1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ điển thuật ngữ kinh tế nga anh việt

486 778 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga - Việt - Anh (Dành cho cán bộ và học viên Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
Tác giả Nguyễn Ngọc Hùng, Nguyễn Tấn Việt, Lưu Hoà Bình, Nguyễn Khắc Thanh, Nguyễn Thị Thanh Hà
Người hướng dẫn TS. Lưu Hoà Bình
Trường học Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Từ điển thuật ngữ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 486
Dung lượng 5,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của “Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga-Việt-Anh” không chỉ hạn chế trong việc bước đầu cung cấp cho người sử dụng hệ thống thuật ngữ kinh tế thị trường trong tiếng Nga và tiếng Việ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

- - -

TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ KINH TẾ

NGA - VIỆT - ANH (Dàn ch c n b và h c viên Học viện chín rị- hàn chín q ốc gia

Hồ ChíMin )

7 5

Hà Nội– 2 1

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

- - -

-TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ KINH TẾ

NGA - VIỆT - ANH (k oản 1 0 0 h ật n ữ) (Dàn ch c n b và h c viên Học viện chín rị- hàn chín q ốc gia Hồ ChíMin )

Trang 3

Lời nói đầu

Quan hệ kinh tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga ngày càng phát triển kể từ khi kinh tế của hai nước chuyển

từ cơ chế kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường Cũng như trước đây, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của hai nước có nhiều điểm chung, có thể trao đổi với nhau Xuất phát từ tình hình thức tế đó, nhu cầu về học và nghiên cứu tiếng Nga ngày càng cấp thiết và dần dần được phục hồi, nhất là trong lĩnh vực kinh tế nói chung và kinh tế thị trường nói riêng Trước nhu cầu đó Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn cuốn “Từ điển thuật ngữ kinh tế NGA-VIỆT-ANH” dành cho cán bộ và học viên của Học viện cũng như của các Phân viện khác trong cả nước

Sách công cụ tiếng Nga hiện nay về lĩnh vực kinh tế thị trường ở nước ta còn quá nghèo nàn, hệ thống thuật ngữ kinh tế lạc hậu, chậm đổi mới, kể cả tiếng Nga lẫn tiếng Việt Thực tế đó không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu của cán bộ, nhu cầu học tập của học viên các cơ sở nghiên cứu và giảng dạy thuộc ngành kinh tế

Nhiệm vụ của “Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga-Việt-Anh” không

chỉ hạn chế trong việc bước đầu cung cấp cho người sử dụng hệ thống thuật ngữ kinh tế thị trường trong tiếng Nga và tiếng Việt, mà còn quan tâm tới việc hướng dẫn cách khai thác và sử dụng thuật ngữ tiếng Nga, một ngôn ngữ biến tố mang tính tổng hợp cao, đồng thời góp phần vào việc xây dựng hệ thống thuật ngữ kinh tế mới Do vậy, Từ điển còn mang tính chất giáo khoa và có một cấu trúc riêng, không giống những từ điển song ngữ khác

Sau khi được nghiêm thu, các tác giả sẽ sửa đổi những khiếm khuyết, bổ sung thêm những phần cần thiết và đề nghị Học viện CT- HCQG HCM cho ấn hành rộng rãi nhằm phục vụ đông dảo ngưòi sử dụng

Trang 4

Tài liệu tham khảo

Lê Minh Đức Từ điển kinh doanh AnhViệt NXB Trẻ, 1994

Nguyễn Văn Vị, Nguyễn Hữu Nguyễn Hữu Nguyên, Đinh Thanh Tịnh,

Bùi Đông Tài Từ điển Việt-Anh thương mại-tài chính Hà Nội, 1996

Đỗ Hữu Vinh Từ điển thuật ngữ kinh tế thương mại Anh-Việt NXB

Trang 5

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ KINH TẾ

NGA - VIỆT - ANH

(Dành cho cán bộ và học viên Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)

Chủ nhiệm đề tài: TS Lưu Hoà Bình

Hà Nội - 2010

Trang 6

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

Chủ nhiệm đề tài: TS Lưu Hoà Bình

Đơn vị thực hiện đề tài: Vụ quan hệ quốc tế

Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh

Những người tham gia thực hiện đề tài:

TS Lưu Hoà Bình

ThS Nguyễn Thị Thanh Hà PGS.TSKH Nguyễn Ngọc Hùng

7 Nội dung nghiên cứu

Trang 7

TÓM TẮT KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Tên đề tài:

“Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga - Việt – Anh”

(Dành cho cán bộ và học viên Học viện chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)

2 Tính cấp thiết của đề tài:

Tình hình chính trị, kinh tế nước Nga thời kỳ hậu xô viết có nhiều biến động to lớn Những biến đổi đó có ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và LB Nga Hai nền kinh tế mang tính tập trung, bao cấp cao bắt đàu đổi mới - chuyển sang nền kinh tế thị trường Cùng với nền kinh tế, nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội cũng biển đổi theo

Những biến đổi trong đời sống chính trị, kinh tế được phản ánh rõ nét trong tiếng Nga hiện đại, trước hết là trong lĩnh vực tù vựng qua các phương tiện thông tin đại chúng Từ vựng biến đổi nhanh chóng: trong đó xuất hiện một khối lượng lớn thuật ngữ kinh tế, biểu thị những khái niệm mới không những đối với người học tiếng Nga, mà đối với cả người bản ngữ Do đó gần đây LB Nga đã cho xuất bản cuốn từ điển “Nhừng từ mới xuất hiện trong tiếng Nga cuối thể kỷ 19 - đầu thể kỷ 20” Cuốn từ điển này giúp cho người đọc hiểu được những văn bản kinh tế mới

Cuốn “Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh” là ý tưởng đầu tiên của tập

thể tác giả tham gia đề tài muốn phản ánh tính chất đa dạng, phong phú của thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế Việc làm này hết sức cần thiết, bởi lẽ xu hướng hội nhập và hợp tác trong đời sống kinh tế-xã hội và chính trị đang

là xu hướng chủ đạo trên phạm vi toàn cầu Hơn nữa, những cuốn từ điển kinh tế song ngữ hoặc đa ngữ được xuất bản trước đây ở Liên Xô cũng như

ở Việt Nam chủ yếu chứa đựng những thuật ngữ phản ánh những phạm trù

và khái niệm kinh tế XHCN mà hiên nay it sử dụng

Tư thập niên 90 trở lại đây LB Nga và Việt Nam đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Cơ chế kinh tế thị trường là sản phẩm và thành quả của nền văn minh nhân loại Trong tiếng Nga xuất hiện nhiều thuật ngữ kinh tế mới do cơ cấu kinh tế-chính trị-xã hội đã thay đổi trong những năm qua Hơn nữa nội hàm ngữ nghiã của những từ đang sử dụng bị thay đổi do ảnh hưởng của những biến động chính trị-xã hội và kinh tế ở nước Nga Qua thống kê của các nhà ngôn ngữ, tiếng Nga đã vay mượn nhiều thuật ngữ tiếng Anh, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Nhiều thuật ngữ chưa được cập nhật trong những từ điển truyền thống, do vậy việc cung cầp cho người học và bạn đọc Việt Nam một hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế

Trang 8

chung và nhiều lĩnh vực liên quan, dù còn hạn chế, là việc làm cấp thiết nhằm giúp họ dễ dàng tiếp cận được với các phương tiện thông tin bằng tiếng Nga, đồng thời đối chiếu với tiếng Anh hiện đại trong điều kiện nuớc

ta ngày càng hội nhập sâu sắc hơn vào đời sống kinh tế- chính trị- xã hội

và văn hoá ở khu vực và trên phạm vi toàn thế giới

Tính cấp thiết của cuốn “Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh” không

những chỉ ở chỗ cần thiết thống kê những thuật ngữ kinh tế được sử dụng với tần số cao cho người Việt, giải thích và đưa ra những thuật ngữ tiếng Việt tương đương, mà còn nhiệm vụ phục vụ cho việc nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và LB Nga ngày càng mở rộng sau hàng loạt hội nghị cấp cao của chính phủ hai nước

3 Mục đích và yêu cầu của công trình nghiên cứu

Là kết quả và sản phẩm của công trình nghiên cứu tiến hành trong

hai năm, cuốn “Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh” nhằm phục vụ cho đội ngũ

cán bộ nghiên cứu, giảng viên, học viên các hệ cử nhân chính trị, hệ cao học và hệ nghiên cứu sinh của Học viện chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh trong việc học tiếng Nga, trong việc tham khảo, đọc sách, báo, tài liệu tiếng Nga để sưu tầm tài liệu cho luận án, luận văn, tiểu luận và nghiên cứu khoa học

Khác với danh pháp, thuật ngữ trong cuốn“Từ điển kinh tế

Nga-Việt-Anh” này là bộ phận từ ngữ đặc biệt của các ngôn ngữ Nga, Việt, Anh Nó

phải bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi (định danh) chính xác của các loại khái niệm và đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn kinh tế như: kinh tế chính trị học, quản lý kinh tế kinh tế phát triển, kinh doanh, tài chính, tiếp thị, luật kinh tế v.v

Những thuật ngữ trong cuốn từ điển này phải phản ánh được những đặc điểm cơ bản của thuật ngữ như:

a/ Tính chính xác

Nói chung, mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm, nhưng các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm biểu hiện trong thuật ngữ Theo giáo sư A.A Reformatsky, “Hệ thuật ngữ là một đặc điểm của khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là của những lĩnh vực hoạt động xã hội đã được tổ chức một cách trí tuệ (dù cho đối tượng là

tự nhiên đi nữa) Chính vì thế, các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ là các khái niệm chính xác của một môn khoa học nào đó Trong nhiều công trình nghiên cứu người ta không sử dụng khái niệm “ý nghĩa từ vựng” cho các thuật ngữ, mà chỉ nói “nội dung của thuật ngữ” mà thôi Trong ngữ cảnh khác nhau, cũng như khi đứng một mình, thuật ngữ không thay đổi về

Trang 9

nội dung Nội hàm nghĩa của thuật ngữ không phụ thuộc vào sự phát triển của bản thân khoa học

nó không còn nữa Tóm lại, các thuật ngữ không thể đứng biệt lập một mình, mà bao giờ cũng là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ nhất định

c/ Tính quốc tế

Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ

Dựa trên ba đặc điểm cơ bản vừa nêu của thuật ngữ, , nhóm tác giả

đã có diều kiện tuyển lựa thuật ngữ chính xác và đưa vào bảng từ của cuốn

“Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh”

4 Cấu trúc của cuốn “Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh”

Bảng từ xếp sắp theo vần chữ cái tiếng Nga

Ngoài những thuật ngữ đơn và ghép (khoảng 10 000), trong từ điển còn đưa vào những từ tổ điển hình cho văn phong kinh tế, nhằm giúp người

sử dụng hiểu thấu đáo hơn các thuật ngữ và sử dụng chúng trong những ngữ cảnh phù hợp

5 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

1/ Vấn đề thuật ngữ

Vấn đề thuật ngữ chúng ta nghiên cứu vẫn còn hạn chế Chúng ta đã học tập nhiều kinh nghiệm của chuyên gia nước bạn để ứng dụng vào việc phát triển lý luận về thuật ngữ, thuật ngữ học, về từ điển học, trong đó có từ điển thuật ngữ

