1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới dạy học phân môn tập làm văn ở lớp 5 bằng các trò chơi theo chủ đề

95 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Dạy Học Phân Môn Tập Làm Văn Ở Lớp 5 Bằng Các Trò Chơi Theo Chủ Đề
Tác giả Lê Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Huy
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 4,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đểthực hiện được mục tiêu trên thì một trong những biện pháp dạy học không thể bỏ qua đó là tạo cho các em học sinh hứng thủ học tập, lôi cuốn các em vàonhững trò chơi hấp dẫn, phù hợp v

Trang 1

-LÊ THỊ THANH HUYỀN

ĐỔI MỚI DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

Ở LỚP 5 BẰNG CÁC TRÕ CHƠI THEO CHỦ ĐỀ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục Tiểu học

Phú Thọ, 2021

Trang 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-LÊ THỊ THANH HUYỀN

ĐỔI MỚI DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

Trang 3

Lời đầu tiên cho phép em gửi đến thầy giáo - Ts.Nguyễn Xuân Huy

người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu vàhoàn thành khóa luận này lòng biết ơn và lời cảm ơn chân thành nhất Em cũngxin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại Học Hùng Vương, cácthầy giáo, cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, thư viện trườngĐại học Hùng Vương đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình họctập, nghiên cứu và bảo vệ tốt khóa luận của mình Em xin chân thành cảm ơnBan giám hiệu, các cô giáo và các bạn HS trường Tiểu học Hạ Hòa - huyện HạHòa – tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình điều tra vàlàm thực nghiệm tại trường Đồng thời tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với nhữngngười thân yêu, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi để hoàn thành khóa luận Emxin kính chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc để tiếp tục dìu dắtchúng em trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học Em rất mong nhậnđượ c sự góp ý chân thành của các thầy giáo cô giáo và các bạn sinh viên đểkhóa luận của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !

Phú Thọ, tháng 05 năm 2021Sinh viên thực hiện

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chon đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

2.1 Ý nghĩa khoa học 2

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Đối tượng nghiên cứu 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 4

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

7 Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN THEO CHỦ ĐỀ 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.2 Cơ sở lí luận 9

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 5 9

1.2.2 Trò chơi học tập và tổ chức trò chơi theo chủ đề trong dạy học tiếng Việt 14 1.3 Phân môn Tập làm văn trong chương trình Tiểu học 23

1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu của phân môn Tập làm văn trong chương trình tiểu học 23

1.3.2 Chương trình dạy học Tập làm văn 5 26

1.4 Cơ sở thực tiễn 29

Trang 5

1.4.2 Những vấn đề đặt ra trong tổ chức dạy học Tập làm văn theo tinh thần đổi

mới 31

CHƯƠNG 2: 34

THIẾT KẾ TRÒ CHƠI THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC 34

2.1 Yêu cầu trong tổ chức xây dựng trò chơi theo chủ đề trong DH TLV 34

2.2 Các nguyên tắc xây dựng trò chơi theo chủ đề trong DH TLV 34

2.2.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo mục tiêu, nội dung bài học 34

2.2.2 Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính hấp dẫn, lôi cuốn học sinh tham gia chơi, tạo được không khí sôi nổi, hào hứng trong lớp học 35

2.2.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo phù hợp với năng lực và trình độ của học sinh 35

2.2.4.Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính đa dạng, phong phú giúp củng cố được các kiến thức, kĩ năng cho học sinh 35

2.2.5 Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính giáo dục 35

2.3 Nguyên tắc tổ chức trò chơi 36

2.3.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo cho HSTH hiểu rõ yêu cầu, nội dung và cách thức tổ chức trò chơi 36

2.3.2.Nguyên tắc 2: Tổ chức trò chơi đảm bảo sinh động, linh hoạt, sáng tạo của từng học sinh ttrong quá trình chơi 36

2.3.3.Nguyên tắc 3: Đảm bảo tổ chức trò chơi một cách tự nhiên, không gò ép, học sinh tham gia một cách tự nguyện và hào hứng 37

2.3.4.Nguyên tắc 4: Đảm bảo luân phiên các trò chơi một cách hợp lý, tạo ra sự đa dạng hóa các hình thức tổ chức trò chơi 37

2.3.5 Nguyên tắc 5: Đảm bảo tổ chức trò chơi với tinh thần “thi đua" đồng đội 37 2.4 Một số biện pháp để tổ chức trò chơi học tập trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 37

2.5 Thiết kế trò chơi theo chủ đề 40

2.5.1 Giới thiệu quy trình thực hiện trò chơi theo chủ đề 40

2.5.2 Xây dựng trò chơi theo chủ đề 40

Trang 6

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Thực nghiệm 61

3.2 Mục đích thực nghiệm 61

3.3 Nội dung thực nghiệm 61

3.4 Thời gian thực nghiệm 63

3.5 Đối tượng, phạm vi thực nghiệm 63

3.6 Tổ chức thực nghiệm 64

3.7 Kết quả thực nghiệm 64

3.8 Đánh giá kết quả thực nghiệm 66

KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 69

1 KẾT LUẬN: 69

2 KIẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 7

STT Viết đầy đủ Viết tắt

Trang 8

STT Nội dung Trang

1 Bảng 3.1 Bảng thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của 64

lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

2 Bảng 3.2: Bảng phân tích định tính kết quả thực nghiệm 66

tại Tiểu học Hạ Hòa – huyện Hạ Hòa – Tỉnh Phú Thọ

3 Bảng 3.3 Bảng so sánh kết quả thực nghiệm cả lớp thực 67

nghiệm

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chon đề tài

Môn Tiếng Việt ở Tiểu học đóng vai trò rất quan trọng trong sự hìnhthành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc.viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trưởng hoạt động của lứa tuổi Đồngthời, môn Tiếng Việt còn góp phần quan trọng trong việc giúp các em học sinhhọc các môn học khác như: Toán, Tự nhiên xã hội, Âm nhạc,…Chúng ta cầndạy cho các em biết cách sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp trong môn tiếngViệt ở Tiểu học bao gồm các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập làmvăn, Tập viết và Luyện từ và câu, mỗi phân môn đều có những vai trò riêng Tuynhiên phân môn Tập làm văn là phân môn đóng vai trò quan trọng hơn đối vớiviệc phát triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và đối với học sinh lớp 5 nóiriêng Chương trình Giáo dục phổ thông mới dược phê duyệt năm 2018 có nêumục tiêu giáo dục Tiểu học "giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tốcăn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩmchất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đinh,cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt" Đểthực hiện được mục tiêu trên thì một trong những biện pháp dạy học không thể

bỏ qua đó là tạo cho các em học sinh hứng thủ học tập, lôi cuốn các em vàonhững trò chơi hấp dẫn, phù hợp với nhận thức và tâm sinh lí của cácem.Phương pháp dạy và học TLV ở lửa tuổi HS lớp 5 là đặc biệt quan trọng đốivới sự phát triển toàn diện của trẻ vì vậy cần có phương pháp dạy và học phùhợp và hiệu quả Việc sử dụng các hình thức trò chơi học tập là rất phù hợp,đồng thời giúp các em thể hiện được năng lực, sự tự tin, tích cực của mình vàtạo hiệu quả cho học TLV Khi lớp học đáp ứng được nhu cầu "Học mà chơi -chơi mà học" sẽ đáp ứng được nhu cầu mà xã hội đang quan tâm Tuy nhiên cácnguồn tư liệu: sách giáo viên, các sách thiết kế giáo án còn chưa có tính phongphú Một số trò chơi để đáp ứng được hiệu quả bài học thì còn đôi hỏi cao vềcông tác chuẩn bị, cơ sở vật chất của trường học khiến giáo viên rất khó ápdụng, có thể sẽ làm cho học sinh nhàm chán, giảm hiệu quả tiết học Trò chơi

Trang 10

xuất phát từ nội dung bài học là hoạt động góp phần làm cho học sinh hứng thúhọc tập, tạo không khí và tâm thế thoải mái trước giờ học hay củng cổ nắm chắckiến thức đã học, kích thích tư duy sáng tạo và cách rèn kĩ năng Như Giáo sư -Tiến sĩ Bùi Văn Huệ đã khẳng định: "Khi giảng bài, cô giáo sử dụng đồ dùnghọc tập đẹp, màu sắc sặc sỡ, tổ chức các trò chơi phong phú, các em sẽ reo lên:

"Đẹp quá!", "Thích quá!" Do đó, những bài giảng khô khan không tạo cho họcsinh những cảm xúc tích cực mà còn làm cho các em mệt mỏi, chán nản, căngthẳng Nhận thấy tầm quan trọng ấy, phân môn TLV hiện nay ngày càng đượccác nhà sư phạm quan tâm, nhiều công trình mới được nghiên cứu, ứng dụng vềviệc nâng cao chất lượng dạy và học TLV Và việc nâng cao chất lượng dạy vàhọc không thể không kể đến đó là phương pháp trò chơi - một phương phápđược đánh giá là hiệu quá trong việc phát triển toàn diện cho HS Tuy nhiên,qua thực trạng chung và quả trình khảo sát ở trường một số trường Tiểu học tôinhận thấy việc đưa trò chơi học tập vào dạy TLV chưa thật sự được ưu tiên.Việc đưa trò chơi học tập vào giờ học còn nhiều hạn chế bởi chi phối của một sốyếu tổ như: thời gian, cơ sở vật chất, năng lực của giáo viên, hứng thú của họcsinh, hay các trò chơi được vận dụng còn chưa phù hợp với bài học hay đặcđiểm lứa tuổi của trẻ, Ví dụ khi GV muốn tổ chức trò chơi cho HS thì đòi hỏiphải chuẩn bị trò chơi, nghiên cứu xem có phù hợp với lứa tuổi của trẻ, khi tổchức cần có thời gian, không gian, nên đa phần GV chỉ truyền tải kiến thức cótrong sách giáo khoa một cách khô khan làm HS uể oải Chính vì sự căng thẳng,mệt mỏi, chán nản,…dẫn đến hiệu quả giờ học chưa đạt được như mong muốn.Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi nhận thấy sự cần thiết của vấn đề và tôimạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Đổi mới dạy học phân môn Tập làm văn ở lớp 5bằng các trò chơi theo chủ đề”

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

- Phân tích được cơ sở lí luận về DH TLV và các dạng tổ chức trò chơi theo chủ đề

Trang 11

- Xây dựng các trò chơi theo chủ đề theo tinh thần đổi mới để giúp học sinh học tập tốt hơn.

- Làm rõ khả năng hiệu quả của việc dạy học phân môn Tập làm văn thông qua tổ chúc trò chơi theo chủ đề

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích đƣợc lí thuyết để làm nền tảng triển khai đề tài

- Xây dựng đƣợc các trò chơi theo chủ đề trong phân môn TLV nhằmphát triển tƣ duy và nâng cao hiệu quả của dạy học tích cực, chủ động sáng tạocủa học sinh

- Tổ chức thực nghiệm để kiểm tra đƣợc tính hiệu quả của các trò chơi theo chủ đề

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về đổi mới dạy học phân môn Tập làm văn lớp 5 bằng các trò chơi theo chủ đề

-Tổ chức đƣợc các trò chơi theo chủ đề nhằm phát triển tƣ duy và nâng cao hiệu quả của dạy học tích hợp trong môn học

- Thực nghiệm sƣ phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả củaviệc về đổi mới dạy học phân môn Tập làm văn lớp 5 bằng các trò chơi theo chủđề

5 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về hệ thống trò chơi theo chủ đề trong phân môn Tập làm vănlớp 5

Trang 12

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu xây dựng, tổ chức một số trò chơi họctập trong phân môn TLV lớp 5A trường Tiểu học Hạ Hòa, huyện Hạ Hòa, tỉnhPhú Thọ

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài: các sách nghiên cứu

về dạy học đổi mới, các trò chơi có liên quan đến bài học và phù hợp với họcsinh tiểu học Xây dựng cơ sở khoa học về mặt lí luận cho đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát

Sử dụng phương pháp quan sát (dự giờ, quan sát quá trình dạy học môntiếng Việt ở trường Tiểu học) nhằm bổ sung cho lí luận

6.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Đây là một trong những phương pháp chính của đề tài Mục đích củaphương pháp này nhằm đánh giá thực trạng, đề xuất một số biện pháp, thựcnghiệm sư phạm

6.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tổng kết kinh nghiệm của các giáo viên Tiểu học về việc dạy học đổimới cho học sinh lớp 5 nhằm phát huy tính chính xác và nhanh nhẹn của họcsinh

6.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm là phương pháp đặc biệt cho phép tác động lên đối tượngnghiên cứu một cách chủ động, can thiệp có ý thức vào quá trình diễn biến tựnhiên để hướng quá trình ấy diễn ra theo mục đích mong muốn

Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quảcủa việc về đổi mới dạy học phân môn Tập làm văn lớp 5 bằng các trò chơi vănhọc

6.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Trang 13

Nhằm thu thập thông tin, xử lí các số liệu và phân tích kết quả nghiêncứu.

6.2.6 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Xin ý kiến của GV hướng dẫn, một số giảng viên bộ môn Tiếng Việttrong khoa và các thầy cô ở trường Tiểu học về nội dung nghiên cứu để hoànthiện đề tài

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của DH Tập làm văn theo chủ đề

- Chương 2:Thiết kế trò chơi theo chủ đề trong dạy học

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TẬP

LÀM VĂN THEO CHỦ ĐỀ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài

Tổ chức các trò chơi học tập cho học sinh Tiểu học là một biện phápgiảng dạy tích cực giúp học sinh phát triển toàn diện kiến thức, kĩ năng, khảnăng tư duy, óc sáng tạo, luôn tự tin, năng động,.Trên thế giới có rất nhiều nhàtâm lí học, các nhà văn học nổi tiếng quan tâm đến vẫn để tố chức trò chơihọc tập cho học sinh Tiểu học này Một số đại biểu cho rằng nguyên nhân kíchthích hành vi ý chí là những hứng thú trí tuệ, một số khác cho rằng ý chí của conngười đấy đến hành động là do kích thích cảm xúc,…Trong số đó không thểkhông nhắc đến A.I.Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng vềđặc thủ dạy học kết hợp với trò chơi: "Trò chơi học tập là một quá trình phứctap, nó là hình thức day học và đồng thời nó vẫn là trò chơi Khi các mỗi quan

hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biển mất và khi ấy, trò chơi biển thànhtiết hoc, đôi khi biến thành sự luyện tập" Cho thấy vai trò của trò chơi hết sứcquan trọng, một chút sự thay đổi trong cách giảng dạy tưởng như nhỏ này lại cóvai trò vô cùng to lớn đổi với tư duy, khả năng ghi nhớ và hứng thú học tập củacác em lửa tuổi Tiểu học Theo N.X.leytex: "Tuổi Tiểu học là thời kì của sựnhập tâm và tích lũy tri thức, thời ki mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế" chúng hay tò

mò, thích khám điều mới lạ, giàu trí tưởng tượng, Hoc sinh Tiểu học thiếukiên trì, bền bỉ, dễ hưng phấn nhưng cũng nhanh chán nên chúng không tậptrung cao độ Vì vậy, người GV cần tạo ra hứng thú trong học tập một cáchthường xuyên không thể không nói đến đó chính là tổ chức các trò chơi học tậpmới lạ thú, hấp dẫn các em

Đại diện cho khung hướng sử dụng trò chơi học tập làm phương phát triểntoàn diện phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng LA.Komenxiki.Ông coi trò chơi làhình thức hoạt động cần thiết phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ.Tròchơi học tập là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả nâng của

Trang 15

trẻ được phát triển.Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, làphương tiện phát triển toán diện của trẻ LA.Komenki đã khuyến người lớn phảichú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo cho trẻ.LB.Bazedow cho rằng: Trò chơi là phương tiện dạy học Ông cho rằng nếu trêntriết học GV sử dụng các phương pháp chơi hoặc tiến hành triết học dưới hìnhthức chơi sẽ đáp ứng được nhu cầu của người học và tất nhiên hiệu quả giờ học

sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: Trò chơi gọitên, trò chơi phất triển kĩ năng, trò chơi đoán từ trải nghiệm, trò chơi điền các từcòn thiểu, Theo ông những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui våphát triển năng lực trí một số nghiên cứu ở nước ngoài

Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trở chơi với mục đích dayhọc được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức

Ph Phrocbel (1782-1852).Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kếthợp dạy học với trò chơi cho trẻ.Quan điểm của ông về trò chơi phản ánh cơ sở

lý luận sư phạm duy tâm thần bí Ông cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận thứcđược cái khởi đầu do thượng để sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức đượcnhững qui luật tạo ra thể giới, tạo ra ngay chính bản thân mình Vì thế, ông phủnhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi Ph.Phroebel cho rằng,nhà giáo dục chi cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, ông dể cao vai trò giáodục của trỏ chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng nhưphát triển tu duy, trí tưởng trợng của trẻ [11, tr22]

I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học Theo ông, nếu trêntiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết họcdưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm củangười học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ thống tròchơi học tập dùng lời như: Trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quáttên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điển những từ còn thiếu

Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triểnnăng lực trí tuệ của chúng [11, tr25-26]

Trang 16

Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn để sử dụng trò chơi dạy họctrên “tiết học" được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia,VR.Bexpalova, E.LUdalsova R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy họcbằng trò chơi Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những "tiết học" dướituệ hình thức trò chơi, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp ngườihọc lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tưởng đó Bà đã soạn thảo ra một số

“tiết học – trò chơi" và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng [11 tr 30]

Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập trong dân gian còn có một số hệ thốngtrò chơi dạy học khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây dựng Đại diện chokhuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học làm phương tiện phát triển toàn diệncho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc LA.Komenxki(1592-1670).Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bảnchất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệnghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phúthêm vốn hiểu biết.Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, làphương tiện phát triển toàn diện cho trẻ, I.A.Komenxki ý đến trò chơi dạy họccho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi

1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu cách tổ chức các trò chơi học tập trong phân môn TLV nhiềunhà nghiên cứu trong nước đã có những công trình nghiên cứu và những ý kiếnxung quanh trò chơi học tập và sử dụng trò chơi học tập đối với phân môn

Theo Nguyễn Trí dạy học ở bậc Tiểu học nhất là ở các lớp 1, 2, 3 nếu biết

sử dụng đúng lúc đúng chỗ các trò chơi học tập thi sẽ có tác dụng rất tích cực,kích thích hứng thú học tập và tạo chất luợng cao cho bài học Tiếng Việt

Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Khắc Tuân (Tác giả cuộc thi viết sáchbài tập và sách tham khảo) của nhà xuất bản giáo dục dã nêu ra những vấn đề cơbản sau:

+ Đưa trò chơi vào lớp học nhằm mục đích gi?

+ Trò chơi nào có thể đưa vào lớp học?

+ Trò chơi được sử dụng vào lúc nào?

Trang 17

+ Tổ chức trò chơi trong giờ học như thế nào?

Các tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên) khi biên soạn tải liệu sử dụng tròchơi học tập trong phân môn Tiếng Việt 2, 3 đã chú ý tới trò chơi cụ thể, tuynhiên các tác giả không đi sâu vào từmg địa phương bản, từng đổi tượng HS để

có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí

Gần đây trong tác phẩm “Trò chơi trẻ em", tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã

để cập đến trò chơi trí tuệ.Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trítuệ của trẻ.Trong tác phẩm này, bà đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành chotrẻ em [39]

Còn tác giả Trần Thị Ngọc Trâm đã thiết kế một hệ thống trò chơi học tậpnhằm phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo lớn [34]

Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng để cập đếnviệc xây dựng và sử dụng trò chơi day học nhằm phát huy tính tích cực củangười học Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại xem xét các trò chơi dạy học ở các bộmôn khác nhau, chẳng hạn: Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và

sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5- 6 tuổi.Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm pháttriển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi).Tác giả đã nêu ra một số biện phápnhằm phát huy tính tích cực học tập của hoc sinh thông qua việc xây dựng và sửdụng trò chơi học tập.Tuy nhiên các tác giả mới dừng lại ở đó, chưa đi sâu cụthể vào phân môn Tập làm văn với đối tượng xác định

Điểm qua một công trình nghiên cứu về tổ chức trò chơi học tập để dạy họctrải nghiệm nói chung và trong phân môn TLV nói riêng, tôi nhận thấy các côngtrình chủ yếu đi vào diện rộng, việc tổ chức trò chơi học tập cụ thể trong phânmôn TLV cho đối tượng HS xác định thì gần như chưa có công trình nào đi sâu

cụ thể, đây chính là khoảng trống để để tài của tôi tiếp tục nghiên cứu

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 5

a, Đặc điểm về nhận thức

Trang 18

- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.

- Nhu cầu nhận thức hình thành và phát triển ở trẻ em từ tuổi thơ Đến lớpmẫu giáo lớn thì nhu cầu này phát triển mạnh, xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầunhận thức và phương thức thỏa mãn nó ở mẫu giáo, nghĩa là phương thức hoạtđộng vui chơi với tư cách là hoạt động chủ đạo ở mẫu giáo và xuất hiện hoạtđộng học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo

- Trở thành học sinh lớp một nhu cầu nhận thức của trẻ em phát triển và thểhiện rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biếtmọi thứ có liên quan Trước hết là nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượngriêng lẻ tiếp đến lớp trên là nhu cầu gắn liền với sự phát triển nguyên nhân, tínhquy luật các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng Nếu họcsinh lớp một có nhu cầu tìm hiểu “cái này là cái gì” thì học sinh lớp 5 lại có nhucầu trả lời được các câu hỏi thuộc loại “tại sao”, “như thế nào” nhu cầu thamquan đọc sách cũng tăng lên với sự phát triển các kĩ năng quan sát, kĩ năng đọc.Lúc đầu là nhu cầu có tính chất chung sau đó là nhu cầu có tính chọn lọc theonhu cầu sở thích của các em Những truyện cổ tích, truyện viễn tưởng có nhiềutình tiết li kì, phiêu lưu được nhiều em ưa thích là sự phát triển tốt và tất yếuđối với trẻ em lứa tuổi này

- Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học là nhu cầu tinh thần Nhu cầu này

có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của các em Nếu không có nhu cầu nhậnthức thì học sinh cũng sẽ không có tính tích cực trí tuệ Không có nhu cầu nhậnthức học sinh nghĩ rằng mình học và thầy cô, vì cha mẹ, vì một điều gì đó chứkhông phải vì sự tiến bộ trong học tập Thường thì nhu cầu nhận thức, nhu cầuđược học là nhu cầu tự nhiên của trẻ, những nhu cầu này có thể bị ức chế dập tắt

từ chính việc học của các em

b, Đặc điểm về tri giác

- Tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiệntượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, trị giác của trẻ đã mang tính mục đích, cóphương hướng rõ ràng- tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết

Trang 19

sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, ) Nhận thấy điềunày chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tíchchất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, trigiác tích cực và chính xác.

- Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng

nề về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưachính xác, để mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn Học sinh các lớp đầu cấp tiểuhọc trị giác còn yếu thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri giác

- Học sinh các lớp đầu cấp tiểu học khi trị giác thường gắn với hành động,với hoạt động thực tiễn của bản thân Đối với trẻ, tri giác sự vật có nghĩa là phảilàm cái gì đó với sự vật, hiện tượng như cầm, sờ, nắm các sự vật ấy Những gìphù hợp với nhu cầu của các em những gì các em thường gặp trong cuộc sống

và gắn với hoạt động của bản thân, những gì được giáo viên chỉ dẫn thì mớiđược các em trị giác Điều này cũng được các thế hệ tiếp nhau chiêm nghiệm vàtruyền lại cho nhau “trăm nghe không bằng tay quen”, trăm lần thấy không bằngmột lần tự làm

- Trị giác của học sinh tiểu học không tự nó phát triển Trong quá trình họctập, khi trị giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, khi trở nên phức tạp

và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽmang tính chất của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển tri giác của họcsinh, giáo viên tiểu học có vai trò rất lớn Giáo viên là người hằng ngày khôngchỉ dạy cách nhìn, hình thành kĩ năng nhìn cho học sinh, mà còn cần chú ýhướng dẫn các em biết xem xét

c, Đặc điểm về tư duy

- Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể dựa vào những đặcđiểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Theo J.Piaget (nhà tâm líhọc Thụy Sĩ) tư duy của trẻ em từ 7 đến 10 tuổi còn ở giai đoạn những thao tác

cụ thể, điều này được thể hiện rất rõ quan những tiết học đầu tiên khi trẻ mới tớitrường đầu năm lớp một) Trong tư duy của học sinh tiểu học tính trực quan thểhiện rất rõ

Trang 20

- Quá trình học tập theo phương pháp nhà trường tạo cho học sinh tiểu học

có sự phát triển về tư duy, từng bước chuyển từ cấp độ nhận thức các sự vật vàhiện tượng chỉ vẻ bề ngoài, các biểu hiện để nhận thức bằng cảm tính đến nhậnthức được những biểu hiện bản chất của chúng Điều này có tác dụng hình thành

ở học sinh khả năng tiến hành thao tác khái quát hóa đầu tiên, thao tác so sánh đầu tiên , tiến tới khả năng suy luận sơ đẳng

d, Đặc điểm về tình cảm

- Học sinh tiểu học dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm củamình Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua các quá trình nhận thức, quátrình tri giác, tưởng tượng, tư duy.Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu xúccảm, tư duy của các em (đặc biệt là học sinh lớp một, lớp hai) cũng được màuxúc cảm.Dễ xúc cảm nên học sinh tiểu học cũng dễ xúc động.Từ bản chất này

mà trẻ em yêu mến một cách chân thực đối với cây cối, chim muông, cảnh vật,những con vật nuôi trong nhà.Vì thế mà trong các bài văn, trong vui chơi các emthường nhân cách hóa chúng Đặc biệt, trước những lời khen, chế của giáo viênthì học sinh bộc lộ ngay sự xúc cảm, xúc động của mình như vui, buồn, các emcười đấy nhưng có thể khóc được ngay, buồn đấy nhưng rồi cũng vui đùa ngay

- Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâusắc Các em đang ưa thích đối tượng này, những nếu có đối tượng khác hấp dẫnhơn đặc biệt hơn thì dễ dàng bị lôi cuốn vào đó và lãng quên đốitượng cũ.Đặcđiểm này tạo cho các em nhanh chóng thiết lập tình bạn, cho nhau cái kẹo, viênphấn cho mượn quyển sách, cây bút, đi về cùng lối là thành tình bạn Nhưng chỉmột vài trục trặc nho nhỏ trong quan hệ là dễ “bất hòa”, tuy nhiên tất cả những

“bất hòa” này đều nhanh chóng quên đi và lại làm lành với nhau một cách hồnnhiên

- Ở lứa tuổi học sinh tiểu học nếu xúc cảm về một sự vật, nhân vật nào đóđược củng cố thường xuyên trong cuộc sống và thông qua các môn học, thôngqua các hoạt động thì sẽ hình thành được tình cảm sâu đậm, bền vững Đó chính

là lòng yêu kính Bác Hồ, yêu quý cha mẹ, thầy cô giáo,

e Đặc điểm về tưởng tượng

Trang 21

- Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của họcsinh tiểu học Nếu tưởng tượng của học sinh phát triển yếu, không đầy đủ thì sẽgặp khó khăn trong hành động, trong học tập Khi học về lịch sử thì học sinhphải hình thành trong tưởng tượng về bức tranh quá khứ, khi tìm hiểu về địa líthì nhất thiết phải có biểu tượng về cảnh quan, về khí hậu, về phong tục của cácvùng miền, của các nước khác.

- Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so vớitrẻ em tuổi mẫu giáo lớn Nó được hình thành và phát triển trong hoạt động học

và các hoạt động khác của các em.Tuy nhiên tưởng tượng cho học sinh tiểu họccòn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thayđổi, chưa bền vững

- Càng về những năm cuối tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần vớihiện thực hơn Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn ,

để lĩnh hội được tri thức khoa học từ quá trình học tập Về mặt cấu tạo hìnhtượng, tưởng tượng của học sinh tiểu học chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít vềkích thước, về hình dạng những tưởng tượng đã tri giác được.Sở dĩ như vậy là

vì các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính kháiquát và trừu tượng hơn

Đặc điểm sinh lí

- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo,gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô(xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tớicác hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơivận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các emvào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự antoàn cho trẻ

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy củacác em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu

Trang 22

tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, cáccuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các

em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

- Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm, trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg.Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm(nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ làtrung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xêdịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần / phút, mạch máutương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh

1.2.2 Trò chơi học tập và tổ chức trò chơi theo chủ đề trong dạy học tiếng Việt

1.2.2.1 Trò chơi học tập.

Trên quan điểm Macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi

có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từthế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục [11]

Tác giả Đặng Thành Hưng thì cho rằng trò chơi là một thuật ngữ có hainghĩa khác nhau tương đối xa:

+ Một là kiểu phổ biến của trò chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quytắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặctính thách thức đối với người tham gia

+ Hai là nhưng thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thứcchơi, như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rènluyện

thân thể dưới hình thức chơi…

Các trò chơi đều có luật lệ, qui tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết

kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản.Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và tổ chức, vì thế luậthay qui tắc chính là phướng tiện tổ chức tập hợp đó Tóm lại, trò chơi chính là

sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện, bất giác không gọi là trò chơi [19]

Trò chơi là hoạt động rất quen thuộc và gần gũi với con người Cũngnhư lao động hoc tập, trò chơi nơi là một loại hình hoạt động sống của con

Trang 23

người Trò chơi có chứa đựng chủ đề, nội dung nhất định, có những quy tắc màngười chơi phải tuân thủ.Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí songđồng thời lại có ý nghĩa giáo dục lớn đối với con người.Trò chơi có ý nghĩa đặcbiệt đối với lứa tuối trẻ em Trò chơi tạo ra tất cả những điều kiện để trẻ em thểhiện những nhu cầu tự nhiên về hoạt động, tạo ra ở trẻ em những rung động thực

tế và giúp các em giải uyết những vấn đề quan trọng trong cuộc sống Trong khichơi, trẻ em phản ánh hiện thực xung quanh, đồng thời thể hiện thái độ nhất địnhđối với môi trường Đối với trẻ em, chơi có nghĩa là hoạt động, là khơi gợi trongmình những cảm giác và ước mơ, là cố gắng thể hiện những ước mơ đó, là trigiác và phản ánh một cách sáng tạo thế giới vào trong tư tưởng của mình Đúngnhư Amgoroki đã nhận xét: “Trò chơi là con đường để trẻ em nhận thức thếgiới, là nơi chúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần phải thay đổi"

Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của HS Tiểu học Dùkhông còn là hoạt động chủ đạo sống vui chơi vẫn giữ một vai trò quan trọngtrong hoạt động sống của trẻ, vẫn có một ý nghĩa lớn lao với trẻ Lí luận và thựctiễn đã chứng minh rằng: “Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lý,đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục" Qua trò chơi, các em khôngnhững được phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn được hình thànhcác phẩm chất và hành vi đạo đức tốt Chính vì vậy, việc tổ chức TCHT được sửdụng như là một phương phápquan trọng để góp phần phát triển toàn diện cho

HS Vì hoạt động trò chơi luôn thúc đẩy trẻ em: Nhận thức hiện thực và Hìnhthành những kiến thức nhất định

Vậy trò chơi là gì?

Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thoả mãn nhu cầu giải trí

đa dạng của con người Trò chơi là một phương pháp giáo dục thực hành hiệunghiệm nhất đối với việc hình thành nhân cách, trí tuệ của trẻ Trò chơi là mộthình thức dưỡng sinh của người lớn tuổi, giúp họ hăng hái, thư giãn, vui vẻ, trẻtính Đặc biệt đối với trẻ em: Trò chơi không phải là một hoạt động bản năng,cũng không phải vì thừa năng lượng nên chơi mà vì do mẫu thuẫn giữa nguyện

Trang 24

vọng của trẻ em muốn được trực tiếp tham gia vào cuộc sống của người lớn vớikhả năng của mình Nhưng khả năng đó chưa đầy đủ nên nảy sinh trò chơi.Vậy trò chơi là một hình thức đặc thù độc đáo của trẻ em để thực hiện sựtác động tương hỗ giữa chủ thể với môi trường xung quanh (trẻ em nhận thứcthế giới thông qua trò chơi).

Trong trò chơi trẻ không mô phỏng lại cuộc sống của người lớn mà chủyếu là chúng tái tạo lại các hành động, các quan hệ qua lại của họ một cách độcđáo bằng hành động và hình tượng, đồng thời khi tái tạo các quan hệ của ngườilớn, trẻ bộc lộ được thái độ, cảm xúc của mình Khi chơi trẻ sống một cuộc sốngthực đầu tiên chính trong hoạt động chơi chứ không phải hoạt động nào khác.Trẻ thực sự là một chủ thể tích cực hoạt động, giao tiếp và chủ động vận dụngcác ấn tượng, các kinh nghiệm đã có để củng cố, khái quát thành kiến thức và đểhình thành nhân cách Chính vì vậy, khi chơi trẻ rất cần được người lớn tổ chức,hướng dẫn để đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất

* Sự khác nhau giữa trò chơi thông thường và trò chơi học tập

Khác với trò chơi thông thường nhăm vào mục dích giải trí, trò chơi họctập thuộc nhóm trò chơi có luật là do người to chức nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng

nó vào mục đích giáo dục và dạy học hướng tới sự phát triển trí tuệ cho trẻ Ta

có thể hiểu như sau:

Trò chơi học tập sẽ thường được tổ chức ở trong lớp học hoặc trên sântrường Còn đối với trò chơi khác thì có thể duoc tổ chức ở mọi nơi tùy thuộcvào mục đích và hoàn cành của trò chơi

Đối với người tổ chức, trò chơi học tập sẽ là đội ngũ các nhà sư phạm cóchuyên mòn nghiệp vụ huớng dẫn, to chức trò chơi Còn trò chơi thông thườngthì có thể do người chơi tự tổ chức hay cá tập thế, ban ngành, công ti, tổ chức.Thông thưòng mỗi trò chơi học tập cu thể sẽ dành cho những người cùng độtuổi bằng nhau tham gia (cùng là hoc sinh,sinh viên ) Còn trò chơi thôngthường thì thàng phần tham gia sẽ tự do, mọi tầng lớp, mọi lứa tui

Trang 25

Về luật chơi của trò chơi học tập bao giờ cũng rô ràng và có aăn đe tránhcác trưởmg hop không dạt được mục tiêu giáo dục thông qun trở choi Còn tròchơi khác thi có trở có thể có luật ân, có trò thì có sân luật (trò chơi dân gian.)

Nội dung, nhiệm vụ chơi cua trò chơi học tập có hệ thông, gần bó chặt chẽvới chương trinh, nội dung bài học của người học, trò chơi học áp sẽ dirợc ápdụng cụ thể dành cho môn học hay lớp học Còn tròn chơi thông thường có thểbao gồm nhiều lĩnh vực, nhiêu chuyên ngành khác nhau

1.2.2.2 Phân loại trò chơi học tập

Có nhiều cách phân loại trò chơi, tuy nhiên căn cứ theo các chức năngtâm li của học sinh, trở chơi học tập có nhiều loại khác nhau như:

+ Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan: Rên luyện sự tinhnhanh của đôi mắt, đôi tai, tức là rên luyện và phát triển hành động nhạy camcủa trẻ

+ Trò chơi học tập nhằm rên luyện thao tác từ duy: Giúp học sinh so sánh,phân tích sự vật hiện tượng theo dầu hiệu bên ngoài Trong quá trình phân tíchtrẻ sẽ phát hiện những dấu hiệu giống nhau, khác nhau giữa các đối tượng, để diđến sự sắp xếp của sự vật, hiện tượng theo những dấu hiệu chung nhất nhưvậy khả năng khái quát sẽ được hình thành trong trẻ

+ Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tưong tượng: Đây là loại trò chơi

må học sinh sử dụng vốn hiểu biết của mình đã sẵn có dể thực hiện các thao táckhi chơi,

+ Trò chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ: Rèn luyện và phát triển trí nhớhọc sinh về khái niệm, biểu tượng, mả các em dã duợc học Khá năng ghi nhớ,tái hiện của các em phụ thuộc vào ân tượng mạnh hay yếu của thế giới tác độngvào các giác quan của trẻ

+ Trò chơi học tập giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, sự chú ý của học sinh

Sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối giúp ta dễ nhận ra ý nghĩa, vaitrò của trò chơi học tập đoi với sự phát triển toàn diện cho trẻ của trò chơi đốivới trẻ em

Trang 26

1.2.2.3 Mục đích giáo dục của trò chơi học tập

GV phải làm sao cho trò chơi không trở thành nguyện vọng duy nhất củatrẻ và cần phải làm sao để trò chơi có tác dụng giáo dục những thói quen tâm lý

và thể lực cần thiết cho công việc học tập cũng như sinh hoạt của trẻ, không làmtrẻ lãng quên hoàn toàn các mục đích xã hội Ở lửa tuổi còn nhỏ, mục đích củacác trò chơi mang tính bất chước thuần tuý và có thể gọi đó là những mục đíchmang tính chất ước lệ Càng lớn, mục đích chơi càng được tính toán cần thận và

có mục đích rõ rằng Để có thể đạt được mục đích của trò chơi GV cần phải có

sự kết hợp khéo léo với HS, phải tạo được nhu cầu cho trẻ và lôi cuốn dần đứatrẻ vào lĩnh vực lao động Đây là một quá trình diễn ra chậm chạp song liên tục.Quá trình chuyển từ trò chơi sang việc tổ chức cuộc sống và lao động diễn ra vớicác hoạt động: Có mục đích có yếu tố lý trí nhiều hơn Các phương pháp tiếnhành thực tế hơn Các kĩ năng tổ chức hình thành khi chơi có thể chuyển thành

kĩ năng tổ chức lao động cuộc sống Lưu ý nếu bước chuyển tiếp từ trò chơisang công việc quá dột ngột sẽ không đem lại hiệu quả giáo dục

1.2.2.4.Vai trò của trò chơi học tập

Ở tiểu học sinh tiểu học là lứa tuổi ghi nhớ máy móc tương đối tốt vàchiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, có chủ định còn yếu, đối tượngcảm xúc của trẻ là những sự vật hiện tượng sinh động Mà theo quan điểm dạyhọc, quá trình dạy học là một qui trình đi từ trực quan sinh động đếntư duy trìutượng đến thực tế cuộc sống Học sinh tiểu học tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế,phương pháp dạy học theo hướng một chiều: Giáo viên truyền thụ, học sinh tiếpnhận khiến cho học sinh mệt mỏi trong giờ học dẫn đến khó tiếp thu bài học.Học là hoạt động trong đó học sinh là chủ thể tổ chức dạy học sao cho học sinhphải luôn được vận động vừa sức, tiếp thu được đầy đủ kiến thức cần đạt Màtrò chơi lại là nhu cầu không thể thiếu với trẻ và là một trong những hình thứcđáp ứng yêu cầu đó

Việc tổ chức trò chơi trong quá trình dạy học là rất cần thiết, đa dạnghình thức dạy học, thay đổi không khí lớp học, học sinh năm bất kiến thức mộtcách tự giác, thoải mái,

Trang 27

Trò chơi giúp học sinh phát triển thêm những điều mới với những gì đãtiếp cận trong sách giáo khoa, cũng là những kiến thức ấy những cách đón nhậnhấp dẫn sẽ giúp trẻ thích thú sẽ giúp trẻ ghi nhớ lâu và đồng thời học sinh cũngđược luyện tập các kĩ năng mà các em đã được học tập.

Qua vui chơi các em sẽ được rèn luyện các tinh huống khác nhau buộcmình phải có sự lựa chọn hợp lí, tự mình phát hiện những điểm mạnh, điểm yếucủa bản thân dể tiếp tục phát huy hay hạn chế Nhờ vậy mà các em còn tích lũyđược những kinh nghiệm sống và sửa chữa những sai sót của tư duy,

Sân chơi hoc tập còn rèn cho học sinh rất nhiều kĩ năng sống cần thiết như: Kĩnăng tổ chức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ứng xử kĩ năng hợp tác, kĩ năng kiểm trađánh giá Tất cả kĩ năng là điều quan trọng cần được phát huy tích cực trongmỗi học sinh

Qua trò chơi thì các em còn được rèn luyện về thể chất một cách tự nhiên,rèn sự nhanh nhẹn, hoạt bát, tự tin, Đặc biệt sự phối hợp nhịp nhàng các độngtác vận dộng và sự phát triển tư duy, trung ương thần kinh càng được phát triểnchuẩn xác

Trò chơi học tập bên cạnh chức năng giải trí còn giúp học sinh tự củng cốkiến thức, kĩ thuật, thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theonhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp) Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độtập trung của học sinh mà không một phương pháp nào sánh được Những kiếnthức khô khan và cứng nhắc sẽ sinh động, hấp dẫn nếu được tổ chức dưới hìnhthức trò chơi và nhờ đó kết quả học tập của học sinh sẽ tăng lên Như vậy, việc

sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung và trong dạy học tiếng Việt nóiriêng là một trong những biện pháp tăng cường tích cực hoá hoạt đọng học tậpcủa học sinh Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh thể hiện quacác tiết học có trò chơi làm tăng thêm cảm tình của các em đối với môn học vàthầy cô giáo

Việc tìm được phương án giải khác nhau cho một “bài toán” trò chơi giúpcác em hiểu sâu sắc hơn về những tri thức đã học, có thói quen tìm tòi phương

án giải quyết tốt nhất, hay nhất và đơn giản nhất Và khi đó, các em thể hiện

Trang 28

niềm vui, hứng thú với những thành tích mà mình đạt được, thể hiện niềm vui

do trò chơi mang lại và cảm thấy vui sướng khi được tham gia vào trò chơi Từ

đó hình thành ở các em tính tích cực, ý thức tự giác trong học tập, bởi vì “trong giờ lên lớp nào mà tư duy tích cực được kích thích thì cũng sẽ xuất hiện thái độ tích cực đối với học tập, sẽ hình thành hứng thú nhận thức”.

Mặt khác, trong trò chơi, muốn hoàn thành nhiệm vụ đặt ra và chơi đúngquy tắc thì các em phải chú ý, tích cực lắng nghe sự hướng dẫn của giáo viên

Từ đó, trẻ em “dần dần học tập, hành động theo đúng quy tắc, bắt tính tích cực của mình phục vụ những nhiệm vụ nào đó, kiên trì phấn đấu đạt tới những kết quả và những thành tựu nhất định” (A, V Daparogiet - Tâm lí học).

Trò chơi là chiếc cầu nối môn tiếng với thực tiễn, bởi vì thông qua tròchơi các em thấy ứng dụng quan trọng của môn tiếng Việt trong thực tiễn Vànhư vậy là đã phát huy được tính tích cực nhận thức của các em

Trò chơi học tập là một trong những phương tiện hình thành các năng lựctrí tuệ

Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định củaquá trình tâm lí Trong trò chơi, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý có chủ định vàghi nhớ có chủ định Khi chơi trẻ tập trung chú ý hơn và ghi nhớ được nhiềuhơn Bởi vì bản thân trò chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung vào những dữ kiện và đốitượng được đưa vào tình huống của trò chơi cũng như nội dung của trò chơi.Nếu đứa trẻ không chú ý và nhớ những điều kiện của trò chơi, thì sẽ hành độngmột cách tự phát và không đạt được kết quả chơi Bởi vậy, để trò chơi đượcthành công buộc các em phải tập trung chú ý và ghi nhớ một cách chủ động.Trò chơi học tập tiếng Việt đẩy mạnh sự phát triển năng lực trí tuệ và phục vụcho mục đích ấy vì đôi khi trò chơi đề ra cho các em “bài toán” trí tuệ, và việcgiải quyết các “bài toán” này đòi hỏi phải thể hiện những hình thức hoạt động trítuệ muôn hình, muôn vẻ Trong khi tham gia trò chơi, để giành phần thắng, các

em phải linh hoạt, tự chủ, phải độc lập suy nghĩ, phải sáng tạo và có lúc phải tỏ

ra quyết đoán Việc xây dựng và tổ chức các trò chơi đã giúp các em vận dụng,

Trang 29

sáng tạo cách tìm “chiến lược” giành phần thắng trong trò chơi ban đầu và cáctình huống mới, trò chơi mới.

Đồng thời những kinh nghiệm được rút ra từ các mối quan hệ qua lạitrong lúc chơi cho phép đứa trẻ đứng trên quan điểm của những người khác đểphán đoán hành vi sắp xảy ra của bạn, trên cơ sở đó mà lập kế hoạch hành động

và tổ chức hành vi của bản thân mình sao cho phù hợp

Như vậy, trò chơi học tập tiếng Việt tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng,khả năng linh hoạt độc lập sáng tạo cần thiết cho hoạt động học tập và lao độngsau này của các em

Vui chơi ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh nóichung và của học sinh Tiểu học nói riêng Tình huống trò chơi đòi hỏi mỗi đứatrẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định.Nếu các em không diễn đạt được mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đốivới trò chơi, nếu không hiểu được lời chỉ dẫn của thầy cô hay lời bàn bạc củacác bạn cùng chơi, thì không thể nào tham gia vào trò chơi được (hoặc tham giakhông có kết quả) Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng chơi, trẻ phảiphát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc Trò chơi chính là điều kiện kíchthích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng

Bên cạnh đó, trò chơi học tập có ý nghĩa đối với sự phát triển trí tưởngtượng của học sinh Tiểu học Trong hoạt động vui chơi các em học thay thế đồvật này bằng đồ vật khác, nhận đóng các vai khác nhau Năng lực này là cơ sở

để phát triển trí tưởng tượng Chính hoạt động vui chơi đã làm nảy sinh hoàncảnh chơi, tức là làm nảy sinh trí tưởng tượng

Trong khi chơi, trẻ ra sức tưởng tượng (đặc biệt là các trò chơi đóng vai)

và vì vậy ngôn ngữ trao đổi rất phong phú Những hình ảnh tưởng tượng vừangây thơ vừa đáng yêu (cũng có lúc phi lí) này không chỉ đem lại cho tuổi thơniềm hạnh phúc mà còn cần cho mỗi người sau này lớn lên, dù đó là người laođộng chân tay, nhà khoa học hay người nghệ sĩ Phương tiện có hiệu quả nhất

để nuôi dưỡng trí tưởng tượng – đó là trò chơi

Trò chơi học tập thực hiện chức năng hoạt động luyện tập thực hành

Trang 30

Trò chơi học tập thực hiện chức năng của hoạt động thực hành vì các em

có điều kiện vận dụng những kiến thứuc đã học khi tham gia vào trò chơi Các

em được hình thành những kĩ năng phân biệt được bản chất trong các kiến thứctiếng Việt ở mỗi trò chơi, hiểu được sâu sắc và đầy đủ hơn các tri thức đã học.Qua đó, những thiếu sót trong hoạt động trí tuệ và trong tri thức của các em cũngđược phát hiện Từ đó giáo viên có biện pháp bổ sung và điều chỉnh kịp thời chocác em

Bên cạnh đó, trò chơi học tập còn là một trong những phương tiện đểkhắc phục những trở ngại khác nhau trong hoạt động trí tuệ của từng em thôngqua các trò chơi cá nhân và tập thể Bởi vì đã là trò chơi thì phải có trao đổi tưtưởng, tri thức giữa các thành viên trong một nhóm khi tham gia trò chơi Thôngqua trò chơi, các em có điều kiện để thể hiện mình, biết hợp tác với bạn bè đểtìm được cách trả lời tốt nhất Và thông qua trò chơi này, giáo viên có thể tìmhiểu được nguyên nhân yếu kém, chậm tiến của các em để có biện pháp khắcphục, luyện tập nhiều lần cho trẻ và nâng cao dần trình độ cho các em

Trò chơi học tập tiếng Việt giúp hình thành đức tính trung thực, có kỉ luật,tính độc lập, tự chủ, có ý thức cao

Khi tham gia trò chơi, học sinh phải tuân thủ theo những quy tắc nhấtđịnh (đã được nêu trước trò chơi) Việc các em tiếp nhận và tuân theo nhữngquy tắc đó giúp các em có khả năng tự kiềm tra và kiểm tra lẫn nhau trong tròchơi Khi tham gia vào trò chơi, nhập vai quan hệ với các bạn cùng chơi buộccác em phải đem những hành động của mình phục tùng những yêu cầu nhất địnhbắt nguồn từ ý đồ chung của trò chơi Việc thực hiện quy tắc của trò chơi trởthành một trong những yếu tố cơ bản của trò chơi, làm cho các thành viên trongnhóm hợp tác chặt chẽ với nhau Để giành phần thắng trong các trò chơi tập thể,các em phải biết cùng chơi, biết giúp đỡ lẫn nhau, biết dung hoà lợi ích cá nhânvới lợi ích tập thể, tức là các em biết điều tiết hành vi của mình theo chuẩn mựccủa xã hội

Bên cạnh đó, dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, để tổ (nhóm)mình giành phần thắng, các em ở trong tổ thi đua nhau cùng làm bài và giữ gìn

Trang 31

trật tự Qua đó, có thể giáo dục đức tính trung thực, thật thà, ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức tự giác, tính độc lập, tự chủ và ý thức tôn trọng tập thể của các em Khi đã xác nhận rằng vui chơi là một hoạt động cần thiết của học sinh tiểu học, thì đồng thời cũng cần nhận biết rằng việc tổ chức các trò chơi cho trẻ là cực kì quan trọng và có ý nghĩa giáo dục to lớn Tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộcsống của trẻ, vì trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người.

Ngoài ra, khi chơi trò chơi sẽ tạo nên bầu không khí thi đua:cá nhân thiđua với cá nhân, nhóm thi đua với nhóm, không những vậy còn tạo nên tinhthần đoàn kết từ các đội vì khi thi đua thì tất nhiên đội nào cũng muốn dànhchiến thắng

Trò chơi học tập là một con đường giáo dục trẻ một cách toàn diện vàđúng đắn Trò chơi học tập tiếng Việt kích thích hứng thú nhận thức

1.3 Phân môn Tập làm văn trong chương trình Tiểu học

1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu của phân môn Tập làm văn trong chương trình tiểu học.

Vị trí của phân môn Tập làm văn

Trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, Tập làm văn là một phânmôn độc lập, có vị trí ngang bằng, song song tồn tại với các phân môn khácnhư: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết Ở lớp 2 và 3 Tập làm vănđược dạy 1 tiết/ tuần và tăng lên 2 tiểt/ tuần ở lớp 4 và 5 Như vậy nội dung dạyTập làm văn ở tiểu học chiếm một tỉ lệ đáng kể Điều đó nói lên ý nghĩa quantrọng của phân môn Tập làm văn ở bậc hoc Tiểu học

Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản Nó

có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì:

Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng hoàn thiện một cách tổng hợp các kiếnthức, kĩ năng, Tiếng việt mà các phân môn tiếng việt khác:Học vần, Chính tả,Tập viết, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình thành

Thứ hai, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh ngônbản nhờ đó Tiếng Việt không chỉ xem xét từng phần, từng mặt qua từng phânmôn trở thànhmột công cụ tổng hợp để giao tiếp Như vậy, phân môn Tập làm

Trang 32

văn đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ làdạy học sinh dùng được tiếng Việt để giao tiếp, tư duy học tập.

Tính chất của phân môn Tập làm văn

- Tính chất tổng hợp của phân môn Tập làm văn bộc lộ trên các mặt:

+ Phân môn Tập làm văn sử dụng toàn bộ các kĩ năng hình thành pháttriển do nhiều phân môn khác nhau của môn Tiếng Việt đảm nhiệm (Kĩ năngviết chữ, kĩ năng viết chính tả, kĩ năng đọc, nghe, nói )

+ Phân môn Tập làm văn còn sử dụng kiến thức và kĩ năng do nhiều mônhọc khác trong nhà trường cung cấp như: các kiến thức và kĩ năng của môn Tựnhiên- xã hội, môn Đạo đức, môn Âm Nhạc, môn Mĩ thuật, môn Lịch sử và Địalí

+ Phân môn Tập làm văn còn huy động toàn bộ vốn sống của học sinh cóliên quan đến đề bài Tả một cây đang ra hoa hoặc quả, tà một con mèo đang bắtchuột, tả một con gả đang kiểm ăn học sinh không chỉ huy động vốn tri thứcqua các bài học mà còn phải huy động tất cả vốn sống, tình câm, ấn tượng, cảmxúc, kí ức còn lưu giữ được về các con vật hoặc cây cối đó Có như vậy bàivăn mới sinh động và có hồn

Bài văn – kết quả của phân môn Tập làm văn phản ánh trình độ sử dụngTiếng Việt, những tri thức và hiểu biết đời sống của học sinh.Tập làm văn làphân môn tổng hợp chiếm vị trí quan trọng trong việc đánh giá năng lực TiếngViệt của học sinh

- Tính chất sáng tạo của phân môn Tập làm văn:

+ Khi làm bài văn, học sinh đã thực hiện một hoạt động giao tiếp Mỗi bàivăn của các em là sản phẩm không lặp lại của từng học sinh trước một đề bài Dobài văn đó của học sinh là nơi bày tỏ con người của các em trước một số vấn

đề của cuộc sống Trong một hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, học sinh được chủđộng, tự do thể hiện cái "tôi" của mình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng củamình một cách trọn vẹn Vì vậy bài văn mang đậm màu sắc cá nhân, là sản phẩmkhông lập lại của mỗi học sinh không hề giống nhau của nhiều học sinh đối vớicùng một đề bài Dạy làm văn là dạy các em tập cách suy nghĩ riêng, tập sáng

Trang 33

tạo, tập thể hiện trung thực con người mình Vì thế bài văn của học sinh dù là tập làm văn nhưng vẫn mang tính sáng tạo.

Mục tiêu của dạy học Tập làm văn nhằm:

- Trang bị kiến thức và rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm văn, kĩ năng xây dựng văn bản

- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng: quan sát, dùng từ, đặt câu, phân tích tìm

ý, dựng đoạn

- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duyhình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, xúc cảm thẩm mĩ, hình thành nhân cách chohọc sinh Nhiệm vụ phân môn Tập làm văn:

Sản phẩm Tập làm văn là các ngôn bản ở dạng nói và dạng viết theo cácdạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định Nói cách khác mục đíchcủa Tập làm văn là giúp cho học sinh tạo ra được các ngôn bản và viết theophong cách khác nhau do chương trình quy định Nhiệm vụ dạy học Tập làmvăn là hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh Năng lựctạo lập ngôn bản được phân tích thành các kĩ năng bộ phận như:Xác định mụcđích nói, lập ý và triển khai ý thành lời dưới dạng nói, viết thành câu, đoạnbài.Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn là cung cấp cho học sinh những kiếnthức và hình thành phát triển những kĩ năng này Ở tiểu học phân môn Tập làmvăn có nhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo các nghi thức lời nói, nói viết các ngônbản thông thường, viết một số các văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả

Ngoài kĩ năng chung để viết văn miêu tả, mỗi loại văn bản cụ thể đòi hỏi

có những kĩ năng đặc thù Ví dụ: Để viết văn miêu tả cần có kĩ năng quan sát,diễn đạt một cách có hình ảnh, để viết các đoạn văn kể chuyện cần có kĩ năngxây dựng cốt chuyện và nhân vật, kĩ năng lựa chọn chi tiết Phân môn Tập làmvăn có nhiệm vụ rèn luyện các kĩ năng này

Ngoài nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập ngôn bản, phân môn Tậplàm văn đồng thời góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho họcsinh

Trang 34

Phân môn Tập làm văn rèn luyện tư duy hình tượng Từ óc quan sát đếntri tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến khả năngnhào nặn các chất liệu trong đời sống thực để xây dựng nhân vật, cốt chuyện.Khả năng tư duy logic của HS cũng được phát triển trong quá trình phân tích,tổng hợp, phân loại tự chọn.

Để giao tiếp phải có thái độ đúng đắn đối với đối tượng giao tiếp Phânmôn Tập làm văn khi dạy các nghi thức đồng thời dạy cách cư xử đối với mọingười như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng Để viết văn cần có hiểu biết vàtình cảm đối với đối tượng được viết Vì vậy phân môn Tập làm văn đã tạo chohọc sinh sự hiểu biết về tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với mọingười và vạn vật xung quanh, từ một cơn mưa, một buổi sáng đẹp trời Từ đâytâm hồn và nhân cách của các em được hình thành và phát triển

1.3.2 Chương trình dạy học Tập làm văn 5

Cấu trúc chương trình học được công bố cụ thể theo từng tuần học nhưsau:

Tiết 2: Tả cảnh ( kiểm tra viết )

5 Tiết 1: Luyện tập làm báo cáo thống kê

Tiết 2: Trả bài văn tả cảnh

6 Tiết 1: Luyện tập làm đơn

Tiết 2: Luyện tập tả cảnh

7 Tiết 1: Luyện tập tả cảnh

Trang 35

Tiết 2: Luyện tập làm đơn

Tiết 1: Cấu tạo của bài làm văn tả người

12

Tiết 2: Luyện tập tả người

Tiết 1: Luyện tập tả người ( tả ngoại hình )

13

Tiết 2: Luyện tập tả người ( tả ngoại hình )

Tiết 1: Làm biên bản cuộc họp

14

Tiết 2: Luyện tập làm biên bản cuộc họp

Tiết 1: Luyện tập tả người ( tả hoạt động )

15

Tiết 2: Luyện tập tả người ( tả hoạt động )

Tiết 1: Tả người ( Kiểm tra viết )

16

Tiết 2: Làm biên bản một vụ việc

Tiết 1: Ôn tập về viết đơn

Tiết 2: Lập chương trình hoạt động

Tiết 1: Lập chương trình hoạt động

21

Tiết 2: Trả bài văn tả người

Tiết 1: Ôn tập về kể chuyện

22

Tiết 2: Kể chuyện ( kiểm tra viết )

Trang 36

23 Tiết 1: Lập chương trình hoạt động

Tiết 2: Trả bài văn kể chuyện

24 Tiết 1: Ôn tập về tả đồ vật

Tiết 2: Ôn tập về tả đồ vật

25 Tiết 1: Tả đồ vật ( kiểm tra viết )

Tiết 2: Tập viết đoạn đối thoại

26 Tiết 1: Tập viết đoạn đối thoại

Tiết 2: Trả bài văn tả đồ vật

27 Tiết 1: Ôn tập về tả cây cối

Tiết 2: Tả cây cối ( kiểm tra viết )

28 Ôn tập giữa kì 2

29 Tiết 1: Tập viết đối thoại

Tiết 2: Trả bài văn tả cây cối

30 Tiết 1: Ôn tập về tả con vật

Tiết 2: Tả con vật ( kiểm tra viết )

31 Tiết 1: Ôn tập về tả cảnh

Tiết 2: Ôn tập về tả cảnh

32 Tiết 1: Trả bài văn tả con vật

Tiết 2: Tả cảnh ( kiểm tra viết )

33 Tiết 1: Ôn tập tả người

Tiết 2: Tả người ( kiểm tra viết )

34 Tiết 1: Trả bài văn tả cảnh

Tiết 2: Trả bài văn tả cảnh

Trang 37

1.4 Cơ sở thực tiễn

1.4.1 Thực tiễn việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trường

Tập làm văn là một môn học chiếm vị trí quan trọng trong chương trìnhtiểu học hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế, việc dạy và học phân môn TLV ở tiểuhọc hiện nay còn rất nhiều vấn để bất cập

Về phía người dạy, đây quả là một phân môn khó, đòi hỏi HS phải tổng hợpđược kiến thức, phải thể hiện sự rung cảm cá nhân, phải biết thể hiện tiếng mẹ

để một cách trong sáng Trong quá trình giảng dạy, hai thái cực thường xảy ra:Hoặc hướng dẫn chung chung để học sinh tự mày mò, hoặc dùng "văn mẫu",học sinh cứ việc sao chép.Cả hai cách trên đều làm cho HS không biết làm văn,ngại học văn, mặc dù vẫn có tình yêu đối với văn học (ví dụ rất thích đọctruyện) Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, một phần là do trình độ nhậnthức, năng lực sư phạm của GV, cũng có thể chính ngay trong GV cũng thiếunhững tri thức khoa học cũng như vốn sống thực tế Một nguyên nhân nữa đó là

"bệnh thành tích" trong Giáo dục.Vấn đề này cho thấy, nhiều GV chưa đánh giáđúng mức vị trí của môn Tiếng Việt trong chương trình tiểu học và đặc biệt làphân môn TLV Phải hiểu rất rõ rằng: phân môn TLV là môn thực hành tổnghợp, là kết quả của các môn học, đồng thời cũng là môn tạo tiền đề để học tốtcác môn học khác Bởi lẽ, bất cứ môn học nào cũng cần biết quan sát, nhận xét,diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, sáng sủa

Về phía học sinh, kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế còn rấtnhiều lỗ hổng

Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có em chưa từng đượcđến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác Nhiều HS

ở thành phố chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng,hoặc được ngắm nhìn những đêm trăng sáng, hoặc quan sát cánh đồng lúa khithì xanh mướt, lúc thi vàng óng, trĩu bông Qua đó có thể thấy, khi làm bài,

nhiều HS không hề nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả và đã viết khôngchân thực Do vậy bài văn khó có thể truyền cảm cho người đọc Việc học tập trênlớp, vì thiếu tập trung và chưa có phương pháp học nên cũng có những hạn

Trang 38

chế nhất định Có HS khi đọc đề bài lên, không biết mình cần viết những gì vàviết như thế nào, viết cái gì trước, cái gì sau, Hơn nữa, hiện nay, trên các cửahàng sách GD có bày bản rất nhiều sách tham khảo, văn mẫu từ các luồng khácnhau nên đã tạo điêu kiện cho HS chép văn mẫu.

Tuy nhiên, lỗi không ở các bài “văn mẫu" mà là ở chỗ sử dụng các bài vănmẫu đó như thế nào Nếu GV và cha mẹ HS biết tận dụng các bài văn thamkhảo đó sẽ là những tư liệu tốt để HS có kiến thức về thế giới tự nhiên và xãhội, học được cách viết văn (bố cục, viết câu, sử dụng từ ngữ, ), bồi dưỡng tìnhyêu thiên nhiên, yêu con người, tình yêu tiếng Việt, Ngoài ra có thể kể đến cácnguyên nhân khác, như sự hấp dẫn của các trò chơi hiện đại Ngoài giờ học, các

em thường bị thu hút vào các trò chơi GAMES hoặc các trang WEB hấp dẫnkhác trên INTERNET mà quên đi rằng thế giới thiên nhiên xung quanh các emthực sự hấp dẫn Trẻ em ngày nay đang bị lãng quên một thế giới thơ mộng ởxung quanh, cái thế giới mà phải chi nhà văn Tô Hoài mới có Đó là thế giới củaruộng đồng, cây côn trùng, của mưa, của gió hay nói cách khác chính là sự trảinghiệm của HS Đây mới là thế giới có khả năng làm phong phú tâm hồn tuổithơ vàrèn luyện đầu óc quan sát,nhận xét,…

Việc đọc sách của các em cũng được xem nhẹ.Phần lớn HS có nhữngtruyện tranh không mang tính giáo dục Trò chuyện, tiếp xúc với bố, với nhữngngười thân trong gia đình và cộng đồng cũng rất hạn chế bởi những người làmviệc: người lớn thì bận và các em thì ở trường cả ngày, tối về lại ôn bài Chonên vốn liếng về cuộc sống, về văn học HS còn hạn chế

Trong các nhân nguyên trên, quan nguyên nhân - Việc dạy TLV trong nhàtrường Tiểu học còn bất cập là nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng học tậpTLV phân môn đạt hiệu quả không cao.Vì vậy, tổ chức trò chơi trong phân mônTập làm văn là một giải pháp phủ hợp để phục hồi trạng về thái phục hồi.chơihọc tập trong phân môn Tập làm văn lớp 5, trường Tiểu học, tỉnh Phú Thọ

Trang 39

1.4.2 Những vấn đề đặt ra trong tổ chức dạy học Tập làm văn theo tinh thần đổi mới

Trong nghị quyết số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo đào tạo có nêu:„‟Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thứcsang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.Học đi đôi với hành;

dục-lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và

xã hội ‟‟[13,tr2] Điều đó có nghĩa là xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay là xuhướng dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học, chú trojngphasthuy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho HS

Song, thực tế công tác triển khai hoạt động dạy học môn tập làm văn nóichung và dạy học các trò chơi học tập môn tập làm văn nói riêng trong tiếng việthiện nay của các trường gặp không ít khó khăn Đặc biệt khi dạy học môn TLVhầu như ít được quan tâm Dạy học vẫn nặng kiến thức trong sách vở, làm bàitheo khuân mẫu, học sinh ít được tiếp xúc thực tế Thực tế hiện nay còn một số

GV chưa định hình được PP dạy tập làm văn cho phù hợp với mục đích và nộidung của bài học đặt ra, Nên hiệu quả của các tiết TLV nhìn chung còn chưacao.Dạy TLV thường nghiêng về cung cấp những tri thức lí thuyết, trìu tượng,chưa thực sự chưa tạo được nhu cầu giao tiếp, điều kiện giao tiếp cần thiết cho

HS Hoạt động trải nghiệm trong giờ học còn chưa hiệu quả, lúng túng khi vậndụng lí thuyết vào thực hành Hầu hết các học học sinh vẫn giữa thói quen thụđộng, chưa tích cực chủ động, tìm tòi, khám phá

Đổi mới phương pháp dạy học là: Đổi mới cách tiến hành các phươngpháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sởkhai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một sốphương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS.Chính vì vậy mà giáo viên khi dạy phân môn Tập làm văn, phải coi trọng yếu tốthực hành nói, trình bày ý tưởng của mình trong nhóm, lớp và vận dụng khi viếttrong suốt quá trình dạy Nghĩa là, dạy cho học sinh kĩ năng trình bày văn bản.Mỗi tiết dạy phải giảm sự giảng giải của giáo viên, tăng thời gian hoạt động chohọc sinh (đặc biệt là hoạt động giao tiếp) theo Phương pháp mới Dạy Tập làm

Trang 40

văn phải giúp cho học sinh sản sinh văn bản có cảm xúc, chân thực thì khi nói vàviết mới thuyết phục được người nghe, người đọc Cụ thể là:

+ Ở Tiểu học, các em học chủ yếu các kiểu bài tập làm văn thuộc thể loại: kểchuyện, miêu tả, viết thư Đây là thể loại văn thuộc phong cách nghệ thuật nênđòi hỏi bài nói, bài viết phải giàu cảm xúc, phải có cái "hồn" Do vậy, giáo viênphải luôn luôn tạo cho các em có tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, tấmlòng nhân hậu qua việc chiếm lĩnh kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hóa, tựnhiên và xã hội ở cả 9 môn học

+ Mặt khác, mỗi bài Tập làm văn đòi hỏi phải có tính chân thực Muốn vậy, giáoviên phải uốn nắn học sinh tránh (lối nói và viết) giả tạo, già trước tuổi (biểuhiện cụ thể là sao chép văn mẫu) mà cần nhẹ nhàng chỉ cho học sinh những thiếusót và hướng cho các em cách sửa, cách làm bài phù hợp với tâm lý lứa tuổi.Đổi mới phương pháp dạy học cũng chính là việc tích cực hóa hoạt động củahọc sinh trong quá trình học tập Ở đây, giáo viên cần giúp học sinh biết tự mìnhkhám phá những tri thức mới Qua đó, các em sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì

đã chủ động lĩnh hội được và như vậy học sinh sẽ nắm được kiến thức mộtcách sâu sắc hơn

Mục đích của sáng kiến này giúp Giáo viên có cơ sở để dạy cho HS viếtđoạn văn trong bài văn tốt hơn

Ngày đăng: 21/06/2023, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Cục nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục (2017), Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trưởng Tiểu học, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỹ năng xây dựngvà tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trưởng Tiểu học
Tác giả: Cục nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục
Nhà XB: NXB Đạihọc Sƣ phạm
Năm: 2017
[3] Nguyễn Xuân Cảnh (chủ biên), (2017), Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục, trài nghiệm sáng tạo cho HSTHCS, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạtđộng giáo dục, trài nghiệm sáng tạo cho HSTHCS
Tác giả: Nguyễn Xuân Cảnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2017
[4] Phan Thành Công (2016), Tiếng Việt phát triển và nâng cao bồi dưỡng hocb sinh khá giỏi lớp 5, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt phát triển và nâng cao bồi dưỡng hocb sinh khá giỏi lớp 5
Tác giả: Phan Thành Công
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2016
[5] Nguyễn Hữu Châu ( 2005), Dạy học kiến tạo, vai trò của trẻ và quan điểm kiến tạo trong dạy học, Tạp chí dạy và học ngày nay, số 5/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học kiến tạo, vai trò của trẻ và quan điểm kiến tạo trong dạy học
[6] Nguyễn Thị Chi ( Chủ biên) ( 2005), Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động, Giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho HS Tiểu học(Tài liệu dùng cho giáo viên ), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạtđộng, Giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho HS Tiểu học(Tài liệu dùng cho giáoviên )
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[07] Nguyễn Thị Thu Chi ( chủ biên) (2017). Kĩ năng xây dựng và tổ chức cáchoat động trải nghiệm sáng tạo trong Tiểu học, NXB Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng xây dựng và tổ chức cáchoat động trải nghiệm sáng tạo trong Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Chi ( chủ biên)
Nhà XB: NXB Sƣ phạm
Năm: 2017
[08] Bùi Ngọc Diệp ( 2013), Hoạt động giáo dục của trường tiếu học giai đoạnsau năm 2015, Nhiệm vụ nghiên cứu cấp Bộ, Mã số: V2013 - 03NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục của trường tiếu học giai đoạnsau năm 2015
[09] Lê Ngọc Điệp ( chủ biên) ( 2004), Rèn kĩ năng TLV lớp 5 tập một, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng TLV lớp 5 tập một, tập hai
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[11] Hà Nhật Thăng, Đặng Vũ Hoạt (1998), Tổ chức hoạt động giáo dục, NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục
Tác giả: Hà Nhật Thăng, Đặng Vũ Hoạt
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1 Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của 64 - Đổi mới dạy học phân môn tập làm văn ở lớp 5 bằng các trò chơi theo chủ đề
1 Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của 64 (Trang 8)
Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. - Đổi mới dạy học phân môn tập làm văn ở lớp 5 bằng các trò chơi theo chủ đề
Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 71)
Bảng 3.2: Bảng phân tích định tính kết quả thực nghiệm tại Tiểu - Đổi mới dạy học phân môn tập làm văn ở lớp 5 bằng các trò chơi theo chủ đề
Bảng 3.2 Bảng phân tích định tính kết quả thực nghiệm tại Tiểu (Trang 73)
Bảng 3.3. Bảng so sánh kết quả thực nghiệm cả lớp thực - Đổi mới dạy học phân môn tập làm văn ở lớp 5 bằng các trò chơi theo chủ đề
Bảng 3.3. Bảng so sánh kết quả thực nghiệm cả lớp thực (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w