Thực trạng kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên nữ Ung thƣ cổ tử cung (UTCTC) là một trong những bệnh ung thƣ phụ khoa thƣờng gặp nhất ở phụ nữ trên thế giới và tại Việt Nam. Theo WHO (2010), UTCTC có xu hƣớng ngày càng gia tăng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng kiến thức, thực hành phòng bệnh còn hạn chế là yếu tố ảnh hƣởng đến thực trạng UTCTC. Hiện nay ở Việt Nam cũng chƣa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Xuất phát từ những nguyên nhân trên cùng với mong muốn đánh giá thực trạng tiêm phòng vắc xin phòng bệnh UTCTC của sinh viên nữ trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản nên tôi quyết định thực hiện nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thƣ cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên nữ trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản năm 2021”. Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, khảo sát trên 424 sinh viên nữ của trƣờng bằng cách phát vấn thông qua bộ câu hỏi tự điền khuyết danh. Nội dung phiếu khảo sát có 5 phần bao gồm: phần thông tin chung về sinh viên, kiến thức về bệnh UTCTC, kiến thức về HPV, kiến thức về vắc xin phòng UTCTC, thực hành về tiêm vắc xin phòng ngừa UTCTC. Số liệu thu về đƣợc nhập bằng phần mềm Epi data 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 22. Kết quả nghiên cứu ghi nhận 56,6% sinh viên đạt kiến thức về bệnh UTCTC, có 42,9% sinh viên đạt điểm kiến thức về HPV, 37% sinh viên đạt kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC. Tỷ lệ sinh viên đạt thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC là 24,1%. Sử dụng mô hình hồi quy đa biến logistic ghi nhận kiến thức về bệnh UTCTC có liên quan đến các yếu tố sau: ngành học, khóa học. Kiến thức về HPV có liên quan đến các yếu tố sau: ngành học, năm học, trình độ học vấn của bố. Kiến thức về vắc xin phòng UTCTC có liên quan đến các yếu tố: nơi ở, ngành học, khóa học, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn của mẹ. Thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC có liên quan đến các yếu tố: ngành học, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp của bố, khả năng chi trả chi phí tiêm vắc xin. Nghiên cứu đƣa ra một số khuyến nghị: có nhiều cơ sở tiêm phòng ở các địa phƣơng để gia tăng số lƣợng ngƣời dân nói chung và sinh viên nói riêng có thể tiếp cận với vắc xin phòng bệnh UTCTC. Nhà nƣớc cần có chính sách hỗ trợ, cung ứng vắc xin giá rẻ hoặc miễn phí vào chƣơng trình tiêm chủng mở rộng quốc gia. Các trƣờng đại học nên thƣờng xuyên tổ chức hội thảo về chủ đề bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục, HPV, UTCTC để cung cấp thêm kiến thức cho sinh viên. Có chiến lƣợc xã hội về truyền thông với nhiều hình thức khác nhau, tƣ vấn cho các bậc phụ huynh và cộng đồng về vắc xin HPV cho trẻ em gái.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
PHẠM THỊ HUYỀN TRANG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH TIÊM VẮC XIN PHÕNG NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN NỮ TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN NĂM 2021
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC DƯỢC
HẬU GIANG 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường Đại học Võ trường Toản, được sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, khoa Dược đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu, khoa Dược trường Đại học Võ Trường Toản đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và thực hiện đề tài này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Tuyền người cô đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luận văn của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tập thể các bạn sinh viên trường Đại học Võ Trường Toản đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Bố, Mẹ, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi để tôi có thể vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN NĂM 2021
Chuyên ngành: Y Tế Công Cộng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC DƯỢC
Giảng viên hướng dẫn:
THS NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN
HẬU GIANG 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường Đại học Võ trường Toản, được sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, khoa Dược đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu, khoa Dược trường Đại học Võ Trường Toản đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và thực hiện đề tài này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Tuyền người cô đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luận văn của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tập thể các bạn sinh viên trường Đại học Võ Trường Toản đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Bố, Mẹ, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi để tôi có thể vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Phạm Thị Huyền Trang, sinh viên Đại học Dược khóa 9 trường Đại học Võ Trường Toản, xin cam đoan:
Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
Các số liệu và thông tin nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 6
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp nhất ở phụ nữ trên thế giới và tại Việt Nam Theo WHO (2010), UTCTC có xu hướng ngày càng gia tăng Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng kiến thức, thực hành phòng bệnh còn hạn chế là yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng UTCTC Hiện nay ở Việt Nam cũng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Xuất phát từ những nguyên nhân trên cùng với mong muốn đánh giá thực trạng tiêm phòng vắc xin phòng bệnh UTCTC của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản nên tôi quyết định thực hiện nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021”
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, khảo sát trên 424 sinh viên nữ của trường bằng cách phát vấn thông qua bộ câu hỏi tự điền khuyết danh Nội dung phiếu khảo sát có 5 phần bao gồm: phần thông tin chung về sinh viên, kiến thức về bệnh UTCTC, kiến thức về HPV, kiến thức về vắc xin phòng UTCTC, thực hành về tiêm vắc xin phòng ngừa UTCTC Số liệu thu về được nhập bằng phần mềm Epi data 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 22
Kết quả nghiên cứu ghi nhận 56,6% sinh viên đạt kiến thức về bệnh UTCTC,
có 42,9% sinh viên đạt điểm kiến thức về HPV, 37% sinh viên đạt kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC Tỷ lệ sinh viên đạt thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC
là 24,1% Sử dụng mô hình hồi quy đa biến logistic ghi nhận kiến thức về bệnh UTCTC có liên quan đến các yếu tố sau: ngành học, khóa học Kiến thức về HPV
có liên quan đến các yếu tố sau: ngành học, năm học, trình độ học vấn của bố Kiến thức về vắc xin phòng UTCTC có liên quan đến các yếu tố: nơi ở, ngành học, khóa học, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn của mẹ Thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC có liên quan đến các yếu tố: ngành học, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp của bố, khả năng chi trả chi phí tiêm vắc xin Nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị: có nhiều cơ sở tiêm phòng ở các địa phương để gia tăng số lượng người dân nói chung và sinh viên nói riêng có thể tiếp cận với vắc xin phòng bệnh UTCTC
Trang 7Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, cung ứng vắc xin giá rẻ hoặc miễn phí vào chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia Các trường đại học nên thường xuyên
tổ chức hội thảo về chủ đề bệnh lây truyền qua đường tình dục, HPV, UTCTC để cung cấp thêm kiến thức cho sinh viên Có chiến lược xã hội về truyền thông với nhiều hình thức khác nhau, tư vấn cho các bậc phụ huynh và cộng đồng về vắc xin HPV cho trẻ em gái
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo nhóm tuổi 39
Bảng 3.2 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo ngành học 39
Bảng 3.3 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo khóa học 39
Bảng 3.4 Tình trạng hôn nhân của sinh viên 40
Bảng 3.5 Tiền sử mắc UTCTC của gia đình sinh viên 40
Bảng 3.6 Kiến thức của sinh viên về bệnh UTCTC 41
Bảng 3.7 Kiến thức của sinh viên về HPV 41
Bảng 3 8 Kiến thức của sinh viên về vắc xin phòng ngừa bệnh UTCTC 42
Bảng 3.9 Phân bố kiến thức về bệnh UTCTC của sinh viên theo ngành học 42
Bảng 3.10 Phân bố kiến thức về HPV của sinh viên theo ngành học 43
Bảng 3.11 Phân bố kiến thức về vắc xin phòng ngừa bệnh UTCTC của 43
Bảng 3.12 Phân bố kiến thức về bệnh UTCTC của sinh viên theo khóa học 44
Bảng 3.13 Phân bố kiến thức về HPV của sinh viên theo khóa học 44
Bảng 3.14 Phân bố kiến thức về vắc xin của sinh viên theo khóa học 45
Bảng 3.15 Thực trạng về thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC của sinh viên 45
Bảng 3.16 Phân bố tỷ lệ thực hành của sinh viên theo các nhóm kiến thức về bệnh UTCTC 46
Bảng 3.17 Phân bố tỷ lệ thực hành của sinh viên theo các nhóm kiến thức về HPV 46
Bảng 3.18 Phân bố tỷ lệ thực hành của sinh viên theo các nhóm kiến thức về vắc xin 47
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh UTCTC với các đặc điểm về nhóm tuổi, dân tộc, nơi ở của sinh viên 48
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh UTCTC với các 49
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh UTCTC với đặc điểm về 50
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh UTCTC với các đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp của bố, mẹ sinh viên 50
Trang 9Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh UTCTC với các đặc điểm về tình trạng kinh tế và tiền sử gia đình của sinh viên 52 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức về HPV với các đặc điểm về 53 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa kiến thức về HPV với các đặc điểm về 53 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa kiến thức về HPV với đặc điểm về tình trạng hôn nhân của sinh viên 55 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa kiến thức về HPV với các đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp của bố, mẹ sinh viên 55 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa kiến thức về HPV với các đặc điểm về tình trạng kinh tế và tiền sử gia đình của sinh viên 57 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về nhóm tuổi, dân tộc, nơi ở của sinh viên 58 Bảng 3.30 Mối liên quan giữa kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về ngành học, khóa học của sinh viên 59 Bảng 3.31 Mối liên quan giữa kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC với đặc điểm về tình trạng hôn nhân của sinh viên 60Bảng 3.32 Mối liên quan giữa kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp của bố, mẹ sinh viên 60 Bảng 3.33 Mối liên quan giữa kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về tình trạng kinh tế và tiền sử gia đình của sinh viên 62 Bảng 3.34 Mối liên quan giữa thực hành tiêm vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về nhóm tuổi, dân tộc, nơi ở của sinh viên 63Bảng 3.35 Mối liên quan giữa thực hành tiêm vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về ngành học, khóa học của sinh viên 64Bảng 3.36 Mối liên quan giữa thực hành tiêm vắc xin phòng bệnh UTCTC với đặc điểm về tình trạng hôn nhân của sinh viên 65 Bảng 3.37 Mối liên quan giữa thực hành tiêm vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp của bố, mẹ sinh viên 65
Trang 10Bảng 3.38 Mối liên quan giữa thực hành tiêm vắc xin phòng bệnh UTCTC với các đặc điểm về khả năng chi trả chi phí tiêm vắc xin, tình trạng kinh tế và tiền sử gia đình của sinh viên 67
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tỷ lệ mắc ung thƣ cổ tử cung đƣợc chuẩn hóa theo độ tuổi năm 2012 5
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ nguyên Nghĩa của từ
ACIP Advisory Committee on Ủy ban tư vấn về thực hành Immunization Practices tiêm chủng
FDA Food and Drug Administration Cơ quan Quản lý Thực phẩm
và Thuốc Hoa Kì HCG Human chorionic gonadotropin Hormone được tiết ra từ nhau thai người
HIV Human immunodeficiency virus Vi rút gây suy giảm miễn dịch
ở người
HPV Human papillomavirus Vi rút gây u nhú ở người HSV Herpes simplex virus Vi rút gây bệnh mụn rộp Pap Papanicolaou Phết tế bào cổ tử cung
UTCTC Ung thư cổ tử cung
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 13MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số thông tin về bệnh ung thư cổ tử cung 4
1.1.1 Khái niệm ung thư cổ tử cung 4
1.1.2 Gánh nặng của ung thư cổ tử cung 4
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung 7
1.1.4 Các biểu hiện, triệu chứng của ung thư cổ tử cung 10
1.1.5 Biến chứng của ung thư cổ tử cung 10
1.1.6 Các biện pháp làm giảm nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung 11
1.2 Một số thông tin về vi rút HPV 13
1.2.1 HPV là gì 13
1.2.2 Tỷ lệ mắc và sự phổ biến của HPV 13
1.2.3 Sự lây truyền của HPV 14
1.2.4 Các vấn đề sức khỏe do HPV gây ra 14
1.2.5 Các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HPV 14
1.3 Một số thông tin về vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung 15
1.3.1 Hiệu quả của vắc xin phòng UTCTC 15
1.3.2 Độ an toàn của vắc xin 16
1.3.3 Độ tuổi tiêm vắc xin 18
Trang 141.4 Thực trạng về kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung và
một số yếu tố liên quan của sinh viên ở các nước trên thế giới và Việt Nam 19
1.4.1 Thực trạng về kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên ở các nước trên thế giới 19
1.4.2 Thực trạng về kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên ở Việt Nam 21
1.5 Khung lý thuyết 23
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 25
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu 25
2.5 Phương pháp chọn mẫu 26
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.7 Các biến số nghiên cứu 26
2.8 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 29
2.8.1 Đánh giá về kiến thức bệnh ung thư cổ tử cung, HPV và vắc xin phòng ung thư cổ tử cung 29
2.8.2 Đánh giá thực hành tiêm vắc xin phòng bệnh ung thư cổ tử cung 36
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 38
2.10 Đạo đức nghiên cứu 38
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Đặc điểm thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 39
Trang 153.2 Thực trạng kiến thức về bệnh UTCTC, HPV và vắc xin phòng bệnh UTCTC
của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 41
3.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về tiêm vắc xin phòng UTCTC của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 48
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 69
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiêncứu 69
4.2 Kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 70
4.3 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021 73
4.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh UTCTC 73
4.3.2 Các yếu tố liên quan đến kiến thức về HPV 73
4.3.3 Yếu tố liên quan đến vắc xin phòng UTCTC 75
4.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm vắc xin phòng bệnh ung thư cổ tử cung 76
KẾT LUẬN 79
KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 96
Trang 16ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 4 ở phụ nữ, xếp sau ung thư
vú, ung thư trực tràng, ung thư phổi Đây là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu của phụ nữ và tiếp tục là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn ảnh hưởng đến phụ nữ trung niên, nhất là những nước đang phát triển Năm 2018, ước tính trên toàn thế giới có 570.000 trường hợp mắc mới và 311.000 trường hợp tử vong vì ung thư cổ tử cung [100] Mặc dù có thể dự phòng và phát hiện sớm nhưng hiện tại ung thư cổ tử cung vẫn là một trong những bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ Việt Nam Tính đến năm 2019, tại Việt Nam có 5.146 phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung và
tỷ lệ mắc mới ung thư cổ tử cung là 10,6/100.000 phụ nữ Mỗi ngày có 7 phụ nữ tử vong vì ung thư cổ tử cung, với xu hướng tăng lên theo thời gian [9] Hầu hết tất cả các trường hợp mắc ung thư cổ tử cung đều có liên quan đến việc nhiễm
papillomavirus ở người, một loại vi rút cực kỳ phổ biến lây truyền qua đường tình
dục [93]
Tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung là một trong những biện pháp tốt nhất để phòng bệnh [32] Vắc xin có hiệu quả 95%-100% trong việc ngăn ngừa
bệnh ung thư cổ tử cung và bộ phận sinh dục liên quan đến papillomavirus ở phụ nữ
16-26 tuổi [35] Theo Tổ chức y tế thế giới, tính đến tháng 5 năm 2017 vắc xin phòng ung thư cổ tử cung ở người đã được đưa vào chương trình tiêm chủng của 71 Quốc gia trên thế giới [8] Tại Việt Nam, vắc xin phòng ung thư cổ tử cung lần đầu được giới thiệu vào năm 2007 thông qua dự án “Đánh giá các chiến lược tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung tại Việt Nam giai đoạn 2007-2011” do tổ chức Program for Appropriate Technology in Health hỗ trợ [101]
Tỷ lệ nhiễm papillomavirus cao nhất ở độ tuổi cuối thanh thiếu niên và đầu
tuổi 20 [99], vì họ có xu hướng hoạt động tình dục và có số lượng bạn tình cao hơn
[88] Vì vậy cần nâng cao kiến thức về phòng ngừa papillomavirus cho phụ nữ, đặc
biệt là đối tượng thanh thiếu niên Việt Nam có thể thực hiện các hành động để thúc
đẩy tiêm chủng papillomavirus không chỉ ở cấp cá nhân mà còn ở cấp địa phương
hoặc quốc gia [53] Vì lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến
Trang 17thức và thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung và một số yếu
tố liên quan của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản năm 2021” với
mục tiêu đánh giá mức độ hiểu biết về kiến thức, thực hành và phân tích một số yếu
tố liên quan đến tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung của sinh viên nữ trường Đại học Võ Trường Toản Trên cơ sở đó, chúng tôi có thể đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần cải thiện nâng cao kiến thức, từ đó nâng cao nhận thức cộng đồng
và sửa đổi hành vi dân số về tiêm vắc xin phòng bệnh ung thư cổ tử cung
Trang 18MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỷ lệ kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung của sinh viên nữ tại trường đại học Võ Trưởng Toản năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung của sinh viên nữ tại trường đại học Võ Trưởng Toản năm
2021
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số thông tin về bệnh ung thư cổ tử cung
1.1.1 Khái niệm ung thư cổ tử cung
Ung thư là quá trình bệnh lý trong đó một số tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh lý của tế bào và tiếp tục nhân lên Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức xung quanh Đồng thời chúng di trú và đến phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau và hình thành nên di căn, cuối cùng gây tử vong [1]
UTCTC là ung thư biểu mô tại cổ tử cung, bắt nguồn từ sự xâm nhập của vi rút HPV tại vùng chuyển tiếp Bệnh bắt đầu từ những tổn thương tiền ung thư (một
tỷ lệ các trường hợp này sẽ tiến triển thành ung thư), tiếp đến là ung thư tại chỗ và ung thư xâm lấn [7]
UTCTC là u ác tính nguyên phát ở cổ tử cung, có thể xuất phát từ các tế bào biểu mô vảy, biểu mô tuyến hoặc các tế bào của mô đệm Tuy nhiên, hầu hết các UTCTC là ung thư biểu mô, trong đó chủ yếu là ung thư biểu mô vảy [6]
Tất cả phụ nữ đều có nguy cơ bị UTCTC Việc nhiễm vi rút gây u nhú ở người (HPV) trong thời gian dài là nguyên nhân chính gây ra UTCTC HPV là một loại vi rút phổ biến được truyền từ người này sang người khác khi quan hệ tình dục
Ít nhất một nửa số người có quan hệ tình dục sẽ nhiễm HPV vào một thời điểm nào
đó trong đời, nhưng rất ít phụ nữ sẽ bị UTCTC [26]
1.1.2 Gánh nặng của ung thư cổ tử cung
Gánh nặng của ung thư cổ tử cung trên thế giới
Ung thư cổ tử cung là bệnh lý ác tính do HPV gây ra, khoảng 570.000 trường hợp mắc UTCTC và 311.000 trường hợp tử vong vì căn bệnh này xảy ra trong năm
2018 UTCTC là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư ở phụ nữ Châu Phi [18]
Trong 30 năm qua, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đã giảm ở hầu hết các khu vực trên thế giới [39] Sự sụt giảm này là kết quả của việc tăng khả năng tiếp cận các dịch
vụ y tế, giảm một số yếu tố nguy cơ (như tỷ lệ sinh), cải thiện điều trị và các chương
Trang 20trình sàng lọc dựa trên tế bào học thành công Tuy nhiên, hơn 80% trường hợp mắc bệnh và 88% trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình UTCTC vẫn là bệnh ung thư hàng đầu ở phụ nữ trong nhiều loại bệnh ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [17] Một đặc điểm nổi bật của UTCTC là sự thay đổi của
nó theo từng quốc gia, nói chung có mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa mức độ phát triển, tỷ lệ mắc và tử vong Khả năng sống sót sau khi bệnh đã phát triển cũng tốt hơn nhiều ở những nước giàu so với ở những nước nghèo [42]
Trên toàn cầu, số ca mắc mới và số ca tử vong do UTCTC vẫn không ngừng tăng khoảng 0,5% mỗi năm vì già hóa dân số Nếu không có can thiệp mới, sự gia tăng sẽ tiếp tục, đặc biệt là ở các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình, nơi tuổi thọ của phụ nữ đang được cải thiện [75]
Căn bệnh này bị ảnh hưởng mạnh bởi văn hóa và tôn giáo, hành vi tình dục và
sự lây truyền của papillomavirus (HPV) Châu Phi cận Sahara có tỷ lệ UTCTC ước
tính cao nhất Ở Guinea, Malawi và Zambia, tỷ lệ mắc bệnh chuẩn hóa theo tuổi là trên 50/100.000 phụ nữ [17] Ở các quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ này thấp hơn, vào khoảng 5/100.000 phụ nữ Ở Mỹ Latinh và Caribe, Guyana, Honduras, Jamaica và Nicaragua có tỷ lệ khoảng 40/100.000 Ở Châu Á, tỷ lệ cao nhất là ở Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ và Nepal [32]
Hình 1.1 Tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung được chuẩn hóa theo độ tuổi năm 2012
Trang 21Ngay cả những nước có thu nhập cao, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao nhất là ở những phụ nữ nghèo nhất hoặc bị thiệt thòi nhất Ví dụ, ở Hoa Kỳ, nơi tỷ lệ trung bình mắc UTCTC thấp và liên tục giảm trong những thập kỷ gần đây, sự chênh lệch mạnh mẽ vẫn tồn tại theo chủng tộc và tình trạng kinh tế xã hội, phản ánh sự thay đổi trong khả năng tiếp cận của các dịch vụ [87] Một đặc điểm đáng chú ý khác của UTCTC
là nó ảnh hưởng đến những phụ nữ tương đối trẻ, những người thường sinh nhiều con Tuổi tử vong trung bình của phụ nữ mắc bệnh UTCTC là 54 tuổi; gánh nặng bệnh tật ở phụ nữ dưới 40 tuổi cao hơn so với các bệnh ung thư khác, do số lượng lớn phụ nữ ở các nhóm tuổi này mắc bệnh ở các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình và thực tế là tỷ lệ UTCTC bắt đầu tăng ở độ tuổi trẻ hơn so với các bệnh ung thư khác [45]
Gánh nặng của ung thư cổ tử cung tại Việt Nam
Ước tính đến năm 2019, tại nước ta có 5.146 phụ nữ mắc UTCTC, tỷ lệ mắc mới UTCTC đã chuẩn hóa theo tuổi là 10,6/100.000 phụ nữ Mỗi ngày có 7 phụ nữ tử vong vì ung thư cổ tử cung, 14 trường hợp mới được chẩn đoán mắc bệnh Nếu phát hiện ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm, khu trú tại chỗ thì tỷ lệ điều trị thành công
là 93% Tuy nhiên, khi bệnh đã phát hiện ở giai đoạn trễ, tỷ lệ trị khỏi chỉ đạt 15% [9]
Thực tế tỉ lệ phụ nữ khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh UTCTC của phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chương trình tuyên truyền giáo dục [3]
Phụ nữ bị UTCTC phải gánh chịu những ảnh hưởng lớn về thể chất và tinh thần Ngay khi nhận một kết quả xét nghiệm bất thường hay chẩn đoán có những tổn thương tiền ung thư, chất lượng cuộc sống của người phụ nữ đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng; tinh thần suy sụp và nảy sinh những suy nghĩ tiêu cực; lo lắng về khả năng sống còn của bản thân, kèm theo những nỗi lo cho gia đình, tài chính, về khả năng chăm sóc con cái, khả năng mang thai và hạnh phúc gia đình Đó là chưa kể những gánh nặng tâm lý mà toàn thể gia đình của bệnh nhân phải gánh chịu, cũng như gánh
Trang 22nặng về tài chính khi mất nguồn thu nhập trong gia đình, phí tổn không nhỏ cho việc điều trị [3]
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung
Nhiễm vi rút HPV
Các nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của UTCTC đã chỉ ra rằng nhiễm các loại HPV gây ung thư có thể dẫn đến tổn thương nội biểu mô cấp độ thấp hoặc cấp độ cao Các tổn thương cấp cao có thể tiến triển thành ung thư biểu mô cổ tử cung nếu không được điều trị HPV 16 chiếm khoảng 50% đến 60% ung thư biểu mô tế bào vảy xâm lấn trên toàn thế giới và HPV 18 chiếm thêm 10% đến 15% [28] Đối với ung thư biểu mô tuyến, các đánh giá toàn cầu đã chỉ ra rằng HPV 16 lại chiếm phần lớn các trường hợp (khoảng 40%), mặc dù HPV 18 được phát hiện phổ biến hơn (khoảng 30%) so với ung thư biểu mô tế bào vảy [24] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tạp chí phụ sản, người nhiễm HPV nguy cơ mắc UTCTC cao gấp 495,4 lần người không nhiễm HPV (OR=495,4 và 95%Cl: 104,26-2354,30; pyates<p<0,0001) Trong số 100 bệnh nhân UTCTC có 91 bệnh nhân có nhiễm HPV (chiếm 91%) Có 46% bệnh nhân UTCTC nhiễm HPV 16 và 19% nhiễm HPV18 Tỷ lệ bệnh nhân UTCTC nhiễm HPV
11 chiếm 12% Các type HPV 6, 33, 58 cũng tồn tại ở bệnh nhân UTCTC với tỷ lệ từ 2-3% Tỷ lệ đồng nhiễm 2 type HPV chiếm 5% Như vậy, có mối liên quan rất chặt chẽ giữa nhiễm HPV và UTCTC, đặc biệt là type HPV 16, 18 [4]
Quan hệ tình dục sớm
Việc bắt đầu hoạt động tình dục sớm đã được công nhận là một yếu tố nguy cơ của việc nhiễm HPV [96] Quan hệ lần đầu dưới 18 tuổi liên quan đến việc tăng 70% nguy cơ mắc ung thư biểu mô tuyến tại chỗ của cổ tử cung tương đối [62]
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ môi trường quan trọng nhất đối với UTCTC, làm tăng nguy cơ mắc lên 2,6 lần với tác dụng phụ thuộc vào liều lượng [55] Các sản phẩm phụ của thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của những phụ nữ hút thuốc Các nhà nghiên cứu tin rằng những chất này làm hỏng DNA của tế bào cổ
Trang 23tử cung và có thể góp phần vào sự phát triển của UTCTC Hút thuốc cũng làm cho hệ thống miễn dịch kém hiệu quả trong việc chống lại HPV [89]
Sử dụng thuốc tránh thai
Nghiên cứu của Madelaine và cộng sự đã chứng minh rằng nguy cơ tương đối mắc UTCTC với thời gian sử dụng thuốc tránh thai tăng tuyến tính Phụ nữ đã sử dụng thuốc tránh thai từ 12 năm trở lên có nguy cơ tương đối tăng gấp 5,5 lần liên quan đến ung thư biểu mô tuyến tại chỗ của cổ tử cung so với những phụ nữ không bao giờ sử dụng thuốc tránh thai Có sự gia tăng nguy cơ tương đối của ung thư biểu
mô tuyến tại chỗ của cổ tử cung ở những phụ nữ đã sử dụng thuốc tránh thai trong 1-6 tháng so với những phụ nữ chưa bao giờ sử dụng Các nghiên cứu bệnh chứng cho thấy tăng nguy cơ ung thư biểu mô tuyến cổ tử cung liên quan đến việc sử dụng thuốc tránh thai Mà thuốc tránh thai hiện nay được phụ nữ trẻ sử dụng rất rộng rãi [62]
Có nhiều bạn tình
So với những phụ nữ cho biết chỉ có một bạn tình, nguy cơ tương đối của ung thư biểu mô tuyến tại chỗ của cổ tử cung tăng lên đối với phụ nữ có từ 2-4 bạn tình (OR, 1,8; 95% Cl, 1,0-3,1) và phụ nữ có 5 bạn tình trở lên (OR, 1,8; 95% Cl, 1,1-3,1) [62] Brown và cộng sự kiểm tra các cô gái vị thành niên có quan hệ tình dục (số bạn tình trung bình là 2 bạn tình) cứ 2 tháng 1 lần và nhận thấy tỷ lệ hiện nhiễm tích lũy của HPV 16 là 31,3% và 20,0% đối với HPV 18 trong 2,2 năm Nguy cơ tiếp xúc với các loại HPV gây ung thư và không gây ung thư tăng lên theo số lượng bạn tình trong đời [22], [49], [50], [97], [77]
Tiền sử bệnh phụ khoa
Chlamydia là một loại vi khuẩn tương đối phổ biến có thể lây lan qua quan hệ tình dục Phụ nữ bị nhiễm chlamydia thường không có triệu chứng và họ có thể không biết rằng mình bị nhiễm bệnh trừ khi họ được xét nghiệm khi khám phụ khoa Nhiễm chlamydia có thể gây viêm vùng chậu, dẫn đến vô sinh Một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ UTCTC cao hơn ở những phụ nữ có xét nghiệm máu và chất nhầy cổ tử cung cho thấy bằng chứng về nhiễm chlamydia trong quá khứ hoặc hiện tại Một số nghiên cứu cho thấy vi khuẩn chlamydia có thể giúp HPV phát triển và sống trong cổ
Trang 24tử cung, điều này có thể làm tăng nguy cơ UTCTC [89] Tiền sử bị mụn cóc sinh dục cũng có liên quan tới việc tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung (OR, 1,5, KTC 95%, 0,9-2,5) [62]
Suy giảm miễn dịch
Hệ thống miễn dịch rất quan trọng trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư và làm chậm sự phát triển, lây lan của chúng [89] Khi xem xét tình trạng suy giảm miễn dịch, người ta đã xác định rằng bệnh nhân HIV có tỷ lệ nhiễm HPV từ 38% đến 75% Phụ nữ dương tính với HIV có triệu chứng và số lượng tế bào lympho CD4 thấp (<200 tế bào/ microlit) có tỷ lệ nhiễm HPV là 71% [96] Những bệnh nhân này có nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 2 lần với sự tồn tại của vi rút cao hơn 2 lần [13] Một nhóm phụ nữ khác có nguy cơ bị UTCTC là những người dùng thuốc để ngăn chặn phản ứng miễn dịch của họ, chẳng hạn như những người đang điều trị bệnh tự miễn hoặc những người đã được cấy ghép nội tạng [89]
Mang thai sớm, sinh nhiều con
Sinh con quá sớm (dưới 17 tuổi) khi cơ quan sinh sản chưa phát triển hoàn thiện sẽ làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung Phụ nữ sinh đẻ nhiều lần (từ 3 lần trở lên) thì tỷ lệ mắc bệnh cao gấp hai lần so với những phụ nữ sinh 1-2 con [11]
Chế độ ăn ít trái cây và rau quả
Trong rau củ, hoa quả có nhiều vitamin, có khả năng nâng cao hệ miễn dịch trong cơ thể để chống lại sự tấn công của vi rút, vi khuẩn Phụ nữ có chế độ ăn không đầy đủ dinh dưỡng, khẩu phần ăn thiếu rau quả, trái cây có thể tăng nguy cơ mắc bệnh UTCTC [89]
Có tiền sử gia đình bị ung thư cổ tử cung
Trong gia đình, nếu mẹ hoặc chị, em gái bị UTCTC, khả năng mắc bệnh sẽ cao hơn so với trường hợp không có ai trong gia đình mắc bệnh này Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ do tình trạng di truyền khiến một số phụ nữ ít có khả năng chống lại nhiễm HPV hơn những người khác [89]
Trang 251.1.4 Các biểu hiện, triệu chứng của ung thư cổ tử cung
Tiền ung thư thường không gây ra bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào Các triệu chứng thường xuất hiện với UTCTC giai đoạn đầu Với ung thư giai đoạn muộn hoặc ung thư đã di căn đến các bộ phận khác của cơ thể, các triệu chứng có thể trầm trọng hơn tùy thuộc vào các mô và cơ quan mà bệnh đã lây lan
Các dấu hiệu sau đây có thể là dấu hiệu hoặc triệu chứng của UTCTC:
- Đốm máu hoặc chảy máu nhẹ giữa hoặc sau kỳ kinh
- Kinh nguyệt ra nhiều và kéo dài hơn bình thường
- Chảy máu sau khi giao hợp, thụt rửa hoặc khám vùng chậu
- Tăng tiết dịch âm đạo
- Đau khi quan hệ tình dục
- Chảy máu sau khi mãn kinh
- Đau vùng chậu và hoặc lưng dai dẳng không giải thích được
Tuy nhiên, các triệu chứng này có thể là một bệnh lý khác không phải là ung thư, nên cần đi khám bệnh nếu có một triệu chứng mới mà không biến mất [23]
1.1.5 Biến chứng của ung thư cổ tử cung
Các biến chứng của UTCTC có thể xảy ra như một tác dụng phụ của việc điều trị hoặc do hậu quả của UTCTC tiến triển
Ảnh hưởng tâm lý
Tác động tinh thần của việc sống chung với UTCTC có thể rất đáng kể Nhiều người cho biết họ đã trải qua hiệu ứng “tàu lượn siêu tốc” Có thể cảm thấy hụt hẫng, bất an khi nhận được chẩn đoán, sau đó lại vui mừng khi việc loại bỏ ung thư được xác nhận Tiếp đó có thể cảm thấy xuống tinh thần trở lại khi cố gắng đối mặt với những hậu quả sau quá trình điều trị Loại gián đoạn cảm xúc này đôi khi có thể gây
ra trầm cảm [73]
Suy thận
Trong một số trường hợp UTCTC giai đoạn cuối, khối u có thể gây ra sự tích
tụ nước tiểu bên trong thận (thận ứ nước), có thể dẫn đến mất hầu hết hoặc tất cả các chức năng của thận [73]
Trang 26Sự chảy máu
Nếu ung thư di căn vào âm đạo, ruột hoặc bàng quang, nó có thể gây ra những tổn thương đáng kể, dẫn đến chảy máu Chảy máu có thể xảy ra trong âm đạo hoặc đường sau (trực tràng) hoặc có thể ra máu khi đi tiểu [23]
Năm 2008, vắc xin Cervarix nhắm vào HPV 16 và 18 đã được phê duyệt [95] Cervarix được chỉ định sử dụng cho phụ nữ từ 10-25 tuổi khi được tiêm ba mũi vắc xin vào các tháng 0, 1 đến 2 và 6[29] Cervarix có hiệu quả chống lại mụn cóc sinh dục do HPV, các tổn thương tiền ung thư và UTCTC [31] Các nghiên cứu lâm sàng
từ ngắn đến trung bình cho thấy Cervarix bảo vệ chống lại HPV 16, 18 và các tổn thương tiền ung thư liên quan của nó trong 6,4 năm sau khi tiêm chủng [18], [70], [74], [82]
Trang 27Quan hệ tình dục an toàn
Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để có thể bảo vệ chống lại HPV nhưng chúng không ngăn ngừa hoàn toàn sự lây nhiễm Một lý do khiến bao cao su không thể bảo vệ hoàn toàn là vì chúng không che được mọi vùng có thể bị nhiễm HPV trên cơ thể, chẳng hạn như da vùng sinh dục hoặc hậu môn Tuy nhiên, bao cao
su vẫn là một biện pháp bảo vệ chống lại HPV [89]
Ngoài ra, nhiễm HPV dường như có thể lây lan từ bộ phận này sang bộ phận khác của cơ thể Điều này có nghĩa là nhiễm trùng có thể bắt đầu ở cổ tử cung và sau
đó lan đến âm đạo và âm hộ
Hạn chế số lượng bạn tình và tránh quan hệ tình dục với những người đã có nhiều bạn tình khác có thể làm giảm nguy cơ phơi nhiễm với HPV Nhưng HPV rất phổ biến, vì vậy việc quan hệ tình dục với dù chỉ 1 người khác cũng có thể khiến bạn
có nguy cơ mắc bệnh Có thể ai đó bị nhiễm HPV trong nhiều năm mà vẫn không có triệu chứng và làm lây truyền nó mà không biết [89]
Trang 281.2 Một số thông tin về vi rút HPV
1.2.1 HPV là gì
HPV là viết tắt của human papillomavirus Đây là loại siêu vi khác với HIV
và HSV (bệnh mụn rộp) [2] Ước tính mới nhất về số kiểu gen của HPV là 200 với
18 kiểu gen có liên quan trực tiếp đến UTCTC [43], [98] 15 type HPV có khả năng gây ung thư mạnh bao gồm HPV 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 68,
73 và 82 Các type HPV nguy cơ cao này chiếm 95% tất cả các trường hợp UTCTC [68] Trong đó HPV 16 và 18 nguy cơ cao là nguyên nhân gây ra khoảng 90% tổng
số ca UTCTC [93] Kiểu gen HPV gây ung thư cao nhất là HPV 16, chủ yếu gây ra ung thư biểu mô tế bào vảy HPV 18 chủ yếu gây ra ung thư biểu mô tuyến, một loại ung thư ít được phát hiện hơn nhưng lại phát triển mạnh hơn, phát sinh từ tuyến nội mạc cổ tử cung [21]
1.2.2 Tỷ lệ mắc và sự phổ biến của HPV
Trên toàn cầu, HPV thường là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất, mặc dù có sự khác biệt đáng kể theo khu vực về tỷ lệ nhiễm HPV ngay cả ở những vùng gần nhau và có tổ tiên chung [16], có thể là do sự khác biệt về chuẩn mực văn hóa và tình dục Tại Hoa Kỳ, mỗi năm ước tính có trên 6 triệu người bị nhiễm HPV sinh dục [94] Ước tính có khoảng 20 triệu người ở Hoa Kỳ, khoảng 15% dân số, hiện đang bị nhiễm bệnh khi được phát hiện bằng xét nghiệm DNA của HPV [25], [56] Gần 1 nửa số ca nhiễm là ở những người từ 15-25 tuổi Ước tính tỷ
lệ hiện mắc ở phụ nữ trẻ nằm trong khoảng từ 27% đến 46% [49], [19], [80], [58] Ít nhất một nửa số đàn ông và phụ nữ có hoạt động tình dục bị nhiễm HPV vào một
Trang 29thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ và các nghiên cứu mô hình cho thấy rằng có tới 80% phụ nữ hoạt động tình dục sẽ bị nhiễm bệnh ở độ tuổi 50 [71]
1.2.3 Sự lây truyền của HPV
Việc lây truyền HPV qua đường tình dục là một yếu tố quan trọng trong việc cân nhắc các chiến lược tiêm chủng, bao gồm cả độ tuổi tiêm chủng tối ưu HPV sinh dục thường lây truyền qua giao hợp âm đạo (hoặc hậu môn) Nhiễm trùng thường xảy ra trong vòng vài năm sau khi bắt đầu giao hợp Ví dụ, hơn 50% phụ nữ
từ 18-22 tuổi bị nhiễm HPV trong vòng 4 năm kể từ lần giao hợp đầu tiên Lây truyền một số loại HPV sinh dục qua đường miệng và tay sang bộ phận sinh dục là một hiện tượng chính đáng đã được báo cáo trong quá khứ nhưng vẫn còn phải được chứng minh [97] Mặc dù lây truyền theo chiều dọc từ mẹ sang trẻ sơ sinh tương đối không phổ biến, nhưng nó có thể dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh đáng kể ở dạng
u nhú đường hô hấp [33]
1.2.4 Các vấn đề sức khỏe do HPV gây ra
Trong phần lớn trường hợp, HPV sẽ tự khỏi và không gây ra bất cứ vấn đề nào về sức khỏe Khi HPV không khỏi thì nó có thể gây ra những vấn đề về sức khỏe như mụn rộp và ung thư HPV có thể gây ra bệnh UTCTC và những loại ung thư khác bao gồm ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật hay hậu môn HPV cũng có thể gây ung thư ở phía sau họng bao gồm dưới lưỡi và amidan (gọi là ung thư miệng họng) [2]
1.2.5 Các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HPV
Trang 30Giảm thiểu số lượng bạn tình
Giữ số lượng bạn tình của một người ở mức tối thiểu, hạn chế quan hệ tình dục với nhiều người và sống chung thủy một vợ một chồng sẽ giảm thiểu khả năng
họ tiếp xúc với vi rút HPV nhiều lần [86]
Sử dụng bao cao su
Bao cao su có thể hoạt động như một rào cản chống lại một số bệnh lây truyền qua đường tình dục Khi nói đến sự lây truyền của vi rút HPV, bao cao su không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ lây nhiễm vì vi rút HPV lây qua tiếp xúc da với
da Tuy nhiên, nó có thể làm giảm rủi ro [86]
Không dùng chung quần áo, đồ cá nhân
Nếu một người có mụn cóc do nhiễm vi rút HPV, khi lấy mụn hoặc cắt móng tay bằng dụng cụ dùng chung, mặc chung quần áo với người bị mụn cóc ở bộ phận sinh dục, mụn cóc ở bàn chân thông qua dụng cụ tập thể dục chung có thể lây sang người khác [86]
1.3 Một số thông tin về vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung
Gánh nặng của các bệnh liên quan đến HPV, những nghiên cứu khoa học gần đây về căn nguyên vi rút của một số loại ung thư hậu môn sinh dục và sự phát triển của vắc xin dự phòng cùng mang lại cơ hội chưa từng có trong việc phòng chống ung thư cổ tử cung trên toàn cầu Có 2 loại vắc xin phòng ngừa HPV đã được phát triển là Gardasil và Cervarix [38] Mục tiêu của tiêm chủng dự phòng là giảm tỷ lệ mắc bệnh sinh dục liên quan đến HPV, bao gồm UTCTC, dương vật, âm hộ, âm đạo, hậu môn và các tổn thương tiền ung thư Ngoài ra, dự kiến sẽ giảm tỷ lệ mắc bệnh mụn cóc sinh dục đối với những người được tiêm vắc xin và giảm tỷ lệ mắc u nhú thanh quản ở con cái của họ [38], [78]
1.3.1 Hiệu quả của vắc xin phòng UTCTC
Một số thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược đã chỉ ra rằng vắc xin dự phòng cho các type HPV 16 [57], [65], [38], [52], 16 và 18, [46], [47], và 6,
11, 16 và 18 [92], ngăn ngừa nhiễm trùng HPV 16 và HPV 18 dai dẳng cũng như ung thư nội biểu mô cổ tử cung liên quan đến HPV 16 và 18 [57], [65], [92] Tiêu
Trang 31chí ghi danh cho những thử nghiệm này là hạn chế số lượng bạn tình trong đời và tiền sử bất thường cổ tử cung trong quá khứ Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả 100% trong việc ngăn ngừa nhiễm HPV đặc hiệu dai dẳng và ung thư nội biểu
mô cổ tử cung, với dữ liệu theo dõi có sẵn trong 4 đến 5 năm, trong số các đối tượng tuân thủ nghiêm ngặt quy trình nghiên cứu Gardasil cũng bảo vệ chống lại các tổn thương bộ phận sinh dục bên ngoài liên quan đến HPV 6, 11, 16, 18, bao gồm mụn cóc sinh dục và u tân sinh ở âm hộ và âm đạo Trong số những người phụ
nữ có xét nghiệm Pap bình thường và không bị nhiễm bất kỳ loại nào trong số 14 type HPV gây ung thư trong vòng 90 ngày kể từ ngày tham gia nghiên cứu, Cervarix đã giảm 93% tỷ lệ kết quả tế bào học bất thường liên quan đến HPV 16, 18 [47]
1.3.2 Độ an toàn của vắc xin
Cả Gardasil và Cervarix đều có ít vấn đề về an toàn trong tất cả các thử nghiệm Các bất lợi tại chỗ tiêm đã được báo cáo ở 83% người nhận Gardasil và 73,4% người nhận giả dược tham gia vào thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên Phổ biến nhất tại chỗ tiêm là ban đỏ, đau và sưng với cường độ nghiêm trọng được báo cáo thường xuyên hơn ở những người nhận vắc xin Các tác dụng ngoài ý muốn toàn thân phổ biến nhất, được báo cáo bởi một tỷ lệ tương tự giữa những người nhận vắc xin và giả dược (69%) là sốt, nhức đầu và buồn nôn Nhìn chung, 11,4% người nhận vắc xin và 9,6% người nhận giả dược có nhiệt độ >= 100oF (>=37,8oC) Nhiệt độ cao hơn >= 102oF (>=38,9oC) chỉ được ghi nhận trong 1,5% vắc xin và 1,1% người nhận giả dược Không có trường hợp tử vong nào trong thử nghiệm được coi là thứ phát do vắc xin hoặc thủ thuật 5 người tiêm vắc xin và 2 người nhận giả dược đã có những trải nghiệm nghiêm trọng liên quan đến vắc xin Các tác dụng phụ nghiêm trọng liên quan đến vắc xin bao gồm 1 trường hợp co thắt phế quản và 1 trường hợp viêm dạ dày ruột (có thể liên quan đến quy trình nghiên cứu),
1 trường hợp đau đầu kèm tăng huyết áp (chắc chắn liên quan), 1 trường hợp đau chỗ tiêm kèm theo suy giảm vận động khớp tại chỗ tiêm (có thể liên quan) và 1 trường hợp xuất huyết âm đạo (có thể liên quan) Các tác dụng phụ nghiêm trọng
Trang 32của giả dược bao gồm một trường hợp quá mẫn cảm và 1 trường hợp ớn lạnh kèm theo nhức đầu và sốt Chỉ 0,2% đối tượng ngừng sử dụng do trải nghiệm bất lợi ở cả nhóm vắc xin và giả dược Các tác dụng phụ nghiêm trọng của giả dược bao gồm 1 trường hợp quá mẫn cảm và 1 trường hợp ớn lạnh kèm theo nhức đầu và sốt [92]
Những phụ nữ được xác định là có thai bằng xét nghiệm đo gonadotropin màng đệm ở người (HCG) nhạy cảm vào ngày dự kiến tiêm chủng sẽ bị loại trừ khỏi việc nhận vắc xin Tuy nhiên, một số phụ nữ đã mang thai trong vài tuần hoặc vài tháng sau khi tiêm vắc xin hoặc giả dược Nhìn chung, 10,7% người dùng Gardasil và 12,6% người dùng giả dược đã mang thai Kết quả mang thai được đánh giá theo thời gian từ khi tiêm đến khi bắt đầu mang thai 62% vắc xin và 60% những người nhận giả dược đã mang thai 56 phụ nữ nhận Gardasil và 58 phụ nữ nhận giả dược đã mang thai trong vòng 30 ngày sau khi tiêm, và 512 người nhận Gardasil và 509 người nhận giả dược có thai sau 30 ngày kể từ ngày tiêm Sẩy thai
tự nhiên xảy ra ở 26,1% phụ nữ có thai ở cả hai nhóm Trong số 112 phụ nữ có thai trong vòng 30 ngày kể từ ngày tiêm chủng, 5 trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh, ngược lại không có phụ nữ nào được dùng giả dược Các dị tật không liên quan về loại hình (một hẹp môn vị kèm theo chứng cổ chướng, một megacolon bẩm sinh, một thận ứ nước, một chứng rối loạn ngôn ngữ và một bàn chân khoèo) và được các chuyên gia đánh giá là không có khả năng liên quan đến vắc xin Dị tật bẩm sinh ảnh hưởng đến 2-4% tổng số trẻ sơ sinh sống ở Hoa Kỳ Do đó, dự kiến sẽ có tối đa 2,4 phụ nữ mang thai trong vòng 30 ngày ở cả nhóm vắc xin và giả dược sẽ bị dị tật bẩm sinh, hoặc tổng cộng 5 phụ nữ cho cả 2 nhóm cộng lại Đối với phụ nữ mang thai sau 30 ngày kể từ ngày tiêm chủng, 10 người dùng Gardasil và 16 người dùng giả dược đã
có thai với các dị tật bẩm sinh Việc lưu hành vắc xin sau khi đăng ký mang thai đã được đề xuất và sẽ rất quan trọng để đánh giá thêm về độc tính sinh sản và kết quả mang thai liên quan đến việc phơi nhiễm vắc xin [66]
Đối với Cervarix, dữ liệu an toàn chi tiết cho thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên được thu thập bằng nhật ký hằng ngày trong 7 ngày và bằng cách phỏng vấn
30 ngày sau mỗi lần tiêm Thông tin về các tác dụng phụ nghiêm trọng và kết quả
Trang 33mang thai được thu thập trong suốt thời gian của mỗi thử nghiệm Nhìn chung, vắc xin này thường an toàn và được dung nạp tốt Các tác dụng phụ tại chỗ tiêm, bao gồm đau, đỏ hoặc sưng, được báo cáo thường xuyên ở những người nhận vắc xin hơn là ở những người nhận giả dược (94% so với 88%) Các tác dụng ngoài ý muốn trên toàn thân bao gồm nhức đầu, mệt mỏi và các triệu chứng tiêu hóa, được báo cáo bởi một tỷ lệ tương tự ở những người nhận vắc xin và giả dược (86%) Hầu hết các tác dụng ngoài ý muốn được ghi nhận ở mức độ nhẹ hoặc trung bình Nhìn chung, 16,6% số người nhận vắc xin và 13,6% số người nhận giả dược có nhiệt độ
>= 100oF (>=37,5%) Chỉ 0,2% (n=1) người nhận vắc xin và 0 người nhận giả dược ngừng sử dụng do trải nghiệm bất lợi nghiêm trọng Không có trường hợp tử vong nào trong thử nghiệm được coi là thứ phát do vắc xin hoặc thủ thuật Dữ liệu về thai
kỳ và dị tật bẩm sinh đối với vắc xin này vẫn chưa được công bố[46, 47]
Điều quan trọng là phải tiến hành các nghiên cứu giám sát để đánh giá mức
độ an toàn và xác định các tác dụng phụ hiếm gặp, bao gồm cả những tác dụng phụ
ở phụ nữ mang thai, vì vắc xin HPV được sử dụng cho nhiều nhóm trẻ em gái và phụ nữ trẻ Cũng cần giám sát an toàn khi sử dụng chung vắc xin HPV với các vắc xin khác ở lứa tuổi vị thành niên Theo dõi các biến cố hiếm gặp và kết quả thai nghén là một thách thức vì nó dựa vào giáo dục và cam kết của các nhà cung cấp để xác định (thường là trong quá trình giám sát cơ hội) và tự nguyện báo cáo các sự kiện đó [83]
1.3.3 Độ tuổi tiêm vắc xin
Vào tháng 6 năm 2006, Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ
đã phê duyệt Gardasil, một loại vắc xin nhằm mục tiêu phòng UTCTC do HPV tuýp
16 và 18, HPV tuýp 6 và 11 Ủy ban tư vấn về thực hành tiêm chủng (ACIP) hiện đang khuyến nghị dùng Gardasil cho phụ nữ từ 9 đến 26 tuổi để phòng ngừa UTCTC, âm hộ, âm đạo và các tổn thương tiền ung thư và mụn cóc sinh dục gây ra bởi 4 type HPV [67] Vắc xin Gardasil gần đây đã được FDA cấp phép để phòng ngừa các tổn thương trong biểu mô hậu môn và ung thư hậu môn do các loại HPV gây ra cho nam và nữ từ 9 đến 26 tuổi [72]
Trang 34Cervarix đã được FDA chấp thuận vào tháng 10 năm 2009 để phòng ngừa tiền ung thư cổ tử cung và UTCTC liên quan đến HPV 16 và 18 và sau đó được ACIP khuyên dùng cho phụ nữ từ 9 đến 26 tuổi [76]
1.4 Thực trạng về kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung
và một số yếu tố liên quan của sinh viên ở các nước trên thế giới và Việt Nam 1.4.1 Thực trạng về kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên ở các nước trên thế giới
Việc đánh giá về kiến thức, thực hành về phòng chống UTCTC trên thế giới
và trong khu vực đã được thực hiện tại một số quốc gia trên các đối tượng như phụ
nữ, trẻ em gái , những đối tượng sinh viên với độ tuổi chủ yếu từ 18 đến 25 vẫn được chú ý nhất Kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ hiểu biết về HPV, con đường lây truyền và cách phòng tránh HPV là rất hạn chế nếu không có các biện pháp can thiệp về truyền thông [91], [15], [51], [20]
Một nghiên cứu ở Thổ Nhĩ kỳ về kiến thức và thái độ của sinh viên đại học đối với việc lây nhiễm HPV và phòng ngừa bằng vắc xin năm 2019 trên 1.563 sinh viên nữ và nam Nghiên cứu cho thấy 16,8% sinh viên nói rằng họ đã nghe nói về HPV Có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức trung bình về HPV và các biến số khác nhau, chẳng hạn như tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư và cuộc trò chuyện về các vấn đề tình dục (p<0,01) Khi
độ tuổi sinh viên tăng lên, cơ hội nghe nói về HPV cũng tăng lên Trong số tất cả các sinh viên, 1,5% đã tiêm phòng HPV, 87,7% sinh viên nữ đã nghe nói về UTCTC [79]
Một nghiên cứu khác nhằm đánh giá mức độ hiểu biết về bệnh UTCTC và sự chấp nhận vắc xin phòng ngừa của các sinh viên nữ Ả Rập Xê-út trong các trường cao đẳng y tế, nghiên cứu cắt ngang về một mẫu thuận tiện bao gồm 1.400 sinh viên các trường Cao đẳng y tế tại Đại học Princess NoraBint Abdul Rahman, Riyadh, Ả Rập Xê Út được thực hiện từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014 Dữ liệu được thu thập bao gồm dữ liệu nhân khẩu học xã hội, kiến thức về các yếu tố nguy
cơ UTCTC và biểu hiện lâm sàng, phết tế bào cổ tử cung và chấp nhận vắc xin
Trang 35phòng ngừa Độ tin cậy của bảng câu hỏi được kiểm định bởi Cronbach’s alpha là 0,82 Kết quả cho thấy tỷ lệ trả lời là 89,9%, và phân tích dữ liệu cho thấy 95,7% sinh viên có trình độ kiến thức kém Có 46,7% sinh viên đã nghe nói về xét nghiệm Pap Sinh viên năm cuối và sinh viên y khoa có điểm kiến thức cao hơn đáng kể Nghề chăm sóc sức khỏe của cha, thu nhập hàng tháng cao và sự hiện diện của bệnh UTCTC giữa các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè đã làm tăng mức độ hiểu biết Việc chấp nhận vắc xin bị ảnh hưởng bởi giá của nó, khoảng 80% sinh viên cho rằng giá vắc xin phải chăng không được vượt quá 300 Riyals của Ả Rập Xê Út Các rào cản nhận thức được đối với vắc xin là sợ tiêm và các phản ứng phụ của vắc xin [14]
Nhằm xác định kiến thức về UTCTC, HPV và chấp nhận tiêm phòng HPV của sinh viên y khoa trưởng Đại học Lagos ở Tây Nam Nigeria Một nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trong số 280 sinh viên y khoa được lấy mẫu bằng kỹ thuật lấy mẫu phân tầng Bảng câu hỏi tự quản lý được sử dụng để thu thập dữ liệu
có liên quan Hầu hết những người được hỏi đều biết về UTCTC (95,4%), HPV (85,4%) và chủng ngừa HPV (69,3%) và nguồn thông tin phổ biến nhất là giảng dạy
ở trường Kiến thức tốt về UTCTC, HPV và tiêm phòng HPV được chứng minh lần lượt là 51,8%, 21,1% và 67,1%, chỉ có 39,6% chấp nhận hoàn toàn việc tiêm phòng HPV Thông tin không đầy đủ và chi phí cao là những trở ngại được xác định để nhận vắc xin và giới thiệu vắc xin cho người khác Tuổi cao hơn và các cấp độ nghiên cứu cao hơn có liên quan đáng kể đến kiến thức tốt về HPV Kiến thức tốt về HPV và chủng ngừa HPV tương ứng có liên quan đáng kể đến việc chấp nhận tiêm chủng đầy đủ [12]
Nghiên cứu cắt ngang giữa nữ giới (18-26 tuổi) tại các cơ sở giáo dục đại học (trường đại học và học viện công nghệ) ở Athens (Hy Lạp) Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi tự hoàn thành bao gồm các câu hỏi về hấp thu vắc xin và bốn câu hỏi về kiến thức Tổng điểm kiến thức là 4, phân loại thành mức độ thấp (0-2) và mức độ kiến thức cao (>2) 3.153 sinh viên đã tham gia vào nghiên cứu này (tỷ lệ tham gia 87%), có 59,1% số người được hỏi có hiểu biết cao về vắc xin Mô
Trang 36hình logistic đa biến cho thấy việc tiêm chủng có liên quan tích cực và đáng kể với mức độ hiểu biết cao Nhóm độ tuổi cao hơn, đang ở trong một mối quan hệ, nhiễm HPV trong quá khứ, là sinh viên khoa học sức khỏe, có mức độ hiểu biết cao hơn [36]
Nghiên cứu kiến thức về HPV và vắc xin giữa các sinh viên thuộc các lĩnh vực giáo dục khác nhau tại các trường đại học công lập và tư thục ở thành phố Lahore, Pakistan Tỷ lệ trả lời khảo sát là 78,0%, trong đó phần lớn 74,9% là nữ và 79% là độc thân (tuổi trung bình là 23 tuổi) Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hiểu biết kém về các vấn đề sức khỏe liên quan đến HPV, cách phòng ngừa, phương thức lây truyền và khả năng sử dụng vắc xin HPV ở Pakistan Giới tính và lĩnh vực nghiên cứu là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến kiến thức về HPV [59]
Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) thì UTCTC là loại ung thư có khả năng phòng ngừa cao nhất tại các nước phát triển vì các đối tượng nguy cơ có tỷ lệ tiếp cận cao với các chương trình tầm soát và tiêm vắc xin phòng nhiễm HPV đang được thực hiện rộng rãi Tuy nhiên tại các nước đang phát triển, việc triển khai vắc xin phòng ngừa HPV gặp nhiều khó khăn liên quan đến hiểu biết của phụ nữ về HPV và nguy cơ gây ung thư của HPV Chính vì thế, gần đây ngày càng nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi trong phòng nhiễm HPV đã được tiến hành trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau như sinh viên, phụ nữ, cán bộ y tế [30]
1.4.2 Thực trạng về kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên ở Việt Nam
Tại Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC được tiến hành, đặc biệt là trên đối tượng sinh viên Tuy nhiên các kết quả hiện có cũng phần nào cho thấy hiểu biết về HPV, bệnh UTCTC, vắc xin phòng bệnh của phụ nữ Việt Nam còn khá hạn chế
Một nghiên cứu về kiến thức và thực hành tiêm vắc xin HPV phòng ngừa UTCTC của phụ nữ 15-49 tuổi tại Bình Định năm 2017, nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành tại 30 xã trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2017
Trang 37Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 1.200 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi có cấu trúc Kết quả cho thấy tỷ lệ phụ nữ có kiến thức
về tiêm phòng vắc xin HPV là 31,2% và tỷ lệ phụ nữ đã được tiêm phòng vắc xin HPV (2,3%), tỷ lệ phụ nữ chưa từng nghe về vắc xin HPV là 50% và chưa được cán
bộ y tế tư vấn về tiêm phòng vắc xin HPV là 13,8% Thiếu thông tin về vắc xin (63,8%) và giá thành của 3 mũi vacxin cao (26,3%) là 2 lý do cao nhất khiến phụ nữ chưa tiêm vắc xin HPV Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về tiêm vắc xin HPV Chưa tìm thấy có mối liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và thực hành về tiêm vắc xin HPV Phụ nữ người kinh có kiến thức về tiêm vắc xin HPV tốt hơn đồng bào dân tộc (p<0,05) [10]
Một nghiên cứu khác về kiến thức và thực hành của bà mẹ có con gái 11-14 tuổi học tại trường trung học cơ sở Dịch Vọng, quận Cầu Giấy từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 8 năm 2012 Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 205 bà
mẹ Kết quả nghiên cứu cho thấy, 98% bà mẹ nghe đến bệnh UTCTC, 39% bà mẹ
có kiến thức đạt về bệnh, 63,9% bà mẹ có kiến thức đạt về vắc xin và 29,3% bà mẹ
có kiến thức đạt về sàng lọc Về thực hành phòng bệnh, 89% bà mẹ đạt về thực hành khám sàng lọc UTCTC Chỉ có 6% học sinh nữ 10-14 tuổi đã tiêm vắc xin HPV phòng bệnh UTCTC, 58,7% bà mẹ dự định cho con gái tiêm vắc xin HPV Yếu tố liên quan đến thực hành khám sàng lọc UTCTC của mẹ là trình độ học vấn
và số lần sinh con Yếu tố liên quan đến tiêm vắc xin cho con gái là tuổi của mẹ và kiến thức về vắc xin Yếu tố liên quan đến sự định cho con gái tiêm vắc xin là tuổi của mẹ, lo ngại về tác dụng phụ của vắc xin [7]
Nghiên cứu của Lê Văn Hội về kiến thức, thái độ, thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC của sinh viên nữ khối Y học dự phòng trường Đại học Y Hà Nội năm 2019, có 90,5% đối tượng nghiên cứu đã từng nghe nói về HPV, 69,3% sinh viên đạt điểm kiến thức về HPV, điểm thực tế so với tổng điểm tối đa phần kiến thức về vắc xin phòng bệnh UTCTC chỉ đạt 32,6%, có 76,7% sinh viên chưa tiêm phòng UTCTC, tỷ lệ tiêm phòng đủ 3 mũi là 13,8% 92,9% đối tượng chưa thực hiện sàng lọc phát hiện sớm UTCTC Yếu tố tuổi có liên quan đến kiến thức về vắc
Trang 38xin phòng UTCTC, nhóm sinh viên trên 23 tuổi có xác suất kiến thức đạt cao hơn so với nhóm tuổi thấp hơn Nhóm đối tƣợng có bố hoặc mẹ làm nông dân hoặc công nhân có xác suất thực hành đủ 3 mũi vắc xin thấp hơn so với nhóm đối tƣợng có bố hoặc mẹ làm cán bộ, viên chức Đối tƣợng có kiến thức đạt về HPV hoặc kiến thức đạt về vắc xin phòng UTCTC có tỷ lệ tiêm đủ 3 mũi vắc xin HPV cao hơn so với nhóm đối tƣợng còn lại [5]
1.5 Khung lý thuyết
Tỷ lệ kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng UTCTC
- Độ an toàn của vắc xin
- Địa điểm tiêm
Trang 391.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Võ Trường Toản nằm trên Quốc lộ 1A, xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, thành lập ngày 18-02-2008 theo quyết định
số 196/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ Trường có các khối ngành chính: Y khoa, Dược học, Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính-Ngân hàng Đặc thù đào tạo của trường Đại học Võ Trường Toản là sinh viên Y– Dược với mong muốn xây dựng và phát triển trở thành trường đào tạo Y Dược đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực y tế chất lượng cao góp phần bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Để đạt được điều đó cần phải nâng cao chất lượng đào tạo, trình độ chuyên môn cho sinh viên, phát triển nguồn nhân lực có đủ tài năng, y đức
Sinh viên Y Dược với tư cách là những nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong tương lai nên họ có tác động quan trọng đến việc dự phòng UTCTC của người dân Vì vậy kiến thức đặc biệt quan trọng cho công việc sau này Nghiên cứu này thực hiện với mong muốn đánh giá được thực trạng kiến thức và thực hành của các bạn về UTCTC Từ đó, chúng tôi mong muốn có thể đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao tỷ lệ này
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên nữ hệ chính quy trường Đại học Võ Trường Toản
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
Sinh viên nữ hệ chính quy trường Đại học Võ Trường Toản có mặt tại thời điểm điều tra và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02 năm 2021 đến tháng 11 năm 2021
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học Võ Trường Toản quốc lộ 1A,
xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang phân tích
2.4 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng 1 tỷ lệ:
- n: là cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
- α: mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 =1,96
- p: là tỷ lệ sinh viên đạt kiến thức về HPV Chọn p = 0,504 theo nghiên cứu của Lê Văn Hội năm 2019 [5]
- d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05
Kết quả tính cỡ mẫu n = 385 Để tăng độ chính xác, chúng tôi lấy thêm 10%
cỡ mẫu, do vậy cỡ mẫu cần cho nghiên cứu làm tròn là 424 Số lượng mẫu thu thực
tế là 424 sinh viên