Trả lời: Điều 574 BLDS năm 2015 “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của ng
Trang 1MÔN HỌC: HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG – THẢO LUẬN NHÓM 2
Giáo viên: DS – Ngô Thị Anh Vân Buổi thảo luận thứ nhất: Nghĩa vụ
Lớp: 114 – TM45.2
Nhóm: 08
Trang 2Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền.
- Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Trả lời:
Điều 574 BLDS năm 2015 “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối"
Ví dụ: Do có người nhà bị bệnh phải nằm viện nên A vào để chăm sóc B là hàng xóm của A, trời mưa khi nhìn thấy bên sân nhà A thóc vẫn còn nên B đã sang giúp gom thóc cất vào hàng ba giúp
Phân tích ví dụ trên: A là người có công việc được thực hiện, B là người thực hiẹn công việc không có ủy quyền, làm hoàn toàn tự nguyện B gom thóc vào nhà là vì lợi ích của A
- Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền làm phát sinh căn cứ nghĩa vụ?
Trả lời:
Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là những quy định mới những dự liệu về những trường hợp đã được luật hóa
Cũng do xuất phát từ tinh thần đoàn kết sự hợp tác đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống không ít nhiều gì chúng ta cũng đã bắt gặp những trường hợp thực hiện nghĩa vụ công việc một cách tự nguyện chứ không xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên (trường hợp hơp đồng) hay những nghĩa vụ do Luật định (trường hợp bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra) Về bản chất, khi một người nào
đó thực hiện công việc một cách tự nguyện thì sẽ làm căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 276 BLDS năm 2015 Các cơ sở pháp lý liên quan
Trang 3về thực hiện công việc không có ủy quyền từ quy định tại Điều 574 đến 578 của
Bộ luật này
- Điểm mới của BLDS năm 2015 với BLDS năm 2005 về thực hiện công việc không có ủy quyền?
Trả lời:
Về mục đích thực hiện:
BLDS năm 2005 ghi nhận tại Điều 594 “ hoàn toàn vì lợi ích của người được thực hiện công viêc" (hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện chứ không vì lợi ích nào khác)
BLDS năm 2015 ghi nhận tại điều 574 “ thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” (ngoài lợi ích của người có công việc được thực hiện thì còn vì mục đích khác chỉ cần nó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội đồng thời không làm ảnh hưởng tới lợi ích của người có công việc được thực hiện cũng như chủ thể khác)
Về chủ thể:
BLDS năm 2005 thì người thực hiện công việc chỉ là cá nhân (quy định theo khoản 4 Điều 595 BLDS năm 2005)
BLDS năm 2015 thì người thực hiện công việc có thể là cá nhân, pháp nhân (quy định tại khoản 4 Điều 575 BLDS năm 2015)
- Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS năm 2015? Phân tích từng điều kiện.
Trả lời:
Căn cứ Điều 574 BLDS 2015 cần phải thỏa mãn 4 điều kiện mới được áp dụng quy định pháp luật về thực hiện công việc không có ủy quyền:
(1) Người thực hiện là người không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó
(2) Thực hiện công việc một cách tự nguyện
Trang 4(3) Thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện.
(4) Người có công việc được thực hiện không biết hoặc không phản đối
Phân tích từng điều kiện:
(1) Người thực hiện là người không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó: người thực hiện phải là người hoàn toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do Luật định hoặc do hai bên thỏa thuận
(2) Thực hiện công việc một cách tự nguyện: người thực hiện công việc đó phải hoàn toàn tự nguyện, nếu người thực hiện công việc trái với ý chí của bản thân
do bị lừa dối, đe dọa thì không áp dụng chế định này
(3) Thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện: việc thực hiện công việc đó phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc, nếu người thực hiện công việc vì lợi ích của mình hoặc của người khác thì không áp dụng chế định này
(4) Người có công việc được thực hiện không biết hoặc không phản đối: Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối việc thực hiện đó Nếu người có công việc phản đối mà bên kia vẫn tiếp tục thực hiện thì không thuộc chế độ này
- Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không?
Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Trang 5Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 142, Điều 574, 575, 576, 578 Bộ luật Dân sự 2015
Theo nhóm em, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện nghĩa vụ theo quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” vì nhưng lý do sau:
Thứ nhất, trong hợp đồng ký kết giữa B và C không nêu rõ B đại diện cho A và A
chưa từng ủy quyền cho B thực hiện giao kết hợp đồng này với C, chưa từng thể hiện sự đồng ý của mình với giao dịch này Vì vậy, kể cả khi C và B đã cùng nhau thiết lập hợp đồng xây dựng, hợp đồng chỉ làm phát sinh nghĩa vụ giữa B và C, không hề có sự ràng buộc về nghĩa vụ của C đối với A theo khoản 1 Điều 142
BLDS 2015 Điều này thỏa mãn yếu tố người thực hiện công việc “không có
nghĩa vụ thực hiện công việc”.
Thứ hai, B ký hợp đồng với nhà thầu C mà không có sự ủy quyền của A và A
chưa từng yêu cầu C phải thi công xây dựng công trình mà mình mong muốn vì
vậy A đương nhiên thỏa mãn điều kiện “không biết” theo Điều 574 BLDS 2015.
Tuy nhiên, vì là chủ đầu tư, A hoàn toàn có khả năng biết về việc thi công công trình công cộng của C và việc C có thể xây dựng xong công trình chính là minh
chứng cho điều kiện “biết mà không phản đối” theo Điều 574 BLDS 2015 Bởi vì,
nếu như có bất kì sự phản đối nào từ A, C đã phải chấm dứt thực hiện công việc theo khoản 1 Điều 578 BLDS 2015
Thứ ba, đây là công việc đem lại lợi ích cho A với tư cách là một chủ đầu tư dự
án và dù có thể sẽ có lợi cho C nhưng lợi ích lớn nhất khi công việc được hoàn tất
vẫn thuộc về A vì vậy điều này phù hợp với điều kiện “vì lợi ích của người có
công việc” theo Điều 574 BLDS 2015.
Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền).
Trang 6- Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/03/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Chủ thể:
Nguyên đơn: Cụ Ngô Quang Bảng
Bị đơn: Bà Mai Hương (Mai Thị Hương)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Sáu và cụ Nguyễn Thị Tần
Tranh chấp về: Nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử
dụng đất
Lý do tranh chấp:
- Nguyên đơn trình bày: Năm 1982, ông Phục chuyển nhượng đất thừa kế của
mình cho cụ Ngô Quang Bảng Đến năm 1991, ông Bảng chuyển nhượng cho
vợ chồng bà Mai Hương với giá 5.000.000 đồng Bà Hương trả 4.000.000 đồng
và còn nợ 1.000.000 đồng tức 1/5 giá trị thửa đất chưa thanh toán Cụ Bảng nhiều lần đòi nhưng bà Hương viện lý do không trả Đến năm 1996, bà Hương chuyển nhận nhà, đất cho vợ chồng ông Chinh và bà Sáu Cụ Bảng khởi kiện bà Hương yêu cầu bà Hương trả số tiền bằng 1/5 giá trị nhà đất được tòa định giá
là 1.697.769 đồng Bằng không bà Hương phải trả lại 1/5 diện tích đất tương đương 188,6m2/1.010m2 thửa đất đã chuyển nhượng
- Bị đơn trình bày: Bà Mai Hương thống nhất với lời khai của cụ Bảng về việc
chuyển nhượng nhà, đất đã thanh toán 4.000.000 đồng và còn nợ 1.000.000 đồng Đồng thời bà đã nhận của cụ nhà, đất, giấy chứng nhận sở hữu, giấy biên nhận tiền Năm 1996, bà Hương sau khi chuyển nhượng nhà, đất lại cho ông
Trang 7Chinh và bà Sáu có gặp ông Bảng để trả 1.000.000 đồng nhưng ông Bảng không nhận Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Bảng
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Sáu trình bày: Việc
chuyển nhượng giữa 2 vợ chồng bà Sáu với bà Hương là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật Bà không đồng ý vơí yêu cầu trả 1/5 diện tích đất của ông Bảng
Tòa án giải quyết như thế nào:
- Tòa án sơ thẩm: Buộc bà Mai Hương trả lại ông Bảng số tiền 2.710.000 đồng
gồm gốc 1.000.000 đồng và lãi 1.710.000 đồng Cụ Bảng kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm
- Tòa án phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm Cụ
Bảng kháng cáo lần 2 và đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm theo thủ tục Giám đốc thẩm
- Tòa Giám đốc thẩm: Chấp nhận kháng nghị của Chánh Tòa án nhân dân cấp cao
tại Hà Nội
- Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Trả lời:
Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán bằng cách quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó
Trang 8Trường hợp trên đối tượng nghĩa vụ về tài sản là các khoản tiền nên theo mục 1 khoản 1 điểm a, b Thông tư 01/TTLT thì việc tính lại khoản giá trị tiền phải thanh toán được tính:
a) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/07/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa
vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Tòa án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó
b) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 01/07/1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 01/07/1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Tòa án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 BLDS 2015, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Như vậy, Thông tư này cho phép ta tính lại khoản tiền phải thanh toán tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ thông qua tài sản trung gian là giá gạo
- Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Đối với tình huống thứ nhất, nghĩa vụ dân sự phát sinh trước 01/07/1996 (cụ thể là ngày 15/11/1973) nên áp dụng Tiểu mục a Mục 1 Chương I của Thông tư 01/TTLT ngày 19/06/1997
Ông Quới phải trả cho bà Cô:
Trang 9(50.000/137)*15.000 = 5.474.453 đồng
- Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?
Trả lời:
Thông tư 01/TTLT ngày 19/06/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án
về tài sản không quy định điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/03/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mà chỉ điều chỉnh việc thanh toán tiền trong 2 trường hợp:
Đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là các khoản tiền vàng
Đối tượng của các nghĩa vụ về tài sản là hiện vật
- Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Trả lời:
Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khi giá trị của nhà đất được xác định là 1.697.760.000 đồng theo như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì theo Tòa án nhân cấp cao tại Hà Nội, số tiền bà Hương phải thanh toán hết cho ông Bảng là 339.552.000 đồng ( bằng 1/5 tổng giá trị nhà đất được xác định bởi Tòa án sơ thẩm )
Bà Hương phải thanh toán hết số tiền đó bởi vì: trước đó, vào năm 1991, cụ Bảng
đã chuyển nhượng cho bà Hương toàn bộ nhà, đất với giá trị 5.000.000 đồng, bà Hương đã thanh toán 4.000.000 đồng cho cụ Bảng, tương đương với 4/5 tổng giá trị nhà đất và còn nợ 1/5 chưa thanh toán Và theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Trang 10Nội, bà Bảng phải thanh toán cho cụ Hương 1/5 tổng giá trị nhà đất còn lại theo giá hiện hành, tương ứng với số tiền là 339.552.000 đồng
- Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?
Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ trước đó, chính xác là Quyết định Giám đốc thẩm số 09/HĐTP-DS ngày 24/02/2005 về vụ
án “Tranh chấp nhà đất và đòi nợ”
Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận.
- Tóm tắt Bản án số 148/2007/DS-ST ngày 26/09/2007 của Tòa án nhân dân thị
xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Chủ thể: Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm Tú.
Bị đơn: Bà Phượng, bà Phùng Thị Bích Ngọc
Tranh chấp về: Hợp đồng vay tài sản.
Lý do tranh chấp:
- Bà Tú và bà Phượng xác lập quan hệ vay tiền, có thỏa thuận lãi suất Bà Tú nhận tiền lãi đến tháng 05/2005 thì bên vay không trả tiền lãi như đã thỏa thuận Tuy nhiên, phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa
vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh Bà Tú khởi kiện đòi bà Phượng phải chịu trách nhiệm liên đới với bà Ngọc để trả nợ Tòa xét rằng, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa
vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ theo hợp đồng vay tiền đã ký
Quyết định của Tòa án: Buộc bà Phùng Thị Bích Ngọc phải trả cho bà Trần Thị
Cẩm Tú số tiền 651.981.000 đồng Chấm dứt nghĩa vụ trả nợ giữa bà Phượng và
bà Tú
Trang 11- Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận?
Trả lời:
Giống nhau:
Là quan hệ nghĩa vụ dân sự
Không chuyển giao quyền, nghĩa vụ gắn với nhân thân
Hậu quả pháp lý: làm chấm dứt tư cách chủ thể của người chuyển giao quyền yêu cầu hoặc người chuyển giao nghĩa vụ, làm phát sinh tư cách chủ thể, quyền và nghĩa vụ dân sự ở người được chuyển giao
Khác nhau:
Tiêu chí Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ theo
thỏa thuận
Về đối
tượng
Bên có quyền là người có quyền chuyển giao
Bên có nghĩa vụ là người có quyền chuyển giao
Về nguyên
tắc
- Quyền yêu cầu không cần
có sự đồng ý của người có nghĩa vụ vì trong mọi trường hợp người có nghĩa
vụ đều phải thực hiện đúng nội dung của nghĩa vụ đã được xác định
- Tuy nhiên người chuyển quyền phải thông báo cho người có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu.Và việc thông báo phải
- Chuyển giao nghĩa vụ buộc phải có sự đồng ý của bên
có quyền.Khi người có quyền đồng ý, việc chuyển giao mới có thể được thực hiện
- Người chuyển giao nghĩa
vụ không cần thông báo cho người có quyền