Tính cấp thiết sự cần thiết của chuyên đề Khái niệm vùng thường được sử dụng trong việc phân định các khu vực VD: nhằm mục đích giúp các nhà quản lý trong việc lập quy hoạch vùng đô thị
Trang 1VIỆN DÂN TỘC
***
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
“NGHIÊN CỨU KHÁI NIỆM, GIẢI NGHĨA VÀ SỬ DỤNG
THUẬT NGỮ VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN”
Người thực hiện: Ths Hà Quang Khuê Phó trưởng phòng QLKH&HTQT, Viện Dân tộc
8621
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Trang 2Phần Mở đầu
I Tính cấp thiết (sự cần thiết của chuyên đề) ……… 3
II Mục tiêu nghiên cứu ………3
III Phạm vi, đối tượng ……… 3
IV Phương pháp nghiên cứu ……… 4
V Nội dung nghiên cứu ……… 4
VI Sản phẩm ……… 4
Phần thứ nhất: Khái niệm, đặc điểm và giải nghĩa thuật ngữ 1 Khái niệm ……… 5
2 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự hình thành vùng đặc biệt khó khăn 9
Phần thứ hai: Thực trạng việc xây dựng tiêu chí phân vùng đặc biệt khó khăn và đề xuất các căn cứ, nguyên tắc phân vùng 1 Tiêu chí phân vùng của Ủy ban Dân tộc ……… 10
2 Đề xuất những căn cứ, nguyên tắc, tiêu chí phân định vùng như sau …… 14
Phần thứ ba: Kiến nghị sử dụng thuật ngữ 1 Kiến nghị với Ủy ban Dân tộc ……… 16
2 Kiến nghị với các cơ quan làm công tác dân tộc ……… 16
3 Kiến nghị với các cơ quan truyền thông, báo chí ……… 16
Kết luận ……… 16
Tài liệu tham khảo ……… 18
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết (sự cần thiết của chuyên đề)
Khái niệm vùng thường được sử dụng trong việc phân định các khu vực VD: nhằm mục đích giúp các nhà quản lý trong việc lập quy hoạch (vùng đô thị) hay được dùng để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch chính trị, chính sách để cân bằng với nhu cầu đối với tài nguyên và giải quyết các xung đột nhiều mặt trong vấn
đề sử dụng tài nguyên … Trong quản lý nhà nước, thuật ngữ “Vùng đặc biệt khó khăn” thường được sử dụng nhằm mục đích để xây dựng, áp dụng các chủ trương, chính sách và có kế hoạch đầu tư phát triển sát hợp với điều kiện cụ thể
Từ đó, có kế hoạch chỉ đạo, động viên, hỗ trợ, hướng dẫn nhân dân địa phương đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trong cả nước
Tuy nhiên, cho đến nay thuật ngữ này chưa được định nghĩa cụ thể mà mới chỉ có các tiêu chí để xác định Trong khi đó việc nghiên cứu xây dựng, áp dụng các chủ trương, chính sách …, nếu chỉ dùng các khu vực theo ranh giới hành chính là không hoàn toàn hợp lý vì đơn vị hành chính không phản ánh được tình hình về điều kiện kinh tế - xã hội … thực sự chính xác Các vấn đề
về tình hình về điều kiện kinh tế - xã hội … thực tế thường vượt ra khỏi những ranh giới hành chính đã xác định
Do đó, việc nghiên cứu để đưa ra khái niệm thống nhất về thuật ngữ “Vùng đặc biệt khó khăn” là rất cần thiết
II Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ khái niệm, giải nghĩa thuật ngữ “Vùng đặc biệt khó khăn” và cách
sử dụng thuật ngữ
III Phạm vi, đối tượng
Nghiên cứu cơ sở lý luận trên cơ sở kế thừa các tài liệu thứ cấp và thực tiễn sử dụng thuật ngữ “Vùng đặc biệt khó khăn” trong các văn bản quản lý nhà nước
IV Phương pháp nghiên cứu
Trang 4- Phương pháp kế thừa,
- Phương pháp chuyên gia,
- Phương pháp phân tích,
- Phương pháp tổng hợp
V Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu, giải nghĩa một số thuật ngữ liên quan
- Các thuật ngữ có liên quan
- Các thuật ngữ vùng, khó khăn và đặc biệt khó khăn thường được sử dụng như thế nào, để làm gì, chúng được hiểu như thế nào?
