Luật đầu tư 2020, Luật doanh nghiệp 2020 đang là những đạo luật chủ chốt điều chỉnh vấn đề đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế, những quy định đổi mới trong Luật này dựa trên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
- -
VĂN THỊ XUÂN DIỆU
THỦ TỤC ĐẦU TƯ THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ ĐỂ THỰC HIỆN
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
THỦ TỤC ĐẦU TƯ THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ ĐỂ THỰC
HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: VĂN THỊ XUÂN DIỆU KHOÁ: K43 MSSV: 1853801090010
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S TỪ THANH THẢO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khoán luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được
thực hiện dưới dự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Từ Thanh Thảo, đảm bảo tính
trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 06 năm 2022
Tác giả khoá luận
Văn Thị Xuân Diệu
Trang 4DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ngoài
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI DƯỚI HÌNH THỨC THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế 7
1.2 Khái quát về thành lập tổ chức kinh tế của NĐTNN 9
1.2.1 Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài 9
1.2.2 Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài 10
1.2.3 Pháp luật điều chỉnh hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
CHƯƠNG 2 THỦ TỤC THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ HIỆN HÀNH 20
2.1 Thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài 20
2.1.1 Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 21
2.1.2 Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đoanh nghiệp 27
2.1.3 Các nghĩa vụ cần thực hiện sau khi tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài được thành lập 31
2.2 Bất cập trong quy định của pháp luật về đầu tư và đề xuất hoàn thiện 34 2.2.1 Bất cập trong việc quy định và quản lý “dự án đầu tư” của nhà đầu tư nước ngoài 34
2.2.2 Đề xuất hướng hoàn thiện quy định pháp luật về “dự án đầu tư” 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 39
KẾT LUẬN 40 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6ký kết, nổi trội trong số đó là hai Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA với cơ chế đàm phán mở cửa thông thoáng hơn rất nhiều cho NĐTNN khi gia nhập thị trường Việt Nam
Theo thống kê bốn tháng đầu năm 2022, đã có 10,8 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam Cụ thể, vốn đầu tư tăng thêm là 5,29 tỉ USD, tăng 92,5% so với cùng kỳ1, con số này chứng minh rằng Việt Nam vẫn đang tiếp tục là địa điểm thu hút đầu tư nước ngoài rất mạnh mẽ Với sự phát triển mạnh mẽ này, để đảm bảo tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa nhà đầu tư (NĐT) trong nước và nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN), Việt Nam cần hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý điều chỉnh về đầu tư Luật đầu tư 2020, Luật doanh nghiệp 2020 đang là những đạo luật chủ chốt điều chỉnh vấn đề đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế, những quy định đổi mới trong Luật này dựa trên tinh thần Nghị quyết 50-TW của Bộ Chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam
Luật đầu tư 2020 được đánh giá là văn bản pháp lý mở ra một bước ngoặt mới cho NĐTNN tiếp cận môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Cụ thể, trong thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, thời gian tiến hành các bước đăng ký đã được giảm thiểu giúp NĐTNN giảm thiểu chi phí và thời gian để hoàn tất thủ tục đầu tư Không những thế, Luật đầu tư 2020 còn đặt ra những ưu đãi về đầu tư rất có lợi cho NĐTNN trong nhiều lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh Ngoài ra, Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường cũng đã được ban hành, từ đó, đảm bảo được sự nhanh chóng trong
1 Phong Nguyễn, “Việt Nam tiếp tục hấp dẫn dòng vốn ngoại”,
https://laodong.vn/kinh-te/viet-nam-tiep-tuc-hap-dan-dong-von-ngoai-1049875.ldo, truy cập ngày 25/06/2022
Trang 72
việc tra cứu ngành, nghề cũng như điều kiện tiếp cận thị trường của những ngành, nghề đó mà NĐTNN cần đáp ứng khi tiến hành đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới Tuy nhiên, sau quá trình hai năm đi vào thực tiễn áp dụng, thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế theo Luật đầu tư 2020 vẫn còn bộc lộ một số hạn chế Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn nội dung “Thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện dự án đầu tư của NĐT nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” nhằm trình bày khái quát những quy định chung về thủ tục này, đồng thời chỉ ra những điểm mới tích cực
và những vướng mắc còn tồn tại để có thể tháo dỡ những nút thắt về đầu tư, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, phát triển thu hút NĐTNN tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tác giả dựa trên cơ sở một số luận văn thạc sĩ và khoá luận tốt nghiệp làm nền tảng cho định hướng nghiên cứu Các tài liệu được tác giả chú trọng bao gồm:
