Đặc biệt với những ngành hàng có vai trò quan trọng trong Hiệp định thường sẽ được áp dụng một bộ quy tắc ROO riêng để điều chỉnh mà điển hình là lĩnh vực hàng dệt may trong CPTPP và RCE
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
-*** -
KIỀU NỮ MỸ HẢO
MSSV: 1853801090024
QUY TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI HÀNG
DỆT MAY THEO QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may theo quy định của Hiệp định CPTPP và RCEP” là công trình nghiên cứu của riêng
tác giả được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sỹ Nguyễn Hoàng Thái Hy Mọi thông tin, số liệu cũng như bản án tham khảo đều được trích dẫn theo quy định Tác giả xin chịu toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan này
NGƯỜI CAM ĐOAN
KIỀU NỮ MỸ HẢO
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin phép bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo hướng dẫn Ths Nguyễn Hoàng Thái Hy Khóa luận đã được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học, tận tình và đầy tâm huyết của Thầy
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Luật Quốc tế - Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong bốn năm học tập Vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà nó còn là hành trang quý báu để áp dụng vào thực tế một cách vững chắc và tự tin
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, các anh chị sinh viên khóa trên, đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa luận Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và hạn chế, kinh mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 6 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Kiều Nữ Mỹ Hảo
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Anh
AE Approved Exporter – Nhà xuất khẩu được phê duyệt
AJCEP ASEAN-Japan Comprehensive Economic Partnership – Hiệp
định Đối tác Toàn diện ASEAN-Nhật Bản
AKFTA ASEAN-Korea Free Trade Agreement – Hiệp định Thương mại
AWSC ASEAN Wide Self-Certification – Cơ chế tự chứng nhận xuất xứ
hàng hóa trong ASEAN B/L Bill of Lading – Vận đơn đường biển
C/O Certification of Origin – Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
CAFTA-DR Central America-Dominican Republic Free Trade Agreement –
Hiệp định Thương mại Tự do Cộng Hòa Dominica – Trung Mỹ CBI Caribean Basin Initiative – Sáng kiến vùng Vịnh Caribê
CBSA Canada Border Services Agency – Cơ quan Dịch vụ Biên giới
Canada
CC Change in Chapter – Chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp độ
Chương
Trang 5CE Certified Exporter – Nhà xuất khẩu được chứng nhận
CETA Comprehensive Economic and Trade Agreement – Hiệp định
Thương mại Tự do EU-Canada
CPTPP
Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
CTC Change in Tariff Classification – Tiêu chí chuyển đổi mã số hàng
DVC Domestic Value Content – Tiêu chí hàm lượng giá trị nội địa quốc
gia
EU European Union – Liên minh châu Âu
EURATEX European Apparel and Textile Organisation – Hiệp hội dệt may
châu Âu FOB Free on Board – Giá tại cửa khẩu bên nước xuất khẩu
FTA Free Trade Agreement – Hiệp định thương mại tự do
GATT General Agreement on Tariffs and Trade – Hiệp định chung về
Thuế quan và Thương mại
HS code Harmonized Commodity Description and Coding System – Hệ
thống hài hòa và mô tả hàng hóa JEFTA Janpan-EU Free Trade Agreement – Hiệp định Thương mại tự do
Nhật Bản-EU
Trang 6NAFTA North American Free Trade Agreement – Hiệp định Thương mại
Tự do Bắc Mỹ NTM Non-Tariff Measures – Biện pháp phi thuế quan
PRO Preferential Rules of Origin – Quy tắc xuất xứ ưu đãi
PSR Product Specific Rules – Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng
RCEP Regional Comprehensive Economic Partnership – Hiệp định định
Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực ROO Rules of Origin – Quy tắc xuất xứ
RTA Regional Trade Agreement – Hiệp định thương mại Khu vực RVC Regional Value Content – Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực
TTIP Transatlantic Trade and Investment Partnership – Hiệp định Đối
tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương
USMCA United States-Mexico-Canada Agreement – Hiệp định thương
mại Hoa Kỳ-Mexico-Canada
WO Wholly Obtained – Quy tắc xuất xứ thuần túy
WTO World Trade Organization – Tổ chức Thương mại Thế giới
Tiếng Việt
Công văn số 8101 Công văn số 8101/BCT-XNK ngày 25/10/2019 hướng dẫn cấp
C/O mẫu CPTPP Nghị định Thư
Kyoto 1973
Công ước Kyoto năm 1973 về Đơn giản hóa và Hài hòa Thủ thục Hải quan
Trang 7Thông tư 03/2019
Thông tư 03/2019/TT-BCT ngày 22/1/2019 quy định Quy tắc xuất xứ hàng háo trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Thông tư 05/2022 Thông tư 05/2022/TT-BCT ngày 18/2/2022 quy định Quy tắc
xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
Thông tư 06/2020
Thông tư 06/2020/TT-BCT ngày 24/3/2020 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Thông tư số 03/2019 ngày 22/1/2019 của Bộ trưởng
Bộ Công Thương quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Thông tư 11/2020 Thông tư 11/2020/TT-BCT ngày 15/6/2020 quy định Quy tắc
xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu
Thông tư 19/2020 Thông tư 19/2020/TT-BCT ngày 14/8/2020 Sửa đổi, bổ sung các
Thông tư quy định thực hiện Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
Thông tư 28/2015 Thông tư 28/2015/TT-BCT ngày 20/8/2015 quy định việc Thực
hiện thí điểm Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
QUY TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY TRONG HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 8
1.1 Quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may 8
1.1.1 Chuyển đổi mã số hàng hóa (Change in Tariff Classification – CTC) 9 1.1.2 Hàm lượng giá trị khu vực (Regional Value Content – RVC) 12
1.1.3 Quy tắc xuất xứ áp dụng riêng 13
1.2 Quy tắc xuất xứ hàng dệt may trong RCEP và CPTPP 17
1.2.1 Quy tắc xuất xứ của hàng dệt may theo RCEP 19
1.2.2 Quy tắc xuất xứ của hàng dệt may theo CPTPP 25
CƠ CHẾ CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN KHI ÁP DỤNG TRÊN THỰC TẾ 36
2.1 Cơ chế chứng nhận xuất xứ trong Hiệp định CPTPP và RCEP 36
2.1.1 Cơ chế chứng nhận xuất xứ bởi bên thứ ba (Third-party Certification) 38
2.1.2 Cơ chế doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ (Self-Certification) 44
2.2 Vấn đề đặt ra với doanh nghiệp Việt Nam khi nhập nguyên liệu từ RCEP và xuất khẩu hàng dệt may sang Canada 63
2.2.1 Duy trì cơ chế cấp C/O truyền thống 64
2.2.2 Thực hiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ 67
KẾT LUẬN CHUNG 75
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại quốc tế hiện nay ghi nhận sự bùng nổ về số lượng các Hiệp định thương mại khu vực – RTA liên kết hầu hết các khu vực kinh tế trên toàn thế giới với nhau Theo thống kê, vào năm 1990 có 20 hiệp định thương mại tự do – FTA được các bên thông báo đến GATT/WTO và con số này nhanh chóng tăng lên 159 vào năm 20071 Theo số liệu được đăng tải tại website WTO, tính đến ngày 1/3/2022 thế giới có đến 354 RTA/FTA đã có hiệu lực trên tổng số 577 RTA/FTA được thông báo đến WTO, tính riêng đối với hàng hóa và dịch vụ2 Trong sự gia tăng nhanh chóng về số lượng đó, các FTA được hình thành trong thế kỷ 21 với sự mở rộng nội hàm sang nhiều nội dung “thế
hệ mới” (next generation issue) được gọi là FTA thế hệ mới FTA thế hệ mới với những cam kết sâu rộng và toàn diện trên nhiều lĩnh vực, bao hàm cam kết về tự do thương mại hàng hóa và dịch vụ như các “FTA truyền thống” và cả các vấn đề “phi truyền thống”: như lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước,3 Trong xu hướng đó, Hiệp định RCEP và CPTPP là hai trong số những FTA tiêu biểu với quy mô và tiềm năm rộng lớn (mega FTAs) khi thiết lập nên các khối liên kết kinh tế hàng đầu thế giới, vì vậy trong phạm vi khóa luận này, tác giả tập trung nghiên cứu 2 FTA chính là RCEP và CPTPP
Bên cạnh mở rộng nội hàm cam kết đến các vấn đề mới, RCEP và CPTPP còn đẩy mạnh việc cắt giảm hàng rào thuế quan đến mức tối đa ở lĩnh vực cam kết truyền thống là thương mại hàng hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể cho sự lưu thông thương mại trong nội khối Các cam kết như vậy là sự trao đổi lợi ích giữa các quốc gia dành cho doanh nghiệp của mình và do đó họ cần thiết lập một công cụ rà soát để đảm