Trang 10

Để phục vụ cho cải cách giáo dục những năm 80 thế ký XX Bộ Giáo dục đã ban hành “Qui định về chính tả tiếng Việt” và “Qui định về thuật ngữ tiếng Việt” (5 - 3 - 1984) Trong đó nêu ra những yêu cầu chuẩn đối với hai lĩnh vực kể trên Để thực hiện những yêu cầu chuẩn đó đã thành lập

ra hai Hội động cấp nhà nước: Hội đồng chuẩn hoá chính tả tiếng Việt và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ Về thuật ngữ các nhà khoa học đã đưa ra những qui định cụ thể, như cấu tạo và sử dụng thuật ngữ tiếng Việt, việc chuẩn hoá, hệ thống hoá trong việc biên soạn sách giáo khoa, từ điển và giảng dạy

“Từ điển kinh tế Nga-Việt-Anh” được biên soạn sẽ được biên soạn

theo tinh thấn chỉ đạo, cũng như những nguyên tắc của Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ kể trên Đồng thời các tác giả cố gắng vận dụng những thành quả nghiên cứu của những năm gần đây của các học giả nước ngoài và trong nước để nâng cao chất lượng công trình về lý luận cũng như thực tiễn, để theo kịp sự phát triển của ngành thuật ngữ học và từ điển học nhằm đáp ứng được yêu cầu học tập, nghiên cứu của thời đại

2/ Vấn đề từ điển

Người Nga hiện nay đã xuất bản một số từ điển kinh tế mới, trong đó

đã loại trừ những từ không phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay, dặc biệt là bổ sung rất nhiều thuật ngữ mới phản ánh những thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội nước Nga Trên các phương tiện thông tin đại chúng chúng ta gặp rất nhiều thuật ngữ kinh tế mới, đê hiểu chúng không thể thiếu

từ điển thuật ngữ chuyên ngành Ở Việt Nam hiện chưa có cuốn từ điển song ngữ Nga - Việt nào đáp ứng được nhu cầu người học và độc giả báo chí và tư liệu tiếng Nga

6 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thống kê để lựa chọn mục từ có tần số xuất hiện cao Phương pháp phân tích ngữ nghiã để tường giải nội dung các thuật ngữ Phương pháp đối chiếu để chọn thuật ngữ tương dương

7 Nội dung nghiên cứu:

A Một số vần đề lý luân về thuật ngữ tiếng Nga

I Từ vựng tiếng Việt xét về phương diẹn phạm vi sử dụng

Cũng như các ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung quốc) từ vựng tiếng Việt bao gồm nhiều lớp hạng khác nhau Khi xét về phạm vi sử

Trang 11

dụng của các từ trong hoạt động giao tiếp, ta có thể chia ra từ vựng toàn dân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ

1 Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng Nó là vốn

từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau và tầng lớp xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong một ngôn ngữ Nhiều nhà khoa học đều nhất trí quan điểm cho rằng, từ vựng toàn dân là hạt nhân vốn từ vựng của một dân tộc, không có nó ngôn ngữ không thể tồn tại và vì thế cũng không thể

có sự trao đổi giữa mọi người Từ vựng toàn dân còn là cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ

Về mặt ý nghĩa, từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng khách quan hay khái niệm quan trọng và cần thiết trong đời sống

Số lượng từ vựng toàn dân thông dụng bao gồm:

- danh từ: cuộc sống, ánh sáng, ngày, đêm, báo, tạp chí

- tính từ: thân yêu, trẻ, già, đỏ, xanh

- động từ: ăn, ở, xem, đọc

- đại từ: tôi, chúng ta, họ

- từ tình thái: tất nhiên, hiển nhiên, đáng tiếc, may thay

Trong thành phần vốn từ toàn đan có hàng chục nghĩa từ Thuộc tính của từ vựng toàn dân là tính chất phổ cập và hiểu được

Từ vựng toàn dân là bộ phân nòng cốt, hạt nhân của từ vựng văn học Nó là vốn từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng , tình cảm, miêu tả hiện tượng,

sự vật trong mỗi ngôn ngữ

Từ vựng toàn đân cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giầu kho

từ vựng của ngôn ngữ mỗi dân tộc nói chung Xét về đại thể, tuyệt đại đa

số các từ thuộc lớp từ vựng toàn dân là những từ mang tính chất trung hoà

về phong cách, tức là chúng có thể được sử dụng ở mọi phong cách chức năng khác nhau Đối lập với lớp từ vựng toàn dân là những lớp từ vựng dùng hạn chế ở mỗi phong cách nhất định Những lớp từ vựng bao gồm từ địa phương, từ nghề nghiệp, từ lóng, thuật ngữ

2, Từ địa phương

Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nhìn chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói (khẩu ngữ) hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải

là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo văn nghệ, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ như diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật v.v Chẳng hạn,

bà (toàn dân) mận (Thanh Hoá) mụ (Nghệ Tĩnh),

lợn (toàn dân) ỉn (Hải Hưng)` heo (Nam Bộ)

Trang 12

kia (toàn dân) tê (Thanh Hoá

rừng (toàn dân) ngàn (Nam Bô)

Từ vựng địa phương chủ yếu là từ vựng khẩu ngữ Để đảm bảo sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, khi dùng từ địa phương trong sách báo văn học, nghệ thuật, cần phải hết sức thận trọng và có mức độ Nói chung, chỉ nên dùng các từ địa phương vào sách báo văn nghệ trong những trường hợp hữu hạn: các sự vật nào đó lúc đầu chỉ được biết trong một khu vực nhất định, sau đó được phổ biến rộng rãi, có tính chất toàn dân Những từ địa phương có sắc thái biểu cảm mạnh mẽ hơn so với các từ nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân Nguyến Du là một bậc thầy trong việc sử dụng từ địa phương vào tác phẩm văn học

Đầu lòng hai ả Tố Nga

Cậy em em có chịu lời

Nhà văn Nguyễn Du là người miền Trung, song truyện Kiều dùng rất

ít từ địa phương Chính vì vậy Truyện Kiều đã đi vào quần chúng khắp Trung, Nam, Bắc Đáng tiếc một số tác phẩm văn học của ta đã dùng thái quá từ địa phương gây ấn tượng nặng nề đối với bạn đọc Văn hào Gooc-ki

đã kịch liệt lên án hiện tượng dùng từ địa phương một cách lạm dụng Ông viết: “Dùng từ mà chỉ nhân dân một vùng hiểu là một sai lầm nghiêm trọng, là phản nghệ thuật”

3 Tiếng lóng

Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải toàn dân hiểu và sử dụng, mà chỉ bó hẹp sử dụng trong một tầng lớp xã hội nào đó Có tiếng lóng của giới trẻ, có tiếng lóng

của bọn lưu manh, phe phẩy v.v ví như: đột vòm (ăn trôm), choai (thiếu

nữ dậy thì), bắt mối (tìm hàng)

Mặc dù tiếng lóng chỉ là từ có tính chất thông tục, chủ yếu được dùng trong ngôn ngữ nói của một tầng lớp xã hội nhất định, nhưng những tiếng lóng không thô tục, mà chỉ là tên gọi có hình ảnh của sự vật, hiện tượng nào đó

có thể được dùng phổ biến, dần dần thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân Trong các tác phẩm văn học nghệ thuật tiếng lóng được dùng làm một phương tiện tu từ để khắc hoạ tính cách và miêu tả hoàn cảnh sống của nhân dân

4 Từ ngữ nghề nghiệp

Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một ngành nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này thường được những người trong cùng ngành nghề đó

Trang 13

biết và sử dụng Do đó, từ ngữ nghề nghệp cũng là lớp từ vựng được sử dụng hạn chế về mặt xã hội

Ví dụ: cầy, bừa, bón lót, gieo thẳng (nghề nông); guồng cửi, đáng

ống, sợi mộc (nghề dệt); lá, móc vanh, chằng nón (nghề làm nón); đào, kép, kép đỏ, kép xanh (nghệ thuật tuồng) v.v

Nhìn chung, tuy là lớp từ vựng khác với tiếng lóng, từ ngữ nghề nghiệp là những tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tế Chúng không có

từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Tuy nhiên từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân, khi những khái niệm riêng của nghề nào đó trở thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội Khác với tiếng lóng, từ vựng nghề nghiệp nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn học Chúng có thể dùng trong sách báo chính luận và văn học nghệ thuật

Thí dụ: tư bản, tích luỹ, giá trị thặng dư (kinh tế học); âm vị, âm tiết,

hình vị (ngôn ngữ học)

Chúng ta cần phân biệt thuật ngữ với danh pháp khoa học Hệ thuật ngữ trước hết gắn liền với hệ thống các khái niệm của một bộ môn khoa học nhất định Các danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng trong một ngành chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm của khoa học này, mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi Thí

dụ trong môn địa lý, các từ: núi, sông, biển, xa mạc là các thuật ngữ, còn

tên núi, sông, biển, sa mạc cụ thể như Tam Đảo, sông Lô, biển Đen, sa mạc Xa-ha-ra là danh pháp; tên các loại vi-ta-min A, B, C, E cũng chỉ là danh pháp Như vậy, về mặt chức năng giống với các tên riêng Về bản chất, danh pháp là tên riêng của các đối tượng Nếu như ở thuật ngữ người ta nhấn mạnh chức năng định nghĩa của nó, thì đối với danh pháp chức năng định danh (gọi tên) mới là quan trọng

Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật vụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái (vi-a-min A, vi-a-min B ), là một chuỗi các con số (TU 104, SU 26) hay bất kỳ cách gọi tên võ đoán nào Nhà ngôn ngữ học Vinovic định nghĩa danh pháp như sau: “ danh pháp khác hệ thuật ngữ, nó chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu

Trang 14

tượng và ước lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta các phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt động với những

sự vật này”

Để so sánh thuật ngữ và danh pháp với từ bình thường và tín hiệu, ta

có thể sử dụng sơ đồ sau:

Tín hiêu – danh pháp - thuật ngữ - từ

Từ và tín hiệu ở vào thế đối lập, danh pháp gần với tín hiiệu, còn thuật ngữ gần với từ

II Những tiêu chí xác định thuật ngữ trong một ngôn ngữ nhất định Dựa vào những đặc điểm cơ bản của thuất ngữ, chúng ta có thể rút ra những tiêu chí xác định thuật ngữ trong vốn từ vựng mỗi dân tộc Nói chung, mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm, thế nhưng các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ Theo quan điểm cua A.A.Re-foc-mat-xki

“hệ thuật ngữ là một đặc điểm của khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là của những lĩnh vực hoạt động xã hội đã được tổ chức một cách trí tuệ (A.A.Re- foc-mat-xki Thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ là gì?” Những vấn đề về thuật ngữ, M 1961, tr 45-51) Chính vì thế, các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ là các khái niệm chính xác của một bộ môn khoa học nào

đó Trong nhiều công trình nghiên cứu người ta không dùng khái niệm “ý nghĩa từ vựng” cho các thuật ngữ, mà chỉ nói “nội dung của thuật ngữ” Do

sự tác động lẫn nhau, ý nghĩa của các từ thông thường có thể thay đổi trong những trường hợp khác nhau, còn nội dung của thuật ngữ là thuộc vào lĩnh vực thuần tuý về trí tuệ, chúng không bị thay đổi như thế Số phận của thuật ngữ không phụ thuộc vào sự phát triên của bản thân khoa học Nó chỉ thay đổi khi nào xuất hiện biểu tương mới, những quan niệm mới, chỉ thay đổi khi các khái niệm mà nó diễn đạt được xác lập lại Trong các từ điển thuật ngữ không được giải thích như các từ thông thường, mà thực chất là được định nghĩa Sự giải thích phụ thuộc vào mẫn cảm chủ quan của con người Còn muốn định nghĩa một thuật ngữ thì phải biết tường tận về môn khoa học thuật ngữ này Ngày nay, tất cả các thuật ngữ đếu là các thành tố của một lý thuyết nhất định và để hiểu thuật ngữ nào đó, cần phải hiểu tất

cả lý thuyết Công việc này đôi khi vượt quá khả năng của nhà ngôn ngữ học , đòi hỏi phải có sự hợp tác với những nhà chuyên môn khác

Như vậy, đặc điểm cũng như tiêu chí số một của thuật ngữ là tính chính xác Mỗi thuật ngữ đều bị qui định bởi hai trường: trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng là những liên hệ của thuật ngữ với các

Trang 15

từ khác trong ngôn ngữ nói chung Tất cả các từ không phải thuật ngữ cũng nằm trong cái trường như vậy Nhưng đối với thuật ngữ trường khái niệm

có tính chất tất yếu hơn Mỗi lĩnh vực khoa học đếu có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ, hữu hạn, được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Như vậy, mỗi thuật ngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, đều nằm trong một hệ thống thuật ngữ nhất định

Như vậy, muốn “thuật ngữ không cản trở đối với cách hiểu, lại thể hiện được vị trí của nó trong hệ thống thuật ngữ thì qua hình thức của thuật ngữ cần phải khu biệt nó về chất với các thuật ngữ khác loạt, đồng thời có

thể khu biệt nó về quan hệ so với những khái niệm cùng loại Thí dụ, âm vị,

âm tố, âm tiết, âm đoạn, âm hưởng, âm điệu, trong đó âm có giá trị phân

biệt về chất loại thuật ngữ này với các thuật ngữ khác Những từ còn lại: vị,

tô, tiết, đoạn, hưởng, điệu có giá trị khu biệt lẫn nhau trong loạt thuật ngữ

này Tương tự như vậy, vị với tư cách yếu tố nhỏ nhất có giá trị khu biệt về

một mặt nào đó, có thể cấu tạo thành loại thuật ngữ: hình vị, từ vị, nghĩa vị, thanh vị

Tính quốc tế

Thuật ngữ là lớp từ vựng đặc biệt biểu thị những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ Thông thường khi đề cập đến tính quốc tế của thuật ngữ, người ta chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của nó: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát một gốc

chung Ví dụ: các thuật ngữ rađiô, tiếp thị

Tiếng Việt rađiô, marketing

Tiếng Pháp radio, marketing

Tiếng Anh radio, marketing

Tiếng Nga радио, маркетинг

Thực ra, về hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ có tính chất tương đối Dường như không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Mức độ thống nhất của các thuật ngữ là khác nhau,

có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi hẹp hơn do lịch sử truyền thống hình thành các khu vực văn hoá khác nhau

Tính thống nhất

Tính thống nhất Tính thống nhất của thuật ngữ thể hiện trước hết ở

sự thống nhất trong phạm vi các khu vực văn hoá Các ngôn ngữ Ấn Âu chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Hy lạp, cho nên thuật ngữ của chúng thường bắt nguồn từ các tiếng La tinh và Hy lạp Tiếng Việt và một số thứ

Trang 16

tiếng khác ở Đông Nam Á, như tiếng Triều Tiên, Nhật Bản v.v xây dựng thuật ngữ phần lớn dựa trên cơ sơ các từ tố gốc Hán cũng là vì các dân tộc này có bang giao văn hoá lâu đời với Trung Quốc Có lé do sự thống nhất tương đối về hình thức cấu tạo của thuật ngữ giữa các ngôn ngữ mà nhiều người đã xem nhẹ tính quốc tế của thuật ngữ Trong hội nghị về chủẩn hoá thuật ngữ khoa học tổ chức năm 1978 mọi người tham dự chỉ nhất trí được với nhau ở tính chính xác và tính hệ thống của thuật ngữ, còn về những điểm khác của thuật ngữ thì mỗi người quan niệm một khác: người thì đưa thêm tính dân tộc, người thì đưa thêm tính đơn nghĩa, người thì đưa thêm tính ngắn gọn v.v Theo quan điểm của chúng tôi, tính dân tộc, tính dễ hiểu, tính ngắn gọn không chỉ là đặc trưng riêng của thuật ngữ, mà những từ thông thường cũng phải có, càng phải có những tính ấy Khi xây dựng thuật ngữ chẳng những phải bảo đảm những tính chất riêng của thuật ngữ, mà còn phải bảo đảm cả những tính chất chung của thuật ngữ với những lớp từ vựng khác

III Thuật ngữ và từ ngữ thông thường

Thuật ngữ không cách biệt hoàn toàn đối với từ toàn dân và các lớp

từ vụng khác Thuật ngữ dẫu sao vẫn là một bộ phận của hệ thống từ vựng nói chung, có quan hệ với từ khác trong hệ thống ngôn ngữ Cả các tù thông thường lẫn thuật ngữ đều chịu sự chi phối của các qui luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngôn ngữ nói chung Màu sắc chuyên môn cũng như phạm vi sử dụng hạn chế của thuật ngữ sẽ không còn là cái gì hoàn toàn đối lập với ngôn ngữ toàn dân khi mà trình độ khoa học của quảng đại quần chúng được nâng lên Khi đó các thuật ngữ, trừ các thuật ngữ chuyên môn quá hẹp, không còn là lĩnh vực riêng của các nhà chuyên môn thuộc ngành khoa học nào đó Giữa từ toàn dân và thuật ngữ có quan hệ xâm nhập lẫn nhau Từ toàn dân có thể trở thành thuật ngữ và ngược lại Một khi từ toàn dân trở thành thuật ngữ, thì ý nghĩa của nó được hạn chế lại, có tính chất chuyên môn hoá: tính chất hình tượng và giá trị gợi cảm mất đi, những mối liên hệ mới xuất hiện Ví dụ: Thuộc lớp từ toàn dân “nước” có nghĩa là “chất lỏng” nói chung, vì vậy nó có thể kết hợp với các từ khác như: nước biển, nước sông, nước hồ, nước đổ lá khoai Khi chuyển thành thuật ngữ hoá học “nước” chỉ còn biểu thị chất lỏng do sự kết hợp của ô-xy

và hy-drô mà thành Nó cũng không còn gợi lên một hình tượng đẹp “đáy

nước in trời” như trước đây

Các thuật ngữ trong một số trường hợp nhất định cũng có thể trở thành từ vựng toàn dân Tuy nhiên không phải toàn bộ thuật ngữ với cả khái niệm khoa học mà nó diễn đạt đều có thể chuyển hoá vào ngôn ngữ

Trang 17

toàn dân, mà chỉ là cái vỏ ngữ âm của nó mà thôi Ví dụ: thuật ngữ “dứt điểm” vốn là thuật ngữ của ngành thể dục thể thao đã được dùng rộng rãi

để chỉ hiện tượng làm việc gì đó có tính toán, có chương tính sắp xếp trước sau, như: “Chúng ta cần phải giải quyết dứt điểm xoá nghèo trong quí I” v.v

Chính do sự chuyển hoá lẫn nhau giữa thuật ngữ và từ ngữ toàn dân

mà chúng ta thấy ngoài những thuật ngữ chỉ nằm trong hệ thống thuật ngữ nào đó (âm vị, cụm từ, ngữ pháp ) còn có những thuật ngữ đồng thời là những từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân (âm, tiếng, nước, lợi v.v ) Mặt khác, hiện tượng các từ thông thường có thể trở thành thuật ngữ mở ra cho chúng ta khả năng cấu tạo hàng loạt thuật ngữ trên cơ sở ngôn ngữ toàn dân

Nói tóm lại, tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính thống nhất là những đặc trưng cơ bản của thuật ngữ, đồng thời cũng là những tiêu chí quan trọng giúp chúng ta phân biệt thuật ngữ với các lớp từ vựng khác

IV Con đường hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt

Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy thuật ngữ trong tiếng Việt hình thành nhỡ ba con đường cơ bản là: thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường, cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng phương thức

mô phỏng và mượn nguyên những thuật ngữ nước ngoài Hệ quả của những quá trình này là hình thành ba lớp thuật ngữ với những đặc trưng khác nhau về hình thái và ngữ nghĩa trong vốn thuật ngữ tiếng Việt Đó là lớp thuật ngữ thuần Việt, lớp thuật ngữ mô phỏng thuật ngữ quốc tế

1/ Con đường thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường thực chất là con đường dùng phép chuyển di ngữ nghĩa của từ để tạo thuật ngữ Sự chuyển

di ngữ nghĩa nay tuy khá tinh tế và phức tạp, nhưng vẫn có thể qui về hai dạng: hình thái chuyển di không dẫn đến chuyển nghĩa và hình thái chuyển

di dẫn đến chuyển nghĩa

Hình thái thứ nhất có thể gặp ở số khá lớn các từ thường là những từ thuộc vốn cơ bản như: người, cây, cỏ, vàng, đỏ, vuông, tròn Ở những từ này, trong ý thức người bản ngữ, ranh giới giữa nghĩa thường dùng và nghĩa thuật ngữ không phải bao giờ cũng rõ nét Dường như nghĩa thường dùng (nghĩa gốc) và nghĩa thuật ngữ (cũng là nghĩa gốc) về căn bản là đồng nhất Vì thế, các nhà từ điển học thường gặp phải vấn đề nan giải là: nên giải thích nghĩa của những từ này theo lối “ngữ văn” hay theo lối “hàn lâm” (I.V.Sec-ba, 1958, tr 68) “Đường thẳng” giải thích theo lối “hàn lâm” là “đường” hay “khoảng cách” ngắn nhất giữa hai điểm”, nhưng trong cách hiểu thông thường thì đó là “đường không lệch về bên phải hay bên

Trang 18

trái Thí dụ này cho thấy giữa cách hiểu nghĩa có tính ngữ văn và cách hiểu nghĩa có tính chất hàn lâm có độ chênh nhất định Độ chênh ấy có thể lớn hay nhỏ tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của khoa học, trình độ hiểu biết của con người về thế giới xung quanh

Do nhận thức khác nhau về giá trị của các thuộc tính của sự vật mà

sự lựa chọn các tiêu chí để phân loại sự vật cũng khác nhau Chẳng hạn, trong cách hiểu thông thường, “cá voi” dược liệt vào loài cá, song cách hiểu khoa học, cá voi không thuộc loài cá, mà thuộc loài động vật có vú Vì vậy, có thể nói rằng, nghĩa thuật ngữ là nghĩa có tính chất xác định trong một hệ thống xác định Khi vượt ra ngoài hệ thống, hoặc khi chuyển hệ thống thuật ngữ ắt phải lập lại một tính xác định mới về nghĩa Thí dụ:

“than” - nghĩa thường dùng trong cụm từ than trong bếp lò; “than” - nghĩa thuật ngữ trong cụm từ mỏ than hay trong hội hoạ - vẽ than

Trong việc xác định nội dung khái niệm do thuật ngữ biểu thị có thể thấy sự khác nhau không chỉ giữa các trường phái, mà thậm chí giữa các nhà khoa học trong cùng trường phái với nhau Điều đó là tự nhiên, là lẽ thường trong đời sống khoa học Và nhiều khi sự khác nhau ấy lại là chất men kích thích những cuộc tranh luận sôi nổi để làm sáng tỏ chân lý, thúc đẩy khoa học phát triển

Tóm lại, hình thái chuyển di ngữ nghĩa vừa xét thực chất là sự chuyển di phạm vi ứng dụng của một nghĩa thường là nghĩa gốc, nghĩa căn bản của từ từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, với những cách nhìn nhận từ những góc độ khác nhau Do đó ở hình thái chuyển di ngữ nghĩa này, tính qui tắc của quá trình thuật ngữ hoá thương rất mờ nhạt Và nghĩa thường dùng là nghĩa thuật ngữ chưa có sự tách biệt rành rọt

Tính qui tắc

Tính qui tắc chỉ thể hiện rõ rệt ở hình thái thư hai của sự chuyển di ngữ nghĩa của thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường

Thí dụ: “no” trong ăn no khác với nghĩa “no” trong hoá học Trong

trường hợp này, nghĩa thuật ngữ là một mắt khâu của quá trình phát triển nghĩa từ Nếu hiểu cấu trúc nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa của từ ấy nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau lập thành một hệ thống, thì nghĩa thuật ngữ là một bộ phận, một thành tố trong hệ thống ấy

Cơ sở để chuyển di từ nghĩa thương dùng, nghĩa gốc sang nghĩa thuật ngữ, nghĩa phái sinh trong các trường hợp đang xét là mối quan hệ tương đồng hay mối quan hệ tương ứng những thuộc tính của sự vật, quá trình được phản ánh trong khái niệm do từ ngữ biểu thị

Nếu sự chuyển di ngữ nghĩa ấy dựa vào quan hệ tương đồng, thì cúng ta sẽ có nghĩa thuật ngữ hình thành theo phép ẩn dụ hoá Thí dụ:

Trang 19

Nghĩa của “cánh” trong cánh chim khác với nghĩa của “cánh” trong cánh

tả, cánh hữu Nghĩa của hai từ sau là nghĩa của thuật ngữ hình thành theo

phép ẩn dụ

Nếu sự chuyển di ngữ nghĩa dựa vào quan hệ tương cận, thì chúng

ta sẽ có nghĩa thuật ngữ hình thành theo phép hoán dụ hoá Đó là nghĩa đầu

người trong binh quân thu nhập theo đầu người v.v

Phép ẩn dụ và phép hoán dụ là hai hình thức chuyển di nghĩa có tính nguyên tắc Đó là những hình thái rất cơ bản trong sự phát triển nghĩa của

từ, bao gồm cả nghĩa của thuật ngữ Quả trình chuyển di ngữ nghĩa dưới hai hình thái này diễn ra đều đặn Khi sự chuyển di ngữ nghĩa đã xảy ra ở một từ trong nhóm hoặc trường từ vựng nào đó, thì thường kéo theo sự chuyển di ngữ nghĩa đã xảy ra ở một từ trong nhóm hay trường từ vựng nào

đó, thì thường kéo theo sự chuyển di ngữ nghĩa ở nhiều từ khác trong cùng trường từ vựng ấy theo một hường nhất định

Thí dụ: “Trắng” và “đen” đã kéo theo nhau cùng một hướng khi

chuyển di sang nghĩa thuật ngữ trong sách trắng, sách đen Cũng như vậy, khi “đỏ”, “xanh” và “vàng” được dùng với nghĩa thuật ngữ trong nhạc đỏ,

nhạc xanh, nhạc vàng hay trong công hội đỏ, công đoàn vàng v.v

Nhìn chung, hình thái của các thuật ngữ thuần Việt không có gì đặc biệt so với hình thái của các từ ngữ thông thường Dấu hiệu duy nhất giúp chúng ta có thể nhận diên được thuật ngữ là đặc điểm của chu cảnh xuất hiện của nó, tức là đặc điểm về khả năng tổ hợp của nó với những từ ngữ nhất định Tất nhiên, đặc điểm này cũng chỉ có thể bộc lộ ra khi chúng ta đối lập chu cảnh của từ với tư cách thuật ngữ với chu cảnh của từ dùng với

ý nghĩa thông thường

Hãy so sánh: “”đứng” trong tổ hợp men đứng khác với kẻ đứng,

người ngồi, dựng đứng Ở đây mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp

trong những trường hợp đang xét là rất đáng chú ý

2/ Cấu tạo thuật ngữ theo phương pháp mô phỏng thực chất là sử dụng những yếu tố và mô hình cấu tạo từ tiếng Việt để dịch nghĩa những thuật ngữ tương ứng trong tiếng nước ngoài Thí dụ: “cánh cứng” trong sâu

bọ Thuật ngữ này là sự mô phỏng của coléo plère, trong đó “cánh” tương ứng với với “plère”, cứng tương ứng với “coléo”

Theo Nguyễn Như Ý, neeusa chỉ xét về hình thái, thì có thể coi thuật ngữ cấu tạo trong tiếng Việt là thuật ngữ Việt Tuy nhiên, nếu xét về ngữ nghĩa, tức là mặt khái niệm do nó biểu thị, thì có thể coi nó là thuật ngữ quốc tế Do thói quen trong cách diễn đạt của ngôn ngữ học, chúng ta gọi thuật ngữ được tạo ra theo phương thức như thế là thuật ngữ mô phỏng Khái niệm khoa học do các thuật ngữ này biểu thị là thành tựu chung của

Trang 20

trí tuệ loài người Nói “dịch nghĩa” hay “mượn nghĩa” là nói theo thói quen với cách hiểu ít nhiều có tính ước lệ

Tất nhiên, khi biểu thị những khái niệm khoa học chung này, mối dân tộc đều làm theo cách riêng của mình Cách riêng này thể hiện ở việc

sử dụng những yếu tố và phương thức cấu tạo từ vốn có trong mỗi ngôn ngữ Vì thế, muốn nhận diện đặc trưng của các thuật ngữ mô phỏng, phải phân tích tỉ mỉ đặc trưng của các yếu tố và mô hình cấu tạo nên những thuật ngữ ấy

Trong tiếng Việt các yếu tố tham gia cấu tạo những thuật ngữ đang xét là những yếu tố có nghĩa, tức là những yếu tố có tư cách làm hình vị:

tính, thể, nửa (bán), hoá v.v Về nguồn gốc những yếu tố này có thể thuần

Việt, như: hai, cặp, đôi, kép, có thể là gốc Hán như: nhị, lưỡng, song

Về mặt hình thái các yếu tố này có những dặc trưng sau đây:

a/ Có khả năng hoạt động với tư cách những đơn vị độc lập hay

không độc lập ở mức độ khác nhau Thí dụ: máy, sự, sức Một số đơn vị khác không có khả năng hành chức độc lập, kiẻu như: “hoá” trong hiện đại

hoá, công nông hoá, “kế” trong nhiệt kế, “đẳng” trong đẳng cấp, bình đẳng

Số đơn vị thứ ba là những đơn vị trung gian giữa hai loại vừa nêu, tức là những đơn vị mà ở trong hoàn cảnh này thì được dùng độc lập, song ở trong hoàn cảnh khác thì lại được dùng hạn chế So sánh: “học” trong

người có học và “học” trong học thuyết và sinh vật học

b/ Có sự phân bố về vị trí và có vai trò khác nhau trong cấu trúc của thuật ngữ Những yếu tố trung tâm chính là những yếu tố có khả năng hành chức độc lập , như: “lực: trong lực kéo, nội lực, ngoại lực những yếu tố ngoại biên là những yếu tố không độc lập, trong đó:

- có những yếu tố chuyên đứng trước, như: “tự” trong tự trị, tự phê

phán

- có những yếu tố chuyên đứng sau, như: “tử” trong lượng tử, phần

tử

- có những yếu tố vừa có thể đứng trước, vừa có thể đứng sau, như:

“tính” trong tính đảng, tính giai cấp, lưỡng tính, nam tính, nữ tính

c/ Sức sản sinh của các yếu tố đang xét không đều nhau, và có một

số đáng kể các yếu tố có sức sản sinh khá lớn Thí dụ: yếu tố “chủ nghĩa” -

chủ nghĩa xã hôi, xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản, tư bản chủ nghĩa

Về mặt ngữ nghĩa các đơn vị đang xét có những đặc trưng sau đây: a/ Nghĩa của số lớn những đơn vị đang xét là nghĩa từ vựng-ngữ pháp, và nó biểu thị các khái niệm thuộc những phạm trù rất khái quát Thí

Trang 21

dụ: sự, tính, vị, tố, hoá Do đặc trưng này mà các đơn vị đang xét có giá

trị chuyên biệt trong việc phạm trù hoá thuật ngữ Thật vậy, có những yếu

tố chuyên động ngữ hoá thuật ngữ, như “hoá” trong mã hoá, ô-xy hoá Có những yếu tố chuyên tính ngữ hoá thuật ngữ, như: “phi” trong phi vô sản,

phi chính nghĩa, phi giai cấp Có những yếu tố chuyên danh ngữ hoá, như

“sự” trong sự tồn tại, sự vật “phép” trong phép biện chứng, phép nhân,

phép tổng hợp

b/ Do các yếu tố đang xét biẻu thị những khái niệm khái quát, có tính chất phạm trù, đồng thời lại có nguồn gốc khác nhau, nên giữa chúng thường diễn ra sự “xung đột đồng nghĩa” Hiện tượng này là hệ quả tất yếu của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, khi có các yếu tố thuộc ngôn ngữ này xâm nhập vào ngôn ngữ khác (hiện tượng giao thoa).Thí dụ: yếu tố gốc Hán

“đại” xâm nhập vào tiếng Việt, trong khi đó tiếng Việt đã có từ “to”, “lớn”

Và giữa “đại” và “to”, “lớn” tất yếu sẽ xảy ra sự xung đột đồng nghĩa Yếu

tố ngoại lai có thể thay thế yếu tố thuần Việt trong những trường hợp nhất

định: đại gia, vĩ đại Yếu tố ngoại lai và yếu tố thuần Việt có thể song

song tồn tại và có sự phân bổ về nghĩa và phạm vi sử dụng Thí dụ: hàn // lạnh, hoả // lửa Một bên là thuật ngữ của ngành y, một bên là từ thường dùng trong đời sống hàng ngày Khi cấu tạo các thuật ngữ mô phỏng thì việc tuyển chọn yếu tố thuần Việt hay yếu tố gốc Hán trở thành một vấn đề quan trọng Trong việc này các nhà thuật ngữ học phải cùng một lúc vận dụng làm sao cho nhuần nhuyễn những nguyên tắc khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn nhau, để tạo nên những thuật ngữ vừa chính xác, vừa có tính hệ thống, mà lại ngắn gọn

3/ Thật vậy, con đường thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường và con đường cấu tạo thuật ngữ bằng phương thức dịch nghĩa, hay mô phỏng là hai con đương xây dựng vôn thuật ngữ trên cơ sở tiếng Việt Khi nào không hoặc chưa tìm được khả năng thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường và cấu tạo thuật ngữ mô phỏng, thì các nhà khoa học tìm đến con đường thứ

ba - con đường tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài Trong một thời gian dài,

do những điều kiện lịch sử của sự giao lưu văn hoá qui định, nên việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt thường thông qua tiếng Hán Điều đó hầu như là tự nhiên, và cũng có những thuận tiện nhất định, bởi lẽ tiếng Việt và tiếng Hán cùng thuộc một loại hình, có quan hệ tiếp xúc từ lâu đời Và trong thực tế có nhiều thuật ngữ gộc Hán được đọc theo âm Hán-Việt Đặc biệt là những thuật ngữ chính trị, triết học đã đi vào vốn từ vựng của tiếng Việt với tư cách như những yếu tố ổn định và được đồng

hoá ở những mức độ khác nhau Thí dụ: độc lập, tự do, hạnh phúc, cách

mạng, dân tộc, dân chủ Trong mấy thập kỷ gần đây, khi mà tiếng Việt đã

Trang 22

trở thành ngôn ngữ phát triển, đã phát huy đầy đủ các chức năng xã hội của mình và được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, khi mà hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá diễn ra trên phạm vi toàn cấu, thì thấy nổi lên hai xu hường đáng chú ý trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài Đó là:

a/ Xu hướng dùng thuật ngữ được cấu tạo bằng các yếu tố Việt thay cho các thuật ngữ gốc Hán trong những trường hợp cho phép:

máy bay thay cho phi cơ, sân bay thay cho phi trường tên lửa thay cho hoả tiễn

b/ Xu hướng tiếp nhận trực tiếp nhiều thuật ngữ gốc tiếng nước ngoài (Ấn-Âu) không thông qua trung gian là tiếng Hán:

acid thay cho cường toan,

vitamin thay cho sinh tố

Từ những phần trình bày trên đây có thể rút ra kết luận:

Vốn thuật ngữ của tiếng Việt, cũng như của bất kỳ ngôn ngữ nào khác, bao giờ cũng bao gồm một bộ phận thuộc bản ngữ và một bộ phận ngoại lai Trong tiến tình hình thành và phát triển thuật ngữ, luôn luôn thấy

có hai xu hướng, mới xem thì có vẻ trái ngược nhau, song trong thực tế lại

có quan hệ rất biện chứng DDps là xu hướng bản ngữ hoá và xu hướng quốc tế hoá Nếu nhận thức phiến diện và không sâu sắc những thực tế này, thi khó tránh khỏi những sai lầm về chủ trương và quan điểm trong khoa học

B Từ điển học - từ điển thuật ngữ chuyên ngành

Vấn đề thuật ngữ trong từ điển

1 Lịch sử vấn đề

Chuyên ngành từ điển học Việt Nam về mặt lý luận so với các nước còn rất non trẻ và chưa có mấy thành tựu lý luận làm cơ sở cho các nhà làm

từ điển dựa vào đó để biên soạn cụ thể

Mặc dù vậy, trong nhiều thập kỷ qua do nhu cầu thúc bách các nhà ngôn ngữ đã kết hợp với các chuyên gia rất nhiều ngành khác nhau biên soạn được nhiều loại từ điển chuyên ngành để phục vụ cho công tác nghiên cứu, dịch thuật và học tập Trước hết phải kể đến các loại từ điển song ngữ chuyên ngành Nga - Việt, một số lớn được biên soạn có sự hợp tác với các chuyên gia Nga Những cuốn tự điển này đã đóng góp to lớn về mặt thực

Trang 23

tiễn trong qui trình đào tạo chuyên gia, cũng như trong việc phổ biến khoa học-kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho Việt Nam

Gần đây, nhất là sau ngày nước ta thống nhất hai miền, quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá được mở rộng trong xu thế hoà nhập chung, tiếng Anh được phổ biến rộng rãi hơn theo nhu cầu thực tế, cũng như dưới sự áp đặt cứng nhắc của những người quản lý giáo dục Cùng với hiện tượng đó trên thị trường sách xuất hiện rất nhiều loại từ điển Anh - Việt, Việt - Anh Chúng rất đa dạng về mặt thể loại, mục tiêu, nội dung và phương pháp biên soạn đến mức không thể kiểm soát nối và không dễ gì chọn được cho mình một cuốn phù hợp với nhu cầu sử dụng

Việc thành lập Viện Từ điển học & Bách khoa thư mới đây (2009) là rất đúng lúc: cần phải có một cơ quan chức năng đứng ra chỉ đạo về mặt chuyên môn cũng như thực tiễn để hỗ trợ cho các nhà chuyên môn biên soan những sách công cụ không thể thiếu được trong học tập, nghiên cứu

và hoạt động khoa học, sản xuất hiên nay

Trong phần này chúng tôi muốn bàn tới loại từ điển song và đa ngữ, hơn nữa tập trung sự chú ý tới loại từ điển học tập mang tính chuyên ngành (cụ thể là chuyên ngành kinh tế rộng, bao gồm: tài chính, ngân hàng, chứng khoán, thương mại

TS Bùi Hiền, trong bài viết “Từ điển song ngữ, đa ngữ, nhìn tư góc

đọ giáo học pháp ngoại ngữ” đã giới thiệu một số loại từ điển song ngữ

điển hình

1/ Từ điển đối dịch đơn thuần

Mục từ phong phú, nhưng nghĩa đơn giản và thiếu ngữ cảnh nên khó dùng chính xác các nghĩa khác nhau và trong những ngữ cảnh cụ thể

2/ Từ điển đối dịch có thí dụ minh hoạ

Sự phân chia ngữ nghĩa cụ thể hơn và sau mỗi nghĩa đều có thí dụ minh hoạ với những ngữ cảnh cụ thể Những thí dụ này giúp cho người học

và sử dụng từ điển hiểu và sử dụng từ ngữ chính xác hơn, dễ hợn

3/ Từ điển đối dịch có giải thích và minh hoạ Loại từ điển này cung cấp cho người sử dụng phần giải thích cụ thể hơn ngữ nghĩa của từ băng

Trang 24

những từ đồng nghĩa, gần nghĩa , tránh được những nhầm lẫn trong cách hiểu và sử dụng chúng trong những tình huống cụ thể

4 Từ điển đối dịch giáo khoa

Mục đích cơ bản của loại từ điển này là đáp ứng nhu cầu dạy/học ngoại ngữ Do vậy các tác giả chú ý trước hết đến bảng từ hạn chế cho từng loại đối tượng, việc phân nghĩa rành mạch và kèm theo thí dụ minh hoạ trong những tình huống sử dung khác nhau

Ví dụ cuốn “Từ điển giáo khoa Nga-Việt” do TS Bùi Hiền chủ biên, được biên soạn theo những nguyên tắc sau:

- Tối thiểu hoá từ vựng và ngữ nghĩa

- Tích cực hoá các ý nghĩa cơ bản của mục từ

- Chi tiết hoá, đa dạng hoá mục từ và các nghĩa

5 Từ điển đối dịch giáo khoa và tra cứu

Loại từ điển nay không chỉ phục vụ cho công việc day/học ngoại ngữ, mà còn có chức năng tra cứu nhằm giúp các phiên dịch viên và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tìm hiểu sâu hơn Khối lượng từ vựng có tần số

sử dụng cao được tăng, nghia từ vựng và thí dụ minh hoạ được thể hiện băng hai ngôn ngữ đối dịch

Theo nhận định của TS Bùi Hiền, từ điển song ngư, đa ngữ còn có khả năng phát triển, đa dạng hoá trong tương lai để kịp thời phục vụ nhu cầu xã hôi (Từ điển học & Bách khoa thư” số 1, 2009, tr 53)

Từ điển song ngữ, đa ngữ thuật ngữ khoa học có đặc trưng riêng - trước hết được phân chia ra theo các ngành khoa học chung (rộng): Từ điển thuật ngữ khoa học xã hôi (Nga-Pháp-Việt), Hà Nội, 1979; Từ điển lỹ thuật tổng hợp Nga-Việt, Hà Nội-Matxcơva, 1973, và các chuyên ngành sâu (hẹp) như: Từ điển thuật ngữ triết học- chính trị Nga-Việt, Hà Nội, 1970; Từ điển thuật ngữ mỹ thuật Pháp-Việt, Hà Nội, 1970; Từ điển thuật ngữ luật học Nga-Trung-Pháp-Việt, Hà Nội, 1971; Từ điển Nga-Việt cơ khí, Hà Nội, 1970; Từ điển Nga-Việt nông nghiệp, Hà Nội, 1970; Từ điển xây dựng Nga-Việt, Hà Nội - Matxcơva, 1989; Từ điển tài chính - tín dụng Nga-Việt, Hà Nội, 1982 và còn nhiều cuốn khác nữa

3 Thuật ngữ khoa học trong từ điển chuyên ngành

Để biên soạn thành công cuốn Từ điển thuật ngữ kinh tế Anh, trước hết phải khảo sát hiện trạng thuật ngữ kinh tế trong hai ngôn ngữ đối chiếu, cụ thể trong tiếng Nga và tiếng Việt qua những văn bản cụ thể, qua các từ diển hiện có Đấy là những ngữ liệu rất cần thiết cho các soạn giả

Nga-Việt-1/ Về thuật ngữ nói chung (xem phần A ở trên)

Trang 25

2/ Đặc trưng thuật ngữ kinh tế trong tiếng Việt

Thuật ngữ kinh tế trong tiếng Việt đã trải qua một quá trình hình thành chưa lâu, song về mặt lý thuyết các nhà nghiên cứu cũng đã đúc kết được một số kết luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu và ứng dụng sau này Chúng tôi tham khảo các nhận xét chung về thuật ngữ của TS Hà Quang Năng, Viện Từ điển học & Bách khoa thư để khảo sát hệ thống thuật ngữ thuộc chuyên ngành kinh tế

1/ Về việc hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt

Những năm 60 thế kỷ trước chúng ta đã biên soạn ra nhiều từ điển thuật ngữ khoa hoc song ngữ Nga - Việt Những cuốn từ điển này có vai trò lịch sử rất quan trọng, chúng đánh dấu một giai đoạn, một quá trình phát triển và bước đầu hoà nhập của khoa học Việt Nam với khoa học quốc tế, đồng thời góp phần chuẩn hoá thuật ngữ khoa học nói chung và thuật ngữ kinh tế nói riêng ở nước ta

Gần đây trong xu thế hội nhập, để kịp nắm bắt những kiến thức mới, tiến kịp đà phát triển của khoa học-kĩ thuật, kinh tế thị trường, thì thuật ngữ học bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn phát triển cao hơn và đổi mới Giai đoạn phổ biến rộng rãi tiếng Anh, ngôn ngữ hiện được nhiều nước sử dụng trong mọi hoạt động xã hội Cũng theo đó các loại từ điển Anh - Việt

và Việt-Anh được phát triển rầm rộ Như thống kê cho biết, trong số 118 cuốn từ điển song ngữ thì có tới 55 cuốn là từ điển thuật ngữ Và trong số

55 cuốn từ điển kể trên thì có tới 15 cuốn thuộc chuyên ngành kinh tế (H.Q.Năng Từ điển học & Bách khoa thư, số 2, 2009, tr.33)

2/ Các con đường xây dựng thuật ngữ tiếng Việt

Như đã trình bày ở phần A, cùng với các ngôn ngữ phát triển, thuật ngữ tiếng Việt cũng trải qua ba con đường cơ bản là;

1/ Thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường

Đây là phương thức cơ bản - sử dụng những ngữ liệu có sẵn trong ngôn ngữ để phát triển bản ngữ, trước hết bằng con đường biến đổi và phát triển nghia của từ - tạo ra một nghĩa mới mang tính chất thuật ngữ

2/ Cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng phương thức sao phỏng Sao phỏng ở đây là quá trình chuyển nghĩa, khi người dịch không tìm được từ ngữ tương đương với từ ngữ nước ngoài trong tiếng mẹ đẻ Đây cũng là một phương thức phổ biến và cần đước khuyến khích Thuật ngữ kiểu này dễ phổ biến, dễ đi vào cuộc sống và có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, vì chúng được cấu tạo từ những yếu tố và mô hình cấu tạo từ vựng sẵn có trong tiếng Việt để chuyển tải nghĩa của những thuật ngữ nước ngoài cần du nhập vào

hệ thống thuật ngữ của chúng ta Thực chất của phương thức này là dịch

Trang 26

từng thành tố cấu tạo thuật ngữ hoặc từng từ trong thành phần cấu tạo thuật ngữ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt

3/ Vay mượn nguyên thuật ngữ nước ngoài

Vay mượn từ vựng nói chung và thuật ngữ nói riêng là hiện tượng phổ biển trong các ngôn ngữ Hiện tượng này ngày càng phát triển cùng với

sự mở rộng xu thế hoà nhập và toàn cầu hoá Sự giao lưu và thông thương trên phạm vi toàn thế giới làm tăng rõ rệt đặc tính quốc tế của thuật ngữ, nhất là trong lĩnh vực khoa học-kĩ thuật Qua khảo sát chúng tôi thấy việc vay mượn lẫn nhau xẩy ra chủ yếu trong phạm vi các ngôn ngữ cùng loại hình với nguyên dang hoắc với sự bản ngữ hoá về hình thái và cấu trúc Tuỳ theo loại hình ngôn ngữ và văn tự chúng ta có thể gặp những hình thức vay mượn như sau: Bằng phương thức phiên âm, chuyển tự hoặc giữ nguyên dạng

- nhiều thuật ngữ mới vay mượn cần có phần tường giải hoắc chú thích để nói lên được đúng bản chất của sự vật

1/ Thuật ngữ kinh tế

Trong lịch sử phát triển nền kinh tế nước ta cũng như của LB Nga có nhiều điểm tương đồng: trước kia tồn tại một nền kinh tế kế hoạch hoá chặt chẽ và bao cấp, nay đang chuyển đổi dần sang nền kinh tế thị trường tự do phù hợp với xu thế toàn cầu hoá về mọi mặt, không chỉ về kinh tế Về bản chất hai nền kinh tế trước kia và hiên nay ở hai nước khác nhau được thể hiện về cơ cấu, quản lý, mục tiêu, đào tạo chuyên gia Những thay đổi trong đời sống kinh tế được phản ảnh trong ngôn ngữ, trước hết là về mặt

từ vựng - những khái niệm cũ, lạc hậu, không sử dụng nữa sẽ mất đi, thay vào đó là những cái mới, những cái đang phát triển để phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, những nội dung mới tất yếu sẽ kéo theo những biến đổi trong lĩnh vực từ vựng của ngôn ngữ, trong đó hệ thống thuật ngữ buộc phải đôi mới - một sô từ không sử dụng nữa hoặc được sử dung với tư cách từ lịch sử, song song với hiện tượng đó ngôn ngữ cần một khối lượng

Trang 27

thuật ngữ mới để chuyển tải những khái niêm mới và dân đến việc bổ sung

hệ thống thuật ngữ chuyên ngành bằng nhiều cách khác nhau theo qui luật chung của các ngôn ngữ Một đặc trưng quan trọng của thuật ngữ là tính quốc tế, đặc trưng này cho phép vay mượn ồ ạt các thuật ngữ của các ngôn ngữ khác, chủ yếu là các ngôn ngữ cùng loại hình

Qua khảo sát và lập bảng từ cho cuốn “Từ điển thuật ngữ kinh tế

Nga-Việt-Anh” chúng tôi có một số nhận xét chính về tình hình thuật ngữ

kinh tế tiếng Nga hiện nay để trên có sở đó lựa chọn những thuật ngữ đối dịch ở phần tiếng Việt và phần so sánh trong tiếng Anh

Hệ thống thuật ngữ kinh tế của tiếng Việt hiện đã lạc hậu, cần phải

bổ sung và hệ thống hoá lại cho kịp với sự phát triển của nền kinh tế nước

ta và để góp phần vào việc nghiên cứu, học tập và phổ biến kiến thức khoa học kinh tế

2/ Đặc trưng của thuật ngữ kinh tế Nga

Qua khảo sát qua một số từ điển song ngữ Nga - Việt, Nga - Anh) chúng tôi nhận thấy:

- Nhiều thuật ngữ đại diện cho hệ thống kinh tế kế hoạch hoá, quan liêu bao cấp trước kia nay không còn nữa

- Xuất hiện nhiều thuật ngữ mới, những nghĩa mới được phái sinh từ vốn từ vụng có trong tiếng Nga

- Nhiều (rất nhiều) thuật ngữ được vay mượn từ tiếng nước ngoài, chủ yếu từ tiếng Anh bằng nhiều phương thức theo quy luật chung của các ngôn ngữ và phương thức đặc thù cho ngôn ngữ biến tố như tiếng Nga

Về cấu trúc: thuật ngữ đơn it Chủ yếu là những thuật ngữ ghép từ hai thành tố trở lên Ví dụ:

Chuyển nghĩa: бумага dt giấy, giấy tờ,

• ценные бумаги giấy có giá, chứng khoán

• государственные ценные бумаги trái phiếu chính

phủ

• дисконтные ценные бумаги chứng khoán đã chiết

khấu

голод dt 1 đói, đói bụng, nạn đói 2 thiếu, khan hiếm

• денежный голод nạn khan hiếm tiền mặt

• доларовый голод khan hiếm đô la

• книжный голод nạn đói sách / ngoài thị trường/

Trang 28

востро - vostro - tài khoản vostro

грант - grant - quyền hưởng trợ cấp

гратис - gratis - miễn phí

дамно - damno - sự sụt giảm tỷ giá chứng khoán

декорт - decort - chiết giá

дефольт - default - vỡ nợ, không thực hiện nghĩa vụ chi trả джоббер - jobber - người buôn bán cổ phần chứng khoán джойнт-венчур - jont-venture - liên doanh

пауперизм - pauperism - tình trạng đói nghèo

прайм-рейт - prime-rate - lãi suất cơ bản

профит - profit - tiền lời, tiền lãi, lợi nhuận

инвойс - invoice - hoá đơn

инсайдеч - insider - người nắm được thông tin nội bộ

каутeр-чек - counter check - séc tại quầy

ассимиляц-ия - assimilation - mua chứng khoán mới

гильд-ия - guild - phường hội

пролонгац-ия - prolongation - kéo dài, gia hạn

секьюритизац-ия - securitisation - chứng khoán hoá

Trang 29

активный баланс - active balance - kết số dư

пассивный баланс - passive balance - kết số thâm

бухгалтерский баланс - accounting balance - bảng kết toán

/cân đối/ tài sản

отчётный баланс - report balance - bảng tổng kết tài sản

балансирова-ть - balance - cân đối

балансирова-ть счёт - balance an account - cân đối tài

чистый процентный доход lãi ròng

Phần lớn là hai đơn vị, gồm những đơn vị thuần Nga hoặc vay mượn

Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga-Việt-Anh Quan hệ kinh tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga ngày càng phát triển kể từ khi kinh tế của hai nước chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường Cũng như trước đây, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của hai nước có nhiều điểm chung có thể trao đổi với nhau Xuất phát từ tình hình thức tế đó, nhu cầu về học và nghiên cứu tiếng Nga ngày càng cấp thiết và dần dần được phục hồi, nhất là trong lĩnh vực kinh tế nói chung và kinh tế thị trường nói riêng Trước nhu cầu đó Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn cuốn

“Từ điển thuật ngữ kinh tế NGA-VIỆT-ANH” dành cho cán bộ và học viên của Học viện cũng như của các Phân viện khác trong cả nước

Sách công cụ tiếng Nga hiện nay về lĩnh vực kinh tế thị trường ở nước ta còn quá nghèo nàn, hệ thống thuật ngữ kinh tế lạc hậu, chậm đổi

Trang 30

mới, kể cả tiếng Nga lẫn tiếng Việt Thực tế đó không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu của cán bộ, nhu cầu học tập của học viên các cơ sở nghiên cứu và giảng dạy thuộc ngành kinh tế

Nhiệm vụ của Từ điển không chỉ hạn chế trong việc bước đầu cung cấp cho người sử dụng hệ thống thuật ngữ kinh tế thị trường trong tiếng Nga và tiếng Việt, mà còn quan tâm tới việc hướng dẫn cách khai thác và

sử dụng thuật ngữ tiếng Nga, một ngôn ngữ biến tố mang tính tổng hợp cao, đồng thời góp phần vào việc xây dựng hệ thống thuật ngữ kinh tế mới

Do vậy, Từ điển còn mang tính chất giáo khoa và có một cấu trúc riêng, không giống những từ điển song ngữ khác

Kinh tế thị trường mới mẻ đối với Việt Nam và LB Nga Hệ thống thuật ngữ phản ánh những khái niệm của hệ thống này chưa hình thành đầy

đủ và cần thời gian cũng như thực tế để ổn định Cần lưu ý rằng thuật ngữ kinh tế thị trường của tiếng Nga được vay mượn từ tiếng Anh khá nhiều, cho nên các soạn giả Từ điển đưa thêm các thuật ngữ tiếng Anh vào sau phần tiếng Việt để giúp người sử dụng đối chiếu, hiểu rõ hơn nội dung của khái niệm do thuật ngữ tiếng Nga và tiếng Việt biểu đạt

Cấu trúc Từ điển

1 Bảng từ gồm những danh từ, tính từ và động từ Chọn lọc theo các từ điển tiếng Nga đã ấn hành

a/ Danh từ: Những danh từ - thuật ngữ đơn, mang nghĩa khái quát,

tương ứng với thuật ngữ tiếng Việt

Các thuật ngữ đơn này có thể làm hạt nhân cấu tạo ra những thuật ngữ kép mang ý nghĩa khu biệt, kể cả trong tiếng Nga lẫn tiếng Việt Những thuật ngữ này được xếp sắp theo vần chứ cái ABC và đánh dấu bằng ký hiệu “ •” Cấu trúc của chúng có thể là:

tính từ + danh từ; danh từ + danh từ (không giới từ và có giới từ)

Ngoài ra, để giúp người học tiếng Nga nắm vững hơn ngữ pháp tiếng Nga, văn phong khoa học, cũng như sử dụng vốn thuật ngữ kinh tế chính xác hơn, chúng tôi đưa vào cuối mục tù những kết hợp thường gặp trong các văn bản về kinh tế Những kết hợp này thường là kết hợp động từ với thuật ngữ có trong mục từ và được đánh dấu bằng ký hiệu “Φ “

Để minh hoạ chúng tôi trích một số mục từ đã biên soạn làm thí dụ

акция dt cổ phần, cổ phiếu (share, stock).

• второочередная акция cổ phiếu hạng hai /hưởng lãi sau/ (defer ed stock).

Trang 31

• выпущенная акция cổ phiếu đã được phát hành (is ued shares).

• голосующая акция cổ phiếu có quy n biểu quy t (vot ng shares).

• государс венная акция cổ phiếu nhà nước (government stock, publ c stock).

• грошовая акция cổ phiếu nhỏ /giá thấp/ (penny stock).

• дополнит льная акция cổ phiếu bổ sung (supplement share).

• золот я акция cổ phiếu vàng (golden stock).

• именная акция cổ phiếu ghi danh (personal share, nominal share).

• кумулятивная акция cổ phiếu t ch luỹ /dồn lãi (cumulat ve share).

• многоголосная акция cổ phiếu có quy n biểu quyết nhiều lần

(manyvoic share).

• не олосующая акция cổ phiếu không có quy n biểu quy t (non-vot ng stock /share/).

• номинативная акция cổ phiếu định danh ( egistered share).

• обыкновенная акция cổ phiếu thường, cổ phiếu phổ thông (ordinary share, common stock).

• ограниченная акция cổ phiếu hạn chế (l mi ed share).

• отложенная акция cổ phiếu hưởng lãi sau (defered stock).

• отзывная (в звра ная) акция cổ phiếu bị thu hồi /bãi miễn/ (c l able stock).

• первокла сная акция cổ phiếu hạng nhất (glamour share, glamor stock).

• плюральная акция cổ phiếu có quy n biểu quy t nhiều lần (manyvoic share).

• предъявит льская акция cổ phiếu vô danh (be rer stock /share/, share war ant).

• преференциальная акция cổ phiếu ưu t ên (prefer ed stock).

• привилегированная акция cổ phiếu ưu đãi (preferenc share).

• прос ая акция , cổ phiếu thường (ordinary /common, general, equi y/ stock).

• специальная акция cổ phiếu đặc biệt (spe ial share).

• тяжёлая акция = хэви-акция cổ phiếu nặng k (he vy share).

• учредит льская акция , cổ phiếu sáng lập ( ounders’ share).

Φ акции фирмы cổ phiếu của công ty (shares of a firm).

Φ акция первого выпуска , cổ phiếu gốc (original stock).

Φ акция без дивиденда cổ phiếu không lợi tức (ex-dividend share /stock/).

Φ акция на предъявит ля cổ phiếu không ghi danh (bearer share, share war ant).

Trang 32

Φ акция с ограниченным прав м cổ phiếu có quyền biểu quyết hạn chế

( estricted vot ng share).

Φ акция с учас ием cổ phiếu tham dự (part cipat ng share ).

Φ контрольный пакет акций lô cổ phiếu kiểm soát (control ng block /parc l of shares).

Φ котировка акций ước giá, định giá cổ phiếu (quotat on of shares).

Φ курс акций tỷ giá /giá/ cổ phiếu (share /stock/ pric , quotat on).

Φ распределение акций phân phối cổ phiếu (al otment of shares /stocks).

Φ изыма ь акции rút / hu hồi cổ phiếu ( e al stocks).

Φ иметь акции nắm giữ cổ phiếu (hold shares).

Φ оплачива ь акции mua cổ phiếu (pay up shares).

Φ пог ша ь акции thanh toán cổ phiếu (pay of shares /stocks/).

Φ размеша ь акции phân chia cổ phiếu (al ot /plase/ shares).

Φ скупа ь акции mua hết cổ phiếu (acquire shares).

b/ Tính từ Bản thân tính từ không là thuật ngữ (trừ một số ít đã

được danh hoá) Nhưng tính từ có nhiều khả năng cấu tạo ra những thuật ngữ kép mang ý nghĩa khu biệt rất quan trọng trong hệ thống thuật ngữ tiếng Nga và tiếng Việt, nên cần để chúng thành những mục từ riêng Hơn nữa, về phương diện sư phạm sẽ giúp cho người học dễ tìm và so sánh giữa các thuật ngữ mang những ý nghĩa khu biệt khác nhau, dễ nhớ và dễ sử dụng chúng trong những ngữ cảnh cụ thể Để thuận tiện cho việc tra cứu, chúng tôi đưa những thuật ngứ kep vào các mục từ của thuật ngữ đơn đã

cấu tạo ra chúng (банковская маржа biên ngân hàng (bank margin) - có trong mục từ маржа), (валютная биржа sở giao dịch ngoại tệ, thị trường

ngoại tệ (currency market) có trong mục từ биржа)

Thí dụ:

банковский t thuộc v ngân hàng (bank, banking).

• банковская а социация hiệp hội các ngân hàng (bank as ociat on).

• банковская г рантия bảo hiểm, bảo lãnh của ngân hàng (banking guarante ).

• банковская декларация tờ khai ngân hàng (banking de larat on).

• банковская ликвиднос ь t nh thanh khoản ngân hàng (bank l quidi y).

• банковская маржа biên ngân hàng (bank margin).

• банковская надпись chứng nhận của ngân hàng (banking inscript on).

• банковская с авка lãi suất ngân hàng (banking rate).

• банковская т йна bảo mật ngân hàng (banking se re y).

Trang 33

• банковская холдинговая компания hội sở ngân hàng (banking holding company).

• банковские операции giao dịch ngân hàng (banking transact on).

• банковские условия những điều kiện của ngân hàng (general condi ion

of bank).

• банковские услуги dịch vụ ngân hàng (banking servic s).

• банковский акцепт nhận trả của ngân hàng (banking ac eptanc ).

• банковский вексель hối phiếu ngân hàng (banking bi l).

• банковский депозит t ền gửi ngân hàng (bank deposi ).

• банковский закон luật ngân hàng (banking law).

• банковский клиринг thanh toán bù trừ qua ngân hàng (banking clearing).

• банковский консорциум tổ hợp ngân hàng (banking consort um).

• банковский кредит t n dụng ngân hàng (bank credi ).

• банковский перевод chuy n t ền qua ngân hàng (due f om banks).

• банковский счё tài khoản ở ngân hàng (banking ac ount).

• банковский чек sé ngân hàng (bank che k).

c/ Động từ: Bản thân động từ không là thuật ngữ, nhưng chúng đóng

vai trò quan trọng trong việc tổ chức các kết cấu với thuật ngữ, trong việc

sử dụng chuẩn xác với văn phong khoa học Hơn nữa trong tiếng Việt việc phân định từ loại rất phức tạp, phụ thuộc nhiều vào văn cảnh, do đó đưa động từ thành mục từ riêng là cần thiết

балансировать đgt cân đôi (balanc , ke p the equi ibrium).

Φ балансировать счёт cân đối tài khoản (balance an account)

взимать đgt thu (levy, col e t, raise).

Φ взима ь налоги thu thuế ( aise taxes).

Φ взима ь неус ойку thu t ền bồi thường (exa t a l ne).

Φ взима ь пла у thu phí / ệ phí (charge /col e t , payment).

Φ взима ь пошлину thu thuế (col e t a duty).

Φ взима ь проценты thu lãi suất (charge interest).

Φ взима ь сборы thu lệ phí, thu cước (levy charges).

Φ взима ь с раховые плат жи thu t ền bảo hiểm (col e t insuranc

Trang 34

Φ взима ь штраф thu t ền nộp phạt (exa t a penal y).

Sự xếp sắp các thuật ngữ trong bảng từ có nhiều cách khác nhau: quán triệt theo thứ tự ABC từ đầu đến cuối hoặc theo từng nhóm kết hợp chung quanh một thuật ngữ hạt nhân

“Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga-Việt-Anh” được biên soạn theo

phương pháp thứ hai vì mang tính chất giáo khoa: ngoài mục đích tra cứu còn nhằm mục đích hỗ trợ cho việc day/học ngoại ngữ Cấu trúc này sẽ giúp người học dễ nhận biết, dễ ghi nhớ, cũng như có thể tự làm giàu thêm vốn thuật ngữ của mình Mục từ thường là những thuật ngữ đơn (một đơn

vị in đậm), dưới đó sẽ thống kê các thuật ngữ ghép được cấu tạo với sự kết hợp của tính từ tiếp đó là danh từ với thuật ngữ đầu mục (chú thích bằng ký hiêu “•“) Để người sử dụng từ điển tiện tra cứu những thuật ngữ ghép khó hoặc có tần số sử dụng cao, chúng tôi cố gắng đưa vào hai mục từ (trong tương lai, nếu có điều kiện chúng tôi sẽ thống kê và đưa hết vào bảng từ những trường hợp đó)

Cần nhấn mạnh rằng, tính từ bản thân không thể là thuật ngữ (trừ số

đã đước danh hoá) Nhưng tính từ đóng vai trò rất quan trọng trong việc cấu tạo ra các thuật ngữ ghép, và số này còn lớn hơn nhiếu so với thuật ngữ đơn trong tiếng Nga

Chúng tôi đưa tính từ thành mục từ riêng không ngoài mục đích giúp người học biết cách cấu tạo thuật ngữ ghép theo qui tắc ngữ pháp của ngôn ngữ biến tố, qua đó suy đoán được ý nghĩa của chúng, cũng như tự làm giàu thêm vốn thuật ngữ của mình

Động từ không cấu tạo thuật ngữ, nhưng chúng đóng vai trò ngữ dụng - giúp người sử dụng thuật ngữ dùng đúng chuẩn mực của văn phong khoa học Những cấu trúc động từ với danh từ có giới từ hoặc không giới

từ, cũng như những kết hợp danh từ với nhau không tạo nên một thuật ngữ ghép được đánh dấu bằng ký hiệu “Φ“

Vì vấn đề thuật ngữ kinh tế của ta còn chưa ổn định, nhiều thuật ngữ còn đang trong quá trình hình thành, hơn nưa thuật ngữ kinh tế của tiếng Nga được vay mượn từ tiếng Anh khá nhiều, nên chúng tôi đưa thêm phần tiếng Anh vào cuối với mục đích tra cứu nguồn gốc, cũng như làm rõ hơn nghia của thuật ngữ tiếng Nga và tiếng Việt - đây không hẳn chỉ là các thuật ngữ tương đương

Công trình nghiên cứu cấp Bộ này có mục đích bước đầu đưa ra một

số nguyên tắc biên soan từ điển song ngữ chuyên ngành kinh tế Nga - Việt

và kết quả cuối cùng là một cuốn từ điển thuật ngữ kinh tế Nga - Việt dùng

Trang 35

nội bộ cho cán bộ và học viên Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí minh Chúng tôi mong muốn sự đóng góp của độc giả, chỉ ra những khiếm khuyết hoặc bổ sung để hoàn thiện cho việc xuất bản rộng rãi công trình này

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Trang 36

Từ điển thuật ngữ kinh tế NGA-VIỆT-ANH

(Dùng cho cán bộ và học viên Học viện chính trị - hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh)

Lời nói đầu

Quan hệ kinh tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga ngày càng phát triển kể từ khi kinh tế của hai nước chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường Cũng như trước đây, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của hai nước có nhiều điểm chung có thể trao đổi với nhau Xuất phát từ tình hình thức tế đó, nhu cầu về học và nghiên cứu tiếng Nga ngày càng cấp thiết và dần dần được phục hồi, nhất là trong lĩnh vực kinh tế nói chung và kinh tế thị trường nói riêng Trước nhu cầu đó Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn cuốn

“Từ điển thuật ngữ kinh tế NGA-VIỆT-ANH” dành cho cán bộ và học viên của Học viện cũng như của các Phân viện khác trong cả nước

Sách công cụ tiếng Nga hiện nay về lĩnh vực kinh tế thị trường ở nước ta còn quá nghèo nàn, hệ thống thuật ngữ kinh tế lạc hậu, chậm đổi mới, kể cả tiếng Nga lẫn tiếng Việt Thực tế đó không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu của cán bộ, nhu cầu học tập của học viên các cơ sở nghiên cứu và giảng dạy thuộc ngành kinh tế

Nhiệm vụ của Từ điển không chỉ hạn chế trong việc bước đầu cung cấp cho người sử dụng hệ thống thuật ngữ kinh tế thị trường trong tiếng Nga và tiếng Việt, mà còn quan tâm tới việc hướng dẫn cách khai thác và

sử dụng thuật ngữ tiếng Nga, một ngôn ngữ biến tố mang tính tổng hợp cao, đồng thời góp phần vào việc xây dựng hệ thống thuật ngữ kinh tế mới

Do vậy, Từ điển còn mang tính chất giáo khoa và có một cấu trúc riêng, không giống những từ điển song ngữ khác

Kinh tế thị trường mới mẻ đối với Việt Nam và LB Nga Hệ thống thuật ngữ phản ánh những khái niệm của hệ thống này chưa hình thành đầy

đủ và cần thời gian cũng như thực tế để ổn định Cần lưu ý rằng thuật ngữ kinh tế thị trường của tiếng Nga được vay mượn từ tiếng Anh khá nhiều, cho nên các soạn giả Từ điển đưa thêm các thuật ngữ tiếng Anh vào sau phần tiếng Việt để giúp người sử dụng đối chiếu, hiểu rõ hơn nội dung của khái niệm do thuật ngữ tiếng Nga và tiếng Việt biểu đạt

Trang 37

Cấu trúc Từ điển

1 Bảng từ gồm những danh từ, tính từ và động từ Chọn lọc theo các từ điển tiếng Nga đã ấn hành

a/ Danh từ: Những danh từ - thuật ngữ đơn, mang nghĩa khái quát,

tương ứng với thuật ngữ tiếng Việt

Các thuật ngữ đơn này có thể làm hạt nhân cấu tạo ra những thuật ngữ kép mang ý nghĩa khu biệt, kể cả trong tiếng Nga lẫn tiếng Việt Những thuật ngữ này được xếp sắp theo vần chứ cái ABC và đánh dấu bằng ký hiệu “ •” Cấu trúc của chúng có thể là:

tính từ + danh từ; danh từ + danh từ (không giới từ và có giới từ)

Ngoài ra, để giúp người học tiếng Nga nắm vững hơn ngữ pháp tiếng Nga, văn phong khoa học, cũng như sử dụng vốn thuật ngữ kinh tế chính xác hơn, chúng tôi đưa vào cuối mục tù những kết hợp thường gặp trong các văn bản về kinh tế Những kết hợp này thường là kết hợp động từ với thuật ngữ có trong mục từ và được đánh dấu bằng ký hiệu “Φ “

Để minh hoạ chúng tôi trích một số mục từ đã biên soạn làm thí dụ

акция dt cổ phần, cổ phiếu (share, stock).

• второочередная акция cổ phiếu hạng hai /hưởng lãi sau/ (defer ed stock).

• выпущенная акция cổ phiếu đã được phát hành (is ued shares).

• голосующая акция cổ phiếu có quy n biểu quy t (vot ng shares).

• государс венная акция cổ phiếu nhà nước (government stock, publ c stock).

• грошовая акция cổ phiếu nhỏ /giá thấp/ (penny stock).

• дополнит льная акция cổ phiếu bổ sung (supplement share).

• золот я акция cổ phiếu vàng (golden stock).

• именная акция cổ phiếu ghi danh (personal share, nominal share).

• кумулятивная акция cổ phiếu t ch luỹ /dồn lãi (cumulat ve share).

• многоголосная акция cổ phiếu có quy n biểu quyết nhiều lần

(manyvoic share).

• не олосующая акция cổ phiếu không có quy n biểu quy t (non-vot ng stock /share/).

• номинативная акция cổ phiếu định danh ( egistered share).

• обыкновенная акция cổ phiếu thường, cổ phiếu phổ thông (ordinary share, common stock).

Trang 38

• ограниченная акция cổ phiếu hạn chế (l mi ed share).

• отложенная акция cổ phiếu hưởng lãi sau (defered stock).

• отзывная (в звра ная) акция cổ phiếu bị thu hồi /bãi miễn/ (c l able stock).

• первокла сная акция cổ phiếu hạng nhất (glamour share, glamor stock).

• плюральная акция cổ phiếu có quy n biểu quy t nhiều lần (manyvoic share).

• предъявит льская акция cổ phiếu vô danh (be rer stock /share/, share war ant).

• преференциальная акция cổ phiếu ưu t ên (prefer ed stock).

• привиле ированная акция cổ phiếu ưu đãi (preferenc share).

• прос ая акция , cổ phiếu thường (ordinary /common, general, equi y/ stock).

• специальная акция cổ phiếu đặc biệt (spe ial share).

• тяжёлая акция = хэви-акция cổ phiếu nặng k (he vy share).

• учредит льская акция , cổ phiếu sáng lập ( ounders’ share).

Φ акции фирмы cổ phiếu của công ty (shares of a firm).

Φ акция первого выпуска , cổ phiếu gốc (original stock).

Φ акция без дивиденда cổ phiếu không lợi tức (ex-dividend share /stock/).

Φ акция на предъявит ля cổ phiếu không ghi danh (bearer share, share war ant).

Φ акция с ограниченным прав м cổ phiếu có quyền biểu quyết hạn chế

( estricted vot ng share).

Φ акция с учас ием cổ phiếu tham dự (part cipat ng share ).

Φ контрольный пакет акций lô cổ phiếu kiểm soát (control ng block /parc l of shares).

Φ котировка акций ước giá, định giá cổ phiếu (quotat on of shares).

Φ курс акций tỷ giá /giá/ cổ phiếu (share /stock/ pric , quotat on).

Φ распределение акций phân phối cổ phiếu (al otment of shares /stocks).

Φ изыма ь акции rút / hu hồi cổ phiếu ( e al stocks).

Φ иметь акции nắm giữ cổ phiếu (hold shares).

Φ оплачива ь акции mua cổ phiếu (pay up shares).

Φ пог ша ь акции thanh toán cổ phiếu (pay of shares /stocks/).

Φ размеша ь акции phân chia cổ phiếu (al ot /plase/ shares).

Φ скупа ь акции mua hết cổ phiếu (acquire shares).

Trang 39

банк dt ngân hàng, nhà băng (bank).

• акцептный банк ngân hàng chấp nhận thanh toán (ac eptanc /a cept ng/ bank).

• акционерный банк ngân hàng cổ phần (joint-stock bank).

• внешне орговый банк ngân hàng ngoại thương ( oreign trade bank).

• государс венный банк ngân hàng nhà nước (nat onal bank, state-owned bank).

• депозитный банк ngân hàng uỷ thác, ngân hàng giám hộ (deposi bank).

• инвес иционный банк ngân hàng đầu tư (investment bank).

• инновационный банк ngân hàng tái cấp vốn (innovat ng bank).

• инпот чный банк ngân hàng cho vay có thế chấp (mortgage bank).

• квазигосударственный банк ngân hàng do nhà nước giữ /khống chế/

(quasi-state bank, quasipubl c bank).

• клиринговый банк ngân hàng thanh toán bù trừ (clearing bank).

• коммерче кий банк ngân hàng thương mại (commercial bank, usines bank).

• консорциальный банк ngân hàng hợp doanh (consort um bank).

• кооперативный банк ngân hàng hợp tác xã (cooperat ve bank).

Φ надёжный банк ngân hàng đáng t n cậy ( el able bank).

• национальный банк ngân hàng quốc gia (nat onal bank).

Φ непла ежеспособный банк ngân hàng mất khả năng thanh toán

(insolvent bank, bank unable to pay).

Φ обанкротившийся банк ngân hàng bị phá sản ( upt bank).

• первокла сный банк ngân hàng loại một ( irst bank, prime bank) ?

Φ пла еже пособный банк ngân hàng có khả năng thanh toán (solvent bank).

• промышленный банк ngân hàng công nghiệp (industrial bank).

• резервный банк ngân hàng dự trữ ( eserve bank).

• сбере а ельный банк ngân hàng t ết kiệm (saving/s/ bank).

• специализированный банк ngân hàng chuy n doanh (spe ial z d bank).

• торговый банк ngân hàng thương mại (commerc l bank, mercant le bank).

• универс льный банк ngân hàng tổng hợp ( ul servic bank).

• центральный банк ngân hàng trung ương (central bank, banker s bank).

• час ный банк ngân hàng tư nhân (private bank).

• эмис ионный банк ngân hàng phát hành (is uing bank /house, bank of

is ue/ circulat on).

Trang 40

• банк-аг нт ngân hàng đại lý (agent bank).

• банк-акцепт нт ngân hàng chấp nhận thanh toán (ac eptanc bank).

• банк-г рант ngân hàng bảo lãnh (garantop).

• банк данных ngân hàng dữ l ệu (data bank).

• банк драйвин ngân hàng phục vụ khách hàng ngồi trong x (drive in bank).

• банк-корре пондент ngân hàng đại lý (cor esponding bank, cor espondent bank).

• банк потребит льского кре-дит ngân hàng t n dụng t êu dùng

(consumer credi bank).

• банк развития ngân hàng phát triển (development bank).

• банк-реципиент ngân hàng nhận đăng k mua chứng khoán ( ec iving bank).

• банк-эмит нт ngân hàng phát hành (is ue bank, bank of is ue).

• банк-эмит нт пла тиковых карточек ngân hàng phát hành thẻ t n dụng

(c rd is uing bank).

Φ банкрот тво банка sự phá sản của ngân hàng (bank fai ure).

Φ г рантия банка đảm bảo của ngân hàng (bank guarante ).

Φ капит л банка tư bản /vốn/ của ngân hàng (bank c pi al).

Φ квинтация банка biên lai của ngân hàng (banker s /bank’s/ re eipt).

Φ крах банка sụ phá sản của ngân hàng (bank fai ure).

Φ кредитоспособнос ь банка khả năng thanh toán của ngân hàng (credi standing /wort-hines / of bank).

Φ оборот банка doanh số của ngân hàng (bank’s turnover

Φ отделение банка chi nhánh ngân hàng (bank’s branch).

Φ правление банка quản lý ngân hàng (bank’s board of dire tors).

Φ служащий банка cán bộ, công chuwc, nhân viên ngân hàng (bank employe , of ic r of bank).

Φ услуги банка dịch vụ ngân hàng (banking fa i i ies).

Φ вносить деньги в банк gửi t ền vào ngân hàng (deposi money wi h / n/ bank, put /pla e/ money into bank).

Φ держать деньги в банке giữ t ền ở ngân hàng (have a bank/ ng/

Ngày đăng: 25/05/2014, 09:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w