- Luận văn thạc sĩ luật học: “Thủ tục đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Huỳnh Châu Phúc (2010)
- Luận văn thạc sĩ: “Thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài” của tác giả Phạm Anh Phương (2019)
- Khoá luận tốt nghiệp: “Thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện dự
án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Luân (2017)
- Khoá luận tốt nghiệp: “Thành lập doanh nghiệp và góp vốn vào doanh nghiệp của NĐTNN theo pháp luật Việt Nam” (2020) của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Chi Các tài liệu được đề cập đưa ra những quy trình rất rõ ràng để NĐTNN có thể tiến hành đầu tư theo hình thức thành tập tổ chức kinh tế Tuy vậy, hầu hết tài liệu được tác giả sử dụng đã tiếp cận thủ tục đầu tư theo hình thức này dưới góc độ lập pháp của Luật đầu tư 2005, Luật đầu tư 2014 Những văn bản này đến hiện tại đã không còn giá trị hiệu lực, nhưng tác giả đã tham khảo nội dung từ tài liệu và thực hiện phân tích, đối chiếu với các quy định thực tiễn trong Luật đầu tư 2020 để đúc kết những quy định tương đồng, cập nhật những điểm đổi mới tích cực của hệ thống văn bản pháp lý về đầu tư hiện hành
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu của tác giả hướng đến hai mục đích chính:
Trang 83
Thứ nhất, tìm hiểu các quy định khái quát cũng như chuyên sâu về thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của NĐTNN theo Luật đầu tư 2020 và Luật doanh nghiệp 2020 Thứ hai, dựa trên cơ sở so sánh thông tin từ các tài liệu, tác giả hướng đến việc đưa ra cái nhìn khách quan cho từng thủ tục, việc áp dụng thủ tục trên thực tế có gì giống và khác so với quy định của pháp luật Ngoài ra, tác giả cũng phân tích và chỉ
ra điểm mới và điểm hạn chế của pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực đang nghiên cứu
và đề ra kiến nghị sửa đổi nhằm tích cực hỗ trợ vào việc cải thiện môi trường pháp lý
về đầu tư kinh doanh trong tương lai cho NĐTNN
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu chính của khoá luận là thủ tục thành lập các loại hình tổ chức kinh tế được phép của NĐTNN tại Việt Nam
Đề tài nghiên cứu những nội dung trong phạm vi Luật đầu tư 2020 và Luật doanh nghiệp 2020 và các văn bản pháp lý chuyên ngành, hướng đến phân tích những nội dung cốt lõi trong thủ tục thành lập tổ chức kinh tế như chấp thuận chủ trương đầu
tư, xin cấp các loại giấy phép để hoạt động đầu tư kinh doanh
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả khoá luận vận dụng linh hoạt một số phương pháp sau để tiến hành việc nghiên cứu nội dung đề tài:
Thứ nhất, phương pháp phân tích và tổng hợp Tác giả sử dụng phương pháp này
để tiến hành khai thác thông tin từ văn bản luật và các tài liệu chuyên ngành như các bài báo khoa học, khoá luận, luận văn và sách chuyên khảo để làm rõ vấn đề đang được nghiên cứu, từ đó định hướng bản chất của một nội dung trong thủ tục ở giai đoạn ban đầu
Thứ hai, phương pháp duy vật biện chứng Đây là phương pháp nền tảng được tác giả sử dụng để đối chiếu quy định giữa hệ thống văn bản luật đầu tư và thực tiễn
áp dụng pháp luật trên thực tế Từ đó tổng hợp được tổng hoà các bước trong thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và chỉ ra một số điểm nổi trội trong những bước này Thứ ba, phương pháp so sánh Nội dung của đề tài so sánh giữa các văn bản luật các thời kỳ với nhau để đánh giá những điểm tích cực hoặc hạn chế của thủ tục đầu
tư thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam
Trang 94
6 Bố cục tổng quát của khoá luận
Ngoài các nội dung trong Phần mục lục, Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm 2 chương:
- Chương 1: Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài
- Chương 2: Thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài, lỗ hổng pháp lý trong thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý hiện hành
Trang 101.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tiền đề của FDI đã dần xuất hiện từ thời kỳ tiền tư bản khi các công ty của các nước châu Âu bắt đầu đầu tư vào các nước châu Á để khai thác nguồn tài nguyên thiện nhiên và tận dụng chi phi sản xuất thấp từ các nước kèm phát triển Đến thế kỷ
19, quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển nhanh chóng, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã tích luỹ được một khối lượng tư bản lớn và nảy sinh tình trạng “tư bản thừa tương đối”, cần tìm nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận hơn so với đầu tư ở trong nước Trong khi đó, nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới, nhưng lại thiếu tư bản, giá ruộng đất thấp, tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn đầu tư tư bản Do đó, tạo động lực thúc đẩy xuất khẩu tư bản ở các nước phát triển sang các nước kém phát triển
Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu: Đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếp Nội dung của khoá luận này chỉ tập trung vào hình thức đầu tư trực tiếp để phù hợp với phạm vi bài viết
Trên thế giới, có nhiều quan điểm và định nghĩa về FDI được đưa ra:
Trang 116