- Việc sử dụng thuật ngữ trong thực tế;
- Phân tích, xác định những vấn đề đặt ra trong việc đưa ra khái niệm, giải nghĩa thuật ngữ
+ Đề xuất các căn cứ và nguyên tắc phân vùng
+ Các cách thức, phương pháp đưa ra định nghĩa
Đề xuất khái niệm và giải nghĩa thuật ngữ
Chủ trương của Đảng và Chính phủ trong việc đẩy mạnh phát triển KT-XH đối với vùng đặc biệt khó khăn
Kiến nghị việc sử dụng thuật ngữ
VI Sản phẩm
Bố cục báo cáo ngoài phần mở đầu, kết luận gồm các phần chính như sau: Khái niệm, đặc điểm và giải nghĩa thuật ngữ công tác dân tộc
Quan điểm, chủ trương của Đảng và Chính phủ trong việc đẩy mạnh phát triển KT-XH đối với vùng đặc biệt khó khăn
Kiến nghị sử dụng thuật ngữ
Trang 5PHẦN THỨ NHẤT Khái niệm, đặc điểm và giải nghĩa thuật ngữ
1 Khái niệm
Trong thực tế do sự phân hoá của các điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội-lịch
sử giữa các vùng lãnh thổ của đất nước nên giữa các vùng thường có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội Các vùng lạc hậu, chậm tiến
về kinh tế - xã hội thường được gọi là vùng đặc biệt khó khăn, thường là những vùng biên giới, ven biển, hải đảo, vùng cư trú của đồng bào dân tộc ít người có
vị trí quan trọng trong an ninh, chính trị, quốc phòng Do vậy, có thể hiểu Vùng đặc biệt khó khăn là Vùng có điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên đặc biệt khó khăn Từ đó để hiểu và định nghĩa được khái niệm “Vùng đặc biệt khó khăn”, chúng tôi cho rằng cần dựa vào kết quả nghiên cứu một số các khái niệm liên quan như sau:
1.1 Khái niệm Vùng: Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học và Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và Hồ Ngọc Đức – Vietnamese dictionary thì “Vùng” được hiểu là: Phần đất đai hoặc không gian tương đối rộng, có những đặc điểm nhất định về tự nhiên hoặc xã hội, phân biệt với các phần khác ở xung quanh
Hiện nay có rất nhiều khái niệm vùng chuyên biệt, cụ thể đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý định nghĩa VD:
Miền Bắc Việt Nam là một khái niệm để chỉ vùng lãnh thổ ở phía Bắc nướcViệt Nam Tuy nhiên, tùy theo thời điểm lịch sử hoặc thói quen sử dụng mà khái niệm này được dùng để chỉ các vùng lãnh thổ khác nhau
Theo Viện Nghiên cứu chiến lược Bộ Khoa học công nghệ, thì khái niệm vùng đồi được hiểu là “Một dải chuyển tiếp giữa vùng núi cao với vùng đất phù
sa đồng bằng ven biển, bao gồm những đồi bát úp xen kẽ với bản làng và đồng ruộng mà thường gọi là vùng bán sơn địa hoặc gồm những ngọn đồi thoai thoải liền kề nhau có nơi kéo dài đến sát biển và thường có độ cao từ 25-300m so với
Trang 6mặt biển, có độ dốc trung bình 25-30 độ” (Như vậy vùng gò đồi là một vùng sinh thái chứ không phải là vùng hành chính)
* Khái niệm Vùng đô thị (Metropolitan area - metro area) Khái niệm này chỉ dùng với các đô thị lớn, có vai trò là trung tâm của một vùng (metropolitan = thành phố mẹ) Vùng đô thị bao gồm toàn bộ khu vực đô thị và các khu vực khác có mối quan hệ mật thiết với thành phố mẹ (kể cả dân cư nông thôn gần kề)
