Tăng huyết áp là vấn đề sức khoẻ mang tính cộng đồng, tần suất người mắc bệnh không ngừng gia tăng từng ngày, không chỉ trên toàn thế giới mà còn ngay cả ở đất nước ta. Trên toàn cầu hiện nay có khoảng 1 tỷ người bệnh tăng huyết áp và dự kiến sẽ tăng đến con số 1,5 tỷ vào năm 2025 18, đây cũng là một trong 8 nguyên nhân hàng đầu trên toàn cầu về vấn đề gây ra tàn tật và tử vong cho nhân loại. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có đến 9,4 triệu người tử vong do tăng huyết áp hàng năm 57. Tăng huyết áp không những là căn bệnh với nhiều nguy cơ tiềm ẩn mà còn là gánh nặng toàn cầu về cả khía cạnh tâm lý lẫn kinh tế vật chất, vì đây là căn bệnh cần thời gian điều trị lâu dài (hầu như suốt quãng đời còn lại), dẫn đến chi phí điều trị lớn, chưa kể đến các khoản chi phí gián tiếp cho người chăm nuôi,…Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tổn thất kinh tế tích luỹ do bệnh không lây nhiễm ở các nước có thu nhập thấp và trung bình ước tính có thể lên tới 7,000 tỷ đô la Mỹ giai đoạn 2011 2025 52. Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp cũng được ghi nhận là gia tăng nhanh chóng 35: Việt Nam có khoảng 12 triệu người tăng huyết áp, tức là cứ 5 người trưởng thành có 1 người mắc bệnh 4. Theo điều tra Quốc gia gần đây (2015) của Cục y tế dự phòng – Bộ Y tế ở người trưởng thành từ 18 – 69 tuổi tại 63 tỉnhthành phố cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp là 18,9% 10. Tăng huyết áp là một căn bệnh diễn tiến kín đáo, âm thầm, ít có dấu hiệu cảnh báo nào trước nên dẫn đến tình trạng người tăng huyết áp biết mình bị bệnh còn thấp, kéo theo đó là tỷ lệ người được tiếp nhận điều trị khám, chữa bệnh và kiểm soát huyết áp thấp 4. Những dấu hiệu của tăng huyết áp thường không mấy đặc hiệu và người bệnh thường thấy bản thân không có gì khác biệt so với người bình thường xung quanh cho đến khi xảy ra những biến chứng. Vì vậy, hiện nay 95% người bị tăng huyết áp phần lớn không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng 11, đang trở thành mối đe doạ toàn thể nhân loại bởi nhiều biến chứng nguy hiểm như: Nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, suy tim, suy thận mạn…Thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ, sức lao động của chính bản thân người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Mặc dù đã có nhiều công trình y học chứng minh mức độ phổ biến và nguy hiểm của tăng huyết áp, nhưng cho đến tận bây giờ trong công tác theo dõi, quản lý và điều trị tăng huyết áp vẫn tồn tại những điểm bất cập, cụ thể như: tăng huyết áp rất dễ phát hiện (bằng cách đo huyết áp) nhưng người bệnh lại thường không phát hiện mình bị tăng huyết áp từ khi nào. Tăng huyết áp có thể điều trị được nhưng số người hiện nay được quản lý, điều trị lại không cao. Cuối cùng, tăng huyết áp có thể khống chế được với mục tiêu mong muốn, nhưng số người điều trị đạt được “huyết áp mục tiêu” lại không nhiều: 12 triệu người mắc bệnh ở cộng đồng thì có tới 60% chưa được phát hiện và trên 80% chưa được quản lý điều trị theo quy định 4. Tăng huyết áp nếu được phát hiện sớm thì việc kiểm soát sẽ rất hiệu quả và hạn chế được các biến chứng nguy hiểm, giảm nguy cơ tử vong và giảm gánh nặng bệnh tật cho bản thân, gia đình và xã hội. Trong suốt những thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy điều trị tăng huyết áp hiệu quả đã làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong, nhưng đến nay gánh nặng kinh tế của tăng huyết áp và các hậu quả về tim mạch do tăng huyết áp vẫn ngày càng tăng trên toàn thế giới 44. Để làm tốt công tác này, việc nhận thức đặc điểm và tình hình điều trị tăng huyết áp, đặc biệt trong công tác điều trị ngoại trú, là rất cần thiết nhằm rút ra những kinh nghiệm trong quá trình quản lý và điều trị an toàn, hiệu quả. Đó là lý do mà nghiên cứu “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc huyết áp và kết quả điều trị ở bệnh nhân đến khám, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản” được tiến hành, với các mục tiêu: 1. Khảo sát tình trạng sử dụng các thuốc hạ áp trong công tác điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản. 2. Khảo sát tình trạng kiểm soát huyết áp mục tiêu của bệnh nhân khi sử dụng thuốc hạ áp tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản. 3. Khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp đang được theo dõi và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc huyết áp và kết quả điều trị ở bệnh nhân đến khám, điều trị ngoại trú tại bệnh viện
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
NGUYỄN HOÀNG BẢO NGỌC
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC HUYẾT ÁP
VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM,
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
HẬU GIANG - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
NGUYỄN HOÀNG BẢO NGỌC
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC HUYẾT ÁP
VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM,
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS PHẠM THỌ TUẤN ANH BSCK1 NGUYỄN HÙNG TRẤN
HẬU GIANG - 2022
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đại học đối với chúng tôi là niềm tự hào lớn lao mang nhiều ý nghĩa sâu sắc Đó không chỉ là sự cố gắng của bản thân mà còn là thành quả sau sáu năm học tập, rèn luyện với sự tận tình hướng dẫn của thầy cô, sự hỗ trợ và giúp đỡ từ gia đình và bạn bè
Nhân đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Nhà trường Đại học Võ Trường Toản và Ban lãnh đạo khoa Y đã tạo điều kiện để chúng tôi có thể thực hiện bài luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các giảng viên hướng dẫn thực hiện khoá luận tốt nghiệp là PGS.TS Phạm Thọ Tuấn Anh và BSCK1 Nguyễn Hùng Trấn, cảm ơn các Thầy đã tận tình hướng dẫn, đề xuất những góp ý và hỗ trợ chúng tôi rất nhiều để đạt được bài luận văn hoàn chỉnh nhất
Dù đã rất cố gắng hoàn thành đề tài một cách tốt nhất nhưng sai sót là vấn đề không thể tránh khỏi Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để chúng tôi có thể làm tốt hơn trong những đề tài nghiên cứu tiếp theo
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Hậu Giang, ngày…tháng năm 2022
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khoá luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hậu Giang, ngày…tháng…năm 2022
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC HÌNH ẢNH x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp trên Thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên Thế giới 3
1.1.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp tại Việt Nam 4
1.1.3 Khái niệm, phân loại và cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp 5
1.1.4 Biến chứng của tăng huyết áp 7
1.1.5 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp 8
1.1.6 Các bệnh lý liên quan chặt chẽ đến tăng huyết áp 11
1.2 Chiến lược điều trị tăng huyết áp 12
1.2.1 Nguyên tắc chung 12
1.2.2 Can thiệp không dùng thuốc 13
1.2.3 Can thiệp dùng thuốc 14
1.3 Các nhóm thuốc hạ áp 16
1.3.1 Thuốc lợi tiểu 16
1.3.2 Thuốc chẹn beta giao cảm 17
1.3.3 Thuốc chẹn kênh Canxi 18
1.3.4 Thuốc ức chế men chuyển 18
1.3.5 Thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II 19
1.4 Phối hợp thuốc hạ áp trong điều trị 19
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 21
Trang 6iv
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 21
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.2.3 Chỉ số và biến số nghiên cứu 22
2.2.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 31
2.2.5 Các biện pháp khống chế sai số 31
2.3 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Một số đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 32
3.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới tính của các bệnh nhân 32
3.1.2 Đặc điểm về nghề nghiệp và khu vực sinh sống của các bệnh nhân 33
3.1.3 Đặc điểm về lối sống, hành vi của các bệnh nhân 34
3.2 Đặc điểm về phương pháp điều trị và sử dụng thuốc cụ thể 35
3.2.1 Phân độ tăng huyết áp 35
3.2.2 Số năm mắc bệnh của bệnh nhân 35
3.2.3 Các yếu tố nguy cơ 37
3.2.4 Các bệnh đang được điều trị kèm theo 39
3.2.5 Lựa chọn phác đồ điều trị tăng huyết áp 40
3.2.6 Tình hình sử dụng các nhóm thuốc trong đơn trị liệu và đa trị liệu 41
3.2.7 Các hoạt chất trong nhóm thuốc dùng điều trị tăng huyết áp 43
3.2.8 Lựa chọn thuốc điều trị huyết áp theo các phác đồ 44
3.3 Tình hình tuân thủ điều trị của bệnh nhân trong nghiên cứu 45
3.3.1 Khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân thông qua bộ câu hỏi MMAS – 8 45
3.3.2 Đánh giá mức độ tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân 46
3.4 Hiệu quả điều trị 47
3.4.1 Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu 47
3.4.2 Mối liên quan giữa phương pháp điều trị và HA mục tiêu 47
3.4.3 Mối liên quan giữa mức độ tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân và HA mục tiêu 48
Trang 7v
CHƯƠNG 4 - BÀN LUẬN 49
4.1 Bàn luận 49
4.1.1 Các đặc điểm của bệnh nhân đang được điều trị ngoại trú 49
4.1.2 Đặc điểm về điều trị thuốc hạ áp tại Bệnh viện 55
4.1.3 Tình hình tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân 59
4.1.4 Hiệu quả điều trị 61
4.2 Những đóng góp và hạn chế của luận văn 63
4.2.1 Đóng góp của luận văn 63
4.2.2 Hạn chế của luận văn 63
KẾT LUẬN 64
1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân tăng huyết áp 64
1.1 Đặc điểm chung 64
1.2 Phân độ tăng huyết áp và thời gian mắc bệnh 64
1.3 Các bệnh đang được điều trị kèm theo 64
2 Thực trạng sử dụng thuốc điều trị huyết áp tại bệnh viện 64
2.1 Các nhóm thuốc huyết áp được sử dụng trong mẫu nghiên cứu 64
2.2 Phác đồ điều trị 64
2.3 Sử dụng các nhóm thuốc huyết áp theo phác đồ 65
3 Tình hình kiểm soát huyết áp mục tiêu của bệnh nhân 65
4 Tình hình tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân 65
KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
Trang 8vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACC American College of
Cardiology
Hội Tim mạch học Hoa Kỳ
Association
Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ
AHA American Heart Association Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ
Hiệp hội Tim mạch Châu Âu/ Hiệp hội Tăng huyết áp Châu Âu
ISH International Society of
Hypertension
Hiệp hội Tăng huyết áp Quốc tế
Trang 9vii MMAS - 8 Morisky Medication
Adherence Scale - 8
Thang điểm Morisky 8
TIA Transient ischemic attack Cơn thiếu máu não thoáng qua
VNHA/VSH Vietnam National Heart
Asociation/Vietnam Society
of Hypertension
Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam/ Phân hội Tăng huyết áp Việt Nam
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 10viii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Phân loại huyết áp theo WHO-ISH (2003) 5
Bảng 1.2 Tóm tắt ngưỡng HA phòng phám cần điều trị thuốc Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 15
Bảng 1.3 Tóm tắt ranh giới đích HA phòng khám điều trị theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 15
Bảng 1.4 Chiến lược điều trị THA theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 20
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi và giới tính của BN 32
Bảng 3.2 Sự phân bố về nghề nghiệp của BN 33
Bảng 3.3 Các đặc điểm lối sống của BN 34
Bảng 3.4 Số năm mắc bệnh của BN 35
Bảng 3.5 Phân bố số năm mắc bệnh và phân độ THA 36
Bảng 3.6 Phân bố các yếu tố nguy cơ theo mẫu số chung 37
Bảng 3.7 Phân bố các yếu tố nguy cơ theo giới tính 38
Bảng 3.8 Các bệnh kèm theo có liên quan đến lựa chọn thuốc 39
Bảng 3.9 Sử dụng phác đồ điều trị THA 40
Bảng 3.10 Phân bố phác đồ điều trị với năm mắc bệnh 41
Bảng 3.11 Các thuốc được lựa chọn trong điều trị đơn trị liệu 41
Bảng 3.12 Các dạng phối hợp thuốc trong điều trị đa trị liệu 42
Bảng 3.13 Tỷ lệ sử dụng các hoạt chất trong nhóm thuốc điều trị hạ áp 43
Bảng 3.14 Phân tích lựa chọn thuốc theo phác đồ 44
Bảng 3.15 Bảng câu hỏi tuân thủ sử dụng thuốc MMAS-8 46
Bảng 3.16 Phân bố BN theo mức độ tuân thủ sử dụng thuốc 46
Bảng 3.17 Tỷ lệ BN đạt và không đạt HA mục tiêu 47
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa phương pháp trị liệu và đạt HA mục tiêu 47
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa việc tuân thủ dùng thuốc và đạt HA mục tiêu 48
Trang 11ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân bố về khu vực sinh sống của BN 33
Biểu đồ 3.2 Phân độ tăng huyết áp của BN trong mẫu nghiên cứu 35
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phân bố phân độ THA theo các nhóm năm 37
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ phân bố yếu tố nguy cơ giữa nam và nữ 39
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ sử dụng phác đồ điều trị trong nghiên cứu 41
Trang 12và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 23 Hình 2.2 Các chống chỉ định tương đối và bắt buộc của các nhóm thuốc hạ áp theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 26 Hình 2.3 Khuyến cáo chung về đích điều trị đối với bệnh nhân tăng huyết áp theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 27 Hình 2.4 Máy đo huyết áp điện tử của người lớn 28 Hình 2.5 Máy đo huyết áp cơ của người lớn 28 Hình 2.6 Khuyến cáo về Chiến lược cải thiện tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết
áp theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 29 Hình 2.7 Phân loại Khuyến cáo theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 30 Hình 2.8 Phân loại Mức chứng cứ theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết
áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 30
Trang 13kể đến các khoản chi phí gián tiếp cho người chăm nuôi,…Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tổn thất kinh tế tích luỹ do bệnh không lây nhiễm ở các nước có thu nhập thấp và trung bình ước tính có thể lên tới 7,000 tỷ đô la Mỹ giai đoạn 2011 - 2025 [52]
Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp cũng được ghi nhận là gia tăng nhanh chóng [35]: Việt Nam có khoảng 12 triệu người tăng huyết áp, tức là cứ 5 người trưởng thành
có 1 người mắc bệnh [4] Theo điều tra Quốc gia gần đây (2015) của Cục y tế dự phòng – Bộ Y tế ở người trưởng thành từ 18 – 69 tuổi tại 63 tỉnh/thành phố cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp là 18,9% [10]
Tăng huyết áp là một căn bệnh diễn tiến kín đáo, âm thầm, ít có dấu hiệu cảnh báo nào trước nên dẫn đến tình trạng người tăng huyết áp biết mình bị bệnh còn thấp, kéo theo đó là tỷ lệ người được tiếp nhận điều trị khám, chữa bệnh và kiểm soát huyết áp thấp [4] Những dấu hiệu của tăng huyết áp thường không mấy đặc hiệu và người bệnh thường thấy bản thân không có gì khác biệt so với người bình thường xung quanh cho đến khi xảy ra những biến chứng Vì vậy, hiện nay 95% người bị tăng huyết áp phần lớn không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng [11], đang trở thành mối đe doạ toàn thể nhân loại bởi nhiều biến chứng nguy hiểm như: Nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, suy tim, suy thận mạn…Thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ, sức lao động của chính bản thân người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình
và xã hội
Mặc dù đã có nhiều công trình y học chứng minh mức độ phổ biến và nguy hiểm của tăng huyết áp, nhưng cho đến tận bây giờ trong công tác theo dõi, quản lý và điều
Trang 142 trị tăng huyết áp vẫn tồn tại những điểm bất cập, cụ thể như: tăng huyết áp rất dễ phát hiện (bằng cách đo huyết áp) nhưng người bệnh lại thường không phát hiện mình bị tăng huyết áp từ khi nào Tăng huyết áp có thể điều trị được nhưng số người hiện nay được quản lý, điều trị lại không cao Cuối cùng, tăng huyết áp có thể khống chế được với mục tiêu mong muốn, nhưng số người điều trị đạt được “huyết áp mục tiêu” lại không nhiều:
12 triệu người mắc bệnh ở cộng đồng thì có tới 60% chưa được phát hiện và trên 80% chưa được quản lý điều trị theo quy định [4]
Tăng huyết áp nếu được phát hiện sớm thì việc kiểm soát sẽ rất hiệu quả và hạn chế được các biến chứng nguy hiểm, giảm nguy cơ tử vong và giảm gánh nặng bệnh tật cho bản thân, gia đình và xã hội Trong suốt những thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy điều trị tăng huyết áp hiệu quả đã làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong, nhưng đến nay gánh nặng kinh tế của tăng huyết áp và các hậu quả về tim mạch do tăng huyết áp vẫn ngày càng tăng trên toàn thế giới [44] Để làm tốt công tác này, việc nhận thức đặc điểm và tình hình điều trị tăng huyết áp, đặc biệt trong công tác điều trị ngoại trú, là rất cần thiết nhằm rút ra những kinh nghiệm trong quá trình quản
lý và điều trị an toàn, hiệu quả Đó là lý do mà nghiên cứu “Khảo sát tình hình sử dụng
thuốc huyết áp và kết quả điều trị ở bệnh nhân đến khám, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản” được tiến hành, với các mục tiêu:
1 Khảo sát tình trạng sử dụng các thuốc hạ áp trong công tác điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản
2 Khảo sát tình trạng kiểm soát huyết áp mục tiêu của bệnh nhân khi sử dụng thuốc hạ áp tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản
3 Khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp đang được theo dõi và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản
Trang 153
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên Thế giới
1.1.1.1 Tỷ lệ tăng huyết áp chung
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới và tốc độ gia tăng ngày một nhanh Năm 2000, thế giới có khoảng 972 triệu người mắc THA (chiếm 26,4% dân số), riêng các nước đang phát triển chiếm khoảng 639 triệu người
Dự báo đến năm 2025, sẽ có khoảng 1,56 tỷ người mắc THA (tương đương 29,2% dân số) [13] Những Quốc gia có thu nhập cao thì tỷ lệ THA thấp và có phần ổn định hơn so với những Quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, lý do có lẽ việc được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ được dễ dàng hơn
1.1.1.2 Tăng huyết áp theo tuổi
Theo WHO, ở lứa tuổi 35, thống kê được cứ 20 người thì sẽ có 1 người tăng huyết
áp, ở tuổi 45 cứ 7 người thì có 1 người THA và 1/3 số người ở độ tuổi 65 bị tăng huyết
áp [11], có nghĩa là những người ở độ tuổi 65 chiếm tỷ lệ mắc bệnh THA cao nhất Hơn nữa, tỷ lệ già hoá trong cộng đồng có xu hướng ngày càng tăng, do môi trường sống và chăm sóc sức khoẻ ngày một được cải thiện Từ 60 tuổi trở đi, do độ cứng thành mạch tăng dần nên đa số người cao tuổi có huyết áp tâm thu tăng dần (chiếm 65%), trong khi huyết áp tâm trương giữ nguyên hoặc giảm xuống [48] Đặc biệt, trong những năm gần đây, bệnh lý THA đang trẻ hóa với rất nhiều đối tượng đang còn trong độ tuổi lao động Theo ước tính của WHO, THA là nguyên nhân gây tử vong 7,1 triệu người trẻ tuổi [11] Như vậy, tỷ lệ THA đang tăng dần và ngày càng có xu hướng trẻ hóa hơn
1.1.1.3 Tăng huyết áp theo giới
Nhiều kết quả nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn rõ rệt so với
nữ giới Tại Bồ Đào Nha, nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc THA trên một cộng đồng người Bồ Đào Nha năm 2010 cho thấy tỷ lệ hiện mắc THA ở nam giới là 46,7% và ở nữ giới là 42,3% [47]
Từ những kết quả nghiên cứu trên giúp ta có thể phần nào hình dung được bức tranh toàn cảnh về tình hình tăng huyết áp trên thế giới, vẫn còn đang ở mức cao và chưa được kiểm soát
Trang 164
1.1.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp tại Việt Nam
1.1.2.1 Tỷ lệ tăng huyết áp chung
Tại Việt Nam, bệnh tăng huyết áp cũng có xu hướng tăng lên rõ rệt Theo số liệu
Bộ Y tế thống kê và đưa ra, hiện tại số người mắc bệnh tăng huyết áp ở nước ta là 26,2%, tương đương khoảng 17 triệu người [3]
Theo thông báo của Bộ Y tế tại Hội nghị về công tác phòng, chống bệnh không lây nhiễm, ở Việt Nam, các bệnh không lây nhiễm đã chiếm đến 66% tổng gánh nặng bệnh tật và 73% tổng số ca tử vong hằng năm Có đến 60% người mắc tăng huyết áp chưa được phát hiện bệnh, chỉ có 14% bệnh nhân THA và gần 0% người có nguy cơ tim mạch được quản lý, dự phòng và dùng thuốc theo quy định, có một tỷ lệ lớn về THA được phát hiện tình cờ qua các cuộc điều tra [6], tình trạng bỏ sót chẩn đoán THA đã và đang xảy ra [33] Cùng với sự gia tăng các yếu tố nguy cơ thì tỷ lệ người mắc bệnh được phát hiện và quản lý tại cộng đồng còn rất thấp
1.1.2.2 Tăng huyết áp theo tuổi
Nghiên cứu của Đỗ Thị Phương Hà (2015) cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người thừa cân béo phì tăng dần theo độ tuổi, trong đó độ tuổi từ 25 - 34 có tỷ lệ THA thấp nhất chiếm khoảng 13,8% và cao nhất nằm ở độ tuổi 55 - 64 chiếm 46,4% [38]
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ THA tăng dần theo độ tuổi, độ tuổi càng cao thì có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn và nguy cơ xuất hiện biến chứng cũng tăng theo
1.1.2.3 Tăng huyết áp theo giới
Các nghiên cứu tại Việt Nam hiện này cũng cho thấy tỷ lệ mắc THA ở nam giới trưởng thành có xu hướng cao hơn nữ giới Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thi Thơ
và cộng sự (2017), THA chiếm tỷ lệ 18,97%, trong đó nam giới có nguy cơ mắc THA cao hơn nữ giới (OR: 2,77; 95%CI: 2,24 - 3,42) [29]
Như vậy, tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên nhanh chóng và khó kiểm soát Tỷ lệ mắc THA có sự khác nhau giữa các vùng địa lý, giữa các
độ tuổi và giới tính THA tăng dần theo độ tuổi và nam giới có xu hướng mắc THA nhiều hơn rõ rệt so với nữ giới
Trang 175
1.1.3 Khái niệm, phân loại và cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp
1.1.3.1 Một số khái niệm về huyết áp và tăng huyết áp
a Huyết áp:
Huyết áp (HA) là áp lực máu tác động lên thành động mạch, được tạo ra do sự co bóp của cơ tim và sức cản của thành động mạch Khi tim co bóp tống máu áp lực trong động mạch là lớn nhất gọi là huyết áp tâm thu Thời kỳ tim giãn ra, áp lực đó ở mức thấp nhất gọi là huyết áp tâm trương [54]
b Tăng huyết áp:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Hội Tăng huyết áp Quốc tế (WHO - ISH) định nghĩa, tăng huyết áp là khi có huyết áp tâm thu (HATT) lớn ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết
áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg [54]
1.1.3.2 Phân độ tăng huyết áp
Có nhiều cách phân loại nhưng đến này, cách phân loại của WHO - ISH (2003) được sử dụng rộng rãi do tính thực tiễn và ứng dụng của nó
Bảng 1.1 Phân loại huyết áp theo WHO - ISH (2003) [49], [53]
[Nguồn: Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018]
(mmHg)
HA tâm trương (mmHg)
WHO (2003) hướng dẫn cụ thể hơn và đặc biệt quan tâm đến yếu tố nguy cơ, tổn
thương cơ quan đích hay chưa trước khi đưa ra phác đồ điều trị [42]
Tại Việt Nam, theo Khuyến cáo của Hội Tim mạch học Quốc gia năm 2018 và trong hướng dẫn quản lý và điều trị tăng huyết áp của Bộ y tế năm 2010 đã đề nghị sử dụng phân độ HA theo WHO - ISH 2003 (bảng 1.1) cho những chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu liên quan đến THA [7], [18]
Trang 186
1.1.3.3 Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp
a Tăng huyết áp nguyên phát:
THA nguyên phát chiếm đến 95% tổng số bệnh nhân (BN) tăng huyết áp, cơ chế bệnh sinh của THA nguyên phát chưa rõ ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau có thể gây THA nguyên phát [11]:
- Tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm: Khi hệ thần kinh giao cảm bị tăng hoạt động sẽ làm tăng hoạt động của tim, dẫn đến tăng cung lượng tim Mặt khác toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả là tăng huyết áp động mạch
- Vai trò của hệ Renin – Angiotensin – Aldosteron (RAA): Renin là một enzyme được các tế bào cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có các yếu tố kích thích Các tế bào cơ trơn trên thành mao động mạch tiểu cầu thận, kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra renin để điều hoà huyết áp, duy trì áp lực lọc ở tiểu cầu thận
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp:
+ Theo Tubian (1954): Lượng natri và nước trong vách động mạch cao hơn rõ rệt
ở những người có tăng huyết áp
+ Theo Braunwwald (1954): Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA tiên phát thực hiện ở hai vị trí:
Stress (tác nhân gây bệnh): ở những người ăn nhiều natri (do thói quen trong sinh hoạt ăn uống của gia đình) khả năng lọc của thận tăng, cũng tăng tái hấp thu nước, làm tăng thể tích máu Màng tế bào có sự thẩm thấu di truyền đối với natri, canxi vào trong
tế bào của cơ trơn mạch máu, dẫn đến tăng tính co mạch, tăng sức cản ngoại vi gây tăng huyết áp
- Giảm chất điều hòa huyết áp: Prostaglandin E2 và Kallikrein ở thận có chức năng sinh lý điều hòa huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu Khi các chất này thiếu hoặc bị
ức chế gây nên tăng huyết áp
b Tăng huyết áp thứ phát:
Khoảng 5% BN THA có nguyên nhân rõ ràng [9]:
- THA do bệnh thận và dị dạng mạch máu thận
- Cường aldosterone và hội chứng Cushing
- U tủy thượng thận: Chiếm 1 - 2% tổng số BN tăng huyết áp thứ phát
Trang 197
- Hẹp eo động mạch chủ: Tăng huyết áp ở phần trước chỗ hẹp và giảm ở phần sau chỗ hẹp
- THA ở phụ nữ mang thai: Bệnh tăng huyết áp xuất hiện hoặc nặng lên khi có thai
là một trong những nguyên nhân gây tử vong của người mẹ cũng như thai nhi
- Sử dụng oestrogen: Sử dụng kéo dài thuốc tránh thai sẽ gây tăng huyết áp vì oestrogen gây tăng tổng hợp tiền chất renin
1.1.4 Biến chứng của tăng huyết áp
Tỷ lệ mắc bệnh THA đang ngày càng tăng nhanh, do vậy kéo theo tỷ lệ các biến chứng của THA cũng ngày càng gia tăng gây những ảnh hưởng xấu đến tâm lý, sức khỏe
và sức lao động của người bệnh và gia đình của họ trong cộng đồng một cách rất rõ rệt
1.1.4.1 Tổn thương ở tim
Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và còn là nguyên nhân tử vong cao nhất đối với THA, cụ thể: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp, THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn, khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ [8]
1.1.4.2 Tổn thương ở não
Tai biến mạch máu não thường gặp như là: nhũn não, xuất huyết não…có thể gây
tử vong hoặc để lại các di chứng nặng nề cho người bệnh và làm ảnh hưởng đến chất lượng sống của chính bản thân người bệnh và gia đình Ngoài ra, có thể chỉ gặp các tai biến mạch máu não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội [8]
1.1.4.3 Tổn thương ở thận
+ Xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh
+ Xơ thận gây suy thận dần dần
+ Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính
+ Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dần đến nồng độ renin và angiotensin II trong máu tăng gây cường aldosteron thứ phát [8]
1.1.4.4 Tổn thương ở mạch máu
THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, phồng động mạch chủ [11]
Trang 208
1.1.4.5 Tổn thương ở mắt:
Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt Theo Keith - Wagener Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt [8]
+ Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng
+ Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch (dấu hiệu Salus Gunn) + Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạch nhưng chưa có phù gai thị + Giai đoạn IV: Phù lan toả gai thị
1.1.5 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp
Khoảng dưới 5% các trường hợp ở BN tăng huyết áp có thể tìm thấy nguyên nhân
và được gọi là tăng huyết áp triệu chứng (hay tăng nguyên áp thứ phát) THA thứ phát cần được chú ý tìm nguyên nhân cụ thể để đưa ra hướng điều trị phù hợp
Còn lại, khoảng 95% các BN bị THA không xác định được nguyên nhân (còn gọi
là THA nguyên phát) Tuy nhiên các nhà khoa học đã nhận thấy có một số yếu tố nguy
cơ liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh THA Theo Liên uỷ ban Quốc gia Hoa Kỳ [45] gồm các yếu tố nguy cơ được phân loại như sau:
1.1.5.1 Nhóm yếu tố sẵn có (là những yếu tố không thể thay đổi)
- Tuổi:
Tuổi có mối liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp Tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết
áp càng nhiều, do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn còn gọi là THA tâm thu đơn thuần Mặc dù HA tâm trương giảm nhẹ dần khi vượt qua độ tuổi 65 - 70 nhưng HA tâm thu lại tiếp tục tăng so với tuổi đời [17] Cùng với đời sống kinh tế được cải thiện, tuổi thọ trung bình ngày một cao, theo số liệu thống kế của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội, năm 2019 cả nước có khoảng 11,41 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 12% dân số [32]
Trong kết quả của nghiên cứu Phạm Thế Xuyên (2019) cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa nhóm tuổi cao và THA, ở nhóm người thuộc nhóm có độ tuổi từ 55 đến
64, xác suất mắc THA cũng cao gấp 37,3 lần nhóm tuổi 45 - 54 (CI95% = 18,19 - 76,42) [36]
Trang 219
- Giới tính:
Trước 45 tuổi thì nam giới có nguy cơ THA cao hơn nữ, nhưng từ độ tuổi 65 trở
đi, thì tỷ lệ THA có sự thay đổi, nó ảnh hưởng đến nữ giới nhiều hơn (có thể do đã mãn kinh) Ngoài đó, trong việc kiểm soát huyết áp, nam giới dưới 55 tuổi không kiểm soát tốt bằng nữ giới, nhưng từ 65 tuổi thì ngược lại, việc kiểm soát huyết áp ở phái nữ trở nên khó khăn hơn [14]
- Chủng tộc:
Tăng huyết áp có thể ảnh hưởng đến bất kỳ ai, không phân biệt Tuy nhiên, có những nghiên cứu cho thấy những người Mỹ gốc Phi có nguy cơ tăng huyết áp và tử vong do các biến chứng của tăng huyết áp cao hơn những người Mỹ da trắng [14]
- Yếu tố di truyền:
Tiền sử gia đình có người cùng huyết thống bị THA, nhất là trực hệ (bố, mẹ, anh chị, em ruột), việc kế thừa gen làm cho họ có nhiều khả năng để phát triển tình trạng này Ví dụ trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc THA nhiều hơn Nghiên cứu của Yeon Hwan Park, Misoon Song (2011) thấy rằng, tỷ
lệ chênh lệch THA là 2,38 lần khi có bố hoặc mẹ THA và tăng lên 6,49 lần khi có cả bố
và mẹ THA Nguy cơ này độc lập với yếu tố nguy cơ khác và yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng [46]
1.1.5.2 Nhóm yếu tố nguy cơ có thể thay đổi
- Ăn mặn:
Người Việt Nam có thói quen dùng mắm, muối trong đời sống vì đó là văn hoá ăn uống của chúng ta Vì vậy, việc kiểm soát chế độ ăn uống còn gặp rất nhiều hạn chế Lượng muối ăn thừa vào cơ thể sẽ gây tăng thể tích máu trong lòng mạch, khiến tim phải tăng co bóp để đưa máu đi nuôi cơ thể và đến thận để lọc số muối thừa ra khỏi cơ thể Do vậy, chế độ ăn giảm muối hay ăn nhạt rất cần được chú ý khi điều trị BN tim mạch nói chung, THA nói riêng [25]
Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Châu Âu, tiêu thụ natri quá mức (>5g natri mỗi ngày, tương đương một muỗng cà phê muối mỗi ngày) đã được chứng minh liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ THA và tăng HATT theo tuổi Ngược lại, hạn chế natri đã được chứng minh là có tác dụng hạ huyết áp trong nhiều thử nghiệm Một phân tích tổng hợp gần đây cho thấy việc giảm 1,75g natri mỗi ngày (4,4g muối/ngày) có liên quan đến
Trang 2210 việc giảm trung bình 4,2/2,1 mmHg giá trị HATT/HATTr, với hiệu quả rõ rệt hơn (- 5,4/
- 2,8 mmHg) ở những người bị THA Do đó Hội Tim mạch Châu Âu khuyên rằng nên giới hạn ở mức khoảng 2,0g natri mỗi ngày (tương đương khoảng 5,0g muối mỗi ngày) trong dân số nói chung và phải cố gắng đạt được mục tiêu này ở tất cả các bệnh nhân THA [55]
- Hút thuốc lá, thuốc lào:
Trong thuốc lá có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và THA Nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá
có thể làm tăng HATT lên đến 11mmHg và HATTr lên 9 mmHg và kéo dài trong 20
-30 phút Vì vậy, không hút thuốc lá cũng là biện pháp phòng bệnh THA [34]
- Uống rượu, bia:
Hàng ngày, mỗi người có thể uống khoảng 300 ml bia hoặc 30 ml rượu mạnh hay
50 ml rượu vang Nhưng nếu uống rượu bia trên 100ml/ngày liên tục trong 3 năm sẽ là nguy cơ gây tăng huyết áp [25]
+ Vai trò của hệ thống thần kinh trung ương trong THA do rượu:
Rượu có tác dụng làm mất cân bằng giữa các yếu tố hệ thần kinh trung ương ảnh hưởng đến cung lượng tim và tác động mạch máu ngoại biên của rượu Ngoài ra, rượu gây ra tăng hoạt tính giao cảm, liên quan đến việc tiết hormone giải phóng corticotropin [25], [39]
+ Vai trò hệ Renin – Angiotensin – Aldosterone trong THA do rượu:
Nồng độ trong huyết thanh của các chất như Renin, Angiotensin đã được báo cáo
là bị ảnh hưởng khi uống rượu Okuno đã báo cáo sự gia tăng kéo dài hoạt động của enzyme chuyển đổi Angiotensin huyết thanh ở người nghiện rượu cho thấy nồng độ Angiotensin II tăng lên do kích hoạt hoạt động của men chuyển Cơ chế này có nhiều khả năng liên quan đến THA do rượu [25]
+ Vai trò của corstisol trong THA do rượu:
Potter và cộng sự đã báo cáo sự gia tăng đáng kể nồng độ cortisol trong huyết tương sau khi uống rượu và giảm nồng độ cortisol huyết tương khi ngừng uống rượu Nồng độ cortisol tăng ở những người uống rượu thường xuyên có thể là do sự kích thích trực tiếp của hormone hướng thượng thận hoặc sự kích thích của hormone giải phóng corticotropin bởi arginine vasopressin [25]
Trang 2311 Trong các nghiên cứu của Peggy PC Chiang, Lihua Hu, Guang Yang, tao Xu, Atsuhiro Kanno đều cho thấy lạm dụng rượu bia hay gặp ở nhóm tiền HA hơn HA tối
ưu Theo Hội Tim mạch Châu Âu, nhóm can thiệp giảm rượu có HATT/HATTr thấp hơn 1,2/0,7 mmHg so với nhóm đối chứng, trong vòng 6 tháng [55]
- Ít hoạt động thể lực (Lối sống tĩnh tại):
Theo các nghiên cứu, có khoảng 1/3 người trưởng thành trên khắp thế giới mắc bệnh lười vận động, dẫn đến hậu quả 5,3 triệu người chết mỗi năm và Việt Nam là một trong top 10 nước lười vận động nhất thế giới [50]
Theo Hội Tim mạch Mỹ, các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh mối quan hệ nghịch đảo giữa hoạt động thể lực và mức độ HA, THA Trong một nghiên cứu đoàn
hệ, nhóm nam giới từ 20 đến 90 tuổi theo dõi dọc trong 3 đến 28 năm, người hoạt động thể lực cao hơn giúp làm giảm tốc độ tăng HATT theo thời gian và trì hoãn thời gian khởi phát [50] Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Phạm Thế Xuyên (2019), những người không tham gia các hoạt động tập luyện thể thao có nguy cơ mắc THA cao gấp 2,15 lần so với người có hoạt động thể lực (CI95% = 1,32 - 3,49) [36]
- Stress (căng thẳng, lo âu quá mức):
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, Noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến tăng huyết áp Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tính kiên nhẫn và luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống Nếu thực hiện được điều này thì bạn đã có thể một phần hạn chế những căng thẳng, lo âu đồng thời đây cũng chính là một biện pháp phòng tránh tăng huyết áp [37]
Trên đây là nhóm yếu tố nguy cơ có khả năng thay đổi được Vì vậy, tăng huyết
áp giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều trị kiểm soát huyết áp, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức khoẻ nhằm vào các yếu tố này
1.1.6 Các bệnh lý liên quan chặt chẽ đến tăng huyết áp
- Tiền tăng huyết áp:
Tiền tăng huyết áp là quan niệm mới của bệnh tăng huyết áp theo phân loại bệnh tăng huyết áp của Hoa Kỳ, người bị tiền tăng huyết áp nhiều khả năng bị bệnh tăng huyết
áp hơn người bình thường Khái niệm tiền THA đưa ra với mong muốn cảnh báo cộng
Trang 2412 đồng và thầy thuốc cần lưu tâm đến nhóm đối tượng huyết áp này nhằm ngăn ngừa tiến triển thành THA trong cộng đồng [25]
- Đái tháo đường:
Ở người bị đái tháo đường, nguy cơ mắc bệnh THA cao hơn hẳn người không bệnh Khi xuất hiện đồng thời hai bệnh, sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu lớn
và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với bệnh nhân tăng huyết áp đơn thuần Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Mỹ, tỷ lệ THA ở người trưởng thành mắc ĐTĐ là khoảng 80% và THA gặp ở người ĐTĐ type 2 cao hơn ít nhất gấp hai lần so với người không bị ĐTĐ cùng tuổi Sự cùng tồn tại của THA và ĐTĐ làm tăng đáng kể nguy cơ tổn thương bệnh tim mạch, tăng tỷ lệ mắc bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu ngoại biên, đột quỵ và tử vong do bệnh tim mạch cao hơn và có thể làm tăng nguy
cơ mắc bệnh vi mạch máu, như bệnh thận hoặc bệnh võng mạc [50]
- Rối loạn lipid:
Nguyên nhân thường gây ra quá trình xơ vữa động mạch là nồng độ cholesterol máu cao, nó làm hẹp dần lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể Động mạch bị xơ vữa lâu dần sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây ra bệnh cảnh THA Thực tế cho thấy rằng THA động mạch và tăng cholesterol máu thường được phối hợp với sinh bệnh học về gen Điều này lí giải cho nguy cơ bệnh tim mạch tăng lên theo cấp số nhân ở những bệnh nhân này Vì vậy, phải nhận thức được tầm quan trọng của tăng lipid máu ở những bệnh nhân THA và cần có biện pháp tầm soát, theo dõi và điều trị hợp lý [50]
Dự đoán trong những năm tới đây, số người mắc bệnh THA vẫn sẽ còn tăng do các yếu tố nguy cơ (có thể thay đổi được) và các bệnh lý liên quan tới THA không được kiểm soát Khống chế được những yếu tố nguy cơ này có thể làm giảm được tình trạng tăng huyết áp một cách đáng kể
1.2 Chiến lược điều trị tăng huyết áp
Trang 2513 vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác
đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời
- Điều trị cần hết sức tích cực ở BN đã có tổn thương cơ quan đích Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu [7]
Hình 1.1 Sơ đồ khuyến cáo điều trị THA theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 [18]
[Nguồn: Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018]
1.2.2 Can thiệp không dùng thuốc
Thay đổi lối sống là nền tảng của điều trị và dự phòng tăng huyết áp: áp dụng cho mọi BN để ngăn tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng,…
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn (1 thìa cà phê muối mỗi ngày)
+ Tăng cường rau xanh và các loại hoa quả tươi
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axit béo no
Trang 2614
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI từ 18,5 đến 22,9 kg/m2)
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80cm ở nữ
- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/ tuần ( nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ): 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động
ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh: cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
- Tránh bị lạnh đột ngột [7]
Hiện nay, các y bác sĩ đang khuyến khích BN sử dụng chế độ ăn DASH (DIETARY APPROACHES TO STOP HYPERTENSION - Chế độ ăn kiêng giúp ngăn ngừa huyết áp) [41] thay vì phương pháp truyền thống là chỉ ăn nhạt, giảm muối trong bữa ăn, vì phương pháp này giúp cải thiện chỉ số huyết áp tốt hơn, chế độ ăn cụ thể như sau:
- Ăn nhiều trái cây, rau củ, ít chất béo hoặc không có chất béo
- Kết hợp với sản phẩm sữa ít béo, thịt nạc, thịt gia cầm, cá, các loại đậu Tăng cường sử dụng các loại ngũ cốc nguyên hạt ít tinh chế
- Chế độ ăn giàu vitamin, giàu khoáng chất gồm kali, magie, canxi và chất xơ
1.2.3 Can thiệp dùng thuốc
* Ngưỡng HA phòng khám cần điều trị thuốc và ranh giới đích HA phòng khám điều trị
Để bắt đầu điều trị cho BN, người thầy thuốc cần khai thác rõ tiền sử bệnh trước
đó của BN, kết hợp với ngưỡng HA phòng khám cần điều trị thuốc để có thể cho thuốc phù hợp với từng người
Ngoài ra, người thầy thuốc còn đề ra mục tiêu huyết áp cần đạt cho mỗi BN, để theo dõi sự ổn định, tình trạng dung nạp thuốc, từ đó có những phương hướng điều trị hợp lý
Trang 27có BĐM
THA nguy
cơ cao
THA kèm ĐTĐ*
THA kèm Suy tim
THA kèm BTM
THA kèm BMV
THA kèm Đột quỵ/TIA
Trang 2816
1.3 Các nhóm thuốc hạ áp
² Những đặc điểm thuốc lý tưởng [7]:
1 Có chứng cứ dự phòng bệnh suất/tử suất
2 Liều dùng một lần kiểm soát HA 24 giờ
3 Tính hiệu quả - giá phù hợp
4 Dung nạp tốt
5 Có chứng cứ lợi ích trong cộng đồng sử dụng
1.3.1 Thuốc lợi tiểu
* Đặc điểm: Thải nước và ion Na+ làm giảm thể tích tuần hoàn và giảm hoạt tính
với các amin co mạch, do đó làm hạ huyết áp [5]
* Phân loại:
- Nhóm thiazide: Chlorothizide, Hydrochlorothiazide, Polythiazide
- Nhóm lợi tiểu quai: Furosemide (Lasix), Umetamide (Bumex)
- Nhóm lợi tiểu kháng Aldosteron: Spironolacton, Amicloride.[5]
* Tác dụng phụ:
- Hạ kali máu (Trừ Spinorolacton và các lợi tiểu giữ kali có thể làm tăng kali máu)
Hạ Magie và Natri máu
- Thiazide làm tăng acid uric, canxi và cholesterol máu cũng như làm giảm dung nạp và tăng đề kháng insulin [5]
* Chống chỉ định: Suy thận cấp, shock giảm thể tích, [5]
* Sử dụng thuốc lợi tiểu ở trong THA ở lâm sàng:
Thuốc lợi tiểu luôn luôn được phối hợp với chế độ ăn kiêng không muối (2,4g Na+ hay 6g NaCl/ngày) Điều trị bằng thuốc lợi tiểu luôn khởi đầu và nên duy trì với liều thấp (đặc biệt khi dùng thiazide) để tránh những hiệu quả không mong muốn có thể xảy
ra như tăng chloesterol máu, tăng acid uric máu, [2]
Khi dùng lợi tiểu nhóm thiazide hay lợi tiểu quai, điều cần chú ý là bổ sung kali cho BN hoặc phối hợp giữa lợi tiểu giữ kali như spirononlactone, tramterene, amicloride…[2]
Trang 2917
1.3.2 Thuốc chẹn beta giao cảm
* Đặc điểm: Làm hạ HA do chẹn thụ thể beta giao cảm với catecholamine do đó
làm giảm nhịp tim và cung lượng tim Ngoài ra, nó cũng làm giảm nồng độ renin trong
máu, làm tăng phóng thích prostagladin gây dãn mạch [5]
* Phân loại:
- Thế hệ 1: các chất ức chế không chọn lọc: propranolol, timolol,
- Thế hệ 2: các chất chỉ ức chế thụ thể beta 1 (còn gọi là các chất ức chế chọn lọc cho tim) như atenolol, acebutolol, metoprolol,
- Thế hệ 3: các chất không những ức chế thể thể beta 1, beta 2 mà còn ức chế các thụ thể alpha 1 như labetalol, carvedilol, [5]
* Tác dụng phụ:
- Giảm sức co bóp cơ tim Nhịp tim chậm, block dẫn truyền,
- Làm tăng triglyceride và giảm HDL-C máu: các chất có hoạt tính giao cảm nội tại (+) ít có ảnh hưởng hơn
- Cơn hen phế quản do ức chế thể beta 2 làm co thắt phế quản
- Đôi khi có cảm giác lạnh đầu chi kiểu Raynaud hoặc rối loạn tiêu hoá nhẹ
- Giảm phân huỷ glycogen ở gan và ức chế tiết glucagon, làm nặng thêm tình trạng
hạ glucose máu ở BN ĐTĐ
- Nếu ngừng thuốc đột ngột, có thể xảy ra cơn THA kịch phát.[5]
* Chống chỉ định: Suy tim mất bù, Hen, COPD, Co mạch ngoại biên, Nhịp tim
chậm, Choáng tim, Bệnh động mạch ngoại biên nặng, [5]
* Sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm trong THA:
Đối với BN hút thuốc lá và ĐTĐ, chẹn beta giao cảm chọn lọc được ưa dùng hơn
và tránh dùng thuốc beta giao cảm không chọn lọc
Trên BN THA có kèm đau thắt ngực ổn định và thiếu máu cục bộ thầm lặng, trừ khi có chống chỉ định, liệu pháp dùng thuốc nên được khởi đầu với một thuốc chẹn beta giao cảm nhằm ngăn ngừa thiếu máu cơ tim, tử vong và giảm các triệu chứng của đau thắt ngực [5]
Trang 30- Verapamil có thể gây táo bón, nôn, đau đầu, hạ HA tư thế,
- Diltiazem: nôn, đau đầu, mẩn ngứa,
- Nhóm DHP: phù đầu chi, cơn nóng bừng mặt, đau đầu, mẩn ngứa, [5]
* Chống chỉ định: Block AV độ 2 - 3, suy tim sung huyết với Verapamil,
Diltiazem,…[5]
1.3.4 Thuốc ức chế men chuyển
* Đặc điểm: Hệ quả tác động của ức chế men chuyển là giảm nồng độ Angiotensin
II và tăng nồng độ Bradykinin (chất làm giãn mạch, tăng thải Na+ qua đường niệu), do
- Chất hoà tan trong nước: Lisinorpil [5]
* Tác dụng phụ: Ho khan và co thắt phế quản, tăng kali máu (phối hợp với thuốc
lợi tiểu thải kali có thể làm kali trở lại bình thường), tụt huyết áp, suy thận, phù mạch, giảm bạch cầu (captopril),…[5]
* Chống chỉ định: Hẹp động mạch thận 2 bên PNCT Tăng kali máu.[5]
Trang 3119
* Sử dụng thuốc trong lâm sàng:
Các thuốc UCMC làm giảm phì đại thất trái nhiều hơn các nhóm thuốc hạ áp khác Thuốc cũng cải thiện tốt chức năng tâm trương thất trái Với BN THA đã có suy tim, thuốc làm giảm cả tiền gánh lần hậu gánh nên hạn chế giảm thể tích cuối tâm trương thất trái, tăng cung lượng tim, hạn chế quá trình giãn thất trái
Trên BN THA có ĐTĐ, thuốc làm hạn chế việc tổn thương thận, liên quan đến các biến chứng vi mạch, Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) đã khuyên sử dụng thuốc ức chế men chuyển và ức chế thụ thụ thể Angiotensin II cho BN ĐTĐ type 2 có bệnh thận mạn tính do những thuốc này làm chậm sự suy giảm tốc độ lọc cầu thận và hạn chế sự xuất hiện albumin niệu Ngoài ra, Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ cũng khuyên dùng thuốc ức chế men chuyển cho BN mắc bệnh ĐTĐ trên 55 tuổi có nguy cơ mắc bệnh tim mạch [19]
1.3.5 Thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II
* Đặc điểm: Do tác động của thuốc với các thụ thể Agiotensin I nên hoạt tính renin
và nồng độ Angiotensin II tăng cao trong huyết tương, các thụ thể AT2 được kích thích
lại có lợi thì tham gia làm giãn mạch, vì vậy làm giảm HA
* Phân loại: Gồm Losartan, Candesartan, Telmisartan, Irbesartan, Valsarta,…[5] 1.4 Phối hợp thuốc hạ áp trong điều trị:
- Khoảng 40 đến 50% BN THA kiểm soát được trình hình HA khi điều trị 1 thuốc duy nhất Việc phối hợp 2 thuốc khác nhau về cơ chế sẽ làm tăng hiệu quả điều trị và giảm những tác dụng không mong muốn có thể xảy ra [2]
- Sự phối hợp thuốc hạ áp được khuyến khích và chú ý vì những công trình nghiên cứu cho thấy hầu hết BN cần ít nhất 2 loại phối hợp, khi BN HA đang ở mức 2 hoặc 3 kèm theo nguy cơ cao hoặc rất cao Khi phối hợp thêm thuốc thứ 3 và thứ 4 cũng cần dựa theo nguyên tắc trên, nghĩa là các thuốc có cơ chế tác động khác nhau Không nên phối hợp hai thuốc cùng cơ chế [2]
Trang 3220
Bảng 1.4 Chiến lược điều trị THA theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng
huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 [18]
[Nguồn: Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018]
chứng cứ
ƯCMC, CTTA, CB, CKCa, LT (Thizazide/thiazide - like như
chorthalidone và indapamide) có hiệu quả giảm HA và các
biến cố TM qua các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nên
được chỉ định chính điều trị hạ áp
Khuyến cáo phối hợp thuốc cho hầu hết BN trong điều trị
ban đầu, ưu tiên ƯCMC hoặc CTTA với CKCa hoặc LT Các
kết hợp khác trong 5 nhóm chính có thể dùng Ngoại trừ người
cao tuổi bị lão hoá HABTC có nguy cơ thấp Thiết yếu dùng
thuốc sẵn có để kết hợp thuốc
CB kết hợp với các nhóm thuốc chính khác khi có tình trạng
lâm sàng đặc biệt như đau thắt ngực, sau NMCT, suy tim hoặc
kiểm soát tần số nhịp, phụ nữ có thai
Khuyến cáo điều trị ban đầu tối ưu với 2 thuốc ưu tiên
UCMC/CTTA + CKCa trong 1 viên cố định liều với liều
thấp (= 1/2 liều thông thường)
Nếu HA không kiểm soát bởi 3 thuốc, điều trị thêm
spirolactone, nếu không dung nạp, hoặc, lợi tiểu khác như
amiloride hoặc tăng liều lợi tiểu khác, chẹn beta hoặc chẹn
Trang 3321
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp đang được theo dõi và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- BN ngoại trú được chẩn đoán THA theo JNC 6 có trong danh sách được quản lý tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản
- BN trên 18 tuổi
- BN có khả năng cung cấp thông tin một cách chính xác
- BN đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- BN lần đầu được chẩn đoán tăng huyết áp
- BN từ chối tham gia vào nghiên cứu
- BN là phụ nữ đang mang thai
- BN không thể tham gia nghiên cứu (bệnh tâm thần, suy giảm trí nhớ nặng, suy tim nặng…)
- BN có hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin khảo sát
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ ngày 27/6/2022 đến ngày 27/7/2022 tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
2.2.2.1 Công thức tính cỡ mẫu theo một tỷ lệ [51]:
n ≥ [z2xp(1 - p)]/d2
Trong đó:
p là trị số mong muốn của tỉ lệ mức độ tuân thủ thuốc cao Theo nghiên cứu của
tác giả Phạm Phương Liên và Trần Công Trưởng, “Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của BN tăng huyết áp tại Bệnh viện Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh năm 2018”, tỉ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp của BN là 41,2% Nên trong nghiên cứu này, chúng tôi
sử dụng p = 0,412 [22]
z = 1,96 khi khoảng tin cậy là 95%
Trang 3422
d: sai số cho phép, d = 0,07 (7%)
- Thay các giá trị tương ứng vào công thức, ta được: n ≥ 190
- Vậy, cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu là 190 BN Tuy nhiên, để dự phòng các trường hợp BN không trả lời đầy đủ các câu hỏi hoặc từ chối tham gia, hồ sơ không đủ thông tin cần thiết là khoảng 10% Vậy cỡ mẫu của nghiên cứu, chúng tôi làm tròn đến
210 BN tới khám ngoại trú tại phòng khám Nội, khoa Khám bệnh
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện
2.2.3 Chỉ số và biến số nghiên cứu
2.2.3.1 Nhóm biến số về đặc điểm chung
4 Khu vực sinh sống Trong địa phận tỉnh Hậu Giang
Ngoài tỉnh Hậu Giang
5 Cân nặng Đơn vị tính là ki-lo-gram (kg) với 1 số
lẻ sau số thập phân
6 Chiều cao Đơn vị tính là cen-ti-met (cm)
Trang 3523
- Phân độ THA theo JNC 6 dựa vào Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng
huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 [18]:
Trang 3624
- Yếu tố nguy cơ:
Hút thuốc lá
Uống rượu, bia
Thừa cân – Béo phì
Ít hoạt động thể lực
Tuổi cao (nam ≥ 55; nữ ≥ 65 tuổi)
Tiền sử gia đình có người bị THA
- Bệnh kèm theo đang được điều trị đồng thời:
Rối loạn lipid máu
Di chứng tai biến mạch máu não
- Tình hình tuân thủ điều trị của BN: Theo bảng câu hỏi MMAS - 8 (Morisky medication scale - 8 items) [43]
1 Thỉnh thoảng quên uống thuốc điều trị huyết áp?
2 Trong 2 tuần qua có lúc không uống thuốc điều trị huyết áp?
3 Từng giảm hoặc ngưng thuốc mà không thông báo cho bác sĩ vì cảm thấy tình trạng xấu hơn do thuốc điều trị?
4 Quên mang thuốc khi đi công việc hay đi du lịch?
5 Hôm qua không uống thuốc điều trị huyết áp?
6 Tự ý ngưng thuốc khi thấy huyết áp đã ổn định?
7 Cảm thấy phiền khi phải nhớ lịch uống thuốc mỗi ngày?
8 Cảm thấy khó khăn khi phải nhớ lịch uống thuốc mỗi ngày?
2.2.3.2 Nhóm biến số về đặc điểm điều trị
- Phương pháp điều trị: đơn trị liệu hay đa trị liệu theo Khuyến cáo về chẩn đoán
và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018 [18]
Trang 3725 Nhóm thuốc
dùng trong đơn
trị liệu
Phối hợp 2 thuốc trong đa trị liệu
Phối hợp 3 thuốc trong đa trị liệu
Phối hợp 4 thuốc trong đa
- CB + LT
- CB + UCMC/CTTA
- LT + UCMC/CTTA
- CKCa + CB +
LT
- CKCa + CB + UCMC/CTTA
- LT + CKCa + UCMC/CTTA
- LT + CB + UCMC/CTTA
CB+UCMC/UCTT+CKCa + LT
² Những đặc điểm thuốc lý tưởng [7]:
1 Có chứng cứ dự phòng bệnh suất/tử suất
2 Liều dùng một lần kiểm soát HA 24 giờ
3 Tính hiệu quả - giá phù hợp
Trang 3826 Imidapril
Quốc gia Việt Nam 2018 [18]
[Nguồn: Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018]
Trang 3927
- Tình trạng kiểm soát huyết áp mục tiêu của BN: đạt hoặc không đạt: Theo độ tuổi, sự dung nạp của từng cá nhân và bệnh đồng mắc với khoảng HA ranh giới đích là [18]:
18 - 64 tuổi: HA mục tiêu < 130 - 120/80 - 70mmHg
≥ 65 tuổi: HA mục tiêu < 140 - 130/ 80 - 70 mHg
Hình 2.3 Khuyến cáo chung về đích điều trị đối với bệnh nhân tăng huyết áp theo Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Hội Tim mạch học
Quốc gia Việt Nam 2018 [18]
[Nguồn: Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam 2018]
Quy trình đo huyết áp của Bộ Y Tế [7]:
- Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5 – 10 phút trước khi đo huyết áp
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đó 2 giờ
- Tư thế đo chuẩn: người được đo huyết áp ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim Ngoài ra, có thể đo ở các tư thế nằm, đứng Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường, nên đo thêm huyết áp tư thế đứng nhằm xác định có hạ huyết áp tư thế hay không
- Sử dụng huyết áp kế thủy ngân, huyết áp kế đồng hồ hoặc huyết áp kế điện tử (loại đo ở cánh tay) Các thiết bị đo cần được kiểm chuẩn định kỳ Bề dài bao đo (nằm trong băng quấn) tối thiểu bằng 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay Quấn băng quấn đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khuỷu 2cm Đặt máy ở vị trí để đảm bảo máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim
Trang 40- Hiện nay, có nhiều loại máy đo huyết áp được sử dụng nhưng phổ biến nhất là hai loại: máy đo HA điện tử và máy đo HA bằng cơ
Hình 2.4 Máy đo huyết áp điện tử của người lớn (nguồn internet)
Hình 2.5 Máy đo huyết áp cơ của người lớn (nguồn internet)