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), FDI được hiểu là một hình thức đầu tư được thực hiện bởi NĐT (doanh nghiệp, cá nhân) ở nền kinh tế này vào nền kinh tế khác mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho NĐT, và thiết lập quyền quản lý thực sự đối với doanh nghiệp của mình.2
Theo Uỷ ban Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD) xét dưới góc độ sở hữu cho rằng: Luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi NĐT trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà NĐT trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI
Tổ chức Thương mại thế giới – WTO đưa ra nhận định để định nghĩa FDI như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một NĐT từ một nước (nước chủ đầu tư)
có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó
Luật Đầu tư 2014 (đã hết hiệu lực) và Luật Đầu tư 20203 (đang có hiệu lực) không có sự định nghĩa cụ thể về FDI mà chỉ nêu một cách khái quát về định nghĩa
tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và NĐTNN Trong đó, “tổ chức kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài” được định nghĩa là tổ chức kinh tế có NĐTNN là thành viên
hoặc cổ đông4 và “NĐTNN” là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, hoặc tổ chức được
thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam5 Như vậy, mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể, nhưng Luật Đầu tư vẫn thể hiện sự thống nhất về mối quan hệ giữa vai trò và lợi ích của NĐTNN khi thực hiện một dự án FDI, đó là NĐTNN trực tiếp đầu tư vốn đầu tư vào một đối tượng ở quốc gia khác nhằm giành quyền quản lý hay xa hơn là tìm kiếm lợi nhuận từ đối tượng
đó
Các định nghĩa của IMF, UNCTAD và WTO đều có sự tương đồng, FDI là hình thức mà nguồn vốn hình thành từ 100% vốn nước ngoài, không bao gồm vốn của
2 IMF, Cẩm nang về Cán cân Thanh toán (Balance of Payment Manual), xuất bản lần thứ năm
3 Luật Đầu tư 2020 đã được sửa đổi bởi Luật số 03/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự, sau đây sẽ được gọi tắt là Luật Đầu tư 2020
4 Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư 2014, Khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17/06/2020, sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư 2020
5 Khoản 13 Điều 3 Luật Đàu tư 2014, Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư 2020
Trang 127
nước tiếp nhận đầu tư6, còn đối với Việt Nam, FDI có thể có nhiều hình thức được công nhận bao gồm cả việc góp vốn, liên doanh với các công ty trong nước.7
Theo một cách hiểu thông thường hơn, tác giả có thể giải thích định nghĩa “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài” bằng việc chia thuật ngữ này hai cấu thành của nó: đầu tư trực tiếp và đầu tư nước ngoài
Đầu tư trực tiếp là hình thức chủ đầu tư bỏ ra một lượng tài sản đủ lớn để lập cơ
sở sản xuất mới hoặc mua lại các cơ sở sản xuất hiện có và trực tiếp quản lý các tài sản đó Hình thức đầu tư này còn được gọi là đầu tư phát triển Đầu tư trực tiếp có sự phân biệt tương đối với đầu tư gián tiếp: trong đầu tư gián tiếp, chủ đầu tư bỏ ra tài sản (chủ yếu dưới dạng vốn) để mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, v.v… nhằm hưởng lợi tức mà không trực tiếp quản lý những tài sản ấy
Đầu tư nước ngoài là một hoạt động đầu tư, nhưng nó có điểm đặc biệt bởi hoạt động này không bị giới hạn trong cùng một quốc gia mà bao hàm sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật
tư, hàng hoá, tư liệu sản xuất,…8 Có thể hiểu một cách nôm na rằng đầu tư nước ngoài là nguồn đầu tư cho một quốc gia đến từ chủ đầu tư ở quốc gia khác
Như vậy, FDI (FDI) là hoạt động đầu tư có quy mô lớn, trong thời gian dài hạn của một cá nhân, pháp nhân nước ngoài, còn được gọi là NĐTNN, nhằm đưa vốn quốc tế bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đó để thiết lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh
ở nước tiếp nhận đầu tư, nhờ đó, NĐTNN có quyền sở hữu và trực tiếp tham gia quản
lý, điều hành, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý… nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế
FDI là một yếu tố quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các nền kinh
tế nhận đầu tư Đối với Việt Nam, nó được nhìn nhận như là một trong những “trụ cột” tăng trưởng của kinh tế. 9 Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là tiền đề quan trọng để bổ sung, hỗ trợ cho phát triển các ngành kinh tế trong nước, đóng góp vào
6 Nguyễn Thị Ngọc Anh (2017), Thực trạng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
thời gian tới, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, tr 17
7 Các hình thức đầu tư trực tiếp sẽ được giới thiệu ở phần sau
8 Huỳnh Châu Phúc (2010), Thủ tục đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp, Luận
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 8
9 Phùng Xuân Nhạ, "Nhìn lại vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam", http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=1a6255d0-608c-4aae-b9c7- 6fbc6ff68095&groupId=13025, truy cập ngày 10/06/2022
Trang 138
các yếu tố quan trọng của tăng trưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực,
Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn trong nước, làm tăng nguồn thu ngân sách
Nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển, trong
đó có Việt Nam còn vô cùng hạn hẹp, do vậy, việc thu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài sẽ góp phần cải thiện năng lực sản xuất trong nước, tạo mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định
Thứ hai, FDI tác động đến thị trường lao động, nâng cao năng suất lao động,
tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Khi đầu tư FDI vào Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ xây dựng các dây chuyển sản xuất tại nước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau Điều này sẽ cho phép các nước đang phát triển tiếp cận công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý hiện đại
mà không phải qua giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm, từ đó, rút ngắn thời gian tiếp cận với khoa học hiện đại, rút kinh nghiệm từ các nước đã đi trước Bên cạnh đó, các
dự án FDI còn tạo ra nhiều cơ hội để người lao động đi học tập kiến thức và kỹ thuật tại nước đầu tư, sau đó quay trở về ứng dụng các kiến thứ đó vào công việc, mang lại hiệu quả, năng suất và chất lượng công việc cao
Thứ ba, FDI giúp tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ doanh nghiệp FDI mà ngay cả các doanh nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp FDI cũng sẽ tham gia vào quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, quốc gia
sở tại sẽ có sơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, thuận lợi cho việc đẩy mạnh xuất khẩu
So với đầu tư gián tiếp nước ngoài10- thường xảy ra đối với những dòng vốn có thời gian hoạt động ngắn thông qua việc mua bán các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu), FDI là những dự án mang tính ổn định và lâu dài NĐTNN khi muốn rút vốn khỏi quốc gia sở tại không phải là chuyện dễ dàng, bởi lẽ hầu như nguồn vốn đầu tư của họ đều nằm trực tiếp trong nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc,… hoặc nằm ngay trong vốn điều lệ của một tổ chức kinh tế Điều này giúp các quốc gia sở tại tránh được ảnh hưởng của các biến động thị trường, điển hình như cuộc khủng hoảng tài
Trang 149
chính - tiền tệ khu vực 1997, khi có mối đe doạ đối với vốn đầu tư gián tiếp, các NĐT
lớn bắt đầu rút vốn làm xuất hiện “phản xạ bầy đàn”, kéo theo các NĐT khác cũng ồ
ạt rút vốn bằng cách “bán tống, bán tháo” cổ phiếu mà họ đang nắm giữ, làm sụt giá
chứng khoán, gây đổ vỡ thị trường chứng khoán.11 Đây cũng là một trong những lý
do mà các Chính phủ luôn nỗ lực, khuyến khích để thúc đẩy FDI
1.2 Khái quát về thành lập tổ chức kinh tế của NĐTNN
1.2.1 Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài
Theo quy định của pháp luật đầu tư hiện hành, “NĐTNN” bao gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.12
Như vậy, pháp luật nước ta công nhận 2 chủ thể là NĐTNN, gồm: (i) cá nhân
có quốc tịch nước ngoài và (ii) tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài Tuy nhiên, khi quản lý đến “hoạt động đầu tư”, luật Đầu tư 2020 đã xác định thêm 1 loại chủ thể nữa, dựa vào tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài Theo đó, những tổ chức kinh
tế có sở hữu từ 50% vốn điều lệ là vốn của NĐTNN trở lên sẽ chịu sự đối xử về mặt thủ tục như NĐTNN, ngược lại, những tổ chức kinh tế có sở hữu vốn từ NĐTNN nhỏ hơn 50% sẽ chịu sự đổi xử như NĐT trong nước khi thực hiện hoạt động đầu tư.13
Điều này cũng được khẳng định lại một lần nữa tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định 31/2021/NĐ-CP khi nhà làm luật nhóm hai chủ thể NĐTNN (theo Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư 2020) và tổ chức kinh tế (theo Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu
tư 2020) chung thành NĐTNN- đối tượng áp dụng Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường
Quy định như vậy cũng là dễ hiểu bởi lẽ vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư trong nước không giống nhau, việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài ngoài mang lại lợi ích cho phát triển kinh tế, cũng đem đến không ít rủi ro liên quan đến cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nước, các vấn đề về an ninh chính trị, ô nhiễm môi trường,… nên chúng ta không thể áp dụng chung một thủ tục đầu tư đối với những tổ chức kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài Do vậy, trong một số nội dung của khoá luận này, các
11 Huỳnh Châu Phúc (2010), tlđd (8), tr 12
12 Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư 2020
13 Điều 23 Luật Đầu tư 2020
Trang 1510
tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm từ 50% trở lên cũng được phân tích, đánh giá chung trong chủ thể là NĐTNN
1.2.2 Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài
Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Đầu tư 2020 nhằm thể chế hoá quan điểm, chủ trương thu hút đầu nước ngoài theo Nghị quyết 50-NQ/TW14 của Bộ Chính trị là sự xuất hiện của nhóm quy định mới liên quan đến điều kiện tiếp cận thị trường của NĐTNN Theo đó, tuỳ thuộc vào ngành, nghề mà NĐTNN lựa chọn đầu
tư vào Việt Nam, sẽ phải tuân theo các quy tắc riêng
1.2.2.1 Đối với ngành, nghề thuộc Danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường
Ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN theo khoản 10 Điều 3
và khoản 2 Điều 9 Luật Đầu tư 2020 bao gồm:
- Ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường: theo Mục A Phụ lục I của Nghị định 31/2021/NĐ-CP, đây là các ngành, nghề mà pháp luật Việt Nam và Điều ước
quốc tế (ĐƯQT) về đầu tư không cho phép NĐTNN thực hiện hoạt động đầu tư,
kinh doanh, bởi bản chất những ngành nghề này là ngành nghề độc quyền nhà nước hoặc có ảnh hưởng lớn đến quốc phòng, an ninh
- Ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện
Nhóm những ngành nghề này được trích/nội luật hoá từ các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên, thể hiện dưới dạng liệt kê thành 59 ngành, nghề tại Mục B Phụ lục I Nghị định 31/2021/NĐ-CP Trong
đó, điều kiện tiếp cận thị trường mà NĐTNN cần tuân thủ15 bao gồm:
a Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ
Đây là tỷ lệ nhằm giới hạn mức độ quản lý của NĐTNN trong một lĩnh vực cụ thể, nhất định Với mỗi ngành nghề khác nhau trong 59 ngành nghề trên, tỷ lệ này cũng khác nhau, do vậy, trước khi NĐTNN ra quyết định đầu tư, cần xem xét ngành nghề đầu tư của mình có bị giới hạn tỷ lệ sở hữu không, và giới hạn bao nhiêu, giới
Trang 16(i) ĐƯQT;
(ii) Nếu luật chuyên ngành có quy định thì áp dụng theo luật chuyên ngành; (iii) Nếu công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường thì giới hạn tỷ lệ sở hữu của ngành nghề đó theo quy định tại Danh mục Trường hợp Danh mục không quy định cụ thể điều kiện tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của NĐTNN trong tổ chức kinh tế thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa tại công ty là 50% vốn điều lệ
* Đối với ngành kinh doanh dịch vụ Logistic, đây là ngành, nghề thuộc Danh mục ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện Ta cần xem xét tỷ lệ sở hữu của NĐTNN trước hết tại các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên Theo Biểu cam kết của Việt Nam tại WTO, dịch vụ vận tải biển cho phép NĐTNN cung cấp Dịch vụ vận tải hành khách (CPC 7211), dịch vụ vận tải hàng hoá (CPC 7212) dưới hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh, trong đó, vốn nước ngoài không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh Còn theo Biểu cam kết EVFTA giữa Việt Nam và EU thì NĐTNN được phép thành lập công ty liên doanh, trong đó, vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 70% vốn pháp định Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, Nghị định 163/2017/NĐ-CP chỉ cho phép NĐTNN được kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá (mà không có vận tải hành khách) dưới hình thức thành lập công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam với tỷ lệ vốn góp của NĐTNN không quá 49%.16
Theo nguyên tắc tại Khoản 8 Điều 17 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, NĐTNN được quyền áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường đối với ĐƯQT có quy định về điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn so với pháp luật Việt Nam Do đó, đối với ngành dịch vụ Logistic, nếu NĐTNN đến từ các quốc gia thuộc Liên minh EU thì được quyền chọn Biểu cam kết tại EVFTA để được hưởng ưu đãi về đầu tư
b Hình thức đầu tư
16 Điểm a Khoản 3 Điều 4 Nghị định 163/2017/NĐ-CP
Trang 1712
Điều 21 Luật Đầu tư 2020 quy định một số hình thức đầu tư mà NĐTNN có thể lựa chọn khi đầu tư vào Việt Nam như: hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; đầu tư theo hợp đồng BCC,… Để phù hợp với phạm vi của bài khoá luận này, hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế được lựa chọn để đi sâu vào phân tích
Về hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, NĐTNN có thể thành lập tổ chức kinh tế có 100% vốn của NĐTNN hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa NĐTNN và NĐT trong nước
* Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture Enterprise)
Doanh nghiệp liên doanh theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018 là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.17 Mở rộng khái niệm ra ngoài phạm vi của một quốc gia thì doanh nghiệp liên doanh là một doanh nghiệp mới được hình thành từ hợp đồng liên doanh được ký kết giữa Bên hoặc các Bên nước ngoài với Bên hoặc các Bên Việt Nam để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam
Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI Hình thức này
có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn cho quốc gia sở tại, tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế, đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, tạo cơ hội việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài Hơn thế nữa, bởi vì bản chất của hình thức này là sự hợp tác giữa các bên nước ngoài và trong nước, do vậy, vấn đề rủi ro phát sinh có thể chia đều cho các bên mà không phải doanh nghiệp của một nền kinh tế chung phải gánh chịu một mình nữa Về phía NĐT nói chung, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
* Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with one hundred percent foreign owned capital)
Luật Đầu tư 2020 không trực tiếp đưa ra khái niệm về doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà đưa ra khái niệm về tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài như đã được trình bày ở Mục 1.1.1