1 Lorand Bartels & Federico Ortino, Regional Trade Agreements and The WTO Legal System (Hiệp định thương
mại khu vực và hệ thống pháp lý WTO), Oxford University Press (2006), p.1
2 Regional Trade Agreements http://www.wto.org/english/tratop_e/region_e/region_e.htm (Truy cập ngày 21/6/2022)
3 VCCI, Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động đối với kinh tế Việt Nam, TTWTO VCCI - Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động đối với kinh tế Việt Nam (trungtamwto.vn) , (truy cập ngày 21/6/2022)
Trang 11bảo rằng các lợi ích này sẽ đến được với đúng đối tượng đồng thời lợi bỏ những “kẻ ăn theo” Và quy tắc xuất xứ hàng hóa – ROO chính là một công cụ như vậy ROO giúp xác định được xuất xứ kinh tế của hàng hóa để từ đó nước nhập khẩu biết được rằng liệu các ưu đãi của mình có được dành cho đúng đối tượng hay không Như vậy một trong những điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp của Thành viên RCEP hay CPTPP được hưởng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định là phải đáp ứng được các quy tắc xuất xứ hàng hóa được đưa ra Tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp cũng đủ am hiểu về quy tắc xuất xứ vì mỗi Hiệp định sẽ thiết lập một bộ quy tắc xuất xứ riêng với những phương thức, tiêu chí xác định khác nhau Đặc biệt với những ngành hàng có vai trò quan trọng trong Hiệp định thường sẽ được áp dụng một bộ quy tắc ROO riêng để điều chỉnh mà điển hình là lĩnh vực hàng dệt may trong CPTPP và RCEP khi Hiệp định đồng thời có
sự tham gia của các Thành viên là thị trường xuất khẩu và nhập khẩu hàng đầu thế giới, như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Do đó với mong muốn giúp doanh nghiệp có thể hiểu rõ hơn các quy tắc xuất xứ được áp dụng đối với hàng dệt may để có thể tận dụng tối đa lợi ích mà RCEP và CPTPP mang lại, tác giả đã quyết định chọn đề
tài “Quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may theo quy định của Hiệp định RCEP và
CPTPP” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh thương mại hàng hóa quốc tế hiện nay, các quy định về ROO, đặc biệt là quy tắc xuất xứ ưu đãi - PRO không còn là chủ đề xa lạ nhưng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các Hiệp định thương mại mới khiến ROO vẫn có nhiều điểm mới cần nghiên cứu Dưới đây là một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1 Công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt
Vì Hiệp định RCEP và CPTPP chỉ vừa chính thức có hiệu lực trong thời gian gần đây nên nhìn chung hiện nay chưa có công trình tiếng Việt nào nghiên cứu chuyên sâu
về nội dung ROO áp dụng đối với hàng dệt may trong hai Hiệp định này Tuy nhiên, vẫn
Trang 12có các công trình nghiên cứu về ROO áp dụng riêng đối với hàng dệt may nói chung hay nghiên cứu về các vấn đề chung của Hiệp định, chẳng hạn như:
Nguyễn Thị Hồng Nhung, Quy tắc xuất xứ hàng hóa và giải pháp cho hàng dệt may Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, 2014:
Khóa luận nghiên cứu tổng quan về các quy tắc xuất xứ hàng hóa thông qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của ROO từ đó cho thấy tác động của nó với thương mại nội khối Đồng thời tác giả còn đề cập đến các quy tắc xuất xứ hàng hóa áp dụng cho ngành dệt may trong các FTA mà Việt Nam tham gia và so sánh với đặc điểm ngành dệt may Việt Nam để đưa ra các vấn đề mà ngành dệt may đang gặp phải trong việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi Mặc dù có đề cập đến các quy tắc xuất
xứ được áp dụng đối với hàng dệt may nhưng đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề này ở mức độ đưa ra khái quát các quy định của FTA mà không đề cập đến chi tiết các yêu cầu khi áp dụng trên thực tế
Trần Thị Thuận Giang, Ngô Nguyễn Thảo Vy, Quy tắc xuất xứ hàng hóa ưu đãi đối với hàng dệt may và hiện tượng chệch hướng thương mại: Tương lai của ASEAN và Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, Tạp chí Khoa học pháp lý, 2017: Bài viết nghiên cứu
các vấn đề pháp lý của hiện tượng chệch hướng thương mại phát sinh từ quy tắc xuất xứ
ưu đãi chặt chẽ, thông qua việc phân tích các quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may trong khuôn khổ hiệp định ban hành bởi ASEAN và các Hiệp định thương mại ASEAN ký với các quốc gia ngoại khối Mặc dù bài viết có đề cập đến các quy tắc xuất xứ áp dụng cho hàng dệt may nhưng các tác giả lại tiếp cận vấn đề theo hướng cho thấy tác động của việc quy định mức độ chặt chẽ khác nhau trong từng bộ quy tắc của mỗi Hiệp định đã tác động đến thương mại đa phương mà không phải theo hướng áp dụng quy tắc để tận dụng ưu đãi
2.2 Công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh
Trang 13Trong phạm vi quốc tế, đã có những nghiên cứu về các đặc điểm của quy tắc xuất
xứ hàng hóa áp dụng cho ngành dệt may dưới nhiều góc độ khác nhau và ở nhiều FTA Một số công trình có thể kể đến như:
Hildegunn Kyvik Nordås, The Global Textile and Clothing Industry post the Agreement on Textiles and Clothing (2004): Bài nghiên cứu tập trung phân tích các đặc
điểm của ngành dệt may về tính liên kết ở mỗi công đoạn của ngành từ nguồn cung nguyên phụ liệu đến khi hàng hóa tham gia thị trường tiêu thụ Đồng thời cho thấy các lịch sử hình thành các quy tắc xuất xứ được áp dụng riêng của ngành dệt và tác động của ngành đến sự phát triển kinh tế Tuy nhiên bài nghiên cứu chỉ đề cập và phân tích ngành dệt may của riêng thị trường Hoa Kỳ và EU
Stefano Inama, Rules of Origin in International Trade, Cambridge University
Press (2009): Cuốn sách là một công trình nghiên cứu đồ sộ về các khía cạnh khác nhau của các quy tắc xuất xứ áp dụng đa ngành Tác giả cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình đàm phán các quy tắc xuất xứ không ưu đãi theo hiệp định WTO và chủ yếu đề cập các quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các khu vực thương mại tự do Không chỉ thế, Inama còn phân tích kinh nghiệm của Hoa Kỳ và EU trong việc xây dựng NAFTA và thảo luận
về sự phát triển của các bộ quy tắc xuất xứ khác nhau, các lựa chọn kỹ thuật để soạn thảo quy tắc xuất xứ, phương pháp luận để soạn thảo quy tắc xuất xứ cụ thể của sản phẩm
Có thể thấy tác phẩm tập trung phân tích các quy định để hướng đến các vấn đề liên quan đến quốc gia như kinh nghiệm, những lưu ý khi tiến hành đàm phán xây dựng quy tắc xuất xứ cũng như áp dụng trên thực tế mà không phải tiếp cận dưới góc độ của doanh nghiệp
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài này được thực hiện nhằm các mục đích chính sau:
Trong bối cảnh các quốc gia Thành viên RCEP và CPTPP đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực với những ưu đãi thuế quan cực kỳ hấp dẫn dành cho nhau
Trang 14thì doanh nghiệp, chủ thể trực tiếp hưởng lợi từ những ưu đãi này, cần tìm hiểu và nắm vững các quy định về điều kiện để được hưởng ưu đãi mà cụ thể là quy tắc xuất xứ của hàng hóa
Bên cạnh đó, việc phân tích các quy định về quy tắc xuất xứ hàng dệt may ở mức
độ chi tiết trong mỗi Hiệp định sẽ cho thấy sự khác nhau của mức độ chặt chẽ của quy tắc xuất xứ, từ đó doanh nghiệp có thể nhận thấy khả năng của mình đối với từng thị trường cũng như đánh giá cơ hội tận dụng Hiệp định để mở rộng thị trường trong tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quy tắc xuất xứ hàng hóa đối với hàng dệt may theo quy định của Hiệp định RCEP và CPTPP được thực hiện dưới góc độ của doanh nghiệp trong vấn
đề làm rõ điều kiện để hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan trong Hiệp định, gồm: (i) quy tắc xuất xứ hàng dệt may; và (ii) cơ chế chứng nhận xuất xứ hàng dệt may Việc phân tích sẽ dựa trên cơ sở các điều khoản cụ thể được quy định trong từng Hiệp định
và các văn bản nội luật hóa của các quốc gia Thành viên, các quan điểm của các học giả cũng như của các chuyên gia tại các Hội thảo chuyên ngành Đồng thời đề tài còn đề cập đến cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp Việt Nam khi doanh nghiệp nắm vững các quy tắc xuất xứ và có sự áp dụng linh hoạt quy định của Hiệp định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung về quy tắc xuất xứ hàng dệt may ở quy