Phạm vi này thường vượt ra khỏi ranh giới hành chính của đô thị
Phạm vi của vùng đô thị bao gồm các khu vực có quan hệ mật thiết với đô thị được lượng hoá thông qua các quan hệ về việc làm, dịch vụ, sản xuất giữa các khu vực
Khái niệm Vùng đô thị hiện nay ở Việt Nam cũng chưa được làm rõ Chỉ
có trong quá trình lập quy hoạch vùng đô thị lớn, khái niệm này mới thường được đề cập Tuy nhiên ta phải hiểu khái niệm ‘Vùng” trong quy hoạch vùng với
Vùng đô thị thực tế là khác nhau Vùng Hà Nội
(gồm Hà Nội và các tỉnh Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hòa Bình, Vĩnh Phúc) trong quy hoạch vùng bao trùm cả 8 tỉnh, tuy nhiên đây là dự kiến quy hoạch, còn tiêu chí nào để xác định thực mối quan hệ hiện nay của chúng đủ để gọi là một vùng thì chưa có (Nếu lấy tiêu chí Vùng đô thị của Pháp
áp dụng cho vùng của Paris để xác định: 40% dân cư làm việc trong Khu vực đô thị) thì có lẽ hiện nay vùng đô thị Hà Nội cũng chưa thể rộng đến mức độ đó
* Khái niệm về vùng kinh tế
Vùng kinh tế là những bộ phận kinh tế, lãnh thổ đặc thù của nền kinh tế quốc dân, có chuyên môn hoá sản xuất kết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp
Ngoài ra vùng kinh tế còn có thể chia nhỏ
- Vùng kinh tế ngành:
Vùng kinh tế ngành là vùng kinh tế được phát triển và phân bố chủ yếu một ngành sản xuất, ví dụ: Vùng nông nghiệp, vùng công nghiệp
- Vùng kinh tế tổng hợp: Lai có thể được phân định thành các khái niệm là:
+ Vùng kinh tế lớn
Trang 7Vùng kinh tế lớn là các vùng kinh tế tổng hợp cấp cao nhất Mỗi vùng kinh tế lớn có quy mô lãnh thổ bao trùm trên nhiều tỉnh và thành phố liền kề nhau; có chung những định hướng cơ bản về chuyên môn hoá sản xuất, với những ngành chuyên môn hoá lớn có ý nghĩa đối với cả nước; sự phát triển tổng hợp của vùng phong phú, đa dạng Các vùng kinh tế lớn còn có những mối liên quan chung về kinh tế-chính trị-quốc phòng Hiện nay nước ta có các vùng kinh
tế lớn là Vùng kinh tế Bắc Bộ, Vùng kinh tế Bắc Trung Bộ, Vùng kinh tế Nam Trung Bộ, Vùng kinh tế Nam Bộ
+ Vùng kinh tế - hành chính
Vùng kinh tế - hành chính là những vùng kinh tế vừa có ý nghĩa, chức năng kinh tế, vừa có ý nghĩa, chức năng hành chính Mỗi vùng kinh tế - hành chính có một cấp chính quyền tương ứng: Vừa có chức năng quản lý kinh tế, vừa có chức năng quản lý hành chính trên toàn bộ địa bàn lãnh thổ của vùng
Vùng kinh tế hành chính còn được chia thành 2 loại là Vùng kinh tế hành chính tỉnh và Vùng kinh tế hành chính huyện
1.2 Khái niệm Đặc biệt: Khác hẳn những trường hợp thông thường về tính chất, chức năng hoặc mức độ
VD: Một vinh dự đặc biệt Ra số báo đặc biệt Trồng thêm màu, đặc biệt
là sắn
1.3 Khái niệm Khó và Khó khăn:
Khó: Đòi hỏi phải có nhiều điều kiện hoặc phải cố gắng nhiều, vất vả nhiều mới có được, mới làm được; trái với dễ Đường khó đi Bài toán khó Trong trường hợp kết hợp hạn chế như trong tình trạng phải chịu đựng thiếu thốn, nghèo nàn Kẻ khó Cảnh khó Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống (tng.)