17 Khoản 5 Điều 29 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14
Trang 1813
Từ đó, chúng ta có thể hiểu doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài bỏ vốn, trực tiếp tham gia quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại nước nhận đầu tư, với vai trò của một thành viên hoặc
cổ đông trong doanh nghiệp
Như vậy, về hình thức pháp lý, theo Luật Doanh nghiệp 2020, NĐTNN có thể thành lập các loại hình công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, và không có doanh nghiệp tư nhân18 Điều này cũng là hợp lý bởi việc quản lý, kiểm soát của nhà nước ta đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân khá khó khăn, chủ doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân nước ngoài, họ có thể chối bỏ nghĩa vụ của mình bằng cách “chạy trốn” khỏi lãnh thổ của quốc gia đó, vì vậy, việc truy thu thuế hay các khoản nợ lại vô cùng khó khăn, gây thấp thoát ngân sách nhà nước và có thể ảnh hưởng đến cả các NĐT trong nước Bên cạnh đó, doanh nghiệp tư nhân chỉ hoạt động trong một lĩnh vực nhỏ với nguồn vốn điều lệ thấp, sức tạo đà phát triển kinh tế khá thấp Trong khi đó, nước ta đang chú trọng phát triển FDI để thu được nguồn vốn lớn
từ nước ngoài, loại hình doanh nghiệp tư nhân chỉ hoạt động trong lĩnh vực nhỏ với nguồn vốn thấp, sức tạo đà phát triển kinh tế cũng không đáng kể, không phù hợp để nước ta chi ngân sách quản lý hoạt động
Đối với hình thức thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hình thức này
có ưu điểm là nước sở tại không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế và giải quyết việc làm cho người lao động Mặt khác do độc lập về quyền sở hữu nên các NĐTNN chủ động đầu tư để cạnh tranh,
họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến, nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động
Một điểm lưu ý khi xem xét đến hình thức đầu tư này, NĐTNN ngoài dựa vào cam kết trong ĐƯQT, cũng cần phải đối chiếu với pháp luật chuyên ngành, để xác định ngành nghề mà mình dự định đầu tư có thể được thực hiện dưới hình thức nào Chẳng hạn, đối với dịch vụ kế toán, kiểm toán, tại các ĐƯQT quy định điều kiện hạn chế tiếp cận thị trường theo phương thứ thứ 3 (hiện diện thương mại) là không hạn chế19 nghĩa là NĐTNN không bị hạn chế về tiếp cận thị trường đối với các hình thức hiện diện thương mại, trong đó có việc thiết lập, hay duy trì một pháp nhân.20 Tuy
20 Điểm d Điều XXVIII Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS
Trang 1914
nhiên, theo Luật Kế toán 2015, Luật Kiểm toán độc lập 2011, NĐTNN dưới dạng một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài, doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài chỉ được thực hiện kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán dưới hình thức liên doanh với doanh nghiệp kế toán, kiểm toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam21 (hình thức góp vốn để “duy trì một pháp nhân”) mà không cho phép thành lập một tổ chức kinh tế mới
Vì vậy, NĐTNN hết sức cẩn thận khi xem xét điều kiện về hình thức đầu tư đối với từng ngành, nghề cụ thể
c Phạm vi hoạt động đầu tư
Khi đầu tư kinh doanh ngành, nghề thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN và thuộc trường hợp hạn chế phạm vi hoạt động đầu
tư, thì NĐTNN sẽ bị hạn chế phạm vi hoạt động đầu tư trong ngành, nghề đó Đây cũng là giới hạn mà Nhà nước ta đặt ra nhằm quản lý, khoanh vùng, kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động đầu tư của NĐTNN NĐTNN vẫn cần phải xem xét các hạn chế đầu tư của mình trên cả ĐƯQT và pháp luật chuyên ngành của Việt Nam để biết được phạm vi đầu tư của mình được quy định như thế nào
Ví dụ về hoạt động kinh doanh bất động sản, mặc dù theo Biểm cam kết WTO, nước ta không cam kết dịch vụ này đối với NĐTNN Tuy nhiên, Luật Kinh doanh bất động sản lại quy định rất rõ phạm vi được phép hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Áp dụng theo quy tắc tại Khoản 4 Điều 17 Nghị định 31/2021/NĐ-CP đối với ngành, nghề chưa cam kết về tiếp cận thị trường sẽ được
đề cập ở Mục 1.2.2.2, nếu pháp luật Việt Nam có quy định về hạn chế tiếp cận thị trường của NĐTNN cho ngành, nghề này thì áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam Do vậy, NĐTNN cần phải tuân thủ theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản khi kinh doanh trong lĩnh vực này
Theo Khoản 3 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản, NĐTNN (sau khi đáp ứng điều kiện và đã thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định 02/2022/NĐ-CP) – doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép kinh doanh bất động sản trong các hình thức sau: (i) Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; (ii) Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; (iii) Đối với đất được Nhà nước giao thì được
21 Điều 31 Nghị định 174/2016/NĐ-CP và Điều 12 Nghị định 17/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi NĐ 151/2018/NĐ-CP
Trang 2015
đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua
đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hay xin chấp thuận chủ trương đầu tư) của NĐTNN phải cung cấp tài liệu chứng minh năng lực tài chính của mình.22 Trong
đó, NĐTNN có thể đính kèm các tài liệu: báo cáo tài chính đã được kiểm toán hai năm gần nhất, khả năng huy động vốn thông qua xác nhạn bảo lãnh của ngân hàng hoặc xác nhận số dư tiền gửi tại ngân hàng đối với NĐT là doanh nghiệp đang hoạt động tại nước ngoài Đối với NĐT là cá nhân: tài liệu chứng minh năng lực tài chính cũng có thể là cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính, khả năng huy động vốn thông qua sổ tiết kiệm, xác nhận số dư tài khoản ngân hàng nước ngoài hoặc Việt Nam…
Việc chứng minh năng lực tài chính trong những ngành nghề khác nhau đều khác nhau NĐTNN, do vậy, cũng cần căn cứ vào quy định của pháp luật chuyên ngành để xác định điều kiện năng lực tài chính mà mình cần đáp ứng Chẳng hạn, Đối với hoạt động đầu tư thành lập cơ sở giáo dục, NĐTNN phải đảm bảo điều kiện năng lực tài chính của mình cho từng loại cơ sở Nếu là dự án đầu tư thành lập
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn phải có suất đầu tư ít nhất là 20triệu đồng/học viên chưa bao gồm các chi phí sử dụng đất, khi đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học thì NĐTNN phải có tổng số vốn đầu tư tối thiểu là 1.000 tỷ đồng (không bao gồm các chi phí sử dụng đất).23
Đối với lĩnh vực kinh doanh bất động sản, NĐTNN nếu muốn được chọn làm chủ đầu tư dự án bất động sản, thì trước hết phải có vốn chủ sở hữu không thấp hơn
22 Khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư 2020
23 Điều 35 Nghị định 86/2018/NĐ-CP
Trang 21Đối với kinh doanh dịch vụ thẩm định giá, NĐTNN là tổ chức phải liên doanh góp vốn cùng với doanh nghiệp thẩm định giá Việt Nam, trong đó, số vốn nước ngoài chỉ được chiếm tối đa 35% vốn điều lệ của công ty liên doanh25 Như vậy, đối với ngành kinh doanh dịch vụ thẩm định giá, NĐTNN cần xem xét vì lĩnh vực này không cho phép đầu tư dưới hình thức thành lập tổ chức kinh tế
Đối với ngành kế toán, kiểm toán, như đã đề cập ở phần b) cũng chỉ được liên
doanh góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam, hợp tác cùng với đối tác Việt Nam chứ không được tư do thành lập một tổ chức kinh tế mới
Một số ngành nghề khác cũng yêu cầu NĐTNN phải thực hiện liên doanh với đối tác Việt Nam như dịch vụ nghe nhìn, dịch vụ sản xuất phim, phát hành phin; các dịch vụ giải trí,… Nhìn chung, để được thành lập tổ chức kinh tế mới hoạt động trong những ngành nghề này, NĐTNN sẽ phải hợp tác tham gia với doanh nghiệp đã được cấp phép hoạt động ở những lĩnh vực tương ứng ở Việt Nam Đây cũng là cách mà Nhà nước ta có thể quản lý được hoạt động của NĐTNN
1.2.2.2 Đối với ngành, nghề không thuộc Danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường
Hiện nay, trong Nghị định 31/2021/NĐ-CP có quy định về một khái niệm là ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết tiếp cận thị trường, theo đó, nhóm ngành nghề này bao gồm những lĩnh vực mà Việt Nam hiện nay không có cam kết (bao gồm những ngành nghề đã hiện hữu hoặc có thể sẽ xuất hiện trong tương lai), nhóm ngành nghề chưa cam kết, hoặc nhóm ngành, nghề mà Việt Nam bảo lưu quyền ban hành các biện pháp không phù hợp với nghĩa vụ về tiếp cận thị trường, đối xử quốc gia,
24 Khoản 2 Điều 4 Nghị định 02/2022/NĐ-CP
25 Điều 21, Điều 18 Nghị định 89/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 151/2018/NĐ-CP
Trang 22- Nếu pháp luật Việt Nam có quy định về hạn chế tiếp cận thị trường đối với ngành nghề đó thì phải áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Trường hợp pháp luật Việt Nam ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới
mà có quy định về điều kiện tiếp cận thị trường của NĐTNN đối với các ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết thì:
Nếu NĐTNN đã áp dụng điều kiện trước khi có VBPL mới ban hành thì tiếp tục áp dụng điều kiện đó Cơ quan nhà nước sẽ không xem xét lại điều kiện tiếp cận thị trường đối với ngành, nghề mà NĐT đã được chấp thuận trước
đó
Nếu NĐTNN thực hiện hoạt động đầu tư sau thời điểm VBPL mới được ban hành có hiệu lực thì phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với NĐTNN theo quy định của VBPL mới đó
Quy định này có thể được coi là tiến bộ và tạo thuận lợi hơn cho NĐTNN khi tiếp cận bằng phương pháp “chọn-bỏ” thay vì “chọn-cho” như trong quy định của Luật Đầu tư 2014
Trước đây, Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP đặt ra điều kiện đối với NĐTNN theo phương thức “chọn-cho”, cụ thể, NĐTNN phải đáp ứng điều kiện đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại các luật, pháp lệnh, nghị định, ĐƯQT về đầu tư Với cách tiếp cận đó, NĐTNN trước khi tiến hành thực hiện hoạt động đầu tư, phải xem xét đến mức độ cam kết, quy định của pháp luật như thế nào, thì NĐTNN phải chịu cách áp dụng trong khung pháp lý như vậy (phương pháp chọn-cho) Đối với những ngành nghề nước ta chưa cam kết mở cửa thị trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư ở các địa phương phải gửi văn bản xin hướng dẫn/ý kiến chấp thuận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chứ không thể tự xem xét và quyết định có hay không chấp thuận cho NĐTNN đăng ký lĩnh vực ngành, nghề đó Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cơ quan đăng ký đầu