mô sản xuất công nghiệp nhằm mục đích xuất khẩu được đề cập trong Hiệp định RCEP
và CPTPP Mặc dù có nhắc đến một số FTA khác như ATIGA, EVFTA, CETA, nhưng tác giả chỉ đề cập đến các vấn đề liên quan đến nội dung đang nghiên cứu, như làm rõ
Trang 15thêm các quy định của RCEP và CPTPP, mà không nhằm tìm hiểu chuyên sâu về quy định của các văn kiện này
Đề tài không nghiên cứu các quy tắc xuất xứ được áp dụng cho các hàng hóa khác ngoài hàng dệt may hay các quy tắc xuất xứ không được sử dụng trong Hiệp định RCEP
và CPTPP Đồng thời đề tài cũng không phân tích các quy định liên quan đến thủ tục hải quan hay vận chuyển hàng hóa
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Thứ nhất, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng tại
Chương 1 nhằm làm rõ các quy định chi tiết về xuất xứ hàng dệt may được áp dụng trong Hiệp định RCEP và CPTPP Các phương pháp này đồng thời cũng tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong Chương 2 liên quan đến quy định về chứng nhận xuất xứ hàng hóa của RCEP và CPTPP
Thứ hai, sau khi sử dụng các phương pháp ở trên để làm rõ nội dung của các quy
định trong Hiệp định, tác giả sử dụng phương pháp so sánh để cho thấy sự khác biệt về mức độ chặt chẽ của quy tắc xuất xứ hàng dệt may giữa RCEP và CPTPP Đồng thời trong quá trình phân tích nội dung văn kiện Hiệp định, tác giả còn lồng ghép phương pháp so sánh để cho thấy được sự khác biệt của từng điều kiện trong Hiệp định khi được quốc gia Thành viên nội luật hóa
Thứ ba, phương pháp bình luận được sử dụng nhằm cho thấy sự tác động của quy
định trên lý thuyết với doanh nghiệp khi áp dụng thực tế
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Đề tài này có những ý nghĩa như sau:
Trang 16Về ý nghĩa khoa học, đề tài là công trình nghiên cứu khoa học về quy tắc xuất xứ
hàng hóa áp dụng đối với hàng dệt may theo quy định của hai Hiệp định là RCEP và CPTPP, cung cấp cái nhìn chi tiết trên phương diện lý luận về những tiêu chí được sử dụng để xác định quốc tịch kinh tế của hàng dệt may bằng việc đi vào phân tích cụ thể các điều khoản của Hiệp định RCEP và CPTPP, sự khác biệt khi nội luật hóa các quy định Hiệp định vào pháp luật quốc gia Thành viên
Về giá trị ứng dụng, bằng việc tiếp cận dưới góc độ doanh nghiệp, đề tài khi hoàn
thành có thể góp phần giúp doanh nghiệp hiểu một cách chi tiết các quy định của từng Hiệp định để từ đó tiếp tục nghiên cứu, áp dụng vào hoạt động kinh doanh Không chỉ thế, việc nắm được mức độ chặt chẽ về quy tắc xuất xứ hàng dệt may còn giúp doanh nghiệp có thể xác định được thị trường phù hợp với quy mô, khả năng của mình cũng như đặt nền móng để doanh nghiệp tái cấu trúc sản xuất, nếu cần thiết, để hướng đến việc mở rộng việc xuất khẩu đến các thị trường mới trong tương lai
Trang 17QUY TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY TRONG
HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may
Quy tắc xuất xứ – ROO được hiểu là hệ thống các quy tắc được sử dụng để xác định “quốc tịch kinh tế” cho hàng hóa Cụ thể ROO được định nghĩa trong Nghị định thư Kyoto và ARO4 là những “tiêu chí” có khả năng xác định được nguồn gốc của hàng hóa Các “tiêu chí” này được tìm thấy trong pháp luật quốc gia hoặc Điều ước quốc tế nhưng việc áp dụng, thực thi phải ở cấp độ quốc gia, nghĩa là phải được quốc gia chứng nhận
Về cơ bản, quy tắc xuất xứ áp dụng cho ngành dệt may cũng dựa trên các tiêu chí ROO áp dụng chung cho hàng hóa, gồm: (i) quy tắc xuất xứ thuần túy (Wholly Obtained – WO); (ii) quy tắc xuất xứ không thuần túy5 Dệt may được xem là một trong những ngành tương đối nhạy cảm đối với các nước đang phát triển6 do đó để xác định chính xác xuất xứ, một số quy tắc đặc biệt đã được thiết kế để áp dụng riêng đối với hàng dệt may, bao gồm:
“từ sợi trở đi” (Fibre – Forward);
“từ sợi dệt trở đi” (Yarn – Forward); và
“từ vải trở đi” (Fabric – Forward)
Các quy tắc này được hình thành dựa trên đặc điểm của quá trình tạo ra các sản phẩm dệt may gồm nhiều công đoạn, chế biến phức tạp như kéo sợi, dệt, nhuộm, cắt, may, đồng thời sử dụng nguyên phụ liệu đa dạng như các loại vải, chỉ, khuy,
4 Phụ lục D, hiện là Phụ lục K của Nghị định thư Kyoto 1973; Khoản 1 Điều 1 và Đoạn 2 Phụ lục 2 ARO
5 Xuất xứ không thuần túy, với một phần nguyên liệu không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ Đối với tiêu chí này, ROO quy định chi tiết hơn với các dạng như: Chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC); Hàm lượng giá trị Khu vực (RVC); Công đoạn gia công chế biến cụ thể (SP); hoặc Tiêu chí tổng hợp
6 Dệt may là ngành có cơ hội phát triển mạnh, khả năng đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, là cơ sở để cho nền kinh
tế có cơ hội cất cánh nhưng không đòi hỏi sự đầu tư lớn về công nghệ hay vốn
Trang 18Như vậy quy tắc xuất xứ được áp dụng đối với ngành dệt may sẽ bao gồm:
Hình 1: Các quy tắc xuất xứ hàng hóa áp dụng đối với hàng dệt may
Tuy nhiên thực tiễn hệ thống thương mại hàng hóa quốc tế hiện nay cho thấy việc một sản phẩm dệt may đáp ứng tiêu chuẩn WO là bất khả thi7 Do đó trong phạm vi phần này, tác giả sẽ tập trung phân tích (i) quy tắc xuất xứ không thuần túy, (ii) quy tắc xuất
xứ áp dụng riêng cho dệt may
1.1.1 Chuyển đổi mã số hàng hóa (Change in Tariff Classification – CTC)
Chuyển đổi mã số hàng hóa là một trong những tiêu chí xác định xuất xứ dựa trên việc đánh giá yếu tố “biến đổi cơ bản” từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng CTC
ROO áp dụng riêng cho
dệt may
Quy tắc xuất xứ
thuần túy - WO
Quy tắc xuất xứ không thuần túy
Quy tắc từ sợi dệt trở đi (Yarn – Forward)
Quy tắc từ vải trở đi (Fabric – Forward) Quy tắc từ sợi trở đi (Fibre – Forward)
Trang 19hoạt động dựa trên cơ sở sự phân loại hàng hóa theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa (Harmonized system code – HS code) Theo đó, hàng hóa sẽ được coi là đã biến đổi
cơ bản khi hàng hóa được phân loại trong một Chương, Nhóm hoặc Phân Nhóm (tùy thuộc vào từng mặt hàng cụ thể) khác với Chương, Nhóm hoặc Phân Nhóm của tất cả nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ được sử dụng Quy tắc CTC có những hình thức sau:
Một là, Chuyển đổi Chương hay chuyển đổi cấp 2 số (Change in Chapter – CC):
tiêu chí này yêu cầu mã HS của hàng hóa được xem xét phải thuộc Chương khác với Chương HS của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng để tạo nên sản phẩm Do đó khi áp dụng, một sản phẩm được xem là thỏa mãn CC khi 2 số đầu mã HS của hàng hóa khác với 2 số đầu mã HS của nguyên liệu
Hai là, Chuyển đổi Nhóm hay chuyển đổi cấp độ 4 số (Change in Tariff Heading
– CTH): tiêu chí này yêu cầu mã HS của hàng hóa được xác định xuẩt xứ phải có mã HS thuộc Nhóm khác với Nhóm của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng Trường hợp này, 4 số đầu mã HS của hàng hóa phải khác với 4 số đầu mã HS của nguyên liệu
Ba là, Chuyển đổi Phân Nhóm hay chuyển đổi cấp độ 6 số (Change in Tariff
Sub-Heading – CTSH): cũng tương tự như hai tiêu chí trên, CTSH yêu cầu mã HS của hàng hóa được xem xét phải thuộc Phân Nhóm khác với Phân Nhóm của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng Do đó, 6 số đầu mã HS của hàng hóa phải khác với
6 số đầu mã HS của nguyên liệu
HS code phân loại hàng hóa theo trình tự từ Chương (HS cấp độ 2 số) đến Nhóm (HS cấp độ 4 số) và Phân Nhóm (HS cấp độ 6 số), do đó mức độ chặt chẽ của quy tắc CTC cũng tuân theo trình tự này Cụ thể, tiêu chí CC là cấp độ chặt nhất, tiếp đến là CTH với mức độ vừa phải và mức độ lỏng nhất là CTSH
Trang 20Ngoài các tiêu chí CTC chuyển đổi thông thường như trên, CTC còn ghi nhận thêm tiêu chí “CTC ngoại trừ” (CTC ex from) CTC ngoại trừ là việc loại trừ một số mã
HS nhất định khi áp dụng phương pháp CTC để xác định xuất xứ của hàng hóa Nếu mã
HS của nguyên liệu trùng với mã HS được liệt kê tại phần “ngoại trừ” của mã HS thành phẩm thì trong trường hợp này, phương pháp CTC sẽ không được áp dụng và nguyên liệu đó bắt buộc phải chứng minh có xuất xứ từ các Bên thành viên của Hiệp định để thành phẩm được hưởng ưu đãi Phần “ngoại trừ” có thể là ngoại trừ Chương; Ngoại trừ Nhóm; Ngoại trừ Phân Nhóm Tiêu chí CTC ngoại trừ được áp dụng cho các tiêu chí
Trong trường hợp được chứng nhận là có xuất xứ CPTPP thì nguyên liệu không
có xuất xứ phải thỏa tất cả các điều kiện sau: (i) tất cả không được thuộc Chương 55; (ii) nguyên liệu thuộc Chương 52 thì không được thuộc Nhóm 52.01 đến 52.03; (iii) nguyên
Trang 21liệu thuộc Chương 54 thì không được thuộc Nhóm 54.01 đến 54.02, Phân nhóm 5403.33 đến 5403.39, hoặc 5403.42 đến 5405.00
Vì sự loại trừ thêm một số lượng nguyên liệu thuộc các mã HS nhất định nên tiêu chí “CTC ngoại trừ” quy định mức độ xác định xuất xứ chặt chẽ hơn so với tiêu chí CTC thông thường Do đó “CTC ngoại trừ” thường được các Bên thành viên của Hiệp định
sử dụng cho một số loại hàng hóa nhất định, điển hình như hàng dệt may, thay vì áp dụng phổ biến như CTC thông thường
1.1.2 Hàm lượng giá trị khu vực (Regional Value Content – RVC)
Bên cạnh CTC, tiêu chí về hàm lượng giá trị Khu vực cũng được quy định là một phương pháp xác định sự “biến đổi cơ bản” trong quá trình xác định xuất xứ của hàng dệt may Quy tắc RVC yêu cầu giá trị gia tăng của hàng hóa xác định xuất xứ phải đạt đến một mức độ tối thiểu (được biểu thị bằng tỷ lệ giá trị phần trăm) ở trong khu vực nội địa của Hiệp định để được chứng nhận là có xuất xứ theo Hiệp định Mỗi Hiệp định sẽ quy định khác nhau về mức tỷ lệ phần trăm giá trị khu vực nhưng đa số các FTA hiện nay đều quy định giá trị này là 40%
Quy tắc RVC xác định giá trị gia tăng của hàng hóa thông qua việc xác lập các công thức tính cố định Mỗi FTA sẽ quy định số lượng công thức khác nhau nhưng về
cơ bản sẽ có 2 cách tính: (i) gián tiếp thông qua giá trị nguyên liệu không có xuất xứ (Build – down formula); (ii) trực tiếp thông qua nguyên liệu có xuất xứ (Build – up formula) Và khi chứng minh xuất xứ theo quy tắc RVC, doanh nghiệp có thể tự mình lựa chọn công thức tính
Với phương pháp tính gián tiếp, chủ thể thực hiện cần xác định các chỉ số về giá trị hàng hóa (thông thường là giá FOB của hàng hóa) và tổng giá trị các nguyên liệu không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ
Trang 22RVC =
Trị giá hàng hóa – Trị giá nguyên liệu không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ x 100
Trị giá hàng hóa
Trong trường hợp áp dụng công thức tính RVC trực tiếp, chỉ cần xác định các giá trị của nguyên liệu có xuất xứ và trị giá hàng hóa Công thức trực tiếp về cơ bản sẽ là sự đối chiếu giữa giá trị nguyên liệu có xuất xứ với trị giá hàng hóa thành phẩm
RVC =
Trị giá nguyên liệu có xuất xứ
x 100 Trị giá hàng hóa
Có thể thấy, RVC là tiêu chí thể hiện rõ hướng tiếp cận của ROO thời kỳ mới khi chú trọng đến giá trị gia tăng của hàng hóa sau mỗi công đoạn thay vì đơn thuần xác định nơi mà sản phẩm trải qua quá trình chế biến cuối cùng như trước đây
1.1.3 Quy tắc xuất xứ áp dụng riêng
Ngành dệt may có cấu trúc như một chuỗi cung ứng bao gồm một số hoạt động rời rạc Chuỗi cung ứng này từ giai đoạn tìm nguồn cung ứng nguyên liệu thô, hoạt động thiết thiết kế, sản xuất đến phân phối và tiếp thị ngày càng được tổ chức như một mạng lưới sản xuất tích hợp Trong đó hoạt động sản xuất, chế biến được chia thành các giai đoạn chuyên biệt và mỗi giai đoạn đặt ở nhiều địa điểm khác nhau, nơi nó có thể đóng góp nhiều nhất vào giá trị cuối cùng sản phẩm8 Ngoài nơi sản xuất thì nguyên phụ liệu của hàng dệt may cũng đến từ rất nhiều nơi trên thế giới, gồm cả nguyên liệu thô như
8Hildegunn Kyvik Nordås, The Global Textile and Clothing Industry post the Agreement on Textiles and
Clothing (2004), tr3
Trang 23bông, xơ, tơ tằm, hay nguyên liệu đã trải qua các công đoạn gia công như các loại vải, chỉ khâu, Điều này khiến cho việc thiết lập riêng một quy tắc xác định xuất xứ đối với hàng dệt may là điều thật sự cần thiết
Tại Vòng đàm phán Uruguay về Quy tắc xuất xứ của WTO, một hệ thống các quy tắc quan trọng đã được các Bên thành viên thống nhất để áp dụng riêng cho việc xác định xuất xứ cho ngành dệt may9 Cụ thể:
Quy tắc từ sợi trở đi (Fibre – Forward);
Quy tắc từ sợi dệt trở đi (Yarn – Forward); và
Quy tắc từ vải trở đi (Fabric – Forward)
Các quy tắc này được thiết kế dựa trên các công đoạn chủ yếu để tạo ra một sản phẩm dệt may hoàn chỉnh Đó là công đoạn từ sợi thô đến sợi dệt (from fiber to yarn), từ sợi dệt đến vải (from yarn to fabric) và từ vải đến thành phẩm (from farbic to garment)10 Điều này cho thấy đặc điểm nổi bật của ROO áp dụng riêng cho dệt may chú trọng nhiều đến sự liên kết theo chiều dọc của ngành
Quy tắc từ sợi trở đi (Fibre – Forward)
Quy tắc từ sợi trở đi là quy tắc quy định xuất xứ chặt chẽ nhất trong hệ thống quy tắc áp dụng riêng đối với hàng dệt may Quy tắc này yêu cầu từ sợi thô, sợi dệt đến thành phẩm phải được hình thành và hoàn tất trong phạm vi lãnh thổ của Hiệp định11 Do đó, nếu như sản phẩm được xem xét xuất xứ là hàng dệt, như các loại vải, thì hàng hóa phải trải qua tối thiểu 3 công đoạn, gồm: (i) từ nguyên liệu thô kéo thành sợi thô (như kéo bông thành sợi hay kéo sợi từ tơ tằm), (ii) từ sợi thô đến sợi dệt và (iii) từ sợi dệt đến vải
9 Stefano Inama, Rules of Origin in International Trade (2009), tr.84
10 Trần Thị Thuận Giang, Ngô Nguyên Thảo Vy, “Hiện thượng chệch hướng thương mại từ quy tắc xuất xứ ưu đãi
chặt chẽ: Tương mai của hàng dệt may ASEAN và Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, Tạp chí Khoa học pháp lý,
2017, số 04(107)
11 Summary of the U.S - CAFTA-DR Free Trade Agreement, https://www.trade.gov/summary-cafta-fta-textiles
(truy cập ngày 27/05/2022)
Trang 24phải được thực hiện trong khu vực FTA Trường hợp sản phẩm được xem xét xuất xứ là hàng may thành phẩm, như các loại quần áo, thì ngoài 3 công đoạn như đối với hàng dệt thì công đoạn tiếp theo, từ vải cắt may và lắp ráp tạo ra thành phẩm hoàn chỉnh, cũng phải được thực hiện tại một hoặc các nước Thành viên của Hiệp định
Nguyên tắc tắc này đặt ra sự hạn chế rất lớn cho thương mại đa phương khi gần như đòi hỏi toàn bộ quy trình sản xuất ra thành phẩm đều phải được tiến hành tại khu vực FTA Do vậy quy tắc từ sợi trở đi chỉ được áp dụng trong một vài FTA, bên cạnh đó
số lượng các sản phẩm dệt may bắt buộc áp dụng quy tắc này cũng rất ít Điển hình như trong Hiệp định CAFTA – DR12, quy tắc từ sợi trở đi chỉ được áp dụng đối với sản phẩm dệt kim hoặc móc có mã HS thuộc Chương 60 Hoặc theo quy định của USMCA, bản thân sợi dệt thông thường sẽ phải đáp ứng quy tắc này13 bên cạnh quy tắc chung là “từ sợi dệt trở đi”
Quy tắc từ sợi dệt trở đi (Yarn – Forward)
Quy tắc từ sợi dệt trở đi, hay còn gọi là quy tắc “ba công đoạn”, đây là quy tắc cơ bản và được sử dụng phổ biến nhất trong các FTA để xác định xuất xứ của các sản phẩm dệt may Đây là “sáng kiến” của Hoa Kỳ và được quy định chính thức lần đMyxầu tiên trong Chương trình ưu đãi 807A CBI (Caribean Basin Initiative - Sáng kiến vùng Vịnh Caribê) năm 198814 Cho đến thời điểm hiện tại, đây là quy tắc chủ yếu được áp dụng cho ngành dệt may trong các FTA mà Hoa Kỳ tham gia Nội dung của quy tắc Yarn – Forward yêu cầu công đoạn tạo sợi dệt và các công đoạn sau (như dệt vải, cắt may
12 Hiệp định Thương mại giữa Hoa Kỳ và một số nước Trung Mỹ, gồm: Guatemala, Costa Rica, Nicaragua, Honduras và El Salvador
13 David R.Hamill, Antonio J.Rivera, David Llorente, Birgit Matthiesen, Robert E.Shervette, IV, “New Textile and
Apparel Rules for the USMCA”, 2020, the-usmca (truy cập ngày 27/5/2022)
https://www.afslaw.com/perspectives/alerts/new-textile-and-apparel-rules-14 Nguyễn Thị Hồng Phụng, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân “Quy tắc xuất xứ hàng hóa và giải pháp cho hàng dệt
may Việt Nam”, 2014, tr.54
Trang 25thành phẩm) phải được tạo thành tại khu vực FTA Cũng có nghĩa là sản phẩm được xem xét phải có tối thiểu 3 công đoạn được thực hiện trong khu vực FTA, cụ thể:
Quy tắc này chỉ yêu cầu sợi dệt được tạo thành và hoàn tất tại khu vực FTA, điều này cho phép các Bên thành viên có thể nhập khẩu xơ, sợi thô từ các nước ngoài FTA để tiến hành các công đoạn tiếp theo, từ đó thành phẩm có thể được chứng nhận xuất xứ FTA và hưởng ưu đãi thuế quan Với hướng quy định này, quy tắc Yarn – Forward đảm bảo một mức độ “biến đổi cơ bản” vừa phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu vừa đảm bảo ngăn chặn tình trạng “vượt rào” của một số doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến lợi ích của những Thành viên Hiệp định
Quy tắc từ vải trở đi (Frabic – Forward)
Mặc dù quy tắc từ sợi dệt trở đi được đánh giá là cân bằng được giữa lợi ích của các quốc gia nội khối với phần còn lại của hệ thống thương mại hàng hóa quốc tế nhưng trên thực tế, quy tắc này vẫn đặt ra rào cản tương đối lớn cho một số quốc gia trong vấn
đề tìm nguồn cung nguyên phụ liệu đáp ứng quy tắc xuất xứ Nhằm giải quyết vấn đề này, một số FTA đã áp dụng quy tắc từ vải trở đi, hay quy tắc 2 công đoạn, để xác định xuất xứ cho ngành dệt may Một sản phẩm sẽ được chứng nhận là có xuất xứ FTA khi
áp dụng quy tắc Fabric – Forward nếu như vải được dệt thành và sau đó được cắt may thành sản phẩm trong phạm vi nội khối trong khi sợi có thể đến từ bất kỳ quốc gia/ khu vực nào trên toàn thế giới
Việc tạo ra sự tự do thương mại cao hơn khiến quy tắc này ngày càng được quan tâm Ví dụ như đối với Châu Âu, một trong 2 khu vực xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thể giới, cũng từng có những ý kiến đề xuất sử dụng quy tắc Fabric – Forward thay cho quy tắc Yarn – Forward khi đàm phán TTIP với Hoa Kỳ Cụ thể trong Position Paper
Trang 26(Thư trình bày ý kiến) của mình vào tháng 06/2015, EURATEX – Liên đoàn Dệt may
EU ủng hộ sử dụng quy tắc Fabric – Forward thay cho quy tắc Yarn – Forward trong TTIP15 để tạo thuận lợi cho các nhà sản xuất của ngành trong bối cảnh EU vẫn phụ thuộc vào nguồn cung sợi từ các quốc gia khác ngoài Hoa Kỳ, như Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ
và Ấn Độ
1.2 Quy tắc xuất xứ hàng dệt may trong RCEP và CPTPP
RCEP và CPTPP là các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nổi bật với ý nghĩa kinh tế16 và hướng đến mục tiêu thúc đẩy hệ thống thương mại đa biên thông qua các cam kết mở cửa thị trường khá mạnh ở phạm vi rộng, tác động mạnh mẽ đến thương mại quốc tế Với những cam kết sâu và rộng như vậy, các Thành viên của RCEP và CPTPP rất chú trọng đến việc đàm phán về ROO, đặc biệt là ROO áp dụng đối với ngành dệt may khi đây là các Hiệp định có sự tham gia của những quốc gia chiếm tỷ trọng lớn trong mảng xuất nhập khẩu hàng dệt may thế giới17
Đối với hoạt động xuất khẩu xơ, sợi dệt, 4 quốc gia thành viên của RCEP là Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam và Nhật Bản (trong đó Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đồng thời là thành viên CPTPP) là 4 trong 10 quốc gia/ khu vực xuất khẩu sợi, xơ dệt lớn nhất thế giới, đạt 178 tỷ USD, chiếm 50.5% thị phần thị trường thế giới Ở chiều ngược lại, hoạt động nhập khẩu ghi nhận con số ấn tượng hơn khi 6/10 quốc gia/ khu vực nhập khẩu sợi, xơ dệt lớn nhất thế giới là các thành viên của RCEP và CPTPP bao
15 EURATEX Position Paper on Textile & Clothing Rules of Origin in T-TIP, 06/2015 Euratex Position Paper on Textile and Clothing Rules of Origin in TTIP.pdf (borderlex.eu) (truy cập ngày 28/5/2022)
16 Hiệp định RCEP tạo nên khối thương mại quốc tế lớn nhất thế giới với 15 thành viên, chiếm gần 30% tổng dân
số thế giới, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chiếm 30% GDP thế giới vào năm 2019, tương đương gần 28% thương mại quốc tế Bên cạnh đó tại thời điểm ký kết, CPTPP là khối liên kết kinh tế lớn thứ 3 trên thế giới, chỉ sau Hiệp định thương mại tự do Liên minh Châu Âu – Nhật Bản (JEFTA) và Liên minh Châu Âu (EU) CPTPP gồm 11 nước thành viên với phạm vi thị trường khoảng hơn 502 triệu dân, tổng GDP hơn 10 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 15% GDP toàn cầu và khoảng 15% tổng thương mại thế giới
17 World Trade Statistical Review 2021, https://www.wto.org/english/res_e/statis_e/wts2021_e/wts2021_e.pdf (truy cập ngày 23/05/2022)
Trang 27gồm: Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada và Indonesia18 Về lĩnh vực may mặc, đây được xem là thế mạnh của các quốc gia Đông Nam Á (các thành viên trung tâm của Hiệp định RCEP) với nguồn lao động dồi dào và rẻ Trong năm 2020, ngoài Trung Quốc thì 3 quốc gia ASEAN là Việt Nam, Malaysia và Indonesia là 4/10 quốc gia xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới Đối với hoạt động nhập khẩu, các quốc gia thành viên của CPTPP như Nhật Bản, Canada và thành viên của RCEP là Hàn Quốc, Trung Quốc19 được ghi nhận là 4 trong 10 thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới20
Đối với RCEP, quy tắc xuất xứ của hàng dệt may được quy định chung trong Chương 03 (Quy tắc xuất xứ của Hiệp định) Trong đó, Phụ lục 3A quy định cụ thể các quy tắc xuất xứ cho từng ngành hàng dựa trên sự phân loại của mã HS Còn đối với CPTPP, Hiệp định này dành một chương riêng, Chương 04 (Dệt may), để quy định về quy tắc xuất xứ cho hàng dệt may Chương này bao gồm các nội dung:
(i) Phần lời văn bản: Bao gồm các nguyên tắc chung về quy tắc xuất xứ áp dụng đối với hàng dệt may;
(ii) Phục lục 4-A: Quy tắc xuất xứ cụ thể (PSR) mặt hàng dệt may;
(iii) Tiểu phụ lục 1 của Phụ lục 4-A: Các mặt hàng của danh mục nguồn cung thiếu hụt
Về cơ bản, quy tắc xuất xứ áp dụng cho hàng dệt may trong RCEP và CPTPP vẫn
là các quy tắc mà tác giả đề cập trong phần trước, như CTC, RVC và các quy tắc áp dụng riêng Tuy nhiên dưới góc độ cụ thể, RCEP và CPTPP có hướng tiếp cận khác nhau thông qua hệ thống quy tắc xác định xuất xứ dưới cấp độ điều khoản cụ thể Do đó trong phần dưới đây, tác giả sẽ tập trung phân tích các quy tắc áp dụng cho từng nhóm mặt
18 World Trade Statistical Review 2021, Table A22: Top 10 exporters and importers of textlies, 2020,
https://www.wto.org/english/res_e/statis_e/wts2021_e/wts2021_e.pdf (truy cập ngày 23/05/2022)
19 Nhật Bản và Hàn Quốc đồng thời cũng là Thành viên của RCEP
20 World Trade Statistical Review 2021, Table A23 Top 10 exporters and importers of clothing, 2020,
https://www.wto.org/english/res_e/statis_e/wts2021_e/wts2021_e.pdf (truy cập ngày 23/05/2022)
Trang 28hàng cụ thể trong mỗi Hiệp định và một số quy định khác liên quan đến việc xác định xuất xứ đối với hàng dệt may
1.2.1 Quy tắc xuất xứ của hàng dệt may theo RCEP
Chuyển đổi mã số HS của hàng hóa – CTC
Quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may trong RCEP về cơ bản là sự kế thừa và hài hòa hóa các quy tắc được áp dụng trước đó trong các FTA ASEAN +1 Các sản phẩm dệt may trong RCEP thuộc từ Chương 50 đến Chương 63 trong Hệ thống mã HS đối với Phiên bản HS năm 2012 RCEP chủ yếu sử dụng tiêu chí chuyển đổi mã số HS của hàng hóa để xác định xuất xứ cho hàng dệt may Trong đó RCEP sử dụng ba tiêu chí CTC để xác định xuất xứ của hàng hóa, gồm CC, CTH và CTC ngoại trừ
Tiêu chí chuyển đổi Chương – CC, được áp dụng cho: (i) hàng dệt thuộc từ Chương 50 đến Chương 56; và (ii) hàng may từ Chương 57 đến Chương 63 Trong đó
CC được áp dụng ở Chương 50 – Chương 53 chủ yếu cho các nguyên liệu thô hoặc chỉ trải qua bước sơ chế thông thường (như xe, chải thô, chải kỹ) tự nhiên như tơ tằm, bông,
lông cừu, lông động vật loại mịn hoặc loại thô, sợi từ lông đuôi hoặc bờm ngựa và
xơ dệt gốc thực vật khác Còn ở các Chương 54 và Chương
55 đề cập đến sợi nhân tạo như filament, xơ sợi staple, Ngoài ra một số sản phẩm như mền xơ, phớt, các sản phẩm không dệt, thuộc môt số Nhóm của Chương 56 chưa trải qua các công đoạn chế biến như ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp cũng sẽ áp dụng tiêu chí CCĐối với toàn bộ sản phẩm may, như vải hoặc các sản phẩm quần áo và hàng may mặc phụ trợ, thuộc từ Chương 57 – Chương 63 bắt buộc tuân theo tiêu chí CC (ngoài ra một số sản phẩm thuộc Chương 63 còn có thể áp dụng tiêu chí RVC40) RCEP không quy định CC ngoại trừ bất kỳ Chương, Nhóm hay Phân Nhóm nào, sản phẩm dệt may theo đó chí cần có sự chuyển đổi cấp độ 2 số đầu mã HS thì đã được chứng nhận có xuất
xứ RCEP
Trang 29Tiêu chí chuyển đổi Nhóm (chuyển đổi 4 số) – CTH, được áp dụng cho các sản phẩm thuộc các Nhóm của Chương 50 – Chương 56 đã trải qua các công đoạn chế biến phức tạp mà không thuộc phạm vi áp dụng tiêu chí CC Ngoài ra một số Nhóm thuộc Chương 50, Chương 51, Chương 53 và Chương 55 còn sử dụng thêm tiêu chí “CTC ngoại trừ Nhóm” để loại trừ thêm một số Nhóm nhất định khi xác định xuất xứ Ví dụ: đối với Sợi bông (trừ chỉ khẩu) đã đóng gói để bán lẻ có mã HS 52.07 áp dụng tiêu chí
“CTH ngoại trừ từ Nhóm 52.05 hoặc 52.06” Do đó Sợi bông này chỉ được xem là có chuyển đổi cơ bản để được chứng nhận xuất xứ RCEP nếu sử dụng bất kỳ nguyên liệu không có xuất xứ nào thì nguyên liệu đó phải có Nhóm khác Nhóm của thành phẩm, nghĩa là không thuộc Nhóm 52.07, đồng thời cũng không được thuộc hai Nhóm bị ngoại trừ là Nhóm 52.05 hoặc 52.06 Trường hợp có sử dụng sợi bông thuộc Nhóm 52.05 hoặc 52.06 thì các sợi bông này phải có xuất xứ RCEP
Tiêu chí Hàm lượng giá trị khu vực – RVC
Bên cạnh tiêu chí xác định xuất xứ chủ đạo là CTC thì RCEP còn quy định thêm một số mặt hàng dệt may có thể được chứng nhận xuất xứ khi đạt mức hàm lượng giá trị khu vực được quy định Các sản phẩm được áp dụng tiêu chí RVC rất hạn chế, bao gồm
4 Phân Nhóm của Chương 63: Phân Nhóm 6306.22; Phân Nhóm 6306.29; Phân Nhóm 6306.30 và Phân Nhóm 6307.20 Đối với tỷ lệ hàm lượng giá trị khu vực và công thức tính, RCEP áp dụng công thức cũng như mức RVC40 chung cho tất cả mặt hàng, do đó các sản phẩm dệt may ở trên cũng sẽ phải đáp ứng mức giá trị nội địa tối thiểu là 40%
để được xác nhận là có sự biến đổi cơ bản phù hợp với Hiệp định Hàm lượng giá trị khu vực được tính dựa trên cách tính sau:
Công thức gián tiếp thông qua nguyên liệu không có xuất xứ:
Trang 30RVC =
Giá FOB – Trị giá nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng
trong quá trình sản xuất hàng hóa
x100 Giá FOB
Công thức trực tiếp thông qua nguyên liệu có xuất xứ
RVC =
Nguyên liệu có xuất xứ + Chi phí nhân công trực tiếp + Chi phí
phân bổ trực tiếp + Lợi nhuận + Chi phí khác
x100 Giá FOB
Hàm lượng giá trị nội địa (Domestic Value Content – DVC)
Hàm lượng giá trị nội địa có bản chất tương tự như RVC tuy nhiên tiêu chí này chỉ được sử dụng để xác định xuất xứ trong quy định về khác biệt thuế quan21 Hiệp định RCEP cho phép các Thành viên quy định khác biệt thuế đối với một số nhóm mặt hàng nhất định, từ đó áp dụng mức thuế quan khác nhau cho cùng một mặt hàng nhập khẩu có xuất xứ từ các quốc gia Thành viên Các mặt hàng trong danh mục khác biệt thuế trước tiên phải là hàng hóa có xuất xứ và tiếp đến có giá trị nội địa của nước xuất khẩu đạt tối thiểu 20%, hay DVC2022 Trường hợp giá trị nội địa của nước xuất xứ ít hơn 20%, hàng hóa sẽ được xác định có xuất xứ của nước Thành viên có đóng góp nhiều nhất vào giá trị của sản phẩm cuối cùng
Về khái quát, DVC cũng được xác định dựa trên công thức tính trực tiếp và gián tiếp của RVC, tuy nhiên sẽ có sự thay đổi về cách xác định nguyên liệu có xuất xứ và nguyên liệu không có xuất xứ Bởi vì DVC là hàm lượng giá trị nội địa của duy nhất quốc gia xuất khẩu nên nguyên liệu không có xuất xứ trong công thức RVC khi áp dụng tính DVC sẽ được xác định là giá trị nguyên liệu không có xuất xứ từ nước xuất khẩu và
21 Điều 2.6 RCEP
22 Khoản 2 Điều 2.6; Phụ lục I Chương 3 RCEP
Trang 31tương tự như vậy, nguyên liệu có xuất xứ được đề cập trong công thức sẽ là nguyên liệu
có xuất xứ từ nước xuất khẩu
Ví dụ: một chiếc quần jean được xuất khẩu từ Indonesia qua New Zealand sử dụng nguyên liệu có xuất xứ của Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ với trị giá lần lượt là 30-10-55-34
Khi tính RVC, giá trị nguyên liệu có xuất xứ là: 30+10+55 = 95
Khi tính DVC, giá trị nguyên liệu có xuất xứ là: 30
Công thức gián tiếp thông qua nguyên liệu không có xuất xứ từ nước xuất khẩu:
DVC =
Giá FOB – Trị giá nguyên liệu không có xuất xứ từ nước xuất khẩu
được sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hóa
x100 Giá FOB
Công thức trực tiếp thông qua nguyên liệu có xuất xứ từ nước xuất khẩu:
DVC =
Nguyên liệu có xuất xứ từ nước xuất khẩu + Chi phí nhân công trực
tiếp + Chi phí phân bổ trực tiếp + Lợi nhuận + Chi phí khác
x100 Giá FOB
Tỷ lệ DVC có ý nghĩa rất quan trọng vấn đề xác định mức thuế quan ưu đãi vì hiện nay có 7/15 nước Thành viên RCEP áp dụng điều khoản về khác biệt thuế, gồm: Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Thái Lan Những nước này đưa ra danh mục các sản phẩm áp dụng khác biệt về thuế quan, trong
đó có cả các sản phẩm dệt may
Ví dụ: Trong danh mục áp dụng khác biệt thuế của Trung Quốc, mặt hàng sợi từ
xơ staple tổng hợp, chưa đóng gói để bán lẻ được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với bông có mã HS 5509.53.00 mức thuế áp dụng từ năm thứ 2 là:
Trang 32 Đối với hàng hóa có xuất xứ từ các nước thuộc ASEAN: 0%
Đối với hàng hóa có xuất xứ từ Australia, New Zealand: 4.5%
Như vậy đối với ví dụ trên, nếu sản phẩm sợi này trải qua công đoạn sản xuất cuối cùng tại Việt Nam, đáp ứng tiêu chí CTH trong PSR và được doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc thì sẽ xảy ra 2 trường hợp:
Trường hợp 1, tỷ lệ DVC Việt Nam đạt 20% trở lên: sản phẩm sợi sẽ được hưởng mức thuế là 0%;
Trường hợp 2, tỷ lệ DVC Việt Nam thấp hơn 20%: cơ quan hải quan Trung Quốc sẽ truy ngược về xác định nước Thành viên có đóng góp nhiều nhất vào trị giá sản phẩm và sản phẩm sợi sẽ được xác định là có xuất xứ của quốc gia
đó Nếu sau khi tính toán trị giá DVC, sản phẩm được xác định là có xuất xứ Australia hoặc New Zealand thì mức thuế được áp dụng là 4.5%
Tuy nhiên cần lưu ý rằng không phải trường hợp nào cũng cần tính DVC, vì như được đề cập ở trên, DVC được đề cập song song với điều khoản về khác biệt thuế Điều này có nghĩa là chỉ khi quốc gia nhập khẩu là 1 trong 7 nước áp dụng khác biệt thuế quan thì mới đặt ra yêu cầu về DVC20 bên cạnh việc thỏa mãn các tiêu chí xác định xuất xứ
cụ thể tại PSR
Các trường hợp ngoại lệ
Tuy nhiên, nhằm tạo thuận lợi hơn cho thương mại hàng hóa dệt may, RCEP còn quy định thêm một trường hợp ngoại lệ cho tiêu chí CTC trong trường hợp sản phẩm có nguyên liệu không đáp ứng tiêu chí nhưng ở tỷ lệ không đáng kể, đó là “De Minimis” (tỷ lệ tối thiểu) Tại Điều 3.7 RCEP, ngoại lệ “De Minimis” cho phép hàng hóa mặc dù chuyển đổi CTC thất bại nhưng vẫn được xem là có xuất xứ trong trường hợp:
Trang 33(i) trị giá của tất cả nguyên liệu không có xuất xứ không vượt quá 10% trị giá FOB của hàng hóa đó Trị giá của nguyên liệu không xuất xứ trong trường hợp này được tính theo công thức tính RVC; hoặc
(ii) trị giá của nguyên liệu không có xuất xứ không vượt quá 10% trọng lượng của hàng hóa đó
Nếu như đối với các hàng hóa khác thuộc từ Chương 01 – Chương 49 và từ Chương 34 – Chương 97 chỉ áp dụng ngoại lệ “De Minimis” dựa trên tiêu chí trị giá của nguyên liệu không có xuất xứ thì hàng dệt may được hưởng thêm tiêu chí về trọng lượng Tiêu chí này là sự kế thừa lại quy định của các FTA ASEAN +1 trước khi được thống nhất thành RCEP, như Hiệp định AKFTA, AJCEP Và được lý giải dựa trên đặc điểm của nguyên phụ liệu trong ngành, khi mà dệt may sử dụng những nguyên liệu nhẹ, chiếm khối lượng rất ít trong cấu tạo của thành phẩm nhưng lại có giá rất cao (ví dụ các loại vải cao cấp như vải Vicuna23, len Shahtoosh Ấn Độ24, ), khiến cho tỷ lệ trị giá nguyên liệu/ trị giá hàng hóa vượt quá mức 10% Do đó nếu chỉ cho phép áp dụng duy nhất điều kiện về trị giá của nguyên liệu thì sẽ rất khó khăn và không công bằng cho doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp không có khả năng hưởng ưu đãi về thuế mặc dù chỉ có một thành phần không đáp ứng được tiêu chí CTC25
23 Vải Vicuna là loại vải được tạo thành từ lông tơ của lạc đà không bướu trên dãy Andes, còn được gọi là “sợi tơ của chúa trời” Mỗi con lạc đà chỉ cho ra 500g len mỗi năm và 2 năm sau mới cho thu hoạch tiếp do đó giá của loại vải này rất cao, một bộ vest từ vải Vicuna có giá ít nhất là 50.000 USD
24 Len Shahtoosh Ấn Độ là loại len được dệt từ lông tơ của linh dương Tây Tạng Sợi vải Shahtoosh chỉ dày 9 micromet và đòi hỏi kỹ thuật rất cao để dệt Đây là chất liệu thường được dùng để dệt thành những tấm khăn choàng cao cấp có giá từ 5.000USD.