Khó khăn: Việc khó khăn lắm phải nỗ lực mới xong Hoặc có thể là điều gây trở ngại, VD: Sức khỏe kém là một khó khăn cho công tác
1.4 Khái niệm Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa
Trang 8Một cách trừu tượng hơn, một xã hội được coi là một mạng lưới của những mối quan hệ của các thực thể Một xã hội thỉnh thoảng cũng được coi là một cộng đồng với các cá nhân trong cộng đồng đó phụ thuộc lẫn nhau
Đặc điểm bản chất của xã hội
- Đặc điểm thứ nhất là đặc điểm về lãnh thổ;
- Đặc điểm thứ hai liên quan tới tái sản xuất dân cư và di cư;
- Đặc điểm thứ ba liên quan tới hệ thống pháp luật, văn hóa và bản sắc dân tộc
Tuy nhiên như đã nói ở trên, nếu việc phân định vùng chỉ dùng các khu vực theo ranh giới hành chính là không hoàn toàn hợp lý vì đơn vị hành chính không phản ánh được toàn bộ tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội … thực sự chính xác Các vấn đề về tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội … thực tế thường vượt ra khỏi những ranh giới hành chính đã xác định Cho nên trong việc phân định vùng khó có thể phụ thuộc vào ranh giới hành chính đã được xác định từ trước
Như vậy, vùng đặc biệt khó khăn có thể xác định như sau:
+ Là một phần đất đai hoặc khu vực có thể trùng hoặc không trùng với ranh giới hành chính đã xác định
+ Có những đặc điểm về điều kiện tự nhiên đặc biệt khó khăn VD: điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, địa chất chia cắt hiểm trở
+ Điều kiện về kinh tế (sản xuất, thương mại, dịch vụ …), đời sống xã hội (điều kiện sinh hoạt, nhà cửa, điện, nước, dịch vụ an sinh xã hội… ) kém phát triển
Từ đó có thể nêu ra khái niệm Vùng đặc biệt khó khăn: là phần đất đai hoặc khu vực tương đối rộng, có những đặc điểm về điều kiện tự nhiên khó khăn, điều kiện kinh tế và xã hội đặc biệt lạc hậu, kém phát triển
Để phân biệt thế nào là vùng đặc biệt khó khăn thì phải có những căn cứ, nguyên tắc và tiêu chí phân định cụ thể, các nguyên tắc, tiêu chí phân định đó liên quan tới điều kiện lịch sử, quốc phòng, văn hóa, dân cư, dân tộc, điều kiện kinh tế … (sẽ được đề cập đến ở phần 2)
Trang 92 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự hình thành vùng đặc biệt khó khăn
Có nhiều học thuyết phát triển và kinh tế lí giải nguyên nhân của sự kém phát triển nhưng chưa có một sự thống nhất rõ ràng Ngoài những nguyên nhân khách quan thường được đưa ra đối với một vùng được xếp loại “kém phát triển” như điều kiện về vai trò và vị trí của vùng trong tiến trình văn hóa, lịch sử (tàn phá các nguồn lực kinh tế bởi xung đột quân sự, xung đột, bất ổn chính trị hoặc xã hội kéo dài ) về đất, nước, địa hình, khí hậu, giao thông đi lai khó khăn, mạng lưới an sinh xã hội kém phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, không có việc làm, cơ cấu và các định chế pháp luật thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, chua tạo được động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, việc thực thi luật pháp còn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm minh, sự tha hóa, tham ô của giới công chức …, kìm kẹp tự do kinh tế, thiếu sự thúc đẩy, can thiệp của chính phủ để phát triển kinh tế, nền kinh tế đóng cửa và thiếu quyết tâm mở rộng giao lưu với thế giới bên ngoài, quản lý ngặt nghèo, thuế má nặng nề, không khuyến khích đầu tư, giáo dục và thông tin không được quan tâm thích đáng thì bên cạnh đó còn có các nguyên nhân chủ quan như trình độ dân trí lạc hậu, tỷ lệ mang thai và sinh đẻ cao, thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu vốn sản xuất, ảnh hưởng của phong tục tập quán trong lao động sản xuất và sinh hoạt … ngoài ra, theo đánh giá tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 13 còn xác định bên cạnh nguyên nhân khách quan và chủ quan đã được nêu ở trên thì khuyết điểm chủ quan trong quản lý ở các cấp, các ngành là nguyên nhân trực tiếp, quan trọng dẫn tới sự yếu kém, hạn chế của nền kinh tế
