Hệ Thống Thanh Toán Trực Tuyến Của Ngân Hàng
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
2011
BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH
Hệ Thống Thanh Toán Trực Tuyến Của Ngân Hàng
NHÓM: HACKER MŨ TRẮNG LỚP: TATM13B
GVHD: Thầy TRƯƠNG MINH HÒA
Thành viên nhóm:
Trang 2Nov 25
BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH
2
Trang 3các lĩnh vực, ngành nghề đều có mặt của sự tiện ích mà ngành điện toán đem lại
Có thể kể đến trong số những ngành áp dụng công nghệ thông tin nhiều nhất đó là Thương mại điện tử (E-Commerce), một phát triển vượt bậc trong kinh doanh, là cầu nối cung cầu nhanh nhất và tiên tiến nhất hiện nay thông qua Internet Chính vì thế, ngân hàng – một lĩnh vực phải nói là chủ chốt và huyết mạch cho tất cả các thành phần kinh tế, đã áp dụng CNTT để nâng cao chất lượng dịch vụ, thỏa mãn tối
đa nhu cầu của khách hàng trong nước và quốc tế.
Đối với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển thì việc ứng dụng CNTT cũng dần dần được đẩy mạnh để bắt kịp xu thế thời đại Tuy nhiên, việc này cũng còn hạn chế do số lượng người có trình độ lĩnh tụ được kiến thức CNTT trong các lĩnh vực chỉ tập trung chủ yếu vào thành phần học sinh, sinh viên và những người đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức có ứng dụng CNTT.
Chính vì vậy, việc các ngân hàng thương mại áp dụng CNTT trong giao dịch làm nảy sinh khái niệm ngân hàng điện tử (E-Banking) – một khái niệm còn khá mới
mẻ đối với những khách hàng chỉ quen với việc giao dịch tại chi nhánh của ngân hàng (Bank branches) Nhưng theo tâm lý của đa số người, chờ đợi là một điều rất mất thời gian và tiền bạc, vì ai cũng biết thời gian là vàng, chính vì tâm lý này mà E-Banking xuất hiện như một “vị cứu tinh” giúp các ngân hàng thương mại giảm tải công việc tại chi nhánh, giảm chi phí hoạt động, giúp việc phục vụ khách hàng tốt hơn Tuy nhiên, việc xếp hàng chờ đợi để giao dịch tại các chi nhánh ngân hàng Việt Nam hiện nay còn diễn ra tại khá nhiều nơi vì E-Banking cũng còn làm nhiều người bỡ ngỡ vì họ không biết phải sử dụng như thế nào để tiện lợi, nhanh chóng
và an toàn, nên chi nhánh là lựa chọn dễ dàng và tin cậy nhất của họ.
Báo cáo này nhằm giúp cho người đọc hiểu được giá trị thực sự của E-Banking và thông qua các nghiên cứu các dịch vụ và sản phẩm mà E-Banking đem lại, chúng tôi – Nhóm HACKER MŨ TRẮNG, mong muốn rằng người đọc có thể ứng dụng được phần nào của tiện ích E-Banking trong công việc cũng như trong giao dịch với ngân hàng để đạt được hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian quý báu và bổ sung kiến thức thêm mới của CNTT.
Nhóm Hacker Mũ Trắng
Nhóm trưởng Nguyễn Trọng Nhân
3
Trang 4Nov 25
BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH
4
Trang 5I KHÁI QUÁT VỀ E-BANKING.
A E-Banking là gì?
