1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khái niệm, giải nghĩa và việc sử dụng thuật ngữ 'vấn đề dân tộc'

33 624 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái niệm, giải nghĩa và việc sử dụng thuật ngữ 'vấn đề dân tộc'
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Viện Dân tộc
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 449,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàng Chí Bảo đã đúc kết lại những luận điểm cơ bản của Mác và Ăng ghen về vấn đề dân tộc như sau3: - Công bằng, bình đẳng giữa người và người phải gắn liền với công bằng, bình đẳng tron

Trang 1

Viện Dân tộc

Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện chuyên đề:

Khái niệm, giải nghĩa và việc sử dụng

thuật ngữ "vấn đề dân tộc"

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Nhiên

8623

Hà nội - 2010

Trang 2

đế quốc, xây dựng nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa

Vấn đề dân tộc ở nước ta những năm gần đây được quan tâm nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có một công trình nào tổng kết và đánh giá một cách đầy đủ về nội hàm của thuật ngữ

“vấn đề dân tộc” Do đó, với tư cách là đơn vị nghiên cứu duy nhất của cơ quan làm công tác dân tộc ở Trung ương, việc tiếp cận và phân tích nội hàm cũng như cách sử dụng thuật ngữ vấn tộc dân tộc là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay với rất nhiều vấn đề được đặt ra đối với sự phát triển của các dân tộc thiểu số

2 Mục tiêu

Trang 3

4 Đối tượng nghiên cứu

- Các khái niệm, quan niệm về dân tộc, vấn đề dân tộc theo quan điểm của Mác – lê Nin; của Hồ Chí Minh và trong các văn kiện đại hội, nghị quyết, chỉ thị, chiến lược phát triển kinh tế xã hội…

- Nội dung của vấn đề dân tộc trong các giai đoạn lịch sử từ 1946 trở lại đây

5 Nội dung

- Khái niệm, quan niệm, vị trí, vai trò của dân tộc, vấn đề dân tộc trong tiến trình phát triển của đất nước từ năm 1946 trở lại đây

- Vấn đề dân tộc trong mối quan hệ chung của phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, an ninh, quốc phòng…

- Đưa ra nhận xét về cách sử dụng thuật ngữ “vấn đề dân tộc” hiện nay;

và chính xác trong từng trường hợp

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp

Chuyên đề đã sử dụng các tài liệu, tổng hợp các tài liệu liên quan về dân tộc, vấn đề dân tộc qua các quan điểm của Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí

Trang 4

Minh, của Đảng và Nhà nước ta từ năm 1946 trở lại đây; thực trạng kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số hiện nay và những vấn đề dân tộc đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay

6.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích

Thông qua nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu về các vấn đề liên quan đến nội dung của chuyên đề đã tổng hợp, phân tích và kế thừa những luận điểm khoa học đã được nghiên cứu

6.3 Phương pháp so sánh

Từ nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tổng hợp, phân tích và so sánh các luận điểm khoa học đã được nghiên để đưa ra khái niệm và nội hàm của thuật ngữ Vấn đề dân tộc” theo cách hiểu chung nhất

7 Cấu trúc của báo cáo

chính:

I Vấn đề dân tộc – Quan niệm và những giá trị cốt lõi

II Vị trí, vai trò của vấn đề dân tộc

trung ương 7 khóa IX

2 Một số vấn đề cần quan tâm về vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay

Trang 5

III Một số vấn đề khi sử dụng thuật ngữ “Vấn đề dân tộc”

1 Đề xuất việc sử dụng khái niệm thuật ngữ “vấn đề dân tộc”

8 Kinh phí thực hiện chuyên đề

3.000.000đ (Ba triệu đồng chẵn – Kinh phí nghiên cứu khoa học cấp Viện năm 2010)

Trang 6

V.I Lê Nin nhiều lần nói đến sự hình thành dân tộc gắn liền với chủ nghĩa tư bản hay nói đúng hơn là bàn về dân tộc tư sản V.I.Lê Nin cho rằng cộng đồng tộc với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, là kết quả của sự chiến thắng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với phương thức sản xuất phong kiến

Năm 1913 trong tác phẩm chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, Stalin đã đưa

ra định nghĩa về dân tộc “Dân tộc là một cộng đồng người ổn định, được thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa”

Theo quan niệm dân tộc theo Stalin như vậy thì có thể thấy rằng khi nói

về dân tộc cần có các điểm cần phải chú ý đó là: Thứ nhất, dân tộc chỉ có thể hình thành được khi nó bao gồm đủ 4 đặc trưng có thể nói trên Thứ hai, dân tộc được hình thành trong thời đại tư bản chủ nghĩa Nếu đúng như định nghĩa       

1 PGS,TS Lê Ngọc Thắng, Một số vấn đề về dân tộc và phát triển, tr15, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005

Trang 7

trên thì một số dân tộc trên thế giới như Do Thái không phải là một dân tộc, vì không có cộng đồng lãnh thổ và kinh tế, vì trước đây họ rải rác khắp nơi trên thế giới Nhưng trên thực tế họ là một dân tộc Cũng như vậy, chiếu theo định nghĩa của Stalin thì ở nước ta, hoàn cảnh các dân tộc cư trú xen kẽ và phân tán cao độ thì danh mục các dân tộc nước ta làm sao lên đến con số 54

Và hạn chế của định nghĩa của Stalin về dân tộc đó là Stalin không đề cập đến những đặc điểm khác của dân tộc như quan hệ chính trị, nhà nước dân tộc, luật pháp, lợi ích Ông cũng cho rằng dân tộc là một phạm trù lịch sử gắn liền với chủ nghĩa tư bản đang lên, còn trước khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện không thể có dân tộc Đây được xem là một quan niệm phi lịch sử, không đúng với thực tế lịch sử

Đối với Việt Nam trong khi giới khoa học còn bị ràng buộc bởi định nghĩa của Stalin về dân tộc thì năm 1946 đồng chí Lê Duẩn đã đưa ra quan điểm cho rằng ở Việt Nam dân tộc được hình thành từ khi lập nước chứ không phải khi chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam

Vậy nội hàm cụ thể của thuật ngữ dân tộc là gì? Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau và hiện nay nhiều người cho rằng, tộc người (dân tộc) là một nhóm người xã hội đặc thù, được hình thành không phải do ý muốn chủ quan của con người, mà là kết quả của một quá trình phát triển lịch sử Tôi cho đồng tình với khái niệm về dân tộc và tộc người được đưa ra bởi GS.TS Hoàng Chí Bảo như sau:

Dân tộc hay quốc gia – dân tộc (nation) là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tượng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc

Tộc người hay dân tộc (theo thuật ngữ thường dùng) – ethic, là một cộng đồng mang tính tộc người, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp

Trang 8

cá biệt), được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức là có chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những

ký ức lịch sử (truyền thống, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ)

Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế, có thể ở tầm quốc gia dân tộc khác nhau

Nhóm địa phương (groupe local) của một tộc người, có một tên gọi riêng phổ biến trong vùng do có ý thức tự giác về tộc người và về nhóm địa phương

mà mình là thành viên2

2 Vấn đề dân tộc

Như vậy, mặc dù cũng đã có rất nhiều ý kiến, quan niệm về thuật ngữ dân tộc, nhưng cho tới nay vẫn là khái niệm đặt ra cho các học giả, các nhà khoa học bàn luận tiếp Cũng như vậy, vấn đề dân tộc cũng luôn gắn liền với tiền trình lịch sử, ở mỗi thời kỳ thì vấn đề dân tộc được đặt ra với những nội dung khác nhau đáp ứng với từng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia

2.1 Theo quan điểm của Mác – Lênin

Vấn đề dân tộc bao giờ cũng được nhận thức và giải quyết theo lập trường của một giai cấp nhất định Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin chỉ trên lập trường của giai cấp vô sản, cách mạng vô sản mới giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, Mác-Ăngghen đã đề cập mối quan hệ dân tộc và giai cấp: cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, ở giai đoạn đầu của nó là mang tính chất dân tộc Mác kêu gọi “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành giai cấp dân tộc, không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu” Cũng theo Mác –Ăngghen, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi ích dân tộc- lợi ích của

      

2 GS,TS Hoàng Chí Bảo, Chủ biên, “Đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát

triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay “, NXB Chính trị Quốc gia, tr35

Trang 9

mình với các lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Chỉ có xoá bỏ áp bức, bóc lột giai cấp thì mới xoá bỏ áp bức dân tộc, đem lại độc lập thật sự cho dân tộc mình và cho dân tộc khác

GS,TS Hoàng Chí Bảo đã đúc kết lại những luận điểm cơ bản của Mác

và Ăng ghen về vấn đề dân tộc như sau3:

- Công bằng, bình đẳng giữa người và người phải gắn liền với công bằng, bình đẳng trong quan hệ dân tộc

- Chỉ có xóa bỏ ách áp bức bóc lột giữa người với người, xóa bỏ sự khác biệt về giai cấp và áp bức giai cấp thì mới xóa bỏ được ách áp bức dân tộc này với dân tộc khác

- Giai cấp công nhân phải giành lấy chính quyền, thông qua chính quyền

mà giải quyết những vấn đề về công bằng, bình đẳng trong quan hệ dân tộc

- Đối với dân tộc bị áp bức, giải phóng dân tộc là điều kiện trước tiên để thực hiện công bằng, bình đẳng dân tộc

- Bình đẳng dân tộc cần đặt trong quan hệ với quyền tự quyết dân tộc (bao hàm cả việc phân lập về chính trị, đối với dân tộc bị áp bức và việc tự nguyện liên hiệp lại thành liên bang)

- Đoàn kết giai cấp công nhân trong tất cả các quốc gia dân tộc là điều kiện cơ bản nhất để phát huy bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết quốc tế và đoàn kết các dân tộc

- Trong từng quốc gia đa dân tộc, chính sách của nhà nước sẽ quyết định

xu hướng phát triển của quan hệ dân tộc – tộc người Chỉ có chính sách của nhà nước, của giai cấp công nhân mới bảo đảm được công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc

      

3 GS,TS Hoàng Chí Bảo, Đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển Kinh tế -

xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr54,55

Trang 10

Tuy nhiên, Mác và Ăngghen không đi sâu nghiên cứu vấn đề dân tộc vì ở Tây Âu vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản, đối với Mác, vấn đề dân tộc chỉ là thứ yếu so với vấn đề giai cấp

Thời đại Lênin, khi chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành bộ phận của cách mạng vô sản, Lênin mới phát triển vấn đề dân tộc thành học thuyết về cách mạng thuộc địa Lênin cho rằng cách mạng vô sản ở chính quốc không thể giành thắng lợi nếu không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa Khẩu hiệu của Mác được bổ sung: “vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại.” Lênin đã thực sự “đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.” Lênin đã chọn lọc, kế thừa, bổ sung những quan niệm nêu trên của Mác và Ăngghen, phát triển thành những quan niệm mang tính hệ thống của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc trong những điều kiện lịch

sử mới Trong các tác phẩm của mình Lênin đã luận chứng một cách khoa học cho những luận điểm có tính chất cương lĩnh của Đảng mác xít về vấn đề dân tộc, về quyền bình đẳng của các dân tộc và về quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số; về quyền tự quyết của các dân tộc, kể cả quyền phân lập về mặt nhà nước; về ngôn ngữ và quyền bình đẳng về ngôn ngữ

Vấn đề dân tộc được Lênin đề cập tới với những giác độ như: bình đẳng dân tộc thể hiện ở bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; quyền dân tộc

tự quyết thể hiện ở quyền phân lập và thành lập quốc gia riêng biệt nhưng cũng khẳng định rằng, quyền tự quyết hoàn toàn không có nghĩa là nhất thiết phải tách khỏi nước lớn trong mọi điều kiện

Theo quan điểm của Lênin thì đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc chính là điều kiện giải quyết tốt các quan hệ dân tộc, thực hiện quyền bình đẳng và quyền dân tộc tự quyết trên thực tế

Trang 11

Lênin đã nêu rõ quan điểm cần thiết phải xây dựng những quy tắc và phải sớm có bộ luật thật chi tiết về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, để tránh sự lạm dụng và những sai lầm trong hoạt động thực tiễn do ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc Lênin đã đề cập rất nhiều vấn đề dân tộc trong nhiều tác phẩm của mình, ông luôn khẳng định các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại

2 Quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đã nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc

tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lựa chọn cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản

Thứ nhất, giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến, trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược, đánh đổ bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hoà bình và thống nhất đất nước

Theo quan điểm của người các nước thuộc địa phương Đông không phải làm ngay cách mạng vô sản mà trước tiên phải giành độc lập dân tộc Với luận điểm này Người cũng khẳng định rằng để giải phóng giành độc lập dân tộc các nước thuộc địa phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động thế giới để phải đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Năm 1945, đứng trước thời cơ mới của cách mạng nước

ta, khi nói chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập.”

Độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân – tư tưởng đó của Hồ Chí Minh

đã trở thành mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam Tư tưởng đó được

Trang 12

Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của đồng bào là lẽ sống của mình Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền con người và độc lập là điều kiện tiên quyết để mang lại hạnh phúc cho mọi người dân của đất nước mình Đồng thời, độc lập dân tộc còn là điều kiện để dân tộc Việt Nam được quyền sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới và các dân tộc trong nước ta được chung sống bên nhau một cách bình đẳng, hoà thuận

và cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc

Thứ hai, sau khi giành được độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội, xoá

bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người, mọi dân tộc

Giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở cuộc đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp cách mạng đó mới chỉ đi được một chặng đường ngắn mà thôi Bởi có độc lập,

có tự do mà nhân dân vẫn đói khổ, thì nền độc lập tự do ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì

Hồ Chí Minh đã thấu hiểu cảnh sống nô lệ, lầm than, đói rét và tủi nhục của nhân dân các dân tộc Việt Nam trong thời thực dân, phong kiến Bởi vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định của sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người, theo Hồ Chí Minh là phải xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự

Trang 13

cho tất cả mọi người Đó là ước nguyện, là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh

và là ước nguyện mong mỏi bao đời nay của nhân dân các dân tộc Việt Nam Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.”

Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định trước sau như một, là chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có đủ cơ sở và điều kiện để thực hiện công cuộc giải phóng con người một cách triệt để và thiết thực Tức là thực hiện được đầy đủ các quyền của con người, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả mọi người

Cũng chính vì vậy mà con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và độc lập phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và là mục tiêu chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt hai phần ba thế kỷ và mãi mãi về sau

Xuất phát từ hoàn cảnh của Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, hậu quả của bọn thực dân, phong kiến để lại rất nặng nề nên Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân

đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ… tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội.”

Thứ ba, phải thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Hồ Chí Minh luôn luôn đấu tranh phê phán những biểu hiện tư tưởng dân tộc lớn, xem thường dân tộc nhỏ hoặc dân tộc hẹp hòi, cục bộ, tự ti dân tộc Khẳng định công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số trên đất nước ta Người nói “Các dân tộc xóa bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến

Trang 14

Hồ Chí Minh chẳng những là người quan tâm đến đoàn kết dân tộc, mà chính Người là hiện thân của sự đoàn kết đó, là người trực tiếp tổ chức khối đại đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện gây chia rẽ, hiềm khích, kỳ thị dân tộc để thực hiện tình đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Bài học kinh nghiêm về đoàn kết trong cách mạng Việt Nam được Người tổng kết thành 14 chữ vàng như sau: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”

Sự quan tâm, giúp đỡ đối với đồng bào các dân tộc ít người theo Hồ Chí Minh, là trách nhiệm của toàn Đảng và toàn dân, của tất cả các cấp, các ngành,

từ Trung ương đến địa phương, bằng những việc làm cụ thể và thiết thực

Thứ tư, phải đoàn kết, thương yêu người Việt Nam sống ở nước ngoài và thân thiện với người nước ngoài sống ở Việt Nam

Vì nhiều lý do khác nhau, dẫn đến một thực tế của đời sống thế giới, là người dân của nước này đến cư trú và làm ăn sinh sống ở nước khác và ngược lại Giải quyết thực trạng đó ở mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi chính đảng, thậm chí với từng nhà lãnh đạo có những quan điểm và chủ trương chính sách khác nhau

Đối với người Việt Nam sống xa Tổ quốc, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết, thương yêu họ, kêu gọi họ hướng về quê hương đất nước, nơi quê cha, đất

Trang 15

tổ của mình, vì tất cả bà con đều là “con Lạc cháu Hồng” của đất Việt Đồng thời, Người cũng kêu gọi và khuyên nhủ bà con phải giữ mối quan hệ thân thiện với nhân dân các nước và thực hiện tốt luật pháp của họ Trong những năm chiến tranh và cách mạng, với lòng yêu nước, thương dân, Hồ Chí Minh đã thu phục được nhiều trí thức tài ba về nước phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, trong đó có người đã trở thành anh hùng của Việt Nam

Đối với người nước ngoài sống ở Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn thể hiện thái độ ôn hoà và thân thiện với họ Trong Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về (23 tháng 10 năm 1946), Hồ Chí Minh nêu rõ:

“Người Pháp ở Pháp đối với ta rất thân thiện, thì người Việt ở Việt đối với người Pháp cũng nên thân thiện Đối với quân đội Pháp ta phải lịch sự Đối với kiều dân Pháp ta phải ôn hoà Để tỏ cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh Để cho số người Pháp ủng hộ ta càng thêm đông, sức ủng hộ càng thêm mạnh Để cho những kẻ thù khiêu khích muốn chia rẽ, không có thể và không có cớ mà chia rẽ Để cho công cuộc thống nhất và độc lập của chúng ta chóng thành công.”

Đối với người Hoa sống ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng thể hiện quan điểm trước sau như một là đoàn kết, thân thiện và bảo vệ tài sản, tính mạng cũng như quyền làm ăn chính đáng của họ trên đất nước Việt Nam, như công dân Việt Nam Theo Người, chẳng phải hôm qua hôm nay người Hoa kiều mới đến Đông Dương Họ đã ở đây, họ đã luôn giữ một địa vị rất quan trọng trong đời sống kinh tế của Đông Dương Nhưng chưa bao giờ lại có những cuộc xung đột giữa người Việt Nam với người Hoa trên đất nước Việt Nam

Xuất phát từ quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc và hai nước anh em, trong thư, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước

ta đối với bà con Hoa Kiều đang làm ăn, sinh sống ở Việt Nam: “Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam đã lập tức tuyên bố xoá bỏ mọi luật pháp của Pháp trước đây áp đặt lên Hoa kiều, xác định chính sách cơ bản là bảo đảm tự do,

Trang 16

Ngoài ra, đối với các dân tộc và quốc gia khác trên thế giới, quan điểm của Hồ Chí Minh là tôn trọng nền độc lập dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc khác, đồng thời thực hiện quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc với nhau Quan điểm đó của Người được khẳng định trong bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, ngày 2 – 9 – 1945 rằng: “… tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Như vậy, từ việc trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác – Lê Nin, trong hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng đúng đắn mà còn sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta Đối với Lê Nin về vấn đề dân tộc ông đã đề ra chính sách dân tộc của chính đảng của giai cấp vô sản Nga để giải quyết vấn đề dân tộc ở một nước lớn, vốn là đế quốc Nga Sa hoàng với các nguyên tắc cơ bản là các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền

tự quyết, liên hiệp công nông tất cả dân tộc lại thì Hồ Chí Minh trong tư tưởng của người về vấn đề dân tộc ở nước ta, vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, lại rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc

Đúc kết lại suốt quá trình hoạt động cách mạng bốn nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc được đưa ra đó là: Bình đẳng dân tộc, đoàn kết dân tộc, tương trợ giữa các dân tộc, các dân tộc giúp nhau cùng phát triển Bốn nguyên tắc trên là một thể thống nhất, mỗi nguyên tắc có một vị trí riêng và có tầm quan trọng lớn lao, gắn bó hữu cơ với nhau, bổ sung,

Ngày đăng: 25/05/2014, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982, t.I, tr.133 Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb, Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.98 Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.16 Khác
4. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.21, tr.937 Khác
5. Đảng Cộng sản Việt nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.13 Khác
6. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.605 Khác
7. GS,TS. Phan Hữu Dật: Góp phần Nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Khác
8. GS,TS. Hoàng Chí Bảo: Đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Khác
9. PGS,TS. Lê Ngọc Thắng: Một số vấn đề về Dân tộc và Phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
10. Tham luận của đồng chí Cư Hòa Vấn đại biểu Đảng bộ khối 1 các cơ quan Trung ương, tại Đại hội đại biểu lần thứ 9 Đảng Cộng sản Việt Nam Khác
11. Ngô Quang Định: Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam Khác
12. TS. Phan Văn Hựng, Bỏo cỏo kết quả dự ỏn ôNghiờn cứu xõy dựng định hướng chiến lược phỏt triển bền vững vựng dõn tộc và miền nỳiằ, 2003 Khác
13. Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc: 60 năm công tác Dân tộc – Thực tiễn và bài học kinh nghiệm, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006 Khác
14. Ủy ban Dân tộc, Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2006 Khác
15. Nguyễn Thị Nhiên: Chuyên đề Những vấn đề đặt ra đối với phát triển cỏc dõn tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020, Đề tài Cấp bộ năm 2010 ôCơ sởKhoa học xõy dựng chiến lược phỏt triển cỏc dõn tộc thiểu số đến năm 2020ằ Khác
16. PGS,TS. Lê Ngọc Thắng: Quan điểm và chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, chuyên đề 2010   Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w