26 khoản 4, Khoản 5 Điều 17 Nghị định 31/2021/NĐ-CP
Trang 2318
tư có thể từ chối việc tiếp cận thị trường của NĐTNN dựa trên ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ quản lý ngành, mà căn cứ từ chối không thuyết phục có thể làm cho hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bị ảnh hưởng ít nhiều
Phương pháp “chọn-bỏ” theo pháp luật đầu tư mới có ưu điểm hơn, chỉ giới hạn
cụ thể đối với nhóm hạn chế tiếp cận thị trường, và một số quy tắc đối với nhóm chưa cam kết tiếp cận thị trường, còn ngoài ra, các điều kiện tiếp cận thị trường đối với NĐTNN sẽ tương tự với các điều kiện áp dụng cho NĐT nội địa Từ đó, thủ tục đầu
tư được thuận lợi hơn, góp phần tạo nên làn sóng FDI vào Việt Nam ngày càng cao
1.2.3 Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài
Khi tham gia vào mối quan hệ đầu tư quốc tế, trong đó, có sự hiện diện của quốc gia sở tại và NĐTNN, có hai nguồn luật cơ bản sẽ chi phối đến hoat động đầu tư: ĐƯQT và pháp luật quốc gia (cụ thể là Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam)
Điều ước quốc tế: Hiện nay, với xu thế hội nhập toàn cầu, Việt Nam đã và đang
là thành viên của rất nhiều ĐƯQT bao gồm cả Điều ước song phương và đa phương, trong đó, các ĐƯQT đa phương có vai trò quan trọng, là cầu nối đầu tư quốc tế cho các NĐTNN Một số ĐƯQT có liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS),… Tuy nhiên,
vì hệ thống ĐƯQT khá nhiều và quy định chưa được rõ ràng, cụ thể, do vậy, cần đến pháp luật quốc gia, cũng là pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư
Pháp luật quốc gia: Khi nói đến đầu tư thành lập tổ chức kinh tế thì Luật Đầu
tư 2020 và Luật Doanh nghiệp 2020 sẽ được coi là “luật chung” áp dụng một cách chung tổng quát cho hoạt động về đầu tư, về doanh nghiệp Bên cạnh đó, là những văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành quy định của hai “luật chung” trên Ngoài ra, tuỳ vào từng ngành nghề, lĩnh vực đầu tư mà luật chuyên ngành phải có những quy định chuyên biệt NĐTNN vì vậy, cần phải đảm bảo thực hiện đúng theo cả luật chung
và luật chuyên ngành
Trang 2419
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của Khoá luận là một bức tranh tổng quan về FDI và các vấn đề pháp lý xoay quanh hoạt động thành lập tổ chức kinh tế của NĐTNN Cụ thể, Chương 1 đã khái những nội dung cơ bản về FDI (FDI), vai trò của FDI và ý nghĩa của việc thu hút FDI đối với phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời, chương 1 cũng
đi vào phân tích về điều kiện tiếp cận thị trường của NĐTNN - một trong những nội dung quan trọng khi đầu tư vào thị trường Việt Nam Thông qua đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý xoay quay FDI nói chung và đầu tư thành lập tổ chức kinh tế của NĐTNN nói riêng Đây cũng là tiền đề để tác giả đi sâu hơn vào nội dung chính của khoá luận - Thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
để thực hiện dự án đầu tư của NĐTNN
Trang 2520
CHƯƠNG 2 THỦ TỤC THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ HIỆN HÀNH
Môi trường pháp lý về đầu tư mà cụ thể là Luật Đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của NĐTNN tại Việt Nam Đây có thể là phương tiện làm thúc đẩy đầu tư, cũng có thể ngăn cản hoạt động này Một môi trường pháp lý thông thoáng, chặt chẽ, thủ tục đơn giản mới là sự hấp dẫn đối với NĐTNN Tuy nhiên, quốc gia tiếp nhận đầu tư cũng là một thực thể có chủ quyền, nhà nước cần có những chính sách phù hợp để vừa thu hút FDI để phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo kinh doanh, sản xuất trong nước phát triển bền vững, môi trường đầu tư đảm bảo tính pháp
lý, chặt chẽ và đầy đủ
Năm 2020, Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực từ ngày 01 tháng
01 năm 2021 và thay thế Luật Đầu tư 2014 Sự thay thế này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, trong đó, khẳng định địa vị pháp lý, kiểm soát tốt hơn đối với NĐTNN Từ đó, nước ta tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh, phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài Với tất các điều đó, việc quy định về thủ tục FDI, cụ thể hơn ở đây là thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của NĐTNN
ở Việt Nam là một yếu tố khách quan và có ý nghĩa quan trọng:
2.1 Thủ tục thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài
Việc thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam của NĐTNN, như đã phân tích ở Chương 1, được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản: ĐƯQT, Luật Đầu tư 2020 (Sửa đổi, bổ sung năm 2022), Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổi sung 2022), pháp luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, khác với những điều kiện thành lập doanh nghiệp bị ảnh hưởng mạnh bởi các ĐƯQT, những quy định về thủ tục lại là quy định mang tính “công”,
do tự mỗi quốc gia quy định, không chịu sự ảnh hưởng của pháp luật bên ngoài, vì vậy, nó chủ yếu được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Đầu
tư, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành…