc bắt đầu triển khai khu NNCNC từ năm 1994, dưới các dạng: khu trình diễn, khu khoa học công nghệ nông nghiệp, khu thị phạm nông nghiệp hiện đại…Cho đến cuối năm 2006, có khoảng 6000 các loại khu NNCNC đã được xây dựng ở Trung Quốc, trong đó có 1 khu cấp quốc gia (khu Dương Lân, TP Tây An, tỉnh Thiểm Tây); 36 khu do Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định thành lập; hơn 600 khu thị phạm khoa học nông nghiệp hiện đại cấp quốc gia và khu trình diễn phát triển khoa học công nghệ cao nông nghiệp tổng hợp, còn lại là khu do cấp tỉnh/thành phố và cấp huyện thành lập6 Trong số 6000 khu nói trên, có trên 400 khu vào loại hiện đại

Công năng của khu NNCNC

Các công năng của khu NNCNC ở Trung Quốc là đa dạng: trình diễn KH&CN nông nghiệp hiện đại, du nhập và mở rộng các giống cây/con mới, đào tạo, nâng cao nhận thức và trình độ cho nông dân, tạo phong trào (chiếm tuyệt đại bộ phận trong các khu đã có); thăm quan nghỉ ngơi, trình diễn các công nghệ cao trong nông nghiệp, triển lãm các công nghệ mới của nông nghiệp, văn hóa nông nghiệp nông thôn, tạo điều kiện cho du khách có thể tham gia vào hoạt động tác nghiệp nông nghiệp; vừa trình diễn KH&CN nông nghiệp và thăm qua, giải trí (thường được xây dựng ở những nơi thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông)

Trang 18

16

Những đóng góp

Các khu NNCNC được hình thành, một loại các kết quả KH&CN nông nghiệp thích hợp, tiên tiến đã được ứng dụng trong khu và đã trở thành hạt nhân quan trọng trong áp dụng rộng rãi công nghệ và kỹ thuật nông nghiệp mới, góp phần chuyển hóa các kết quả KH&CN vào phát triển kinh tế Thông qua việc xây dựng khu NNCNC tập trung, thực hiện trình diễn những kỹ thuật mới, giống mới, sản phẩm mới phù hợp với điều kiện của địa phương, làm cho nông dân có thể nhìn thấy tận mắt các thành quả đã được ứng dụng và từ đó tự nguyện bắt chước

Mặt khác, ở Trung Quốc, nông sản vẫn là sản phẩm của từng hộ, từng nhà, nên việc thực hiện sản xuất theo tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm là khó khống chế và đảm bảo, khiến cho chất lượng hàng nông sản còn có khoảng cách xa so với yêu cầu của thị trường Thông qua việc hình thành các khu NNCNC, sử dụng biện pháp thâm canh tập trung, quy mô hóa, lấy khu NNCNC làm đầu tầu, các cơ sở sản xuất và hộ nông dân làm vệ tinh, việc khống chế và nâng cao chất lượng sản phẩm đã dễ dàng hơn Thu nhập từ các khu NNCNC tăng lên đáng kể, từ 40-50.000 USD/ha/năm7

Những hạn chế

Về góc độ hiệu quả kinh tế, nhiều khu NNCNC chưa đem lại hiệu quả kinh tế cao, thậm trí có khu còn bị lỗ do: (1) dự án được lựa chọn không hợp lý, các sản phẩm vượt quá khả năng tiêu dùng của khách hàng; (2) giá cả của sản phẩm và đẳng cấp thiết bị quá cao; (3) một số khu còn mang dấu ấn của kinh tế bao cấp, ỷ lại Chính phủ quá nhiều;

Về góc độ trình diễn và hiệu quả của trình diễn, mục tiêu của trình diễn là để nông dân học hỏi và làm theo Một số khu mà Chính phủ đầu tư còn mạng nặng tính hành chính, nặng về hình thức, chưa chú ý hiệu quả

Về góc độ cơ chế quản lý, việc quản lý vận hành khu vẫn dựa trên cơ chế kinh

tế kế hoạch, thường bị can thiệp quá sâu của cấp hành chính, kinh doanh thiếu hẳn sức sống Mâu thuẫn xảy ra giữa chủ thể xây dựng và chủ thể kinh doanh Sau khi hoàn thành xây dựng, Khu NNCNC cần phải được hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, tuy nhiên thực tế vẫn áp dụng cơ chế hành chính, kế hoạch

Hướng phát triển

Việc tiếp tục hoàn thiện các khu NNCNC là hướng tất yếu ở Trung Quốc Sẽ có chuyển hướng phân bố từ vùng kinh tế phát triển sang một số vùng kinh tế kém phát triển và sẽ dần hình thành một mạng lưới khu trình diễn khoa học và công nghệ theo

7 Nguồn: TS Lê Quốc Doanh Bước đầu ứng dụng công nghệ cao trong xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp tại Vùng núi phía Bắc Kỷ yếu Hội thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr 56

Trang 19

bộ xí nghiệp, bảo đảm lợi ích của người nông dân Xí nghiệp, với tư cách là chủ thể pháp nhân, tự chủ kinh doanh, tiếp thu sự chỉ đạo của Chính phủ Các tổ chức trung gian triển khai việc tư vấn, đánh giá, bồi dưỡng, cung cấp các loại dịch vụ trung gian

về kH&CN Nông dân dùng đất đai, sức lao động, tiền vốn, vv…để góp cổ phần hoặc thông qua hình thức hợp đồng bao tiêu sản phẩm với xí nghiệp để tham gia khu, tiếp thu chỉ đạo kỹ thuật và đào tạo từ xí nghiệp Các tổ chức KH&CN thông qua việc chuyển giao công nghệ hoặc dùng công nghệ để tham gia đóng góp cổ phần hoặc lập doanh nghiệp KH&CN nhằm thúc đẩy thướng mại hóa kết quả nghiên cứu

1.4.2 Trong nước

Nước ta hiện nay năng suất trong nông nghiệp còn thấp: năng suất rau chỉ bằng 87% so với toàn trung bình trên thế giới, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch cao (20-30%, tỷ lệ giống nước ngoài sử dụng trong sản xuất rau chiếm trên 50%8 Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích nông nghiệp đang bị thu hẹp dần, do vậy việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp là xu hướng tất yếu Một số mô hình thử nghiệm

đã được triển khai tại các thành phố lớn: dự án NNCNC tại Hà Nội; Hải Phòng, Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh; Chương trình NNCNC tại Lâm Đồng; Khu sản xuất NNCNC Mộc Châu, Sơn La; và một số dự án NNCNC tại Khánh Hòa, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bạc Liêu, Bến Tre,…

Các mô hình rau an toàn (RAT) được áp dụng rộng rãi trên toàn quốc Các cơ quan nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã hoàn thiện cơ bản quy trình sản xuất RAT cho 31 chủng loại và bổ sung một số quy trình cho sản xuất rau trong điều kiện che chắn (nhà lưới, nhà màng biến quang)

Đến nay, có khoảng trên dưới 30 mô hình các khu NNCNC trên cả nước Đã có hai dự án khu nông nghiệp công nghệ cao (Hà nội và Hải Phòng) được nhập “trọn gói”

từ nhà màng, thiết bị bên trong đến kỹ thuật canh tác Qua thực tế, mô hình nhập trọn gói này rất đắt và phụ thuộc, khi đưa vào điều kiện Việt Nam còn nhiều bất cập (mưa, nắng, bão, giông, mùa vụ, tập quán tiêu thụ, bệnh dịch phát sinh, bảo dưỡng, duy tu trang thiết bị,…) Các dự án khu NNCNC dưới các tên gọi, hình thức khác nhau cũng

8 Nguồn: PGS TS Trần Khắc Thi Vấn đề ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau ở Việt Nam Kỷ yếu Hội thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr 49

Trang 20

18

đã được hình thành và bắt đầu đi vào hoạt động Chưa có nhiều mô hình đủ thời gian cho kết luận thành công hay thất bại Tuy nhiên, việc hình thành và đi vào hoạt động là

cả một quá trình, gặp nhiều khó khăn

Song cũng có khu nông nghiệp dưới dạng nông nghiệp CNC khá thành công, đó

là Khu Đa Lat Hasfarm, chuyên sản xuất hoa phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước (khoảng 40% tiêu thụ trong nước) Đây là doanh nghiệp có quy mô lớn, công nghệ hiện đại Năm 2002 đã có 22 ha nhà kính, trong đó có 10 ha nhà kính hiện đại Đến nay, doanh nghiệp đã mở rộng quy mô trên 45 ha Doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống nhà kính công nghệ cao, đào tạo đội ngũ nhân lực Doanh nghiệp cũng đã thu hút hàng chục nhà vườn của các hộ gia đình sản xuất theo quy trình công nghệ cao với thiết bị tưới tiêu hiện đại, nhà lưới, nhà kính chủ động về nhiệt độ, ánh sáng Sản lượng, doanh thu của Công ty cao gấp 20-30 lần so với cách trồng truyền thống (1 tỷ đồng/ha/năm)9

1.5 Những điều kiện cần và đủ cho hình thành và phát triển khu

NNUDCNC của Quảng Ngãi

Kinh nghiệm từ phát triển các mô hình khu NNCNC trên thế giới cho thấy, nên

có nhiều loại khu NNCNC để có chính sách đầu tư thích hợp: khu NNCNC quốc gia

có đầy đủ các chức năng cơ bản, có thể coi là Trung tâm Xuất sắc trong nông nghiệp,

do nhà nước đầu tư là chủ yếu; khu NNCNC địa phương do các tỉnh đầu tư nhằm tạo

ra môi trường để ứng dụng công nghệ cao và triển khai các mô hình trình diễn thích hợp với điều kiện của địa phương và không nhất thiết phải có đủ các chức năng cơ bản; khu NNCNC chuyên ngành mang tính thương mại do doanh nghiệp đầu tư 100% Cho dù là loại hình khu NNUDCNC nào cũng cần những điều kiện nhất định để có thể hình thành và duy trì, phát triển khu NNUDCNC Các điều kiện cần là những yếu tố bắt buộc phải có để có thể hình thành được khu NNUDCNC, còn các điều kiện đủ là những yếu tố phải có để phát triển khu sau khi hình thành

1.5.1 Những điều kiện cần

Trước hết, cần có chủ trương, ý chí của Lãnh đạo chính quyền địa phương thể hiện ở cam kết và có kế hoạch đầu tư cho hình thành và xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho khu NNUDCNC Hình thành khu NNUDCNC đòi hỏi có đầu tư ban đầu lớn vào hạ tầng kỹ thuật và thường là không thu hồi được, trong đó có đầu tư cho cơ sở nghiên cứu và phát triển và cơ sở tập huấn chuyển giao công nghệ cho nông dân Khác với lĩnh vực công nghiệp, đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật như các khu công nghiệp sẽ thu hồi lại được thông qua việc cho các doanh nghiệp thuê lại, lĩnh vực nông nghiệp cần hỗ trợ nhiều từ phía nhà nước bởi các sản phẩm khoa học và công nghệ của các tổ chức, đơn

9 Nguồn: TS Đào Xuân Thảng Xây dựng và phát triển mô hình nông nghiệp theo hướng công nghệ cao Kỷ yếu Hội thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr 43

Trang 21

19

vị trong khu thường chuyển giao cho nông dân có tính chất hỗ trợ hoặc dịch vụ phí thấp Ngay cả doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao trong khu NNUDCNC cũng cần hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật bởi lẽ nếu đưa khấu hao toàn bộ đầu tư

hạ tầng kỹ thuật vào giá thành sản phẩm sẽ khó được thị trường chấp nhận bởi người tiêu dùng sản phẩm hiện nay đa phần chưa phải đã có thu nhập đủ cao để sử dụng sản phẩm công nghệ cao hoặc chưa thật tin tưởng vào chất lượng nông phẩm để sẵn sàng chi trả với giá cao Để tạo được thương hiệu, sản phẩm nông nghiệp cần thời gian dài hơn so với các sản phẩm và dịch vụ khác

Thứ hai, cần có thị trường hiện tại và tiềm năng Như đã trình bày ở phần trên, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao chiếm lĩnh được thị trường phải có thời gian không chỉ để khẳng định chất lượng mà còn phải thuyết phục, thay đổi nhận thức về tiêu dùng của khách hàng Công nghệ cao trong nông nghiệp không chỉ đem lại năng suất cao, giống mới, đa dạng chủng loại mà quan trọng hiện nay là chất lượng và an toàn thực phẩm Khi tập quán tiêu dùng của đại bộ phận dân chúng chưa thay đổi, người dân còn quan tâm đến giá rẻ hơn là chất lượng và an toàn thực phẩm thì thị trường của nông sản CNC còn hạn hẹp trong một số đối tượng tiêu dùng Vì số lượng chưa nhiều, sản xuất quy mô chưa đủ lớn thì giá thành sẽ cao, và đây là lại là yếu tố cản trở việc mở rộng thị trường Tuy nhiên, với nhận thức về an toàn thực phẩm của người tiêu dùng được nâng cao nhờ các tác động của truyền thông và qua những biểu hiện tác hại của không đảm bảo an toàn thực phẩm đến sức khỏe, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng nông sản công nghệ cao nhiều hơn Đây chính là thị trường tiềm năng cho phát triển các khu NNUDCNC Với xu thế phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp ở Quảng Ngãi, số người tiêu dùng có thu nhập cao sẽ tăng lên, kể cả bộ phận chuyên gia và công nhân nước ngoài, vấn đề thị trường tiềm năng cho phát triển khu NNUDCNC ở Quảng Ngãi sẽ là trở thành một yếu tố thuận lợi

Thứ ba, cần có được đầu tư ban đầu thỏa đáng từ phía Nhà nước (địa phương) cho việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ của khu NNUDCNC (giao thông, điện nước, thông tin, liên lạc) Điểm nổi bật của khu NNCNC là lấy việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ, có hiệu quả giữa thành quả nghiên cứu khoa học với sản xuất ra sản phẩm

có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, mới trên cơ sở đó tạo ra mô hình trình diễn

để nhân rộng Do đó, để xây dựng khu NNCNC cần thiết phải đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng tốt, đồng bộ, trang thiết bị tiên tiến Các khoản đầu tư này, từ kinh nghiệm của thế giới và trong nước cho thấy đều cần sự hỗ trợ của nhà nước, và đây cũng chính là chính sách hỗ trợ nông nghiệp và nông dân của các chính phủ

Thứ tư, cần có nhân lực có năng lực, kinh nghiệm và tâm huyết để điều hành khu NNUDCNC Hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và nghiên cứu và phát triển trong nông nghiệp nói riêng gặp nhiều phụ thuộc vào thời tiết và điều kiện tư nhiên Ngay cả công nghệ cao trong nông nghiệp áp dụng ở nước ta hiện nay đòi hỏi

Trang 22

20

phải có nghiên cứu thích nghi, lựa chọn bước đi và công nghệ thích hợp Thực tế cho thấy, không phải các mô hình công nghệ cao của nước ngoài là có thể ứng vào Việt Nam thành công Việc điều hành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đang còn

là mới mẻ, do đó cần có người điều hành có am hiểu và trải nghiệm trong lĩnh vực ứng dụng nông nghiệp CNC và kinh nghiệm quản lý cũng như kinh doanh Hơn nữa, thường tỷ lệ sinh lời trong sản xuất nông nghiệp không cao bằng các lĩnh vực khác, nhiều rủi ro do yếu tố thời tiết và thiên nhiên tác động, môi trường làm việc không thuận lợi và hấp dẫn như một số lĩnh vực khác, do đó phải có những người có tâm huyết thì mới gắn bó với nông nghiệp và khu NNUDCNC

1.5.2 Những điều kiện đủ

Nếu những điều kiện cần là những yếu tố cần thiết để có thể hình thành được và duy trì khu NNUDCNC thì các điều kiện đủ để khu NNUDCNC có thể hoạt động và duy trì tốt, trong đó gồm cơ chế chính sách tốt để thu hút đầu tư vào khu NNUDCNC của nhà nước và tỉnh; bề dầy kinh nghiệm phát triển khuyến nông và ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật của địa phương; mối liên kết bền vững trong tiêu thụ sản phẩm của khu NNUDCNC

Thứ nhất, cần có cơ chế chính sách tốt để thu hút đầu tư vào khu NNUDCNC Sau khi hình thành và xây dựng xong hạ tầng kỹ thuật của khu NNUDCNC, việc hoạt động của khu phụ thuộc vào việc thu hút các nhà đầu tư vào khu NNUDCNC Họ mới chính là những chủ thể ứng dụng CNC, tạo ra nông phẩm CNC đưa ra thị trường Tuy nhiên, do tính chất hoạt động của lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao là thời gian để tạo lập thị trường tương đối lâu, giá trị gia tăng từ sản phẩm nông nghiệp chưa cao so với sản phẩm công nghệ cao khác, nhiều rủi ro trong sản xuất kinh doanh vì sự phụ thuộc vào thời tiết và điều kiện tự nhiên, do đó sự hấp dẫn các nhà đầu tư vào lĩnh vực NNCNC phụ thuộc rất nhiều vào chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư của chính quyền trung ương và địa phương Các chính sách thường liên quan đến hỗ trợ mặt bằng, thuê đất, ưu đãi thuế và hỗ trợ đào tạo nhân lực cũng như hỗ trợ tạo dựng thị trường thông qua các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng

về chất lượng và an toàn nông sản

Thứ hai, cần có bề dầy kinh nghiệm phát triển khuyến nông và ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật của địa phương Hiệu quả kinh tế mang lại từ khu NNCNC có thể không thấy

rõ ngay trong những năm đầu tiên triển khai mà sẽ thu được sau một thời gian Tuy nhiên, các khu NNCNC có thể mang lại những lợi ích xã hội như tạo thêm việc làm, nâng cao dân trí và có tác động tích cực tới môi trường, do sử dụng ít hơn hay quản lý tốt hơn phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật

Áp dụng công nghệ tiên tiến là một trong các yếu tố quan trọng của khu NNUDCNC Công nghệ được ứng dụng nhiều nhất phải kể đến là công nghệ sinh học

Trang 23

21

trong chọn giống và nhân giống cây trồng, vật nuôi (công nghệ gen, công nghệ nuôi cấy mô, tế báo,…); công nghệ sinh học bảo vệ thực vật bằng cách tạo ra các thuốc trừ sâu sinh học; công nghệ bảo quản bằng điều chỉnh môi trường không khí khi đóng gói (MAP); công nghệ dinh dưỡng cây trồng thông qua điều tiết dinh dưỡng, độ ẩm, nhiệt

độ và ánh sáng Loại công nghệ tiếp theo phải kể đến đó là công nghệ vật liệu: nghiên cứu sử dụng các màng che để phòng sâu, bệnh, che nắng, che mưa, màn lọc ánh sáng, giảm nhiệt, giảm tia cực tím; nghiên cứu khoáng, giá thể không đất Công nghệ thông tin được sử dụng trong điều khiển tự động độ ẩm,…Công nghệ quản lý để khai thác tối

đa những ưu thế về điều kiện hậu, đất đai của vùng cũng như điều tiết và thương mại hóa sản phẩm

Khi xây dựng khu NNCNC, các nhà khoa học và quản lý khuyến cáo rằng nên chú trọng tới mặt bằng dân trí của vùng Không phải công nghệ nào cũng áp dụng thành công nếu cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và người sản xuất không nắm vững công nghệ và những yêu cầu chuyên môn tương thích Do vậy, trước khi xây dựng khu NNCNC cần có chính sách và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực Công tác khuyến nông và tuyên truyền cũng cần phải đi trước một bước Nguồn nhân lực cần có đội ngũ quản lý cán bộ tinh thông về quản lý; cán bộ kỹ thuật chuyên sâu về công nghệ sinh học, kỹ thuật canh tác, hiểu biết về trang thiết bị máy móc, thành thạo về vi tính, biết ngoại ngữ; kỹ thuật viên và công nhân biết vận hành và sử dụng máy móc

Thứ ba, cần có mối liên kết bền vững trong tiêu thụ sản phẩm của khu NNUDCNC Nếu thị trường là yếu tố cần thiết để quyết định việc hình thành khu NNUDCNC thì tạo dựng mối liên kết trong tiêu thụ nông sản là một yếu tố quan trọng

để phát triển khu Tính chất của khu NNUDCNC nghiêng về sản xuất thử nghiệm chính vì thế rất cần tiêu thụ sản phẩm sản xuất thử nghiệm này Ngoài ra, khu NNUDCNC còn thu hút các hộ nông dân xung quanh để chuyển giao công nghệ và sản xuất sản phẩm theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật trong khu Việc này chỉ thành công khi khu NNUDCNC đồng thời hỗ trợ hoặc đảm nhận khâu tiêu thụ sản phẩm của các

hộ bởi lẽ, đa số các hộ nông dân sản xuất đang còn ở quy mô nhỏ, chưa đủ sức tìm cho mình thị trường Mặt khác, việc đảm nhận tiêu thụ sản phẩm cho họ là cũng là một điều kiện để yêu cầu các hộ tuân thủ quy trình công nghệ cũng như chất lượng sản phẩm Hơn nữa, với việc thu hút các hộ vào ứng dụng công nghệ do khu chuyển giao

sẽ tạo được lượng sản phẩm đủ lớn để chiếm lĩnh thị trường, giảm chi phí tiêu thụ Nhưng để làm được điều đó, cần thiết phải tạo được liên kết trong tiêu thụ sản phẩm giữa khu và các tổ chức thương mại trong và ngoài tỉnh Kinh nghiệm phát triển nông sản cao cấp của các tỉnh Đông Nam Bộ (được trình bày trong chương IV, Tr 90 của Báo cáo này) cho thấy, việc lập mạng lưới tiêu thụ giữa các tỉnh với TP Hồ Chí Minh, trung tâm tiêu thụ hàng nông sản, đã giúp cho việc sản xuất và tiêu thụ được ổn định

và kiểm soát tốt hơn về chất lượng hàng hóa

Trang 24

22

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Từ nghiên cứu lý thuyết trong chương này cho thấy việc xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Quảng ngãi là hết sức cần thiết, không những làm tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng và an toàn của sản phẩm nông nghiệp mà còn đem lại sự thay đổi cách nghĩ, cách làm của các hộ nông dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và dẫn đến thay đổi cơ cấu kinh tế của địa phương

Khu NNUDCNC tại Quảng Ngãi hiện nay sẽ là khu NNUDCNC cấp tỉnh, nhằm ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho đối tượng khách hàng trong và ngoài tỉnh, đồng thời tạo các mô hình trình diễn để hướng dẫn, chuyển giao công nghệ cao cho các hộ nông dân trong vùng Trung bộ và các tỉnh Tây Nguyên

Các điều kiện cần và đủ để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là: có được ý chí và quyết tâm của lãnh đạo trong việc chỉ đạo hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thể hiện qua các quyết định đầu tư cơ sở hạ tầng cho khu NNUDCNC và các chính sách khuyến khích hình thành và hoạt động của khu NNUDCNC; có thị trường hiện tại và tiềm năng tiếp nhận sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với giá thích ứng với chi phí sản xuất sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao; có được đầu tư ban đầu thỏa đáng từ phía Nhà nước (địa phương) cho việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ của khu NNUDCNC bởi xây dựng này thường có suất đầu tư lớn; có nhân lực có năng lực, kinh nghiệm và tâm huyết để vận hành khu NNUDCNC; địa điểm hình thành khu NNUDCNC đã có mức phát triển cao/bề dầy về khuyến nông, ứng dụng TBKT; địa điểm xây dựng khu NNUDCNC thuộc vùng khí hậu không quá khắc nghiệt (chuyên úng, lụt và hứng chịu bão nhiều) gây tốn kém trong đầu tư, giá thành sản phẩm vượt quá mức chấp nhận của thị trường; mối liên kết trong tiêu thụ sản phẩm của khu NNUDCNC để sau khi hình thành có thể đi vào hoạt động một cách có quy mô; chính sách thu hút đầu tư vào khu NNUDCNC từ phía địa phương là không thể thiếu cho hoạt động của khu NNUDCNC

Trang 25

23

CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 2.1 Kinh nghiệm trong và ngoài nước trong xây dựng và phát triển khu

- Khu Nông nghiệp công nghệ cao: với chức năng, nhiệm vụ và quy mô khác

nhau Các Khu NNCNC lạc Dương (Lâm Đồng), Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh, Khu NNCNC Phú Yên là những khu tập trung có quy mô từ gần 100 ha đến vài trăm ha, có các phân khu nghiên cứu, thực nghiệm, khảo nghiệm, đào tạo và sản xuất CNC Trong khi đó, khu NNCNC Hà Nội (15 ha), Hải Phòng (7 ha) có quy mô và chức năng khiêm tốn hơn, chủ yếu là tiếp nhận công nghệ, nghiên cứu tạo giống mới và quy trình sản xuất, khảo nghiệm và tập huấn chuyển giao công nghệ

Gần đây, Đồng Nai đã có quyết định thành lập Trung tâm Công nghệ sinh học với quy mô 207 ha, nằm trên địa bàn xã Xuân Đường - Huyện Cẩm Mỹ - Tỉnh Đồng Nai Trung tâm này trực thuộc Sở KH&CN Đồng Nai, có chức năng nghiên cứu CNSH, thực nghiệm chuyển giao, và sản xuất CNC, trong đó khu sản xuất chiếm khoảng 30% diện tích Mô hình này tương tự như khu NNCNC

- Các khu Nông nghiệp kỹ thuật cao như khu nông nghiệp kỹ thuật cao Hưng

Lộc (Đồng Nai), Khu NNKTC An Thái, Khu NNKTC Hiếu Liêm (Bình Dương), Khu Nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao DONAFOODS, (Đồng Nai), Khu sản xuất nông nghiệp kỹ thuật cao Cái Mơn (bến Tre) là những khu có quy mô lớn, trong đó khu sản xuất chiếm tỷ lệ diện tích lớn

- Doanh nghiệp NNCNC như Da Lat Hasfarm, trong đó có nghiên cứu tạo

giống mới hoặc thực nghiệm các giống nhập về, sản xuất CNC, sơ chế, bảo quản theo CNC Trong Khu này, sản xuất chiếm phần lớn diện tích

- Các mô hình trình diễn công nghệ cao (dưới dạng sản xuất theo GAP, IPM

hay RAT) Mô hình này khá phổ biến Các mô hình trình diễn lấy hộ làm đơn vị triển khai việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho các hộ khác trong xã thường có quy mô về đất từ 1000 m²/hộ đến khoảng 5000m²/hộ Đây là loại mô hình mở, không hàng rào Tuy nhiên, nếu cộng diện tích của các hộ tham gia mô

hình thì mức quy mô dao động từ 1000 ha đến 30.000 m² (3 ha)

Trang 26

24

2.1.1.2 Nước ngoài

Trung Quốc

- Mô hình nông nghiệp ứng dụng CNC loại hình đô thị: lấy trung tâm là các

đô thị lớn và vừa (là trung tâm KHCN và kinh tế) nhằm kết hợp thế mạnh chuyển giao KHCN với sản xuất nông phẩm giá trị cao và thu được lợi ích kinh tế cao Điển hình: Đại địa cẩm tú Bắc kinh, Tôn kiều Thượng Hải

- Mô hình Doanh nghiệp đầu tàu + nông hộ: vai trò doanh nghiệp thúc đẩy,

lôi cuốn toàn Khu và các nông hộ xung quanh cùng phát triển sản xuất Điển hình: Long khẩu Sơn Đông, Tân hưng Quảng Đông

- Mô hình Nông nghiệp Công nghiệp: Sử dụng trang thiết bị hiện đại, giống

mới là sản phẩm CNC để sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng cao Điển hình: khu nông nghiệp CNC Thuận nghĩa Bắc Kinh, Khu trình diễn KHCN nông nghiệp Thuận kiều Thượng Hải, vv

- Mô hình sản xuất nông phẩm chất lượng cao là đặc sản địa phương: Sử

dụng ưu thế khu vực, đặc thù địa phương về khí hậu đất đai Đồng thời thông qua công nghệ chế biến nông sản để gia tăng giá trị Điển hình: Sương cát của Tân Cương, Long khẩu Sơn Đông

Đài Loan

Công viên Nông nghiệp và Công nghệ sinh học Pingtung (Tầm cỡ quốc gia) thành lập vào năm 2003, nằm trong khuôn viên của hai trang trại là Hangfeng và Tashiangyin, trên diện tích 666 ha Công viên được chia làm hai khu vực: khu vực thứ nhất có diện tích 446 ha nhằm mục đích phát triển nông nghiệp công nghệ cao; khu vực thứ hai có diện tích 200 ha dùng để phát triển công nghệ chăn nuôi

2.1.2 Mục tiêu của khu NNUDCNC

Mục tiêu của các khu NNUDCNC đa dạng và khác biệt giữa các khu Mục tiêu tổng quát là phát triển tiềm lực KH&CN trong nông nghiệp, tạo sản phẩm chất lượng tốt, năng suất cao phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu sản phẩm nông nghiệp an toàn cho thị trường nội địa, tăng xuất khẩu từ nông sản

Đại đa số các khu có mục tiêu cụ thể là tạo ra sản phẩm hàng hóa chất lượng cao thông qua việc tạo giống, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến; tiến hành nghiên cứu tạo giống thông qua áp dụng công nghệ nuôi cấy mô; công nghệ gen; tiến hành đào tạo, tập huấn chuyển giao cho các đối tượng khác, chủ yếu là các hộ nông dân

- Khu NNCNC Phú Yên: có mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ

trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học trong lai tạo sản xuất giống cây trồng, vật nuôi có năng suất chất lượng cao, giúp đưa nhanh công nghệ mới, sản xuất, thu

Trang 27

25

hoạch, chế biến thông qua các mô hình gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu với sản xuất, dịch vụ; từ đó chuyển giao cho nông dân nhằm chuyển dịch nhanh cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn, góp phần tăng cường sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương

- Khu Nông Nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh có mục tiêu tạo điều kiện

và tham gia trực tiếp vào việc nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ trong các nông sản hàng hóa, dịch vụ, tạo ra giá trị gia tăng cao và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trong hội nhập khu vực và quốc tế; gây dựng tiềm lực về công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp cho vùng Đông Nam bộ và kinh tế trọng điểm phía Nam; hình thành lực lượng sản xuất hiện đại; thu hút và quy tụ các nguồn lực, năng lực công nghệ cao trong nông nghiệp; du nhập tiếp thu và thích nghi sáng tạo công nghệ cao trong và ngoài nước; tạo ra sản phẩm nông nghiệp sạch và an toàn, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao và xúc tiến kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu, thử nghiệm, trình diễn và sản xuất thử tại khu nông nghiệp công nghệ cao

- Khu Nông nghiệp CNC Lạc Dương (Lâm Đồng) có mục tiêu chuyển đổi giống vật nuôi - thủy sản vào sản xuất, thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghệ cao, góp phần tạo ra các sản phẩm đặc thù như rau, hoa, chè, cá hồi, cá tằm gắn với du lịch, dịch vụ và nghỉ dưỡng

- Dự án khu NNCNC Hà Nội có mục tiêu chung là xây dựng cơ sở ứng dụng, sản xuất giống và sản phẩm cây trồng chất lượng cao, tạo các mô hình trình diễn và chuyển giao công nghệ sản xuất rau- hoa- quả chất lượng ca,tạo nên một bước chuyển lớn trong bộ mặt nông nghiệp Thủ đô

- Khu NN CNC Hải Phòng có mục tiêu chính là sản xuất ra các sản phẩm sạch

và giống, đáp ứng nhu cầu phát triển nền nông nghiệp đô thị thành phố và từng bước chuyển giao công nghệ mới cho bà con nông dân

- Vùng sản xuất nông nghiệp CNC Mộc Châu (Sơn La) có mục tiêu là sản xuất kinh doanh rau, hoa, quả theo hướng công nghệ cao, quảng bá thương hiệu sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

2.1.3 Tiêu chí khu NNUDCNC

Tiêu chí của khu NNUDCNC khác nhau tùy theo mục tiêu và tính chất của từng khu Trong các khu hiện đang hoạt động, khu NNCNC Thành phố Hồ Chí Minh là nơi duy nhất ban hành tiêu chí bài bản, bởi khu này hoạt động như một khu CNC, có ban quản lý trực thuộc Thành phố, quy mô của khu thuộc loại lớn

Các tiêu chí của một số khu như sau:

- Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh: phải tạo ra sản phẩm chất lượng cao, công nghệ theo hướng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, cho sản phẩm sạch và có giá

Trang 28

26

trị kinh tế cao Các công nghệ cao ứng dụng trong khu là CNSH áp dụng trong sản xuất giống và trồng rau, hoa; công nghệ vật liệu mới trong sản xuất giá thể, chất giữa

ẩm, khay ươm cây giống, màng phủ nông nghiệp, màng bao trái,…; công nghệ tự động

và bán tự động trong tưới tiêu, điều tiết nhiệt độ, độ ẩm, cường độ và thời gian ánh sáng, chế độ phân bón trong nhà kính, nhà lưới; công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất, điều khiển tự động

- Khu NNKTC Bình Dương có tiêu chí là sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch, năng suất cao, có giá trị gia tăng cao, có khả năng phát triển bền vững khi nông nghiệp Việt Nam hội nhập vào nền nông nghiệp toàn cầu

- Mô hình trình diễn ứng dụng CNC của Bình Dương có tiêu chí nâng cao năng suất trong sản xuất rau; tạo ra các sản phẩm rau an toàn, bảo vệ môi trường; làm các

mô hình mẫu để tuyên truyền nhân rộng trong nông dân

2.1.4 Quy mô và cấu trúc

2.1.4.1 Quy mô

a) Trong nước

Quy mô các khu NNCNC trên cả nước rất khác nhau, dao động từ vài ha đến vài trăm ha Thường các khu NNKTC hay khu sản xuất nông nghiệp CNC có quy mô lớn cỡ hàng trăm ha Các khu NNCNC hay mô hình trình diễn CNC chỉ ở quy mô vài

ha đến 100 ha Tuy nhiên, cũng có mô hình sản xuất nông nghiệp CNC có quy mô vài chục ha

Khu có quy mô lớn là:

- Khu NNKTC của Bình Dương là 424 ha tại xã An Thái, huyện Phú Giáo Trong đó, khoảng 100ha cho nông trại lan cắt cành, cây cảnh và cây lấy lá trang trí; 150ha trồng các loại rau, nấm và hoa nhiệt đới sạch; 50ha cho nuôi trồng thủy sản; 24ha cho dịch vụ nông nghiệp và 70ha dành cho khu nghiên cứu, phát triển giống, phân bón, thuốc trừ sâu );

- Một khu khác của Bình Dương được hình thành trên cơ sở chuyển đổi công năng sử dụng 178 ha đất thu hồi từ Công ty Cổ phần Mía đường Bình Dương tọa lạc tại hai xã Lạc An, Hiếu Liêm (Tân Uyên)

- Khu Nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao DONAFOODS, Đồng Nai với quy

mô 522 ha, trên diện tích của CT TNHH 1 thành viên Thọ Vực, thuộc Công ty chế biến nông sản thực phẩm XNK Đồng Nai (DONAFOODS)

- Khu nông nghiệp áp dụng CNC Phú Yên có quy mô 460 ha, tại xã Thạnh Lâm, xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa

Trang 29

27

- Khu NNCNC Lạc Dương, Lâm Đồng có tổng diện tích quy hoạch là 699 ha, trong đó đất nông nghiệp nội vùng 388,5 ha, đất lâm nghiệp và đất khác 310,35 ha

- Khu NNKTC Hưng Lộc, trên 100 ha

- Cty TNHH Agrivina – Dalat Hasfarm có quy mô 300 ha tại Huyện

Các khu có quy mô nhỏ hơn 100 ha:

- Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh có quy mô 88 ha, đặt tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi;

- Khu NNCNC Hà Nội có quy mô 15 ha, đặt tại khuôn viên của Trung tâm kỹ thuật rau quả Hà Nội, tại Cầu Diễn (Từ Liêm)

- Khu NNCNC Hải Phòng có quy mô 7 ha, đặt tại Trung tâm Giống và Phát triển Nông – Lâm nghiệp CNC Hải Phòng tại Xã Mỹ Đức huyện An Lão

- Khu nông nghiệp công nghệ cao Mộc Châu được thiết kế quy hoạch chi tiết giai đoạn I, tổng diện tích quy hoạch sử dụng là 20,27 ha, trong đó dành 17,02 ha cho đất sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

b) Nước ngoài

Quy mô khu NNCNC ở mỗi nước là khác nhau, dưới đây là một vài loại quy

mô của khu NNCNC cấp tỉnh

Khu Thuận Nghĩa, Trung Quốc: Khu trình diễn ứng dụng nông nghiệp 3 cao (sản lượng cao, năng suất cao, chất lượng cao) với diện tích quy hoạch 1.500 ha (giai đoạn 1 là 400ha) Huyện Thuận Nghĩa đã đầu tư ban đầu 20 triệu NDT (khoảng 50 tỷ VND)

Khu nông nghiệp công nghệ cao Yasheng, tỉnh Gansu, Trung Quốc: dự án công nghiệp nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp như hoa, rau, cây cảnh, và các sản phẩm nông nghiệp cao, với diện tích là 77 acres (tương đương 30.8 ha) với số vốn đầu

tư là hơn 15 triệu USD Diện tích nhà kính ước tính là 33 acres (tương đương 13.2ha), được thiết kế và xây dựng theo công nghệ nhà kính của Tây Ban Nha, có khả năng lưu giữ năng lượng cũng như làm lạnh khá tốt Phòng thí nghiệm cũng được xây dựng khá công phu bao gồm khu cấy mô, khu thử nghiệm chuyển đổi gen, công nghệ sinh học, đất và phòng thí nghiệm giải pháp về phân bón (tổng tài sản hiện nay là 1,5 tỷ USD) 2.1.4.2 Cấu trúc chức năng

Các khu NNCNC hiện nay được thiết kế hay đã đưa vào hoạt động có dạng cấu trúc khép kín hoặc cấu trúc mở

Các khu tập trung (khép kín)

Trang 30

28

- Khu Nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao DONAFOODS là khu tập trung gồm

4 tiểu khu chức năng: Tiểu khu 1 để chăn nuôi heo siêu nạc và gà công nghiệp, Tiểu khu 2 phát triển công nghiệp chế biến nông sản, tiểu khu 3 chuyên sản xuất thực nghiệm trình diễn các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tiểu khu 4 đào tạo và huấn luyện nguồn nhân lực dự kiến đến 2015 sẽ đưa toàn bộ các tiểu khu công năng thuộc dự án vào hoạt động và diện tích sẽ là 1.400ha

- Khu NN áp dụng CNC Phú Yên có cấu trúc gồm công nghệ trồng và nuôi, liên kết từ khâu nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất, chế biến, tiêu thụ

- Dự án Khu NNCNC Hải Phòng là khu tập trung gồm Khu ươm giống lâm nghiệp (2 ha); Khu thực nghiệm CNC (5 ha), trong đó 8000m² nhà kính, 10.000 m² (1ha) nhà lưới, còn lại là diện tích sản xuất ngoài trời;

- Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh là khu khép kín, gồm 7 tiểu khu chính: Khu trung tâm hành chính; Khu thí nghiệm và trưng bầy sản phẩm; Khu nhà kính nhà lưới; Khu học tập và chuyển giao công nghệ; Khu bảo quản và chế biến; Khu Lâm sinh và cảnh quan; Khu sản xuất kêu gọi đầu tư

- Dự án Khu NNCNC Hà Nội hiện tại gồm khu nhà kính (8000 m²) để khảo nghiệm giống và sản xuất theo CNC, khu nhà thí nghiệm, nuôi cấy mô và khu trình diễn các mô hình

- Khu NNCNC Lạc Dương (Lâm Đồng) có khu sản xuất CNC, khu du lịch, khu khác

Các khu có cấu trúc dạng mở

- Cty TNHH Agrivina – Dalat Hasfarm, có 40 ha nhà kính, Khu vực nhà chế biến rộng 1,800 m² với diện tích kho lạnh là 400 m² được trang bị đầy đủ trang thiết bị

để giữ hoa ở nhiệt độ tốt nhất Các khu sản xuất ngoài trời là các vệ tinh của Công ty

- Tương lai, Khu NNCNC Hà Nội sẽ phát triển theo hướng mở: một Khu Ứng dụng công nghệ cao 10 ha tại Tây Tựu, Từ Liêm, chuyên tạo giống hoa và rau cho Tây Tựu và Đan Phượng, Khu sản xuất rau CNC 100 ha tại Đan Phượng, và các hộ trồng hoa tại Tây Tựu là các vệ tinh của Khu

- Mô hình liên tổ Tân Phú Trung, Huyện Củ Chi có 6 tổ liên kết sản xuất rau áp dụng TBKT sản xuất rau như trồng rau trong nhà lưới hở, sử dụng các chế phẩm sinh học trên rau trên quy mô 100 ha trong đó có 10ha rau ăn lá

2.1.5 Lựa chọn địa điểm

Từ kinh nghiệm của các dự án khu NNUDCNC và các khu NNUDCNC đang hoạt động cho thấy, địa điểm để xây dựng khu NNUDCNC thường hội tụ một số ưu

Trang 31

Nhiều khu NNCNC được hình thành trên cơ sở chuyển đổi mục đích sử dụng đất của các nông trường, như vậy việc đền bù dễ dàng hơn, nhanh hơn Ví dụ, Khu NNKTC Tân Uyên (Bình Dương) là chuyển đổi công năng sử dụng 178 ha đất thu hồi

từ Công ty Cổ phần Mía đường Bình Dương tọa lạc tại hai xã Lạc An, Hiếu Liêm (Tân Uyên)

2.1.6 Sản phẩm và công nghệ

2.1.6.1 Sản phẩm

Đa số các khu NNCNC tập trung vào một số nhóm sản phẩm: hoặc là trồng trọt hoặc là chăn nuôi Trồng trọt có nhóm rau, hoa, quả Chăn nuôi có chăn nuôi gia súc, gia cầm (Bình Dương), thủy sản Tuy nhiên, có một số khu là tổng hợp cả trồng trọt và chăn nuôi thủy sản, du lịch (Khu NNCNC Lạc Dương, Khu này có vị trí hết sức độc đáo, có tiềm năng du lịch lớn) hay tổng hợp cả trồng trọt và chăn nuôi (Khu NNCNC Phú Yên)

Các chủng loại rau, quả trong khu cũng được lựa chọn và tập trung vào một số loại nhất định Từ kinh nghiệm của các khu trong nước cho thấy, việc lựa chọn loại nông sản nào không hoàn toàn phụ thuộc vào thiết kế ban đầu, mà nhu cầu thị trường cần gì thì Khu sẽ tập trung vào sản xuất loại đó hoặc chọn sản phẩm độc đáo, thích hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, cụ thể:

- Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh, hoa lan cây kiểng và rau an toàn sẽ là những cây trồng chủ lực trong KNNCNC;

- Khu NNCNC Lạc Dương tập trung vào các loại nông sản như rau, hoa, chè, nuôi

cá nước lạnh (cá hồi vân, cá tằm);

- Khu NNCNC Hà Nội có sản phẩm chính là cà chua bi, cà chua quả to, dưa chuột, dưa xanh, ớt ngọt, rau ăn lá (cải chíp, cải ngọt) hoa hồng và hoa lan

- Khu NNCNC Hải Phòng tập trung vào cà chua, dưa chuột, dưa lê ngân huy, dưa kim cô nương, hoa ly, và rau ăn lá

- Khu Da Lat Hasfarm trồng các loại hoa như hoa hồng, cúc đơn, cúc chùm, cẩm chướng, lyly, đồng tiền, baby, sao tím, salem và các loại lá trang trí…với hàng trăm chủng loại

Trang 32

- Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh áp dụng công nghệ canh tác kỹ thuật cao: trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh (hydroponics), màng dinh dưỡng (deep pond & flooting board technology) và canh tác trên giá thể không đất; công nghệ trồng cây có màng phủ PE; sử dụng các hệ thống tưới phun, tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước có hệ thống điều khiển tự động hoặc bán tự động; ứng dụng chất điều hòa sinh trưởng thực vật (plant regulators) trong điều khiển cây trồng

- Khu NNCNC Hải Phòng nhập thiết bị công nghệ trọn gói của Israel (cây giống, thiết bị máy móc ) Các quy trình trồng rau sạch theo chuẩn mới đều rất nghiêm ngặt: ngay từ khi chở cây giống đã phải chuyển bằng loại xe đặc biệt, cây giống phải có màng phủ, lưới che, nhà kính, giá thể cũng được khử trùng Tất cả loại cây này đều được trồng trên các giá thể nhân tạo, không dùng đất để trồng mà dùng xỉ tro núi lửa và xơ dừa của VN nhằm đảm bảo không bị nấm bệnh, giữ được chất dinh dưỡng, độ xốp, ẩm, nhẹ, thoáng khí để phát triển Chỉ riêng hệ thống nước cũng được xử lý nhiều lần, như lọc thô, lọc tinh và qua nhiều bể xử lý để chống sâu bệnh Khi vào nhà kính, tất cả mọi người đều phải bước qua đệm khử trùng giày dép, nhằm ngăn chặn hiện tượng sâu bệnh có thể lọt vào Đặc biệt, tất cả qui trình chăm sóc từ tưới nước, bón phân, điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, thông gió, kéo rèm đều do máy vi tính tự điều khiển Trong các nhà kính đều đặt các trạm theo dõi nhỏ, từ đó bộ cảm ứng sẽ thông báo về máy tính cường độ ánh sáng, tốc

độ gió, thời tiết trong ngày Trong nhà lưới, công nghệ đơn giản hơn, sử dụng hệ thống phun thuốc, tưới tự động Rau trồng trong khu này được áp dụng quy trình IPM

- Khu công nghệ cao hơn cả là Da Lat Hasfarm Tại đây, Các công đoạn sản xuất từ vườn ươm đến trồng cây, chăm sóc, thu hoạch đều được tự động hóa, trong đó hệ thống thu hoạch tự động nhằm phòng tránh tối đa tình trạng dập cánh hoa Toàn bộ

hệ thống tưới, điều hòa nhiệt độ, độ ẩm đều được trang bị trong nhà kính Hoạt

Trang 33

- Vùng trồng rau Thủy Đường, Cát Bà, Hải Phòng, sử dụng hệ thống tưới phun công nghệ mới, công suất 500 m3/giờ đủ cho 150 ha canh tác và áp dụng quy trình IPM Vùng sản xuất Thanh Long (Bình Thuận) áp dụng GAP

2.1.7 Đầu tư

Tất cả các khu NNCNC đều được Nhà nước xây dựng một phần hoặc toàn bộ

hạ tầng kỹ thuật, trừ một số doanh nghiệp CNC (Hasfarm) Mức đầu tư cho xây dựng

hạ tầng kỹ thuật dao động từ 4 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng, bao gồm giải phóng mặt bằng, đường giao thông, điện, nước, nhà kính, lưới

- Khu NNCNC TP Hồ Chí Minh: vốn Nhà nước đầu tư (cho xây dựng cơ sở hạ tầng): 101 tỉ đồng Việt Nam (khoảng 6,312 triệu USD)

- Hà Nội đầu tư 24 tỷ xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó Thành phố Hà Nội tài trợ 12

tỷ, Công ty đầu tư 12 tỷ để xây dưng hạ tầng

- Khu NNCNC Hải Phòng Nhà nước đầu tư 22,5 tỷ đồng, rải ra trong nhiều năm Ngoài ra, Trung tâm được cấp 32 xuất lương, trong đó có cả lương cho nhân lực làm việc trong Dự án khu CNC

- Khu NNCNC Phú Yên: Dự án có tổng mức đầu tư 21, 77 tỷ đồng

- Vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Mộc Châu đầu tư 22,305 tỷ đồng

- Hasfarm Đà Lạt

2.1.8 Tiêu thụ sản phẩm

Đa số các khu NNCNC trong vài ba năm đầu thành lập đều khó khăn và lúng túng về thị trường tiêu thụ Chỉ đến khi thương hiệu nông sản của khu đó được biết đến rộng rãi tại địa phương thì việc tiêu thụ mới khả quan Kinh nghiệm của các khu cho thấy cần có chu trình khép kín từ sản xuất - sơ chế và tiêu thụ, hoặc liên kết giữa doanh nghiệp có chức năng thương mại và nhà sản xuất (chủ yếu là các hộ)

Việc chính quyền địa phương hỗ trợ xây chợ đầu mối để tiêu thụ nông phẩm CNC cũng là một yếu tố quan trọng cho thành công trong sản xuất - tiêu thu nông sản CNC Hà Nội có chợ đầu mối Vân Nội Các nước có chợ nông sản hàng trăm ha

Trang 34

32

Xuất khẩu là hướng tiêu thụ đem lại lợi nhuận cao cho nông sản CNC như hoa Hasfarm (60% sản lượng hoa cho xuất khẩu), thanh long Bình Thuận xuất khẩu sang Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc, Châu Âu, Mỹ Tuy nhiên để xuất khẩu được, phải

áp dụng CNC đồng bộ các khâu sản xuất - vận chuyển- sơ chế - bảo quản và phải đạt tiêu chuẩn GAP (đối với rau, quả, động vật)

Giá cả của sản phẩm cũng là một yếu tốt quan trọng trong tiêu thụ Các nông sản CNC sản xuất trong nhà kính có giá bình quân gấp 1,5 đến 2 lần so với sản phẩm sản xuất truyền thống khác Riêng rau ăn lá sản xuất trong nhà lưới có giá cao hơn 30% Các loại hoa sản xuất đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Nhật Bản, Australia, Mỹ có giá cao hơn đến 4 lần giá trong nước, tuy nhiên chi phí cũng cao hơn nhiều

Phần lớn sản lượng nông sản CNC hiện được tiêu thụ nội địa, trừ hoa Đà Lạt xuất khẩu lớn Thị trường nội địa vẫn là định hướng chính của các khu NNCNC, bởi nhu cầu còn lớn chưa đáp ứng được (TPHCM mới đáp ứng khoảng 30% RAT)

2.1.9 Quản lý chất lượng sản phẩm

Quản lý chất lượng sản phẩm là một khâu quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quản lý tốt mới đảm bảo thương hiệu sản phẩm trên thị trường và qua đó mới tiêu thụ với giá cao hơn các sản phẩm thông thường khác

Kinh nghiệm của Đà Lạt: Hiện tại Sở Nông nghiệp Lâm Đồng thực hiện kiểm tra chất lượng rau và đồng thời cấp giấy chứng nhận rau an toàn cho các hộ, cá nhân sản xuất rau tại Đà Lạt bằng việc cử cán bộ Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh Lâm Đồng kiểm tra chất lượng rau bằng Testkit tại các chủ vựa Sau khi kiểm tra xong, nếu phát hiện dư lượng thuốc BVT, cán bộ Chi cục BVTV sẽ thông báo đến chủ vựa biết sản phẩm nào không đạt chất lượng, đến lượt mình, các chủ vựa biết được hộ nông dân nào sản xuất rau có dư lượng thuốc BVTV để có hướng khuyến cáo

Kinh nghiệm Hải Phòng cho thấy, Trung tâm Giống và Phát triển nông lâm nghiệp CNC, nơi có Khu NNCNC, trực tiếp giám sát chất lượng sản phẩm bằng cách giám sát từ khâu sản xuất xem có thực hiện đúng quy trình IPM mà Trung tâm đã hướng dẫn chưa, đồng thời đưa các mẫu rau đến Chi cục BVTV Hải Phòng hoặc các viện lớn để xét nghiệm các chỉ số

2.1.10 Quản lý khu

Đa số các khu NNCNC hoạt động dưới dạng đơn vị sự nghiệp có thu, được Nhà nước (chính quyền địa phương) đầu tư xây dựng hạ tầng, đưa ra một số chính sách khuyến khích thu hút đầu tư

Trang 35

33

- Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện dự án xây dựng Khu Nông nghiệp Công nghệ cao theo mục tiêu dự

án và quy định của pháp luật Ban Quản lý chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

- Ban quản lý dự án Khu NNADCNC Phú Yên trực thuộc Sở KH&CN, chỉ có chức năng giúp sở KH-CN thực hiện công tác quản lý đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu nông nghiệp, không có thẩm quyền và chức năng như mô hình của Ban quản lý khu công nghiệp

- Quản lý Khu NNCNC Hà nội là Công ty TNHH một thành viên HADICO, cụ thể hơn là Khu NNCNC do Phòng Thí nghiệm của HADICO trực tiếp quản lý, điều hành, hoạt động như một đơn vị sự nghiệp có thu

- Khu NNCNC Hải Phòng do Trung tâm Giống và Phát triển Nông - Lâm Nghiệp CNC trực tiếp quản lý, điều hành Trung tâm này là đơn vị sự nghiệp có thu

- Trung tâm CNSH của Đồng Nai trực thuộc Sở KH&CN, Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu

2.2 Bài học rút ra cho Quảng Ngãi từ kinh nghiệm trong và ngoài nước

2.2.1 Lựa chọn mô hình, địa điểm thích hợp với điều kiện của địa phương

Mô hình của NNCNC trong nhà kính với đầy đủ thiết bị như Da Lat Hasfarm kèm theo các công đoạn khác được tự động hóa và đảm bảo đồng bộ của quy trình sản xuất CNC là mô hình hiện đại, cho năng suất cao, chất lượng tốt và sản phẩm đáp ứng được yêu cầu đối với khách hàng cao cấp, đem lại lợi nhuận cao Tuy nhiên, để có được mô hình này đòi hỏi đầu tư lớn, có được khách hàng cao cấp, có đội ngũ nhân lực gồm cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề Mặt khác, khí hậu nóng, ẩm gây chi phí sản xuất trong nhà kính rất cao và chưa thật sự thành công về điều tiết độ ẩm cũng như hạn chế được những khuẩn phát sinh trong điều kiện thời tiết ẩm Để giảm chi phí và đảm bảo đồng bộ, mô hình này cần quy mô lớn (vài chục ha nhà kính) Điều này không khả thi với Quảng Ngãi Có chăng đi nữa cũng chưa phải là giai đoạn này

Các mô hình đều bắt đầu từ quy mô nhỏ, qua thời gian thăm dò thị trường, thử công nghệ thành công mới mở ra quy mô rộng Nhiều khu NNCNC quy mô lớn, sau nhiều năm kể từ khi có quyết định thành lập mới xong được khâu giải phóng mặt bằng, chưa nói là thu hút doanh nghiệp vào đầu tư Chẳng hạn, Khu NNCNC Lạc Dương có quyết định thành lập từ năm 2004, đến năm 2007 vẫn chưa hoàn thành hết đền bù, giải tỏa Khu NNCNC TP HCM có quyết định từ năm 2003, đến 2004 chuyển địa điểm, nhưng đến 2007 vẫn chưa xong giải phóng mặt bằng Khu NNKTC Hưng Lộc từ nhiều năm nay chưa hoạt động được

Trang 36

34

Các mô hình phổ biến là ngoài khu nhà kính thì mô hình nhà lưới là thích hợp với điều kiện của các địa phương Tuy nhiên không thể áp dụng công nghệ nguyên bản nhà kính của Isreal Về mặt kỹ thuật không có hạn chế, khó khăn nhưng có nhiều điểm không thích hợp với điều kiện của VN Thứ nhất, giá thành linh kiện thiết bị cao, giá vật tư (giống mang từ Isreal sang) giá điện hiện nay nếu khấu hao vào sản phẩm thì giá thành sẽ rất cao, ngoài sức chịu của thị trường Hơn nữa, một số điều kiện khí hậu của Việt Nam cũng không như của Isareal: như độ ẩm cao dễ gây khuẩn Để xử lý các vấn

đề do độ ẩm gây ra chi phí lại tăng lên nữa

Sản phẩm nông nghiệp sẽ đạt giá cao trên thị trường nếu trồng trái vụ Tuy nhiên, sử dụng nhà kính để trồng trái vụ chưa thành công tại các tiểu vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều loại rau quả đặc sản như ớt ngọt, lơ, bắp cải, vì xử lý nhiệt độ đòi hỏi chi phí cao Về mặt chi phí, giá thành, nhà kính chỉ có thể áp dụng để trồng loại cây ‘vua” , có giá trên thị trường cao

Kinh nghiệm cho thấy, mô hình nhà lưới có nhiều thuận lợi, chi phí chịu được

và áp dụng cho các loại RAT Trong điều kiện tuân thủ quy trình IPM cho từng sản phẩm, trồng rau quả trong nhà lưới vẫn đảm bảo được các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và cho năng suất cao hơn trồng trong điều kiện bình thường khác Vẫn có thể sử dụng giá thể để tiết kiệm đất

Trong từng mô hình, phần sản xuất vẫn chiếm diện tích lớn, còn khu nghiên cứu, đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ Tuy nhiên, chi phí hay đầu tư cho nghiên cứu có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động của khu Với các mô hình trong nước như hiện nay, khu NNUDCNC thực chất là khu sản xuất NNCNC Nghiên cứu tại các nơi này đều gắn với sản xuất Nhà nước nên hỗ trợ hạ tầng và một phần cho nghiên cứu

Lựa chọn địa điểm thường được xem xét về nguồn lực: các cơ sở R&D, quỹ đất, khả năng tích tụ đất, khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng,…Đối với địa điểm cho doanh nghiệp đầu tư, việc lựa chọn địa điểm, xác định sản phẩm chủ yếu, định hướng thị trường và cơ chế quản lý đều xoay quanh hiệu quả kinh tế để thiết kế và bố cục của khu, nhấn mạnh nguyên tắc tính kinh doanh hiện đại và ưu tiên hiệu quả kinh tế

2.2.2 Quy hoạch và lộ trình xây dựng và phát triển các khu NNUDCNC

Thường các tỉnh có quy hoạch phát triển khu NNUDCNC dưới các loại hình khác nhau (Bình Dương: 2 khu NNKTC và 5 mô hình; Hải Phòng 2 khu: 1 khu NNCNC, 1 khu sản xuất CNC; Đồng Nai: 2 khu NNKTC, 1 trung tâm CNSH và một

số mô hình trình diễn; Lâm Đồng: 1 khu NNCNC quy mô lớn, các doanh nghiệp CNC

và các cụm sản xuất RAT; Hà Nội: Khu NNCNC, các cụm sản xuất RAT; TP HCM: 1 khu NNCNC và các điểm sản xuất RAT, sản xuất hoa ứng dụng CNC,…) Quy hoạch

là một yếu tố quan trọng, nhất là tạo quỹ đất cho khu NNCNC

Trang 37

35

Ban đầu chỉ nên tập trung đầu tư vào 1 khu CNC (trừ trường hợp doanh nghiệp đầu tư), bởi yếu tố nguồn lực và kinh nghiệm trong công nghệ cũng như thị trường Kinh nghiệm của Trung Quốc, lộ trình xây dựng Khu NNCNC chia 2 giai đoạn: giai đoạn khởi động và giai đoạn triển khai ra diện rộng Giai đoạn khởi động khoảng 3-5 năm Nhà nước chọn một số viện có tiềm năng về KH&CN, đất đai và một số doanh nghiệp mạnh cùng với địa phương thống nhất về mục tiêu, phương thức đầu tư, quy hoạch, giải phóng mặt bằng; nhà nước hỗ trợ xây dựng CSHT Giai đoạn triển khai ra diện rộng: kêu gọi đầu tư

2.2.3 Mức đầu tư

Mức đầu tư hiện nay có khác nhau giữa các khu NNUDCNC Tuy nhiên, đối với các khu do địa phương thành lập, mức đầu tư từ ngân sách nhà nước xoay quanh

20 tỷ đồng cho xây dựng cơ sở vật chất của khu và một phần hoạt động (vồn lưu động

để mua vật tư, đào tạo,…) Dự án khu NNCNC Hà nội: 24 tỷ đồng (12 tỷ của Công ty); Khu NNCNC Hải Phòng: 21 tỷ, Vùng NNCNC Mộc Châu: 21 tỷ, Khu NNCNC Lạc Dương Đối với Khu NNCNC TPHCM và Da lat Hasfarm, mức đầu tư trên 100 tỷ đồng

Để có công nghệ cao thực sự thì mức đầu tư cao và suất đầu tư trên 1m² cao: Hasfarm 1000 USD/1m² nhà kính; Hà Nội: 24 tỷ/8000m² nhà kính (kể cả hạ tầng khác), Hải Phòng: 10 tỷ/ 8.000 m² nhà kính Nhà lưới thì mức đầu tư thấp hơn nhiều: khoảng 100.000 đồng/1m² (chưa tính chi phí hạ tầng khác)

Như vậy, tùy theo khả năng đầu tư tài chính để lựa chọn loại và mức độ cao của công nghệ

2.2.4 Vai trò của Nhà nước và doanh nghiệp

Nhà nước phải hỗ trợ đầu tư ban đầu về cơ sở hạ tầng, quản lý Để xây dựng và phát triển khu sản xuất NNUD CNC dựa vào các giống tạo ra từ công nghệ cao (công nghệ sinh học: gen, nuôi cấy mô) cũng như công nghệ nuôi/trồng tiên tiến hay theo quy trình công nghệ hiện đại, Nhà nước cần phải đầu tư trong giai đoạn đầu như Trung Quốc đã và đang làm: Nhà nước đầu tư, Nhà nước quản lý, sau khi có kết quả tốt thì mới chuyển sang cho doanh nghiệp quản lý, và khi đã có sản phẩm được tạo ra trên thị trường thì doanh nghiệp sẽ đầu tư và doanh nghiệp quản lý

Cho đến nay, chỉ những nơi có doanh nghiệp có vốn FDI mới đủ tiềm lực để sản xuất NNCNC (cả tài chính, con người và đầu ra của sản phẩm) Tuy nhiên, các FDI này lựa chọn lợi thế rất kỹ như điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, giao thông, chính sách của Tỉnh, nhân lực của địa phương (kinh nghiệm, kỹ năng, tính cần cù, sự học hỏi) So với các lĩnh vực khác, FDI trong nông nghiệp còn khiêm tốn, mới chỉ tập trung ở các tỉnh trọng điểm phía Nam và phía Bắc, Đà Lạt

Trang 38

36

Những nguyên nhân hạn chế thu hút FDI:

Chất lượng lao động nông nghiệp thấp, trình độ quản lý cũng như khả năng tiếp thu vận dụng tiến bộ kỹ thuật còn yếu Vì vậy, để sử dụng được nguồn nhân lực, các nhà đầu tư buộc phải mất thêm khoản phí đào tạo, thuê chuyên gia chuyển giao công nghệ cho người lao động Việc sản xuất manh mún nhỏ lẻ, mô hình liên kết ba nhà (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) yếu đã làm nản lòng các nhà đầu tư Đó

là chưa kể đến việc thiếu điện phục vụ sản xuất, hệ thống giao thông khó khăn, đẩy phí vận chuyển nguyên vật liệu nông sản hàng hóa lên cao10 Mặt khác, đầu tư vào lĩnh vực này có hệ số sinh lời thấp hơn so với các lĩnh vực, ngành nghề khác Một tính toán cho thấy, đầu tư vào lĩnh vực trồng rừng, chế biến nông sản thì một đồng vốn bỏ ra khó có thể thu về được 0, 2 đồng tiền lời"11

2.2.5 Quy mô thích hợp

Quy mô của khu NNUDCNC phải vài chục ha để nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất đối với rau ăn; phải vài trăm ha đối với khu sản xuất chuyên canh một loại nông sản (ví dụ: chuyên rau; quả; hoa) Tỷ suất đầu tư cho xây dựng hạ tầng của khu sẽ rất cao nếu diện tích nhỏ Mặt khác, Quy mô nhỏ sẽ không tạo ra được nguồn hàng ổn định cung cấp cho các đơn đặt hàng lớn và cố định

Với quy mô lớn mới có thể thu hút FDI hay doanh nghiệp lớn đầu tư Doanh nghiệp mới là chủ lực trong sản xuất NNCNC, còn các hộ sản xuất sẽ là vệ tinh, là nguồn cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp tiêu thụ Doanh nghiệp mới là chỗ dựa để tạo sản phẩm mới, công nghệ mới và tạo thương hiệu sản phẩm Kinh nghiệm các mô hình cho thấy, doanh nghiệp lớn đầu tư cho nghiên cứu công nghệ, chọn giống là hiệu quả vì lợi ích gắn với sản xuất và tiêu thụ

2.2.6 Sản phẩm lựa chọn cho Khu NNUDCNC

Khu NNUDCNC thường tập trung vào một số ngành/sản phẩm chính, phổ biến

là một khu chỉ tập trung vào trồng trọt hay chăn nuôi, có rất ít khu tập trung cả trồng trọt và chăn nuôi

Việc chọn sản phẩm nào không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên mà chính là thị trường Thị trường cần gì, sản phẩm nào đem lại hiệu quả cao thì nhà đầu tư trong khu

sẽ chọn loại sản phẩm đó Việc lựa chọn sản phẩm chủ lực cũng phải trải nghiệm một thời gian mới có thể khẳng định được

10 Cụ thể xem: Nguyễn Xuân Trung, Phó Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bài trả lời phỏng vấn phóng viên đăng trên http://sanmuabandoanhnghiep.com/news.php?do=detail&id=9978

11 Cụ thể xem: http://www.doisongphapluat.com.vn/Story/kinhdoanhphapluat/2009/2/11653.html

Trang 39

37

Khi quy hoạch, các nhà chuyên môn hay quản lý chỉ dừng ở việc quy hoạch nhóm sản phẩm lớn, mà không đi vào chi tiết là loại sản phẩm nào Ví dụ, Khu Lạc Dương, quy hoạch chỉ nêu sản phẩm chủ lực là rau, hoa và thủy sản Còn loại rau gì, hoa gì, con gì là do doanh nghiệp đầu tư tự xác định dựa trên nhu cầu thị trường và khả năng về công nghệ của doanh nghiệp

2.2.7 Yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu và hạ tầng

Vị trí để xây dựng khu NN UDCNC phải tính đến yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, hạ tầng (nguồn nước, giao thông) và điều kiện xã hội thích hợp Mặc dù ứng dụng công nghệ cao có thể không dùng đến đất mà sử dụng giá thể song khí hậu là yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất CNC Thị trường nội địa hiện nay chưa chấp nhận giá cao nếu sản xuất hoàn toàn trong nhà kính theo CNC Tỷ lệ diện tích trồng trong nhà lưới, trồng ngoài trời có màng phủ là cao trong các khu NNUDCNC Như vậy, điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút nhà đầu tư Đà Lạt, Mộc Châu là nơi có điều kiện thuận lợi về khí hậu, thổ nhưỡng cho những sản phẩm xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển, do đó cũng thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài

Đa số các khu NNUDCNC là tập trung và có quy mô lớn đều là quy hoạch chuyển đất từ nông trường hoặc đất công khác Như vậy sẽ thuận lợi cho việc giải phóng mặt bằng và đền bù

2.2.8 Yếu tố thị trường

Thị trường là khó khăn lớn nhất trong áp dụng công nghệ tiên tiến Công nghệ tiên tiến trong sản xuất rau quả đó là đem lại chất lượng RAT với năng suất cao, nhưng giá thành cũng cao hơn Một số khu NNUDCNC khi thiết kế chưa tính đến khả năng tiêu thụ, do đó gặp nhiều lúng túng, phải mất thời gian mới định hướng được sản phẩm

và thị trường

Một kinh nghiệm mà các khu đang hoạt động đã đúc rút ra cho mình là cần xây dựng quy trình khép kín từ sản xuất – sơ chế - tiêu thụ Sẽ không thành công khi công nghệ sản xuất tiên tiến được áp dụng nhưng không có sơ chế bảo quản để đảm bảo chất lượng RAT và không có đầu ra trên thị trường Lượng sản xuất bao nhiêu phải được cân đối với khả năng tiêu thụ và khả năng sơ chế, bảo quản Việc lựa chọn công nghệ bảo quản tùy theo loại nông sản, nhưng nếu sản phẩm bán giá không cao trên thị trường thì không thể áp dụng điều hòa để bảo quản, bởi giá thành sẽ rất cao Mặt khác, các loại rau/quả nhiệt đới thường được tiêu thụ tươi, trong ngày Chỉ một số loại có thể

để được lâu (cà chua, dưa chuột, khoai tây, dưa) các loại rau ăn lá thường phải được tiêu thụ trong ngày

Trang 40

38

2.2.9 Xây dựng thương hiệu theo vùng

Rau quả nói riêng, nông sản thực phẩm nói chung cần được xây dựng thương hiệu theo Vùng bởi có được thương hiệu thì phải dựa vào chất đất, khí hậu, con người

có nghề hay chuyên canh về hàng đó Ví dụ, nói đến cải xanh là thương hiệu cải Mơ (một vùng ngoại ô Hà Nội), cải bẹ Đông Dư; Bắp cải Phù Đổng; dưa Đăm; Hoa Đà Lạt, ớt Đà Lạt, Bưởi Diễn,…Do đó lựa chọn cây gì cần phải tính đến các yếu tố này và quy mô cũng phải đủ lớn để tạo thương hiệu Kinh nghiệm cho thấy quy mô của vùng

sản xuất, ứng dụng phải vài trăm ha mới đủ tạo một cây, quả có thương hiệu Sản

phẩm này có thể phát triển từ sản phẩm truyền thống, nhưng cũng có thể tạo giống mới, nhưng cần có chuyên canh

2.2.10 Chính sách của địa phương

Các chính sách của chính quyền địa phương có tác động lớn đế hình thành và hoạt động của Khu, mà trước hết là chủ trương phát triển NNUDCNC được cụ thể hóa bằng quy hoạch vùng đất, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách tín dụng và đặc biệt là thủ tục hành chính Một trong những lý do chính mà Ông Thomas Toofs (TGĐ

Đa Lat Hasfarm) chọn Đà Lạt để đầu tư CNC sản xuất hoa đó là sự ủng hộ của chính quyền địa phương Sau nhiều năm tìm kiếm tại châu Á, đặc biệt là các nước ASEAN, Ông TGĐ Da Lat Hasfarm này đã chọn chính Đà Lạt để đầu tư 15 năm nay trong lĩnh vực trồng hoa

Trong các chính sách, thì việc giải phóng mặt bằng và giải ngân số đầu tư cho xây dựng hạ tầng thường hay kéo dài, chậm, dễ làm nản lòng nhà đầu tư Kinh nghiệm cho thấy cần có vai trò của doanh nghiệp, nếu một mình Nhà nước sẽ thất bại

2.2.11 Người quản lý tâm huyết, năng lực và chú ý đào tạo nhân lực

Năng suất, thu nhập trong lĩnh vực nông nghiệp cho dù là áp dụng CNC vẫn chưa đạt mức cạnh tranh với một số lĩnh vực khác, hơn nữa lại nhiểu rủi ro do thời tiết, thị trường Nếu không có những con người nhiệt tình, gắn bó thì không thể có được thành công

Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là một lĩnh vực còn mới mẻ đòi hỏi phải có các nguồn lực, đặc biệt là lực lượng cán bộ chuyên ngành (về lĩnh vực giống, công nghệ sinh học…) và lực lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề để hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ cho nông dân, doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện nay các nguồn lực này còn thiếu và yếu Ngoài ra, trình độ kỹ thuật của nông dân vẫn còn thấp, sản xuất chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm là chính Việc đào tạo đòi hỏi phải có cán

bộ chuyên môn của từng ngành hàng cụ thể, không phải là đưa ra kỹ năng và nguyên

lý chung Ví dụ, đối với mặt hàng hoa, đòi hỏi người công nhân phải biết cách cắt hoa, vận chuyển, nhặt lá, chọn hoa, đóng gói Tất cả đều phải tuân thủ quy trình nghiêm

Ngày đăng: 25/05/2014, 10:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
43. Lê Huy Ngọ "Phát triển mô hình nông lâm nghiệp công nghệ cao", Tạp chí Hoạt động khoa học, số 4/2003, trang 2 -4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mô hình nông lâm nghiệp công nghệ cao
56. Nguyễn Thị Anh Thu. Báo cáo trường hợp phỏng vấn sâu tại Công ty TNHH MTV Đầu từ và Phát triển Nông nghiệp Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo trường hợp phỏng vấn sâu tại Công ty TNHH MTV Đầu từ và Phát triển Nông nghiệp Hà nội
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Thu
57. Nguyễn Quang Tuấn. Đánh giá tác động môi trường khu nông nghiệp ứng dụng CNC. Báo cáo chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường khu nông nghiệp ứng dụng CNC
Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Nhà XB: Báo cáo chuyên đề
9. “Leisure farms: more than a theme park” – Manila Bulletin, Author By A.Anne, Villanueva, 2005 -10-08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leisure farms: more than a theme park
11. Shanghai Feng Xian Modern Agricultural Park – 27 Nov 2007 12. Pingtung Agricultural Science Park Seeks Investors,http://investintaiwan.nat.gov.tw/en/news/200608/2006081401.html, truy cập ngày 10/02/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pingtung Agricultural Science Park Seeks Investors
13. Ramon Terricabras Maranges, The Baix Llobregat Agricultural Park (Barcelona) agriculture for the future in a high-quality periurban area, Hội thảo lần thứ hai của Châu Âu về phát triển nông thôn, Salzburg, 12 -14/11/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Baix Llobregat Agricultural Park (Barcelona) agriculture for the future in a high-quality periurban area
18. Y.L. Kao, Rents to be halved in Pingtung agricultural park, www.cna.com.tw/CNAeng/RealTimeNews/NewsDetail.aspx?... - 69k, truy cập ngày 10/02/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rents to be halved in Pingtung agricultural park
69. Tình hình phát triển nông nghiệp cao ở Việt Nam. http://www.vnast.gov.vn/default.aspx?url=Components/ArticleDetail&PanelID=459&ArticleID=2932, Cập nhật ngày 21 tháng 12 năm 2006 Link
14. The Baix Llobregat Agricultural Park (Barcelona), http://www.diba.es/parcsn/parcs/plana.asp?parc=9&m=297&o=1, truy cập ngày 10/12/2008 Link
42. Lê Hữu, Phạm Văn Sơn. Nghiên cứu định hướng các loại sản phẩm và công nghệ cây trồng, vật nuôi trong Khu NNUDCNC Quảng Ngãi. Báo cáo chuyên đề Khác
44. Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ngãi các năm: 2006, 2007, 2008 - Cục Thống kê Quảng Ngãi Khác
45. Niên giám thống kê huyện Bình Sơn năm 2005, 2006, 2007 - Phòng Thống kê huyện Bình Sơn Khác
46. Nguyễn Hồng Anh. Kinh nghiệm hình thành và hoạt động của các khu NNUDCNC ở Trung Quốc và các nước ASEAN. Báo cáo chuyên đề Khác
47. Nguyễn Thị Anh Thu. Kinh nghiệm hình thành và hoạt động của các khu nông nghiệp CNC trong nước. Báo cáo chuyên đề, Hà Nội tháng 10 năm 2008 Khác
49. Nguyễn Thị Anh Thu. Tổng quan về cơ chế chính sách phát triển các khu công nghệ cao ở Việt Nam. Báo cáo chuyên đề, Hà Nội tháng 10, 2008 Khác
50. Nguyễn Thị Anh Thu. Nghiên cứu về mối liên hệ, hợp tác của Khu NNUDCNC với các tổ chức KH&CN, sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước. Báo cáo chuyên đề, Hà Nội tháng 10, 2008 Khác
51. Nguyễn Thị Anh Thu. Nghiên cứu về mô hình tổ chức, mối quan hệ giữa các phân khu. Báo cáo chuyên đề, Hà Nội tháng 10, 2008 Khác
52. Nguyễn Thị Anh Thu. Nhu cầu về nguồn nhân lực và định hướng đào tạo. Báo cáo chuyên đề, Hà Nội tháng 4, 2009 Khác
53. Nguyễn Thị Anh Thu. Phương thức quản lý Khu NNCNC, Báo cáo chuyên đề, Hà Nội tháng 4- 2009 Khác
54. Nguyễn Thị Anh Thu. Các cơ chế, chính sách ưu đãi áp dụng cho Khu NNUDCNC. Báo cáo chuyên đề, Hà Nội tháng 4, 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 0.1. Dự báo dân số đến năm 2020 - nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại quảng ngãi.
Bảng 0.1. Dự báo dân số đến năm 2020 (Trang 48)
Bảng 0.2. Dự báo nhu cầu rau quả đến năm 2020 20 - nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại quảng ngãi.
Bảng 0.2. Dự báo nhu cầu rau quả đến năm 2020 20 (Trang 50)
Bảng 0.3. Mức tiêu dùng sản phẩm từ chăn nuôi bình quân đầu người trong cả - nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại quảng ngãi.
Bảng 0.3. Mức tiêu dùng sản phẩm từ chăn nuôi bình quân đầu người trong cả (Trang 52)
Bảng 0.1: Cơ cấu kinh phí đầu tư của trung tâm CNSH Đồng Nai - nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại quảng ngãi.
Bảng 0.1 Cơ cấu kinh phí đầu tư của trung tâm CNSH Đồng Nai (Trang 86)
Bảng 0.2: Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất của TTUDCNSH Đồng Nai - nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại quảng ngãi.
Bảng 0.2 Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất của TTUDCNSH Đồng Nai (Trang 87)
Bảng 0.4: Cơ cấu nhân lực của một số khu NNCNC, CNSH trong nước - nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại quảng ngãi.
Bảng 0.4 Cơ cấu nhân lực của một số khu NNCNC, CNSH trong nước (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w