2 – Đánh giá hệ thống chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc Hệ thống chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc bao gồm hệ thống chuy
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CHUYỂN GIAO
VÀ TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
GIAI ĐOẠN 2001-2005
THUỘC ĐỀ TÀI CẤP BỘ
“NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO TÍNH BỀN VỮNG CỦA CÔNG TÁC CHUYỂN GIAO TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC”
Chủ nhiệm đề tài: KS TRẦN ANH TUẤN
7505-2
07/9/2009
HÀ NỘI – 6/2009
Trang 2I – ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHUYỂN GIAO TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
1 – Đánh giá về kết quả chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ
Về nội dung chuyển giao TBKHCN tập trung chủ yếu trong nông nghiệp và một phần lâm nghiệp Công tác chuyển giao TBKHCN những năm qua ở vùng này
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nổi bật là các chương trình sản xuất hạt giống lúa lai F1, lúa lai thương phẩm, ngô lai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển giao
kỹ thuật với cây công nghiệp dài ngày, cải tạo vườn chè có năng suất thấp, vườn ươm chè cánh giống mới, chuyển giao kỹ thuật với cây công nghiệp ngắn ngày như trồng lạc che phủ nylon, kỹ thuật về giống và canh tác đậu tương, chuyển giao kỹ thuật trồng và thâm canh cây ăn quả, kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn, chăn nuôi lợn hướng nạc Công tác chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp đã góp phần tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng hàng hóa Do kết quả của công tác chuyển giao, nhiều nơi đã hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa ở miền núi như: chè ở Văn Chấn (Yên Bái), mận Bắc Hà (Lào Cai), ngô Mai Sơn (Sơn La)
Tuy nhiên, về nội dung chuyển giao còn một số vấn đề như: Thứ nhất, nội
dung chuyển giao tập trung chủ yếu vào trồng trọt và tập trung vào giống mới, kỹ thuật sản xuất và tổ chức sản xuất Mức đầu tư kinh phí cho giống sản phẩm mới là 60%, kỹ thuật sản xuất là 30% và tổ chức sản xuất là 10% (Báo cáo hội thảo
chuyển giao KTTB ở trung du và miền núi phía Bắc, 28/11/2002) Thứ hai, trung
du và miền núi phía Bắc là những vùng đất dốc Thế nhưng, chủ đề kỹ thuật canh
tác và quản lý đất dốc chưa được đầu tư thích đáng ở hầu hết các tỉnh Thứ ba,
TBKHCN trong chăn nuôi, quản lý sản xuất, công nghệ sau thu hoạch chưa được đầu tư thảo đáng Hầu như chưa có tỉnh nào tập trung vào chuyển giao TBKHCN
trong quản lý nông trại, trang trại và thị trường tiêu thụ Thứ tư, nội dung chuyển
Trang 3giao xuất phát chủ yếu từ bên ngoài, từ trên xuống chưa hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu của người dân và của địa phương
2 – Đánh giá hệ thống chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp ở các tỉnh
miền núi phía Bắc
Hệ thống chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc bao gồm hệ thống chuyển giao qua: 1) Khuyến nông nhà nước, 2) các viện nghiên cứu, các trường chuyên nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp xã hội như Hội làm vườn (VACVINA),…3) các chương trình dự án do các Bộ ngành tiến hành, 4) các dự án hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, 5) các doanh nghiệp, 6) cộng đồng tiến hành, 7) tư nhân tiến hành Kết quả khảo sát về hệ thống chủ yếu chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy:100% số tỉnh coi khuyến nông nhà nước là hệ thống chuyển giao chủ yếu, 60% số tỉnh coi kênh chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp qua các chương trình dự án trong nước
là chủ đạo, 40% số tỉnh đã coi chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp do các chương trình dự án của các tổ chức quốc tế đóng vai trò chủ yếu hiện nay, 26,7%
số tỉnh cho biết khuyến nông do cộng đồng tiến hành được coi là hoạt động chủ yếu ở tỉnh họ Các viện nghiên cứu mới hoạt động ở một số tỉnh (Hà Giang, Lai Châu,…) Các Viện nghiên cứu NLN miền núi phía Bắc, Viện Nghiên cứu Ngô, Viện Cây ăn quả và Viện Chăn nuôi đang thực hiện các hoạt động triển khai cùng với một số doanh nghiệp như Tổng Công ty Bông, Tổng công ty Chè Trên thực tế,
có thể tất cả các tỉnh trong vùng đều có 7 hệ thống nêu trên nhưng hoạt động của các hệ thống đó thực sự chưa nổi trội Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế mới được thừa nhận, vì vậy trên thực tế tư nhân đã làm công tác chuyển giao Nhưng
do nhìn nhận của xã hội chưa được đầy đủ nên các tỉnh ít coi trọng kênh chuyển giao này
* Hệ thống khuyến nông nhà nước
Hệ thống khuyến nông nhà nước của các tỉnh miền núi phía Bắc đều được tổ chức theo Quyết định 13/CP ngày 02/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ Hệ thống khuyến nông nhà nước bao gồm: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thuộc Bộ
Trang 4Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Trung tâm Khuyến nông tỉnh thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các huyện có Trạm Khuyến nông và một số tỉnh có hệ thống khuyến nông cấp xã
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đóng vai trò chủ đạo trong chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp (Lê Hưng Quốc, 2002) Các cơ quan khuyến nông nhà nước ở cấp Trung ương triển khai các chương trình lớn trong chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật tới các địa phương Thông qua phối hợp với trung tâm khuyến nông ở các tỉnh, hàng loạt các chương trình chuyển giao được khởi xướng và tổ chức như Chương trình giống cây trồng, lúa lai, lợn hướng nạc,…được triển khai rộng khắp
Ở cấp tỉnh, Trung tâm khuyến nông tỉnh căn cứ vào đặc điểm của địa phương mình phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai các chương trình Đến nay cả 15 tỉnh trong vùng miền núi phía Bắc đã thành lập được trung tâm khuyến nông, bình quân mỗi trung tâm khuyến nông của tỉnh có hơn 17 cán bộ
Ở cấp huyện, 15 tỉnh miền núi phía Bắc có 127 trạm khuyến nông, bình quân mỗi tỉnh có 8,5 trạm Gần 85% số huyện miền núi và trung du có trạm khuyến nông Dựa vào kinh phí ngân sách cấp, các trạm khuyến nông tổ chức tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn, soạn thảo các tài liệu phổ biến tiến bộ khoa học theo chương trình từ trên xuống Hệ thống khuyến nông nhà nước đã và đang với tới cấp xã Việc cán bộ khuyến nông về làm việc ở xã có thể có hai hình thức: khuyến nông cụm xã và cán bộ khuyến nông tăng cường về từng xã Có 4 tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai và Sơn La có hình thức tổ chức khuyến nông cụm xã Mỗi cụm xã gồm 5 – 8 xã do 2 – 3 cán bộ khuyến nông phụ trách, thực hiện các nhiệm vụ chuyển giao do trạm khuyến nông triển khai theo kế hoạch và chương trình khuyến nông Khuyến nông cụm xã chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện, thị xã thông qua trạm khuyến nông Nhiệm vụ chính của khuyến nông cụm xã là tổ chức vận đồng xây dựng phát triển các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư trên địa bàn xã Khuyến nông cụm xã còn có nhiệm vụ xây dựng mạng lưới khuyến nông cộng đồng, các cụm dân cư, nhóm ngành nghề,
Trang 5bồi dưỡng đào tạo cán bộ khuyến nông, triển khai các hoạt động khuyến nông và khuyến lâm bằng điểm trình diễn, duy trì chế độ báo cáo tình hình khuyến nông, đánh giá các hoạt động khuyến nông và khuyến lâm ở xã, dịch vụ đầu vào cho nông dân (Trung tâm Khuyến nông Sơn La, 2005)
Hình thức thứ hai là cử cán bộ tăng cường, chuyên trách chỉ đạo công tác khuyến nông ở từng xã Các cán bộ khuyến nông này là công chức nhà nước làm nhiệm vụ chuyển giao TBKHCN ở địa bàn xã Các xã được tăng cường cán bộ khuyến nông này là những xã vùng sâu vùng xa Các khuyến nông viên nhà nước làm việc tại xã thực hiện triển khai các hoạt động khuyến nông trên địa bàn xã mình phụ trách Mỗi xã có một cán bộ khuyến nông hoạt động Ở các tỉnh như Sơn
La, Cao Bằng, mạng lưới khuyến nông nhà nước tới cấp xã theo hình thức cụm
xã hay cán bộ tăng cường về xã còn rất mỏng Ví dụ, một số xã có khuyến nông hoạt động tại Yên Bái là 38,8%, Hòa Bình 46,7% và Cao Bằng là 49,2% Thực trạng này đã ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình ứng dụng TBKHCN vào nông nghiệp và nâng cao năng suất nông nghiệp Sự kết hợp giữa trạm khuyến nông với khuyến nông cơ sở được thể hiện chủ yếu ở một số dạng sau:
- Kiểu tổ chức 1: Trạm khuyến nông gắn với cán bộ khuyến nông hợp đồng Cán bộ khuyến nông hợp đồng ở cơ sở thường là 1 người ở cấp xã và 1 người ở cấp thôn bản Cán bộ khuyến nông hợp đồng được trả lương theo ngân sách từ trạm khuyến nông Mô hình này rất phổ biến ở các tỉnh: Sơn La, Phú Thọ,
- Kiểu tổ chức 2: Trạm khuyến nông kết hợp chặt chẽ với khuyến nông tình nguyện Dưới các trạm khuyến nông huyện, có các cụm xã, các bộ khuyến nông cụm xã ký hợp đồng với trạm khuyến nông huyện và triển khai các hoạt động khuyến nông tới các tổ chức khuyến nông tình nguyện như nhóm nông dân cùng sở thích, câu lạc bộ khuyến nông, hay cán bộ khuyến nông do xã trả công
- Kiểu tổ chức 3: Trạm khuyến nông huyện liên kết với các tổ chức tình nguyện và các tổ chức xã hội như CLB quản lý tổng hợp dịch hại (IPM), CLB khuyến nông
Trang 6- Kiểu tổ chức 4: Tổ chức khuyến nông chưa có mạng lưới chân rết tới cấp
xã Trạm khuyến nông huyện, trực tiếp làm việc với cán bộ xã, thôn, bản, tổ chức quần chúng và một số nông dân điển hình để chuyển giao TBKHCN
* Hệ thống khuyến nông cơ sở và cộng đồng
Khuyến nông cơ sở là tổ chức khuyến nông do địa phương tổ chức ra, thực hiện nhiệm vụ chuyển giao TBKHCN ở xã, thôn và bản Khuyến nông viên tham gia đội ngũ khuyến nông cơ sở không phải là công chức nhà nước, do dân bầu và một số nơi như Hà Giang khuyến nông cơ sở là do dân trả lương Cả vùng MNPB
có 1.019 xã có khuyến nông cơ sở (chiếm 36,1%) Tỷ lệ này cao nhất ở Hà Giang,
tỷ lệ này còn thấp ở Quảng Ninh, Hòa Bình Hiện nay có những hình thức khuyến nông cơ sở sau: HTX làm dịch vụ khuyến nông, CLB khuyến nông, làng khuyến nông tự quản, chi hội khuyến nông, khuyến nông doanh nghiệp, tuy nhiên hình thức tổ chức phổ biến nhất là khuyến nông cơ sở là câu lạc bộ khuyến nông
Các tổ chức khuyến nông cộng đồng thường kết hợp với các cơ quan khuyến nông nhà nước, viện, trường và các dự án để thực hiện các hoạt động chuyển giao TBKHCN tới nông dân – những thành viên của các tổ chức đó Vai trò của các tổ chức này là tiếp thu TBKHCN, vận động và tổ chức các thành viên trong cộng đồng tham gia vào quá trình chuyển giao như thực hiện các hoạt động về chương trình, dự án Những tổ chức xã hội này coi việc chuyển giao TBKHCN là việc lồng ghép các hoạt động khác của họ Mặc dù hình thức khuyến nông cơ sở rất đa dạng nhưng theo bản chất có thể phân hình thức tổ chức khuyến nông này thành 2 nhóm: khuyến nông cộng đồng mà nòng cốt là CLB khuyến nông và khuyến nông chuyên nghiệp cấp xã
Hệ thống chuyển giao do cộng đồng tiến hành có một số ưu điểm: cần ít vốn, phù hợp với trình độ, điều kiện và nhu cầu của dân; xã hội hóa được công tác khuyến nông, phối hợp với các đoàn thể làm công tác khuyến nông; phát huy sự tham gia của dân trong xác định nhu cầu, kỹ thuật chuyển giao, tổ chức chuyển giao, đóng góp nguồn lực; trách nhiệm của cán bộ chuyển giao gắn kết với kết quả chuyển giao; nông dân tiếp thu được TBKHCN nên năng suất cây trồng vật nuôi tăng Tuy nhiên,
Trang 7khuyến nông cộng đồng cũng có một số điểm cần hoàn thiện: Hiện nay chưa có cơ chế chính sách thống nhất cho khuyến nông viên cơ sở, nhất là khuyến nông viên cộng đồng; cán bộ khuyến nông cộng đồng thường ít được đào tạo một cách chính thống Đôi khi họ là những nông dân do dân bầu ra nên thiếu kiến thức và kỹ năng chuyển giao; Những xã nghèo, khó khăn, thiếu vốn đầu tư hoạt động ban đầu
* Hệ thống chuyển giao của các viện nghiên cứu và các trường chuyên nghiệp
Kết quả nghiên cứu của các viện và các trường được chuyển giao cho nông dân thông qua tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn Hiện nay có hơn 11 viện nghiên cứu nông nghiệp, các trung tâm nghiên cứu khoa học, 3 trường đại học nông nghiệp và dạy nghề đã tiến hành chuyển giao các kết quả nghiên cứu tới vùng MNPB Nhiều viện có kết quả chuyển giao TBKHCN thành công là: Viện Nghiên cứu ngô, Viện KHNN Việt Nam, Viện Chăn nuôi, tạo ra sự chuyển biến đáng kể trong chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp ở các tỉnh MNPB Hệ thống chuyển giao do các viện nghiên cứu tiến hành có ưu điểm: TBKHCN được chuyển giao là những kỹ thuật mới, có tính khoa học cao, tạo ra đột phá trong phát triển nông nghiệp, góp phần giải quyết an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo
Tuy nhiên hệ thống chuyển giao của các trường và viện cũng bộc lộ một số hạn chế sau:
- Hệ thống tổ chức chuyển giao chưa đồng bộ, các viện và trường thiếu trung tâm vùng, tiểu vùng để thử nghiệm các kết quả nghiên cứu Các TBKT của một số viện chuyển giao thường là kết quả nghiên cứu của các viện và trường Kết quả này mới được khẳng định chủ yếu ở các trung tâm, trạm của viện và trường – những nơi
mà điều kiện cho ứng dụng TBKHCN là lý tưởng Kỹ thuật này chưa được vùng hóa hay khu vực hóa cho phù hợp với điều kiện của địa phương Do đó, kỹ thuật ít được nhân rộng, đôi khi đòi hỏi đầu tư lớn, rủi ro cao, chưa phù hợp với nhu cầu của của dân và đặc điểm của địa phương
- Chưa đánh giá thường xuyên nhu cầu của địa phương để làm cơ sở xây dựng chiến lược nghiên cứu cho các viện và trường Do đó, một số kỹ thuật ít phù hợp với
Trang 8dân và thị trường TBKHCN của một số viện, trường chuyển giao tới nông dân chưa phải lúc nào cũng xuất phát từ nhu cầu của dân, thường là nằm trong các chương trình nghiên cứu lớn của nhà nước Do đó, dân ít hưởng ứng với những kỹ thuật này
- Các viện, trường thường ít phối hợp với cơ quan khuyến nông địa phương nên chưa có sự kết hợp chặt chẽ
- Ít có các viện, trường có các trình diễn của viện ở từng địa phương, có kết luận rõ ràng sau đó mới chuyển giao cho nông dân theo phương pháp chuyển giao để dân cùng làm Phương pháp mô hình được dùng chủ yếu trong chuyển giao hai loại sau: mô hình trình diễn kết quả và mô hình trình diễn phương pháp Mô hình trình diễn kết quả chỉ cho nông dân biết kết quả của một công nghệ nào đó Mô hình trình diễn phương pháp chỉ rõ từng bước cách làm và cách áp dụng một công nghệ cụ thể Phương pháp thứ hai này hiệu quả và bền vững hơn Thế nhưng, các viện và trường thường áp dụng phương pháp mô hình trình diễn kết quả mà ít sử dụng mô hình trình diễn phương pháp
- Việc chuyển giao TBKHCN không được thường xuyên, phụ thuộc vào tính sẵn có của TBKHCN của các viện
- Do bản chất của chuyển giao TBKHCN là chuyển giao các kết quả nghiên cứu của các viện đó tới được nông dân Vì thế, việc chuyển giao này có phần thiên về đưa thông tin một chiều từ các viện nghiên cứu tới nông dân hơn là các viện nghiên cứu phát hiện các vấn đề của nông dân để giải quyết giúp nông dân vượt qua các khó khăn đó
* Hệ thống chuyển giao của các doanh nghiệp
Kể từ khi có Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp nhiều doanh nghiệp được hình thành nhanh chóng Trong ngành nông nghiệp có 44 nhà máy đường, 120 nhà máy chè, hàng trăm nhà máy chế biến thức ăn, hình thành nhiều vùng nguyên liệu hàng hóa Các doanh nghiệp này (kể cả doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đã thực hiện khuyến nông đến tận nông dân để hình thành vùng nguyên liệu chè, bông, Do kết quả khuyến nông của các doanh nghiệp đã hình thành nên nhiều vùng sản xuất chuyên canh lớn như bông (Sơn
Trang 9La), chè (Văn Chấn – Yên Bái) Cán bộ doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng, thực hiện hướng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm thông qua cơ chế canh tác hợp đồng với nông dân trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm
Hệ thống chuyển giao này có ưu điểm:
- TBKHCN được chuyển giao mang tính trọng tâm chuyên ngành
- Tập trung vào sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh
- Kỹ thuật đã được khẳng định và được đúc rút ở nhiều nơi nên phương thức chuyển giao phù hợp và linh hoạt
- Thực hiện canh tác hợp đồng, sản phẩm chuyển giao được bao tiêu nên nông sân dễ làm theo
Nhưng thực tiễn chuyển giao TBKHCN của các doanh nghiệp cũng bộc lộ một
số hạn chế: Nếu doanh nghiệp không gắn kết vơi nông dân, thì cả doanh nghiệp và nông dân cùng gặp khó khăn; Việc kiểm soát thực hiện hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp cũng là vẫn đề cần quan tâm
* Chuyển giao TBKHCN qua các chương trình, dự án của Chính phủ
Theo nguồn tài trợ, có thể chia các chương trình, dự án ra thành hai nhóm:
do các Bộ ngành tài trợ (gọi là Chương trình trong nước) và nhóm do tổ chức quốc
tế giúp đỡ (Chương trình quốc tế) Các chương trình trong nước thường do các Bộ ngành xây dựng, triẻn khai thực hiện Ví dụ, Chương trình Nông thôn miền núi của
Bộ Khoa học và Công nghệ, Chương trình 120 ”về tạo việc làm” và chương trình
133 ”xóa đói giảm nghèo” do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì, Các chương trình trên, được tài trợ kinh phí của Chính phủ và triển khai thực hiện chủ yếu là theo sự chỉ đạo của các Bộ ngành từ trên xuống tận cơ sở Ưu điểm của hệ thống chuyển giao này là tính tập trung cao, dễ thực hiện, triển khai đồng bộ trên quy mô lớn cho một chương trình, một sản phẩm, đảm bảo thực hiện được các mục tiêu và định hướng của địa phương hay Chính phủ
Tuy nhiên kinh nghiệm thực hiện chương trình dự án phát triển nông thôn đã chỉ ra một số bất cập trong chuyển giao qua chương trình dự án Thứ nhất
3 – Đánh giá về đội ngũ cán bộ chuyển giao kỹ thuật
Trang 10Đội ngũ cán bộ chuyển giao có tầm quan trọng đặc biệt trong chuyển giaoTBKHCN trong nông nghiệp tới nông dân Tương ứng với 5 hệ thống chuyển giao, có năm nhóm cán bộ TBKHCN trong nông nghiệp tới nông dân
