1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khái niệm, giải nghĩa và việc sử dụng thuật ngữ 'cán bộ làm công tác dân tộc'

18 711 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 326,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nay, triển khai Nghị quyết 24, nhiều bộ, ngành đã thành lập bộ phận chuyên trách làm công tác dân tộc: Như Vụ Văn hóa Dân tộc, Bộ Văn hóa; Vụ Giáo dục Dân tộc, Bộ Giáo dục; Vụ Dân tộc củ

Trang 1

ỦY BAN DÂN TỘC VIỆN DÂN TỘC

***

báo cáo chuyên đề

khái niệm, giải nghĩa và việc sử dụng

thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc”

_

Đơn vị quản lý: Viện Dân tộc Người thực hiện: Phan Văn Cương

8624

Hà nội tháng 12 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2 Nội dung nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 4

4 Kinh phí 4

5 Sản phẩm nghiên cứu 4

PHẦN I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ THUẬT NGỮ “CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC DÂN TỘC” 5

1 Tổng quan tình hình sử dụng thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” 5

2 Quan niệm của một số chuyên gia, nhà quản lý về thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” 8

PHẦN II: GIẢI NGHĨA THUẬT NGỮ LIÊN QUAN VÀ KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA “CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC DÂN TỘC” 12

1 Thuật ngữ “cán bộ” 12

2 Thuật ngữ “công tác dân tộc” 13

3 Khái niệm, ý nghĩa thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” 15

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SỬ DỤNG THUẬT NGỮ “CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC DÂN TỘC” 17

PHỤ LỤC: Ý KIẾN CỦA CHUYÊN GIA 18

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Với quan điểm “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển” Đảng và nhà nước ta đã thành lập hệ thống cơ quan từ Trung ương đến địa phương và hàng năm giành một lượng ngân sách chi trả cho cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách, thời vụ… để quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Trong nhiều cuộc họp, hội nghị, hội thảo, văn bản chỉ đạo điều hành của các

cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương đã sử dụng nhiều thuật ngữ “cán

bộ làm công tác dân tộc” Tuy nhiên trong từ điển phổ thông hiện nay mới chỉ giải nghĩa cụm từ “cán bộ” là người phụ trách một công tác của chính quyền hay đoàn thể nào đó; còn ý nghĩa, nội hàm của thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” chưa được giải thích, làm rõ Trong khi đó từ điển chuyên ngành về công tác dân tộc chưa được xây dựng, nên đã có nhiều cách hiểu khác nhau về ý nghĩa của thuật ngữ này Vì vậy trong khuôn khổ chuyên đề nghiên cứu khoa học cấp viện, tôi cho rằng nghiên cứu làm rõ ý nghĩa của thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” để chuẩn hóa việc sử dụng là rất cần thiết

1 Mục tiêu nghiên cứu

Chuyên đề làm rõ khái niệm, ý nghĩa, thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” và kiến nghị sử dụng trong quản lý nhà nước

2 Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan việc sử dụng thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” trong các

cơ quan nhà nước

- Làm rõ các khái niệm liên quan:

+ Cán bộ là gì? Chỉ những ai trong xã hội?

+ Công tác dân tộc là gì? Công tác dân tộc ở trung ương làm gì? ở địa phương làm gì?

Trang 4

+ Quan điểm của các nhà quản lý về thuật ngữ “Cán bộ làm công tác dân tộc”

- Phân tích, giải nghĩa đưa ra khái niệm thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc”:

- Kiến nghị sử dụng thuật ngữ “Cán bộ làm công tác dân tộc”

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

- Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp

- Phương pháp chuyên gia Chuyên đề đã xây dựng mẫu phiếu tham vấn ý kiến của 6 chuyên gia khác nhau quan niệm về thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc”

4 Kinh phí

3.000.000.đ (Ba triệu đồng chẵn)

5 Sản phẩm nghiên cứu

- Báo cáo tổng hợp, kèm theo phụ lục tài liệu liên quan có độ dài từ 15 trang trở lên

Trang 5

PHẦN I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ MỘT SỐ QUAN NIỆM

VỀ THUẬT NGỮ “CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC DÂN TỘC”

1 Tổng quan việc sử dụng thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc”

Như trên đã trình bày “cán bộ làm công tác dân tộc” là thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản quản lý nhà nước về công tác dân tộc

- Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Hội nghị lần thứ bảy về công tác dân tộc có ghi:

Tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác

dân tộc để làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa

phương trong việc thực hiện chính sách dân tộc Một số bộ, ngành

cần tổ chức bộ phận và có cán bộ chuyên trách làm công tác dân

tộc”

Ở đây thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” được sử dụng để chỉ những cán bộ tham mưu, tổ chức thực hiện chính sách trên địa bàn các tỉnh, huyện xã

vùng dân tộc Trong hoàn cảnh này, ta có thể hiểu “Cán bộ làm công tác dân

tộc” bao gồm cả những cán bộ làm việc ở các cơ quan chuyên trách công tác dân

tộc như Ban Dân tộc, Phòng Dân tộc…và cả những cán bộ công tác ở các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể đóng trên địa bàn vùng dân tộc

Đối với cán bộ ở Trung ương, Nghị quyết 24 chỉ rõ:

Một số bộ, ngành cần tổ chức bộ phận và có cán bộ chuyên trách làm

công tác dân tộc

Như vậy cán bộ làm công tác dân tộc ở Trung ương xác định ở đây không chỉ bao gồm cán bộ trong hệ thống cơ quan chuyên trách của Ủy ban Dân tộc, Hội đồng dân tộc của Quốc hội mà còn cả một số bộ ngành khác Thực tế đến

Trang 6

nay, triển khai Nghị quyết 24, nhiều bộ, ngành đã thành lập bộ phận chuyên trách làm công tác dân tộc: Như Vụ Văn hóa Dân tộc, Bộ Văn hóa; Vụ Giáo dục Dân tộc, Bộ Giáo dục; Vụ Dân tộc của Ban Dân vận Trung ương…

Đến phần tổ chức thực hiện của Nghị quyết tiếp tục sử dụng thuật ngữ “cán

bộ làm công tác dân tộc”:

Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ở các bộ, ngành và địa

phương vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phải nắm chắc, hiểu rõ

nội dung nghị quyết để tuyên truyền, vận động và tổ chức thực hiện

tốt nghị quyết

Thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” được sử dụng nhiều lần trong Nghị quyết, với nội hàm khá rộng, chỉ những cán bộ công tác ở trong và ngoài

cơ quan chuyên trách (Ủy ban Dân tộc; Ban Dân tộc…) làm công tác dân tộc từ trung ương đến địa phương

- Trong Quyết định số 1277/QĐ-TTg ngày 07/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án: "Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước

và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006 – 2010” đã nhiều lần sử dụng thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc”

Phần đánh giá khái quát kết quả đạt được và hạn chế công tác dân tộc có ghi:

(1)“công tác đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc được

quan tâm hơn trước” và

(2)“đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc chưa được đào tạo về

nghiệp vụ công tác dân tộc”;

Cho đến phần kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc của Quyêt định tiếp tục 02 lần nhắc đến thuật ngữ này, cụ thể là:

(3)“Quy định cụ thể tiêu chuẩn cán bộ, công chức làm công tác

dân tộc của cơ quan công tác dân tộc các cấp theo chức danh; có

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thực hiện chuẩn

hoá đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc”

Trang 7

(4)“Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao

trình độ chuyên môn nghiệp vụ công tác dân tộc và quản lý nhà

nước, quản lý kinh tế, lý luận chính trị, tin học cho đội ngũ cán bộ

chuyên trách làm công tác dân tộc ở Trung ương và địa phương”

Mặc dù nhiều lần sử dụng thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” trong văn bản, nhưng cả Nghị quyết 24 và Quyết định 1277 đều không giải nghĩa, giới hạn nội dung của thuật ngữ Thực tế là cho đến nay chưa có văn bản pháp quy hay từ điển nào quy định ngữ nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này Mà tùy trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” sử dụng với ý nghĩa chỉ các đối tượng cụ thể khác nhau, hoặc đôi khi sử dụng với nghĩa chung chung không rõ đối tượng Trong lần sử dụng (1) và (2) của Quyết định 1277 thuật ngữ

“Cán bộ làm công tác dân tộc” sử dụng với nghĩa chung chung, không rõ chỉ cán

bộ chuyên trách trong cơ quan công tác dân tộc hay bên ngoài cơ quan công tác dân tộc, hoặc cả hai Tuy nhiên đến lần sử dụng (3) và (4) thuật ngữ này lại được

sử dụng và chỉ rõ đối tượng là các cán bộ, công chức, viên chức công tác trong các cơ quan chuyên trách công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương

- Thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” không những được sử dụng trong các văn bản quản lý nhà nước mà trong các bài viết, chuyên đề hội nghị, hội thảo được các nhà quản lý, nhà khoa học sử dụng, với ý nghĩa theo từng hoàn cảnh khác nhau

Trong cuốn kỷ yếu: “Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Viện Nghiên cứu chính sách dânt tộc và Miền núi; Nhà Xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội-2002 Trang 215,

có ghi:

Hiện nay, hệ thống tổ chức làm công tác dân tộc từ Trung ưởng tới

tỉnh, huyện có đội ngũ cán bộ chuyên trách Nếu xét ở phạm vi

rộng trên toàn quốc, và các mối quan hệ nhiều mặt có thể nói rằng,

công tác dân tộc và miền núi là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân;

trong đó, nhiệm vụ cụ thể được giao cho các bộ, ngành, địa

phương Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ngoài cơ quan

Trang 8

chuyên trách, còn có mặt ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp,

ở khắp các vùng, miền của đất nước; bao hàm cán bộ là người dân

tộc thiểu số, cán bộ là người Kinh đang công tác ở các cơ quan

của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, có liên quan

trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác dân tộc và miền núi Có thể

nói cán bộ làm công tác có liên quan tới dân tộc và miền núi có

mặt ở nhiều cơ quan thuộc hệ thống chính trị của nước ta 1

Có lẽ thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” ở đây được sử dụng và có giải thích hơn cả, chỉ những người làm việc trong hệ thống cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc: Ủy ban Dân tôc, Ban Dân tộc, Phòng Dân tộc; Chỉ cả người dân tộc thiểu số và người Kinh làm việc trong hệ thống cơ quan Đảng, Nhà nước

từ Trung ương đến địa phương mà nhiệm vụ được giao có liên quan trực tiếp, hoặc gián tiếp đến công tác dân tộc…Như vậy, hiểu thuật ngữ “Cán bộ làm công

tác dân tộc” với ý rất rộng, có thể là cả hệ thống chính trị ở Trung ương và các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Vì ở đây, nhiệm vụ của cán bộ được

giao, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến công tác dân tộc

Qua đây chúng ta thấy thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” dù chưa được chuẩn hóa, giải nghĩa, nhưng dù trong văn bản pháp quy hay trong khoa học, thuật ngữ này đều có có điểm chung chỉ đối tượng là “cán bộ” công tác ở trong và ngoài cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc Cán bộ công tác trong

cơ quan làm công tác dân tộc thì đã rõ, vậy còn “ngoài” là ai, cụ thể công tác ở những cơ quan nào, nếu không xác định được điều này có lẽ thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” sẽ không được xác định rõ nội hàm và ý nghĩa cụ thể

2 Quan niệm của một số chuyên gia, nhà quản lý về thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc”

Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề đã xây dựng mẫu phiếu tham vấn ý kiến của 6 chuyên gia, nhà quản lý trong và ngoài Ủy ban Dân tộc về thuật ngữ

“Cán bộ làm công tác dân tộc” Các ý kiến của chuyên gia cũng có điểm giống và khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất cho rằng “Cán bộ làm công tác dân

Trang 9

tộc” chỉ đối tượng là cán bộ công tác ở trong và ngoài cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc Cụ thể các ý kiến như sau:

- Theo PGS.TS Khổng Diễn, Nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc học cho rằng “cán bộ làm công tác dân tộc” là:

(1) Những người hưởng lương (một phần hoặc toàn bộ) từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến vùng dân tộc thiểu số

(2) Những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến người dân tộc thiểu số

Theo Phó Giáo sư, cán bộ làm công tác dân tộc phải là người hưởng lương

từ ngân sách nhà nước và thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến 2 đối tượng: Người dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số Như vậy theo quan niệm này, ngoài những người thực hiện nhiệm vụ quan lý nhà nước thì các thầy giáo, cô giáo dậy học trong các trường học có học sinh là người dân tộc thiểu số, bộ đội, biên phòng, công an thực hiện nhiệm vụ trong vùng dân tộc thiểu số cũng quan niệm là cán bộ công tác dân tộc

- Theo TS Trần Văn Thuật, nguyên Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tôc,

Ủy ban Dân tộc, thì “cán bộ làm công tác dân tộc” là:

(1) Những người thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở vùng dân tộc

thiểu số

(2) Những người làm việc ở vùng dân tộc thiểu số

Theo quan niệm này, thuật ngữ cán bộ làm công tác dân tộc sẽ rất rộng, khó xác định Vì vậy TS cho rằng nên giải nghĩa thuật ngữ bằng 02 thuật ngữ khác

“Cán bộ công tác dân tộc” và “cán bộ công tác liên quan đến đối tượng dân tộc thiểu số” tức là để chỉ cán bộ công tác trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc chuyên trách, giống như “cán bộ dân vận” hoặc “cán bộ mặt trận”… và cán bộ ngoài cơ quan chuyên trách công tác dân tộc, bao gồm các bộ, ngành trung ương

và địa phương có nhiệm vụ liên quan đến đối tượng là người dân tộc thiểu số

- Tuy nhiên theo Thạc sĩ Nguyễn Lâm Thành, Vụ trưởng Vụ Địa phương I, Ủy ban Dân tộc cho rằng:

Trang 10

“Cán bộ làm công tác dân tộc” bao gồm những người thực hiện nhiệm

vụ quản lý nhà nước ở vùng dân tộc thiểu số

Với quan nhiệm này, cán bộ làm công tác dân tộc chỉ bao gồm những người làm trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước: Các vụ của Ủy ban Dân tộc; các vụ chuyên trách về công tác dân tộc của các bộ, ngành liên quan và Ban Dân tộc, phòng dân tộc hoặc cán bộ chuyên trách làm công tác dân tộc ở địa phương So với những quan niệm trước, quan niệm này có phạm vi, giới hạn hẹp hơn, chỉ những người trong hệ thống quản lý nhà nước về công tác dân tộc

- Theo quan niệm của đồng chí Đinh Văn Tỵ, Phó Viện trưởng Viện Dân tộc, Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức, Cán bộ của Ủy ban Dân tộc

“cán bộ làm công tác dân tộc” là người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước có nhiệm vụ được giao liên quan đến người dân tộc thiểu số, hoặc vùng dân tộc thiểu số”

Cùng quan điểm với các ý kiến trước, đồng chí Tỵ cho rằng, cán bộ làm công tác dân tộc không chỉ bao gồm cán bộ trong hệ thống cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc mà cả những người thuộc các bộ, ban, ngành, các cơ quan của địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số

- Tiến sĩ Hoàng Hữu Bình, Phó Hiệu trưởng Trườn Cán bộ Dân tộc, Ủy ban Dân tộc cho rằng:

Cán bộ làm công tác dân tộc là những người làm việc có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc và làm việc ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Như vậy tiến sĩ Bình quan niệm “thuật ngữ cán bộ làm công tác dân tộc” sẽ

có phạm vi rất rộng, chỉ những cán bộ công tác ở nhiều cơ quan khác nhau và đôi khi khó xác định cụ thể Đồng chí cũng cho biết thêm, vừa qua khi xây dựng chính sách đặc thù đối với cán bộ làm công tác dân tộc, ban soạn thảo chỉ xác định đối tượng thụ hưởng chính sách là cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống cơ quan Ủy ban Dân tộc Do thuật ngữ ở đây chưa có sự thống nhất về quan niệm, nên tiến sĩ đề nghị cần phải có nghiên cứu, hội thảo khoa học đưa ra

Trang 11

- Theo đồng chí Hà Quế Lâm, nguyên Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc,

Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ của Ủy ban Dân tộc, thì “cán bộ làm công tác dân tộc” là:

Toàn bộ các cán bộ trong hệ thống chính trị mà nhiệm vụ được giao có liên quan đến đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số

Ý kiến của các chuyên gia trên đây cho thấy, thuật ngữ cán bộ làm công tác dân tộc được sử dụng nhiều trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, hoặc trong nghiên cứu khoa học, trong giảng dạy Mặc dù trong quá trình sử dụng không sai, nhưng khi quan niệm toàn diện về nội hàm của thuật ngữ này thì các chuyên gia còn có những ý kiến khác nhau

Qua nghiên cứu thực tiễn sử dụng và ý kiến của các chuyên gia, cho thấy dù thuật ngữ “cán bộ làm công tác dân tộc” có được quan niệm và sử dụng ở trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều có một số điểm chung là:

1) Chỉ “cán bộ” ở trong và ngoài hệ thống cơ quan công tác dân tộc mà nhiệm vụ được giao có liên quan đến cộng đồng người dân tộc thiểu số

2) Không phân biệt người dân tộc thiểu số, hay người Kinh

3) Không phân biệt chức vụ, cấp bậc

4) Đều hưởng lương toàn bộ hoặc một phần từ ngân sách nhà nước

Ngày đăng: 25/05/2014, 09:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w