E-Banking là chữ viết tắt của Electronic-banking (dịch vụ ngân hàng điện tử), một công cụ tiện ích cung cấp các sản phẩm và dịch vụ bán lẻ mới lẫn truyền thống của ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử và các kênh truyền thông tương tác khác, bao gồm:
• Tiến hàng giao dịch ngân hàng
• Kiểm tra tài khoản
• Thanh toán các hóa đơn điện tử
• Cung cấp sản phẩm và dịch vụ thanh toán điện tử khác như tiền điện tử
Trước đây, khi nói đến ngân hàng thì người ta thường nghĩ đến thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, phải ký đủ thứ giấy tờ liên quan để đảm bảo quyền lợi giữa ngân hàng và người giao dịch Hơn nữa, khi giao dịch tại các chi nhánh thì rủi ro mất mát, nguy hiểm khi giao dịch với số lượng lớn là điều hoàn toàn có thể xảy ra bất cứ lúc nào
Những bất tiện đó giờ đây đã được giải quyết thỏa đáng, ngay cả những khách hàng khó tính nhất cũng phải chấp một sự thật – E-Banking là một giải pháp hữu hiệu, một trợ thủ đắc lực trong việc kiểm sóat tài chính của mình mà không mất nhiều thời gian và công sức mà lại an toàn, hiệu quả Mặt khác, ngân hàng cũng giải quyết được vấn đề chi phí cho nguồn nhân lực cao mà công việc giao dịch lại quá tải, vì giờ đây khách hàng đến chi nhánh ít đi nhờ vào sự tự động hóa của E-Banking đem lại khi họ chỉ việc ngồi ở nhà, hay đang cầm chiếc mobile, hay đang làm việc trên chiếc máy tính cá nhân có kết nối internet là có thể thực hiện mọi giao dịch như đang ở trong ngân hàng thực Do đó, khách hàng được sự tiện lợi còn lợi nhuận ngân hàng ngày càng tăng mà còn đảm bảo được uy tín của mình
Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra, hiện nay các sản phẩm và dịch vụ của E-Banking tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm phục vụ cho các nhu cầu phong phú, đa dạng Các sản phẩm này hầu như nghe khá quen thuộc với chúng ta khi được nhắc đến, nhưng rất ít người biết sử dụng một cách hiệu quả, đó là:
• Các loại thẻ nhựa (Plastic money), như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán
5
Trang 6Nov 25
BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH
• Hệ thống thanh toán tại các điểm bán hàng (EFTPOS – Point of Sale).
• Máy rút tiền tự động (ATM – Automated Teller Machine).
• Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Telephone-Banking).
• Dịch vụ ngân hàng qua mạng máy tình toàn cầu (Internet-Banking).
• Dịch vụ ngân hàng qua mạng viễn thông không dây (Mobile-Banking).
• Dịch vụ ngân hàng qua vô tuyến truyền hình tương tác (Interactive TV).
B Lịch sử E-Banking tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, vào tháng 3/1995, E-Banking bắt đầu có sự tham gia của hệ thống SWIFT –
Society for Worldwidde Interbank Financial Telecommunications Đây là Hiệp hội tài chính
viễn thông liên ngân hàng toàn cầu, thông báo và thực hiện dịch vụ cho khách hàng, ngân hàng, người môi giới chứng khoán thông qua phương thức chuyển tiền điện tử Tiếp đến vào tháng 5/2002 xuất hiện hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng Sau đó, các ngân hàng bắt đầu áp dụng các dịch vụ cơ bản của ngân hàng điện tử như Techcombank, Vietcombank, Hệ thống ATM
và POS cũng ngày càng nhân rộng và phát triển, số lượng thẻ ATM được phát hành lên đến con số hàng triệu, nhất là bây giờ việc phát lương được thực hiện thông qua thẻ ATM cho các nhân viên văn phòng, giáo viên, ngay cả các anh chị em công nhân ở các khu chế xuất cũng có thẻ ATM để thực hiện các giao dịch ngoài việc nhận lương hàng tháng
Hơn thế nữa, dần dần các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài như ANZ, CitiBank, HSBC, Deutsch Bank cũng đã cung cấp các dịch vụ E-Banking nhưng chỉ dừng lại ở khách hàng là doanh nghiệp Trong những năm gần đây, các ngân hàng trong nước và nước ngoài cũng đã tăng cường
áp dụng nhiều hình thức khác nhau của E-Banking để phục vụ khách hàng tốt hơn, làm giảm nhiều chi phí, làm cho lượng tiền tệ của quốc gia lưu thông dễ dàng hơn Tuy vậy, người dân VN vẫn còn chưa quen với việc sử dụng phương thức này vì còn khá nhiều người thiếu kiến thức về CNTT lẫn các dịch vụ ngân hàng cung cấp
Tiếp theo đây là phân tích cụ thể những thành tựu của con người trong việc tạo ra E-Banking, chứng tỏ một thời đại CNTT đang chiếm lĩnh hầu hết các lĩnh vực có liên quan đến ngân hàng Trong tài liệu này có sử dụng một số tài liệu tham khảo, ở cuối tài liệu chúng tôi đã có cập nhật các đường link tài liệu để độc giả có thể tham khảo thêm
6
Trang 7II CÁC SẢN PHẨM, DỊCH VỤ CỦA E-BANKING.
A Các loại thẻ (Plastic money).
Plastic money (thông tục: thẻ tín dụng) là các loại thẻ bằng nhựa dùng để thay thế cho tiền mặt Hầu hết các ngân hàng lớn trên thế giới hiện nay đều phát hành loại thẻ này với ba công dụng chính:
• Bảo chi séc (check), ngân hàng đảm bảo thanh toán khoản tiền ghi trên check do khách hàng phát hành với hạn mức xác định
• Rút tiền mặt tại các máy ATM
• Thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ bằng chuyển tiền điện tử tại các điểm bán hàng ( Electronic Funds Transfer at Point of Sale – EFTPOS)
Thông thường chủ thẻ (card holder) phải trả phí hàng năm để bù lại các chi phí mà ngân hàng duy trì tài khoản và phát hành thẻ, ngoài ra các ngân hàng còn thu phí giao dịch tại các máy ATM tùy thuộc vào máy đó có thuộc ngân hàng đó sở hữu hay không, vì hiện nay các ngân hàng đang liên kết với nhau để tạo sự thuận lợi trong việc giao dịch với nhiều bên, minh chứng cho thấy đó là mặc dù thẻ của ngân hàng này nhưng giao dịch được tại các máy ATM của ngân hàng khác mà nó liên kết
1 Credit Card - CC (THẺ GHI CÓ hay THẺ TÍN DỤNG) Khái niệm.
CC là loại thẻ mang tính chất của một hình thức cấp tín dụng hay còn gọi là cho vay đối với chủ thẻ, tức là thẻ này dùng để cho người mở thẻ được vay một hạn mức tín dụng dùng cho việc thanh toán khi mua hàng hóa và dịch vụ sau đó ngân hàng sẽ thu lại số tiền mà chủ thẻ đã mua, tùy theo ngân hàng mà chủ thẻ sẽ trả số tiền tối thiểu là bao nhiêu phần trăm hay trả toàn bộ trong một thời hạn nhất định, thông thường tối đa là 45 ngày Ở đây có 2 trường hợp, nếu chủ thẻ trả toàn bộ số tiền theo đúng hạn thì ngân hàng không tính lãi, còn nếu trả không đúng hạn ngân hàng sẽ tự động tính lãi, coi như số tiền mà chủ thẻ chưa trả là số tiền vay, và mức lãi thường khá cao từ 12%/năm trở lên Ngoài ra, các loại thẻ này đều có thời hạn sử dụng, tại Việt Nam là 3 năm
Trang 8CÁC SẢN PHẨM, DỊCH VỤ CỦA E-BANKING.
Ở nước ngoài, nếu chủ thẻ là người có việc làm ổn định và có xác nhận của Công ty thì có quyền được làm thẻ mà không cần thế chấp, tín chấp Ở Việt Nam, đối với ngân hàng tín nhiệm được đặt lên hàng đầu, vì thế nếu muốn mở thẻ này thì chủ thẻ sẽ phải mở một tài khoản tiền gửi, yêu cầu
ký quỹ hay thế chấp để đảm bảo chủ thẻ sẽ hoàn trả số tiền được cấp Tuy nhiên, số tiền ký quỹ hay thế chấp vẫn được hưởng lãi suất tiền gửi như bình thường, nhưng khi đến hạn thanh toán cho ngân hàng thì không được trừ vào tiền ký quỹ, thế chấp Một điểm đặc biệt đó là: CC tại VN có hai hạn mức tín dụng đó là: hạn mức chuẩn và hạn mức vàng, ở một số ngân hàng cũng có thêm hạn mức Platinum hay còn gọi hạn mức bạch kim Các hạn mức này tùy thuộc vào số tiền mà chủ thẻ ký quỹ, tín chấp hay thế chấp
Thí dụ điển hình đó là ngân hàng ACB – Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, CC có 3 hạn mức tín dụng: chuẩn, vàng, Platinum (Để biết thêm chi tiết xin xem tại http://www.acbcard.com.vn/ )
• Thẻ chuẩn: hạn mức từ 10 triệu – 50 triệu
• Thẻ vàng: hạn mức từ 30 triệu – 500 triệu
• Thẻ Platinum: hạn mức từ 200 triệu trở lên
Hiện nay, các công ty phát hành thẻ hàng đầu thế giới có thể kể đến đó là: Master Card, Visa Card, American Express, JCB, Access Các ngân hàng tại VN chỉ là những đại lý phát hành thẻ cho các công ty này (như hình bên cho thấy các thẻ đều có thương hiệu của Master Card hay Visa card), vì các ngân hàng này đảm bảo được cở sở hạ tầng và trình độ quản
lý của CNTT, khi đó chủ thẻ có thể mua hàng tại bất
cứ nơi đâu có chấp nhận thanh toán bằng CC trong nước lẫn ngoài nước chẳng hạn như: nhà hàng, khách sạn, shopping center, cửa hàng thức ăn nhanh, khu du lịch, bệnh viện, club, sân bay Ngoài ra, chủ thẻ cũng có thể thanh toán các hóa đơn như điện, nước, Internet, truyền hình cáp, thông qua dịch vụ của ngân hàng phát hành thẻ cung cấp Điều lưu ý là ở Việt Nam, CC có 2 loại: trong nước (thanh toán tại các cửa hàng trong VN) và quốc tế (thanh toán tại bất cứ cửa hàng nào trong nước lẫn ngoài nước chấp nhận thẻ CC)
Quy trình thanh toán.
Hình Các loại thẻ tín dụng của ngân hàng ACB
8
Trang 9Khi một khách hàng mua sắm một hàng hóa hay dịch vụ tại nơi chấp nhận thanh toán bằng CC, người bán háng sẽ mượn thẻ của khách để lấy các thông tin như: số thẻ hạn mức tín dụng, thời hạn hết hạn, sau đó khách hàng ký tên vào biên lai mà người bán sẽ giữ biên lai này để nhận tiền thanh toán từ công ty thẻ Người bán sẽ phải trả 4% giá trị tiền hàng cho công ty thẻ Hàng tháng ngân hàng sẽ gửi bản sao kê (statement) cho chủ thẻ liệt kê các giao dịch trong tháng và tiền lãi phải trả (nếu có).
Ngân hàng cũng có giữ biên lai mà người mua ký, trong kế toán, NH sẽ ghi CÓ vào tài khoản của người bán hàng tồng số tiền bán hàng, ghi NỢ vào tài khoản của công ty thẻ và gửi biên lai đến công ty thẻ Sau khi nhận được biên lai, họ sẽ thanh toán cho ngân hàng thông qua hệ thống bù trừ tổng số tiền bán hàng của mỗi cửa hàng trừ đi phần hoa hồng, đồng thời công ty thẻ tín dụng ghi
NỢ vào tài khoản của chủ thẻ gửi cho họ hóa đơn thanh toán hàng tháng
2 Debit Card - DC (THẺ GHI NỢ).
Khái niệm.
DC là loại thẻ có chức năng tương tự như CC nhưng khác ở chỗ: chủ thẻ phải mở tài khoản tiền gửi, nếu chủ thẻ thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ thì sẽ trừ trực tiếp trên số tiền đã gửi trong thẻ, khi đó số dư tài khoản trong thẻ sẽ bị giảm xuống, còn đối với CC thì số dư sẽ tăng lên
Ngoài các tiện ích như: rút tiền tại các máy ATM co logo của thẻ (Master Card hay Visa Card), thanh toán tại 30 triệu điểm trên toàn thế giới tại 220 quốc gia, chủ thẻ có thể dễ dàng kiểm soát chi tiêu mà không lo nợ phải trả hay tiền lãi do ngân hàng tính bởi vì thanh toán trên tổng số tiền
có trong thẻ, hơn nữa lại còn được ngân hàng trả lãi hàng tháng trên số tiền chưa sử dụng Bên cạnh đó, một tiện ích mà CC không có đó là có thể chuyển khoản từ tài khoản tiền gừi sang tài khoản khác
Tại Việt Nam, DC cũng có 2 loại: trong nước và quốc tế, cả 2 đều có chức năng giống nhau nhưng phạm vi là khác nhau tạo sự đa dạng sản phẩm cho khách hàng lựa chọn phù hợp với tính chất công việc của mỗi người
Trang 10CÁC SẢN PHẨM, DỊCH VỤ CỦA E-BANKING.Eximbank – Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam là một trong những ngân hàng cổ phần đầu tiên của Việt Nam có vốn điều lệ là 10.560 tỷ đồng, cung cấp đầu đủ các sản phẩm, dịch vụ mang tầm
cỡ quốc tế
Quy trình thanh toán
Thanh toán bằng DC cũng tương tự như CC, khi hách hàng mua hàng hóa, dịch vụ tại nơi chấp nhận thẻ, chủ thẻ chỉ việc đưa thẻ cho nhân viên bán hàng quẹt vào máy đọc như đã giới thiệu ở trên, nhân viên sẽ nhập đúng số tiền hàng hóa dịch vụ phải thanh toán Một tiện lợi hơn nữa của
DC đó là, chủ thẻ có thể rút tiền mặt tại các máy này, bằng cách tự nhập mã PIN vào máy và nhập
số tiền rút, số tiền này phải lớn hơn số tiền phải thanh toán, sau đó máy tự kiểm tra thông tin :số tài khoản, số dư Cuối cùng máy sẽ in hóa đơn, số tiền sẽ trừ vào tài khoản
B EFTPOS – Hệ thống thanh toán tại các điểm bán hàng.
EFTPOS hay còn gọi là dịch vụ chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng ( POS – Point of Sale: địa điểm bán hàng chấp nhận thanh toán bằng các loại thẻ) Các điểm này đều trang bị máy tình tiền bằng thẻ như đã nói ở quy trình thanh toán của CC Số tiền trả sẽ được chuyển từ ngân hàng của người mua sang ngân hàng của người bán Điểm bán hàng là nhà hàng, khách sạn, shopping center, cửa hàng thức ăn nhanh, khu du lịch, trạm xăng Riêng về trạm xăng thì mới xuất hiện tại Việt Nam, hiện tại chỉ có Petrolimex – Tổng công ty xăng dầu Việt Nam phối hợp cùng với PG
Bank – Ngân hàng thương mại cổ phần Petrolimex phát hành thẻ Flexicard, chủ thẻ có thể thanh
toán tiền xăng, dầu bằng cách quẹt thẻ tại máy của trạm xăng mà không phải mắc công lấy tiền mặt ra trả, mất thời gian và làm người khác phải chờ đợi lâu
Hình 2 Thẻ Visa Debit quốc Hình 3 Thẻ V-TOP (Visa Debit nội địa)
10
Trang 11Các thông tin thẻ sẽ được máy chuyển về Tổng đài trung tâm, chủ thẻ có thể yên tâm về tài khoản của mình vì thông tin thẻ đã được mã hóa để người khác không biết được Tử đây, Tổng đài sẽ gửi chúng đến bộ xử lý của ngân hàng của chủ thẻ để kiểm tra các thông tin sau:
• Số thẻ
• Thẻ đã báo mất bao giờ chưa
• Tổng số tiền phải thanh toán
• Có đủ tiền trên tài khoản của khách hàng không
• Mã số nhận diện của người bán (nơi chấp nhận thẻ)
• Số thiết bị thanh toán của người bán
Nếu các thông tin trên hợp lệ, bộ xử lý sẽ gửi số cấp phép đã được mã hóa tới Tổng đài trung tâm và từ đây sẽ gửi thông báo tới cửa hàng Máy quẹt thẻ sẽ in ra biên nhận trên đó có số cấp phép Khách hàng ký tên lên biên nhận và có thể mang hàng đi, đồng thời Tổng đài trung tâm sẽ gửi tổng số tiền đến ngân hàng của người bán Trường hợp không lấy được số cấp phép thì chủ thẻ phải thanh toán bằng hình thức khác, có thể là chuyển khoản hoặc tiền mặt
3 Tình hình thanh toán bằng thẻ tại Việt Nam.
Nhìn chung tại Việt Nam, sử dụng tiền mặt thanh toán là một phương thức thông dụng của người tiêu dùng mặc dù các điểm chấp nhận thẻ ngày càng xuất hiện nhiều, từ trung tâm bán lẻ hiện đại đến các cửa hàng 24/7 (cửa hàng mở cửa liên tục suốt 24 giờ như một siêu thị nhỏ, tại VN Shop &
Go 24h là cửa hàng điển hình nhất) Theo báo cáo gần đây nhất của Euromonitor International tháng 12/2010 khẳng định tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chính trong các giao dịch bán lẻ của người dân Việt
Hình 5 Thanh toán bằng thẻ
Trang 12CÁC SẢN PHẨM, DỊCH VỤ CỦA E-BANKING.Điều này cho thấy thói quen của người VN khi sử dụng thẻ của các ngân hàng mới chỉ sử dụng một phần chức năng rất nhỏ của thẻ, chủ yếu trong giao dịch và rút tiền mặt tại các máy giao dịch
tự động Hai chức năng quan trọng của thẻ là thanh toán tại các điểm bán hàng offline và thanh toán trực tuyến tại các website bán hàng qua mạng chưa được các ngân hàng hiện nay chú trọng xây dựng
Có đủ lý do ngại dùng thẻ mà nhiều người chia sẻ Dễ bị ăn cắp thông tin, bị mất tiền… thuộc loại
lo ngại hàng đầu Khi có ý định làm thẻ, nhìn biểu phí dịch vụ, thấy đủ loại phí như phí tra cứu số
dư, phí cấp lại mã PIN, phí cấp bản sao thông tin giao dịch…, trong đó phí rút tiền mặt có thể lên tới 4% (tối thiểu 40.000 đồng), phí giao dịch 2,75%…, chưa kể các thủ tục ngân hàng không phải lúc nào cũng dễ hiểu khiến ý định dùng thẻ mới nhen nhóm của nhiều người tắt lụi
Chuyện thu phí 2-3% trên giá trị mỗi giao dịch đối với người dùng thẻ là một sự “hiểu lầm” Theo quy định của các tổ chức phát hành thẻ hiện hay, ngân hàng sẽ không thu khoản phí này từ chủ thẻ
mà thu của điểm chấp nhận thẻ (POS) Ngoài khoản phí duy trì thẻ thường niên, hầu như chủ thẻ không phải trả thêm khoản phí nào Khi thanh toán, nếu thấy đại lý thu thêm phí giao dịch, khách hàng có thể thông báo để tổ chức thẻ xử lý Dù vậy trên thực tế, nhiều cửa hàng, nhà hàng vẫn đẩy khoản phí này sang cho khách hàng chịu, có nơi còn thu lố lên 5%
Những trường hợp bị thu hồi máy POS vì thu phí giao dịch của khách hàng như nhà hàng Ngon ở
TP.HCM rất hiếm hoi Các ngân hàng tuy dễ dàng phát hiện được hiện tượng này nhưng vì muốn
mở rộng mạng lưới thanh toán thẻ nên chủ yếu chỉ áp dụng hình thức nhắc nhở
C Máy rút tiền tự động (ATM – Automated Teller Machine).
Đúng như tên gọi, các máy rút tiền tự động (ATM) cho phép khách hàng tự mình rút tiền mà không cần sự trợ giúp nào của nhân viên ngân hàng Khách hàng dùng các loại thẻ nhựa như đã nói ở phần trên đưa vào máy ATM (lưu ý thẻ ATM là một dạng của thẻ ghi nợ hay còn gọi là cash card) các máy này sẽ nhận dạng khách hàng thông qua mã số nhận dạng cá nhân (PIN – Personal Identification Number) mà khách hàng nhập trên bàn phím của máy
Ngoài chức năng cơ bản cho phép khách hàng rút tiền mặt, in sao kê, chuyển khoản, nhiều ngân hàng đã bổ sung thêm dịch vụ gửi tiền mặt, gửi ngân phiếu vào tài khoản, thanh toán tiền điện,
Hình 6 Báo cáo của Euromonitor International
12