3.1 – Cán bộ khuyến nông Nhà nước
Lực lượng nòng cốt của công tác chuyển giao TNKHCN trong nông nghiệp
là cán bộ khuyến nông Nhà nước làm việc ở Trung tâm Khuyến nông, trạm khuyến nông, khuyến nông cụm xã và một số nơi khác Vùng miền núi phía bắc bình quân mỗi trung tâm khuyến nông tỉnh có 17 cán bộ, trạm khuyến nông huyện bình quân
độ đại học chiếm tỷ lệ 65% và trung cấp là 25% (trong đó 44,5% có chuyên ngành trồng trọt, 17,8% có chuyên ngành chăn nuôi và 14% có chuyên ngành lâm nghiệp Tất cả số cán bộ trên có thâm niên công tác từ 3 đến 32 năm, bình quân là 15 năm
Tất cả các cán bộ nêu trên đều chưa qua đào tạo chính quy về khuyến nông Không có ai trong số cán bộ của trung tâm và trạm khuyến nông được đào tạo
về phương pháp khuyến nông, phương pháp đào tạo đào tạo nông dân và phương pháp tiếp cận cộng đồng Đây là sự thiếu hụt rất lớn trong kỹ năng chuyển giao của cán bộ khuyến nông Các cán bộ khuyến nông của ta, tập trung nhiều vào kỹ thuật, ít chú ý và thiếu kiến thức xã hội và khả năng vận động cộng đồng
Các cán bộ khuyến nông được hưởng chế độ lương và phụ cấp do Nhà nước quy định, phương tiện đi lại nghèo nàn Ở cấp cụm xã và xã cũng có cán bộ khuyến nông, một phần là công chức nhà nước (chiếm khoảng 10%), đại đa số còn là là
Trang 11hợp đồng Họ thường là những sinh viên mới tốt nghiệp ra trường và nhận lương tùy theo trình độ và vùng công tác
Các cán bộ khuyến nông này được hưởng hỗ trợ 50% chế độ bảo hiểm xã hội và 50% bảo hiểm y tế, được ưu tiên xét tuyển vào biên chế nếu công tác tốt Ở
Hà Giang có 191 khuyến nông viên đang làm việc tại 191 xã, trong đó có 17 người tốt nghiệp đại học và 173 cán bộ có trình độ trung cấp Từ năm 2001 đến nay các cán bộ trên đã hưởng lương theo ngạch bậc công chức theo chế độ hiện hành Chức năng cơ bản của cán bộ khuyến nông xã là phối hợp với trạm khuyến nông huyện chuyển giao TBKHCN tới nông dân, định kỳ phản ánh tình hình nông nghiệp cho UBND xã, cụm xã và trạm khuyến nông Ở các tỉnh Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, mỗi xã bố trí một cán bộ khuyến nông Về chế độ làm việc, cán bộ cụm xã được dành 80% quỹ thời gian đi cơ sở và 20% làm công tác tổng hợp tại trung tâm cụm xã Cán bộ khuyến nông xã phải dành 90% thời gian đi cơ sở và 10% thời gian làm báo cáo và tổng hợp
3.2 – Cán bộ chuyển giao TBKHCN của cộng đồng
* Khuyến nông viên thôn bản: do cộng đồng cử ra để làm nhiệm vụ chuyển
giao TBKHCN tới nông dân Họ là những cán bộ của Hội Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Đoàn TNCSHCM, các nông dân làm kinh tế giỏi, các nông dân tiêu biểu được dân cử ra Đặc biệt ở Hà Giang, lực lượng khuyến nông viên này rất đông đảo, lực lượng này được gọi là khuyến nông thôn bản do dân cử và dân nuôi; tỉnh
Hà Giang cũng đã Ra Quyết định số 2021/QĐ-UB ngày 05/08/2002 vể tổ chức quản lý và một số chế độ chính sách đối với cán bộ khuyến nông viên thôn bản Quy định này đã chỉ rõ: ”Mỗi thôn bản bố trí ít nhất một khuyến nông viên thôn bản phục vụ công tác chuyển giao TBKHCN tới nông dân, khuyến nông viên thôn bản được tuyển chọn trước hết là những người tốt nghiệp đại học, trung cấp về nông lâm ngư nghiệp Các xã đặc biệt khó khăn, khuyến nông viên thôn bản phải
có văn hóa hết lớp 4 trở lên Việc tuyển chọn cán bộ khuyến nông thôn bản nên được gắn với cán bộ chốt ở thôn bản (bí thư, chủ nhiệm và phó chủ nhiệm HTX, trưởng phó thôn bản) Các khuyến nông viên này do dân bầu, giới thiệu cho UBND