25 Lê Thị Hồng Ngọc, Phạm Văn Đồng, Brian Staples, “Sổ tay quy tắc xuất xứ trong các FTA Việt Nam là thành viên Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và Đầu tư của Châu Âu”, 2017, tr.32-33
Trang 341.2.2 Quy tắc xuất xứ của hàng dệt may theo CPTPP
Chuyển đổi mã số HS của hàng hóa - CTC
Hệ thống quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may trong CPTPP hướng đến mục tiêu thúc đẩy việc thiết lập chuỗi cung ứng và đầu tư trong khu vực bằng cách liên kết ngành theo chiều dọc để tăng giá trị của hàng dệt may được sản xuất trong phạm vi FTA
Tương tự như tiêu chí CTC của RCEP, CPTPP cũng sử dụng ba tiêu chí CTC là
CC, CTH và CTC ngoại trừ Tuy nhiên Hệ thống mã HS được CPTPP sử dụng là Phiên bản HS năm 200726, do đó hàng dệt may trong CPTPP sẽ có mã HS thuộc các Chương gồm: Chương 42, Chương 50 – Chương 63; Chương 66; Chương 70 và Chương 94
Khác với cách quy định của RCEP, tiêu chí CTC trong CPTPP chủ yếu sử dụng CTC ngoại trừ, gồm CC ngoại trừ và CTH ngoại trừ, rất ít các mặt hàng sử dụng tiêu chí
CC hoặc CTH thông thường Đối với tiêu chí CC, những sản phẩm áp dụng tiêu chí này chủ yếu là các nguyên liệu dệt thô như kén tằm phù hợp dùng làm tơ thuộc Nhóm 50.01,
tơ tằm thô Nhóm 50.02; lông cừu chưa chải thô hay chải kỹ thuộc Nhóm 51.01 hoặc lông động vật loại thô hoặc mịn chưa chải thô hoặc chải kỹ thuộc Nhóm 51.02, Đối với sản phẩm là thành phẩm, tiêu chí CC chỉ được CPTPP áp dụng cho mặt hàng thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác thuộc Nhóm 57.01 – Nhóm 57.05 Tiêu chí chuyển đổi Nhóm – CTH cũng được CPTPP sử dụng rất ít, đối với sản phẩm là thành phẩm thì CTH chỉ được áp dụng cho Nhóm 66.01 và Nhóm 70.19 Còn đối với sản phẩm là nguyên liệu thì CTH chỉ được áp dụng đối với Nhóm 50.03 – Nhóm 50.05, Nhóm 50.07 của Chương 50
về lụa và đối với nguyên liệu
tơ tằm phế phẩm (kể cả kén không thích hợp để quay
tơ, xơ sợi phế liệu và xơ sợi tái chế) thuộc
Nhóm 51.03
26 HS Nomenclature 2007 Edition, tools/hs_nomenclature_previous_editions/hs_nomenclature_table_2007.aspx
Trang 35http://www.wcoomd.org/en/topics/nomenclature/instrument-and-Trong khi đó, tiêu chí CC ngoại trừ và CTH ngoại trừ được sử dụng làm quy tắc xuất xứ chủ đạo trong CPTPP Đối với các nguyên liệt dệt may thuộc Chương 50 đến Chương 60, phạm vi ngoại trừ của tiêu chí CC hoặc CTH đa số là nguyên liệu thô được
sử dụng để sản xuất ra nguyên liệu dệt may đó Ví dụ, trường hợp nguyên liệu là vải thì
sẽ loại trừ sợi, còn nếu nguyên liệu là sợi thì sẽ loại trừ xơ Cụ thể, trường hợp nguyên liệu là vải dệt thoi từ sợi len lông cừu thuộc Nhóm 51.11 hoặc Nhóm 51.12 sử dụng tiêu chí CTH và loại trừ các loại sợi thuộc Nhóm 51.06 – Nhóm 51.10 Các sản phẩm dệt may thuộc Chương 61 – Chương 63 thiết lập phạm vi loại trừ của tiêu chí “CC ngoại trừ” hoặc “CTH ngoại trừ” tương đối rộng bao gồm cả vải và sợi
Ví dụ: sản phẩm áo khoác ngoài của nam có HS thuộc Nhóm 61.01 áp dụng tiêu chí CC ngoại trừ, trong đó phần ngoại trừ bao gồm 36 Nhóm cùng 8 Phân Nhóm thuộc 6/11 Chương của nguyên liệu dệt may là Chương 51, Chương 52, Chương 54, Chương
55, Chương 56 và Chương 60
Quy tắc Yarn – Forward
Riêng đối với các sản phẩm dệt may thuộc Chương 61 – Chương 63, CPTPP thiết lập một hệ thống quy tắc xác định xuất xứ rất phức tạp và khắc khe, đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa hai Hiệp định RCEP và CPTPP Ngoài yêu cầu đáp ứng tiêu chí “CTC ngoại trừ” như được phân tích ở trên thì các sản phẩm thuộc các Chương này còn cần đáp ứng một số điều kiện đặc biệt tại phần ghi chú Chương của mỗi Chương, gồm các quy định về xuất xứ của vải, chỉ khâu, các điều kiện về công đoạn thực hiên và đối tượng
áp dụng “CTC ngoại trừ”, các yêu cầu này là quy tắc Yarn – Forward
Quy tắc Yarn – Forward, như được phân tích tại phần trước, yêu cầu 3 công đoạn (i) tạo và hoàn thành sợi dệt; (ii) tạo và hoàn thành vải và (iii) cắt, may quần áo phải được thực hiện trong khu vực CPTPP Tuy nhiên quy tắc Yarn – Forward trong CPTPP không được quy định là tiêu chí xuất xứ trong Phụ lục 4-A mà được sử dụng làm cơ sở chủ đạo để xây dựng tiêu chí Quy tắc Yarn – Forward theo đó được thể hiện ở phần ghi
Trang 36chú Chương; điều kiện cụ thể về công đoạn trong PSR và phần ngoại trừ của “CTC ngoại trừ”
Tại ghi chú số 2 của Chương 61 và Chương 62 yêu cầu hàng hóa thuộc hai Chương này nếu có sử dụng vải của Nhóm 60.02 hoặc Phân nhóm 5806.20 thì các vải này phải được hình thành và hoàn tất từ sợi được hình thành và hoàn tất toàn bộ tại lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên Ngoài ra trong quy tắc cụ thể mặt hàng áp dụng riêng cho từng Nhóm, Phân Nhóm sẽ bao gồm 3 nội dung:
Cấp độ chuyển đổi mã HS (CC hoặc CTH);
Phạm vi ngoại trừ; và
Điều kiện về công đoạn;
Đối với điều kiện về công đoạn, quy tắc cụ thể mặt hàng ở cấp độ Nhóm, Phân Nhóm thuộc Chương 61 – Chương 63 đều đặt điều kiện rằng
hàng hóa được cắt hoặc khâu thành hình, hoặc cả hai công đoạn, và được may tại lãnh thổ của CPTPP Ngoài ra phạm vi ngoại trừ của tiêu chí CTC, như được phân tích tại mục về tiêu chí CTC trong CPTPP, của sản phẩm dệt may thuộc các Nhóm, Phân Nhóm của Chương 61 – Chương 63 đã yêu cầu các loại vải, sợi sử dụng tạo ra thành phẩm phải là nguyên liệu có xuất xứ theo Hiệp định Hơn thế, CPTPP còn yêu cầu phụ liệu là chỉ khâu sử dụng trong các Chương này bắt buộc phải được tạo và hoàn thành trong khu vực nội khối
Như vậy thực chất quy tắc Yarn – Forward trong CPTPP chỉ được thể hiện
rõ khi tiến hành áp dụng hệ thống các tiêu chí, quy tắc để xác nhận xuất xứ của một sản phẩm dệt may cụ thể
Trang 37Các trường hợp ngoại lệ
Mặc dù sử dụng quy tắc 3 công đoạn là quy tắc xuất xứ chủ đạo cho Hiệp định nhưng CPTPP cũng quy định ngoại lệ chấp nhận áp dụng quy tắc 1 công đoạn là “cắt và may” đối với 3 nhóm hàng dệt may: các loại vali có mã HS thuộc Nhóm 4202; áp ngực phụ nữ có HS thuộc Phân Nhóm 6212.10 và mặt hàng quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp thuộc Phân Nhóm 6209.30 Tuy nhiên cần lưu ý rằng giống như quy tắc 3 công đoạn, quy tắc xuất xứ cụ thể của 3 nhóm mặt hàng này trong PSR không được quy định là “cắt
và may” mà vẫn xác định theo tiêu chí có sự chuyển đổi mã số HS của hàng hóa Do đó trong PSR, cả 3 mặt hàng này đều áp dụng tiêu chí CC và quy tắc 1 công đoạn được thể hiện tại phần điều kiện được quy định kèm theo Như đối với sản phẩm quần áo trẻ em
có HS 6203.30 sẽ tuân theo quy tắc xuất xứ trong PSR như sau:
6209.30 Chuyển đổi cho hàng hóa của phân nhóm 6209.30 từ bất kỳ chương nào
khác, với điều kiện hàng hóa được cắt hoặc khâu thành hình, hoặc cả hai công đoạn, và được may tại lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên
Mặc dù có sự quy định lỏng hơn so với quy tắc xác định xuất xứ của các Nhóm, Phân Nhóm mặt hàng khác trong Chương nhưng 2 mặt hàng là quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp (HS 6209.30) và áo ngực phụ nữ (HS 6212.10) vẫn thuộc Chương 62 do đó vẫn sẽ phải đáp ứng thêm các điều kiện được đặt ra tại ghi chú Chương
Cùng với mục tiêu nhằm tạo thêm cơ hội cho các nhà sản xuất có được xuất xứ của FTA, CPTPP cũng có trường hợp ngoại lệ về “De Minimis” Theo quy định của khoản 2, khoản 3 Điều 3 Phụ lục 4 CPTPP, các sản phẩm không đáp ứng được các quy tắc về chuyển đổi mã HS vẫn sẽ được xem là có xuất xứ trong trường hợp:
(i) Các sản phẩm dệt may ngoài các Chương từ 61 đến 63: trị giá khối lượng các nguyên liệu không đáp ứng được quy tắc chuyển đổi mã HS không vượt quá 10% tổng khối lượng của sản phẩm;
Trang 38(ii) Các sản phẩm dệt may từ các Chương 61 đến 63: trị giá khối lượng của các nguyên liệu sợi không đáp ứng quy tắc chuyển đổi mã số HS được dùng trong sản xuất ra thành phần quyết định mã HS của sản phẩm dệt may đó có không vượt quá 10% tổng khối lượng của thành phần thì sản phẩm dệt may đó Lưu ý rằng trong cả 2 trường hợp trên, nếu các sản phẩm dệt may chứa nguyên liệu là sợi đàn hồi (elastomeric yarn) trong bộ phận quyết định đến phân loại của sản phẩm thì sản phẩm đó chỉ được chứng nhận là có xuất xứ nếu sợi đàn hồi được sản xuất toàn bộ trong khu vực CPTPP Sợi đàn hồi hay sợi co dãn là loại sợi mà cấu trúc của nó mang lại tính chất kéo giãn và phục hồi tốt, thường gặp nhất là sợi elastane (ở Hoa Kỳ gọi là spandex)27 Loại sợi này thường được sử dụng trong các loại quần áo yêu cầu sự thỏa mái cao khi hoạt động như quần áo thể thao hoặc các loại quần áo có sự co giãn tốt như quần jean Ngoài ra đối với yêu cầu về quy trình sản xuất, sợi đàn hồi được sử dụng bắt buộc phải được sản xuất toàn bộ hay xe toàn bộ (wholly formed) trong khu vực CPTPP Tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 06/2020 xe toàn bộ được định nghĩa là toàn bộ quá trình sản xuất và công đoạn hoàn thiện, bắt đầu từ ép đùn sợi filament, dải, màng hoặc tấm, và bao gồm cả kéo căng sợi filament hoặc cắt màng hoặc tấm thành dải, hoặc công đoạn kéo các loại xơ thành sợi, hoặc cả hai, và cuối cùng thu được sợi thành phẩm (a finished yarn) hoặc sợi chập (plied yarn) Định nghĩa này cũng phù hợp với ghi chú
về định nghĩa xe toàn bộ của CPTPP
Có thể thấy, ngoại lệ “De Minimis” của CPTPP được quy định tương đối khác so với RCEP Thứ nhất về tiêu chí sử dụng để đánh giá, nếu như RCEP sử dụng cả 2 tiêu chí là giá trị và khối lượng của nguyên liệu thì CPTPP chỉ áp dụng tiêu chí khối lượng
27 Government of India Department of Commerce, Initiation Notification, Anti Dumping Cases “Elastomeric Filament Yarn from China PR South Korea Taiwan and Vietnam”,
https://www.dgtr.gov.in/sites/default/files/adint_Elastomeric_Filament_Yarn_ChinaPR_South_Korea_Taiwan_V ietnam.pdf (truy cập ngày 30/5/2022)
Trang 39để xem xét tỷ lệ tối thiểu đối với hàng dệt may, còn tiêu chí trị giá nguyên liệu được áp dụng cho các sản phẩm còn lại Thứ hai về đối tượng được đánh giá tỷ lệ, CPTPP đã áp dụng cách tính “De Minimis” dựa trên trị giá khối lượng của sợi tạo ra bộ phận quyết định đến phân loại mã HS của thành phẩm thay vì trị giá khối lượng của chính nguyên liệu không chuyển đổi mã HS thành công như các sản phẩm ngoài Chương 61 – Chương
63 Đặc điểm này phần nào cũng nhấn mạnh lại sự quan tâm của CPTPP đối với công đoạn từ sợi trở đi
Ngoài De Minimis, CPTPP còn quy định thêm một ngoại lệ khác đối với quy tắc
“từ sợi trở đi” đó là quy định linh hoạt về cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” Cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép các Thành viên sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không
có sẵn trong khu vực để thực hiện công đoạn cắt và may trong khối, từ đó hàng hóa vẫn
sẽ được công nhận là có xuất xứ CPTPP Quy định này nhằm giúp cho ngành sản xuất của các quốc gia từng bước thích ứng, hòa nhập với quy định của Hiệp định
Danh mục cụ thể các loại sợi, vải của nguồn cung thiếu hụt được quy định cụ thể trong Tiểu phụ lục 1 của Phụ lục 4-A, gồm 187 loại và được chia thành 2 nhóm:
Danh mục nguồn cung thiếu hụt tạm thời: bao gồm 08 loại nguyên liệu được phép nhập khẩu từ các nước ngoài CPTPP mà vẫn được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan, nhưng chỉ được trong vòng 5 năm kể
từ khi Hiệp định có hiệu lực
Danh mục nguồn cung thiếu hụt vĩnh viễn: bao gồm 179 loại nguyên liệu được phép nhập khẩu từ các nước ngoài CPTPP mà vẫn được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ CPTPP để hưởng ưu đãi thuế quan trong CPTPP, không hạn chế về thời gian
Không chỉ đơn thuần liệt kê danh mục các nguyên liệu, Tiểu phụ lục 1 còn mô tả một cách rất chi tiết các điều kiện để nguyên liệu được xem là nguồn chung thiếu hụt, ví dụ:
Trang 40Mặt
Yêu cầu đầu ra
(nếu có)
90
Vải vân chéo dệt thoi 100% ni lông, được phân
loại tại nhóm 5407, 70denier x 60denier, kích
cỡ sợi 155x90/ inch vuông, trọng lượng 115
g/m2.
Quần nam, trừ loại chịu nước, được phân loại trong 6203.43
Tại đây CPTPP quy định nguyên liệu đầu vào tại cột thứ 2 với những chi tiết kỹ thuật đi kèm cụ thể và các nguyên liệu đáp ứng điều kiện đó chỉ được sử dụng cho các sản phẩm đầu ra cụ thể tại cột thứ 3, các sản phẩm đầu ra chủ yếu là hàng thuộc Chương
61, Chương 62 và túi xách của Chương 42 Một số nguyên liệu có thể không yêu cầu đầu ra, lúc này nội dung ở cột thứ 3 được để trống và điều này đồng nghĩa rằng những nguyên liệu đủ điều kiện trong cột mô tả nguyên liệu là nguồn cung thiếu hụt sẽ được sử dụng cho bất kỳ sản phẩm dệt may nào
Có thể thấy, quy tắc xuất xứ áp dụng cho hàng dệt may giữa RCEP và CPTPP tuy rằng đều dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung nhưng tùy vào đặc điểm, mục tiêu của Hiệp định mà mức độ chặt chẽ của các nguyên tắc trong mỗi Hiệp định là khác nhau So với RCEP, quy tắc xác định xuất xứ áp dụng cho hàng dệt may của CPTPP cho thấy sự phức tạp và chặt chẽ hơn rất nhiều
Việt Nam là một trong số các quốc gia có thế mạnh trong ngành dệt may đồng thời cũng là thành viên của RCEP và CPTPP nên việc tận dụng linh hoạt các ưu đãi trong từng Hiệp định sẽ giúp các doanh nghiệp Việt có thể tiếp tục nâng cao vị thế trong các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản cũng như có cơ hội thâm nhập sâu vào các thị trường mới trong CPTPP mà điển hình là Canada28
28 Trước CPTPP, Việt Nam chưa có FTA nào với Canada, Peru và Mexico