Trang 10PHẦN THỨ 2 Thực trạng việc xây dựng tiêu chí phân vùng đặc biệt khó khăn và đề xuất
các căn cứ, nguyên tắc phân vùng
1 Tiêu chí phân vùng của Ủy ban Dân tộc
Hiện nay đối với các bộ, ngành khi xác định vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn đều sử dụng danh mục các xã, thôn, bản thuộc vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn được quy định tại các quyết định: số 106/2004/QĐ-TTg ngày 11/6/2004, số 164/2006/QĐ-106/2004/QĐ-TTg ngày 11/7/2006 (Chương trình 135 giai đoạn II), số 113/2007/QĐ-TTg ngày 20/7/2007, số 69/2008/QĐ-TTg ngày 28/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ; số 01/2008/QĐ-UBDT ngày 11/01/2008
… của Ủy ban Dân tộc
Về tiêu chí phân định được áp dụng theo Quyết định số 393/2005/QĐ-UBDT ngày 29 tháng 8 năm 2005 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc
“Về tiêu chí phân định vùng DTTS theo trình độ phát triển”, Quy định này áp dụng để phân định thôn, bản, làng, phum, soóc (gọi chung là thôn) đặc biệt khó khăn và phân định các xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) Vùng dân tộc thiểu
số và miền núi thành ba khu vực theo trình độ phát triển (được gọi tắt là khu vực
I, khu vực II, khu vực III) để áp dụng các chủ trương, chính sách và có kế hoạch đầu tư phát triển sát hợp với điều kiện cụ thể Từ đó, có kế hoạch chỉ đạo, động viên, hướng dẫn nhân dân địa phương đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trong cả nước
Trong phân định Vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành ba khu vực (I,
II, III) thì lấy xã làm đơn vị cơ bản Trên cơ sở các thôn, bản đặc biệt khó khăn
và các Tiêu chí khác kèm theo sẽ xác định và sắp xếp các xã vào khu vực I, II III khi có đủ 5/6 chỉ tiêu tương ứng được nêu tại Điều 5 của Quy định Thời điểm xác định các chỉ tiêu tính đến 31/12/2004
Phạm vi áp dụng:
Trang 11Địa bàn miền núi: Là các xã miền núi, vùng cao đã được công nhận tại các Quyết định của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Miền núi (nay là
Ủy ban Dân tộc)
Các xã đồng bằng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (áp dụng cho vùng đồng bào dân tộc Chăm, Khmer và một số dân tộc thiểu số khác ở Nam Bộ)
1.1 Tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn: (Thôn được xác định theo Quyết định số 13/2002/QĐ-BNN ngày 06/12/2002 của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố) Cụ thể thôn đặc biệt khó khăn là thôn còn tồn tại cả 3 Tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Về đời sống và xã hội:
- Tỷ lệ hộ nghèo từ 70% trở lên
- Và còn tồn tại ít nhất 3 trong 4 chỉ tiêu sau:
+ Trên 25% số hộ có nhà ở còn tạm bợ, tranh, tre, nứa lá
+ Trên 10% số hộ còn du canh du cư hoặc định cư du canh
+ Trên 50% số hộ thiếu nước sinh hoạt
+ Trên 50% số hộ chưa có điện sinh hoạt
Tiêu chí 2: Về điều kiện sản xuất: còn tồn tại ít nhất 2 trong 3 chỉ tiêu sau:
- Trên 20% số hộ thiếu đất sản xuất theo mức bình quân quy định của địa phương
- Trên 50% diện tích canh tác cây hàng năm của các hộ gia đình trong thôn chưa có hệ thống thủy lợi
- Tập quán sản xuất còn lạc hậu, chưa có cộng tác viên khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chưa phát triển sản xuất hàng hóa
Tiêu chí 3: Về điều kiện kết cấu hạ tầng (KCHT):
- Chưa có đường giao thông nông thôn loại B từ thôn đến trung tâm xã [Loại đường: theo quy định của Bộ Giao thông vận tải]
- Và còn tồn tại ít nhất 2/3 chỉ tiêu sau:
+ Chưa đủ phòng học cho các lớp tiểu học hoặc có nhưng còn tạm bợ [Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo]