Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến công tác bảo hành phát sinh một cách đa dạng, nhanh chóng, dẫn quy định pháp luật về vấn đề nay chưa đầy đủ, còn bất cập gây khó khăn trong quá trình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ BÍCH THU
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế Định hướng Nghiên cứu
Mã số: 8380107
Người hướng dẫn khoa học : Pgs.Ts Phan Huy Hồng
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn “Pháp luật về Bảo hành công trình xây
dựng tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học của chính tác giả dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Huy Hồng Các kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực, tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022
Người cam đoan
Nguyễn Thị Bích Thu
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Federation International des
2
Luật số 62/2020/QH14 ngày 17 tháng 6
năm 2020 của Quốc hội về Sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xây dựng
Luật Xây dựng 2014 (SĐBS)
4
Fidic (1999), Conditions of Contract for
Construction, Fidic – Federation
International des Ingenieurs-Conseils, 1st
Edition 1999
Fidic Red Book (1999)
5
Fidic (1999), Conditions of Contract for
Plant and Design – Build for Electrial and
Mechanical Works and for building and
Engineering Works designed by The
Contractor, Fidic – Federation
International des Ingenieurs-Conseils, 1st
Edition 1999
Fidic Yellow Book (1999)
6
Fidic (2017), Conditions of Contract for
Construction, Fidic – Federation
International des Ingenieurs-Conseils,
Second Edition 2017
Fidic Red Book (2017)
7
Fidic (2017), Conditions of Contract for
Plant and Design Build, Fidic –
Federation International des
Ingenieurs-Conseils, 2nd Edition 2017
Fidic Yellow Book (2017)
Trang 5DANH MỤC BIỂU MẪU
1.1 Mẫu Cam kết bảo hành của Công ty Cổ phần Đầu tư
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 7
1.1 Lý luận chung về Bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Bảo hành công trình xây dựng 7
1.1.2 Các yếu tố tác động đến hoạt động Bảo hành công trình xây dựng 21
1.2 Lý luận chung về Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng 28
1.2.1 Khái quát lịch sử phát triển của Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng 28
1.2.2 Nguồn Pháp luật điều chỉnh hoạt động Bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam 32
1.2.3 Phương pháp điều chỉnh của Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng 35
1.2.4 Vai trò và sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng 35
Kết luận Chương 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM 39
2.1 Vấn đề Thời hạn Bảo hành công trình xây dựng 39
2.1.1 Thực trạng Quy định pháp luật về Thời hạn Bảo hành công trình xây dựng 39
2.1.2 Thực trạng áp dụng Quy định pháp luật về Thời hạn Bảo hành công trình 40
2.2 Vấn đề phân chia trách nhiệm Bảo hành trong Dự án có nhiều Nhà thầu tham gia 51
2.2.1 Thực trạng Quy định Pháp luật về Phân chia trách nhiệm Bảo hành trong Dự án có nhiều Nhà thầu tham gia 51
2.2.2 Thực trạng áp dụng Quy định Pháp luật về phân chia trách nhiệm Bảo hành trong Dự án có nhiều Nhà thầu tham gia 51
Trang 72.3 Vấn đề Xác nhận hoàn thành công tác Bảo hành 53
2.3.1 Thực trạng Quy định Pháp luật về Xác nhận hoàn thành công tác Bảo hành 53
2.3.2 Thực trạng áp dụng Quy định Pháp luật về Xác nhận hoàn thành công tác Bảo hành 54
2.4 Vấn đề Bảo đảm Bảo hành 55
2.4.1 Thực trạng Quy định Pháp luật về Bảo đảm Bảo hành 55
2.4.2 Thực trạng áp dụng Quy định Pháp luật về Bảo đảm Bảo hành 57
2.5 Vấn đề Xử lý vi phạm hành chính về Bảo hành công trình 59
2.5.1 Thực trạng Quy định về Xử lý vi phạm hành chính về Bảo hành công trình 59
2.5.2 Thực trạng áp dụng Quy định pháp luật trong Xử lý vi phạm hành chính về Bảo hành công trình 61
Kết luận Chương 2 65
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM 67
3.1 Kiến nghị hoàn thiện Quy định Pháp luật về Thời hạn Bảo hành công trình 67
3.2 Kiến nghị hoàn thiện Quy định Pháp luật về Phân chia trách nhiệm Bảo hành trong Dự án có nhiều Nhà thầu tham gia 69
3.3 Kiến nghị hoàn thiện Quy định Pháp luật về Xác nhận hoàn thành công tác Bảo hành 70
3.4 Kiến nghị hoàn thiện Quy định Pháp luật về Bảo đảm Bảo hành 70
3.5 Kiến nghị hoàn thiện Quy định Pháp luật về Xử lý vi phạm hành chính về Bảo hành công trình xây dựng 71
Kết luận Chương 3 74
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình hình thành và phát triển của đất nước luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Không nằm ngoài xu thế đó, ngành xây dựng ra đời và phát triển, vừa là sản phẩm gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước, vừa là một trong những ngành nghề quan trọng của nền kinh tế
Các sản phẩm của ngành xây dựng với đặc trưng không chỉ là sản phẩm phản ánh trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, phản ánh văn hóa của mỗi quốc gia, mà đơn giản hơn, đó là những công trình gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng hằng ngày của con người, có ảnh hưởng nhất định đến an toàn, sức khỏe, tính mạng của con người Quá trình sử dụng, vận hành của một công trình xây dựng khiến cho chất lượng của công trình bị giảm sút, hao mòn thậm chí phá hủy một phần bởi các yếu tố tự nhiên hoặc do các lỗi, sai sót, rủi ro phát sinh trong quá trình vận hành sử dụng (quá trình thi công và nghiệm thu không thể phát hiện ra được) Một trong những cách thức để đảm bảo và duy trì tính ổn định, bền vững và chất lượng công trình là thực hiện công tác bảo hành sau khi công trình xây dựng được nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng Từ đó, việc tiến hành các công tác bảo hành, sửa chữa, bảo trì công trình luôn luôn là đòi hỏi bức thiết, phải gắn liền với quá trình tồn tại, sử dụng và vận hành công trình Chính từ đây, các vướng mắc, phát sinh liên quan đến công tác bảo hành nảy sinh, đòi hỏi cần có sự điều chỉnh của Pháp luật về Bảo hành công trình
Bảo hành công trình xây dựng là nghĩa vụ, trách nhiệm cũng đồng thời là quyền lợi của các chủ thể có liên quan đến công trình xây dựng đó Vì vậy, để bảo
vệ quyền lợi và duy trì, kiểm soát trách nhiệm, nghĩa vụ này, Pháp luật Việt Nam có quy định liên quan đến bảo hành công trình trong các văn bản quy phạm pháp luật
về xây dựng, mà mới nhất hiện nay là Luật Xây dựng 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan
Việc bảo hành công trình trên thực tế sẽ được các bên tiến hành theo quy định hợp đồng được giao kết (hợp đồng thi công xây dựng, hợp đồng mua bán nhà giữa bên bán và bên mua…) và quy định pháp luật
Mặc dù Pháp luật Việt Nam có những quy định nhất định liên quan đến vấn đề bảo hành (như về thời hạn bảo hành, phạm vi bảo hành, tiền, chi phí bảo lãnh bảo
Trang 9hành…) Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến công tác bảo hành phát sinh một cách
đa dạng, nhanh chóng, dẫn quy định pháp luật về vấn đề nay chưa đầy đủ, còn bất cập gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan đến công tác bảo hành như: thời hạn bảo hành giữa các công trình khác nhau trong cùng một
dự án, nghĩa vụ bảo hành khi công trình chưa hoàn thành nhưng hợp đồng thi công đã chấm dứt và thay đổi nhà thầu; phạm vi bảo hành cho từng loại công trình đặc thù còn quy định chung chung; thời điểm tính bảo hành cho các hạng mục có thời gian nghiệm thu khác nhau, quy định thời gian bảo hành đã thực sự hợp lý chưa,…
Ngoài ra, các tranh chấp, vướng mắc liên quan đến công tác bảo hành thường
là những tranh chấp mang tính bức thiết, cần phải được giải quyết nhanh chóng để đảm bảo tính ổn định của công trình, đặc biệt là những trường hợp cần phải có cơ chế giải quyết nhanh chóng nhằm đảm bảo an toàn, quyền lợi của các bên liên quan Chính điều này, hỏi các quy định pháp luật liên quan đến bảo hành cần được quy định cụ thể, rõ ràng, linh hoạt nhất có thể, nhằm đảm bảo được quyền lợi của các bên liên quan
Với những lý do trên và xuất phát từ tình hình thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài:
“Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình Thông qua đề tài này, Tác giả phân tích chuyên sâu quy định pháp luật điều chỉnh về bảo hành công trình, thực tiễn áp dụng cùng các vướng mắc phát sinh, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình khảo sát, tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quan đến “Pháp luật
về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam”, tác giả nhận thấy có một số công trình nghiên cứu như sau:
Công trình nghiên cứu khoa học pháp lý: Quá trình tìm hiểu, tác giả có tìm
được một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo hành Các công trình được tìm thấy, có công trình tiếp cận nghiên cứu quy định pháp luật bảo hành theo hướng dẫn chiếu một số quy định pháp luật, bất cập trên thực tế liên quan đến vấn đề bảo hành nhưng dựa trên luật cũ Một số bài nghiên cứu vấn đề khác về bảo trì công trình theo quy định pháp luật hiện hành, tuy nhiên chỉ nhắc đến một phần nhỏ vấn đề bảo hành để phục vụ cho vấn đề chính khác mà các tác giả đó nghiên cứu, vấn đề bảo
Trang 10hành chỉ được điểm sơ qua mà không được phân tích một cách chuyên sâu, cụ thể và đầy đủ Một số đề tài mà tác giả tìm được trong quá trình nghiên cứu được phân loại theo nhóm vấn đề làm nguồn tham khảo trong quá trình làm bài như sau:
- Quy định pháp luật về bảo hành công trình, thực trạng và kiến nghị:
Đỗ Quang Thuần (2008), Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam,
Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Tp.HCM: luận văn trình bày những vấn đề
lý luận về bảo hành công trình kèm Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình theo Luật Xây dựng 2003, như các yếu tố chi phối pháp luật bảo hành công trình, thực trạng áp dụng pháp luật bảo hành công trình tại Việt Nam, thông qua đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Nội dung luận văn phân tích theo quy định của Luật Xây dựng 2003 và các văn bản hướng dẫn liên quan đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng Tuy nhiên, những phân tích về mặt pháp luật trong luận văn theo Luật cũ hiện nay đã hết hiệu lực và thay thế bằng Luật Xây dựng
2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan Cho đến nay, tác giả cũng chưa thấy có thêm luận văn, luận án hoặc bài phân tích nào chuyên sâu và toàn diện về pháp luật
về bảo hành công trình theo quy định pháp luật hiện hành;
- So sánh một số điểm khác biệt giữa bảo hành công trình và bảo trì công
trình: Luận văn Ngô Đình Nguyên Khôi (2017), Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo
trì công trình xây dựng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Tp.HCM; Đoàn Văn Thuận
(2018), Kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Tp.HCM; Nguyễn Thị Trang (2015), Pháp luật điều
chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng quỹ bảo trì đường bộ, Luận văn thạc sĩ, Đại học
Luật Tp Hà Nội: các luận văn chủ yếu nói về Chi phí bảo trì công trình xây dựng; Tổ chức thực hiện việc bảo trì công trình xây dựng; kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu, cách quản lý và sử dụng nguồn kinh phí này trên thực tế; Phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng quỹ bảo trì đường bộ và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Nội dung công tác bảo trì cũng một phần liên quan đến hoạt động bảo hành công trình tại các dự án hạ tầng, làm căn cứ cho tác giả tham khảo khi so sánh với hoạt đông bảo trì công trình với bảo hành công trình trong bài viết của tác giả
- Đề cập đến vấn đề lý luận chung về hợp đồng thi công xây dựng và trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng thi công xây dựng: Đặng Hải Triều
(2016), Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng thi công xây dựng, Luận văn
Trang 11thạc sĩ, ĐH Luật Hà Nội; Vũ Thị Lan Hương (2017), “Bàn về trách nhiệm của người thi công trong bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
gây ra”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư Pháp, 2017, Số 8 (305), tr 13 – 17:
nội dung chủ yếu nghiên cứu các quy định chung về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng thi công xây dựng và thực tiễn giải quyết tại Tòa án; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Trách nhiệm dân sự được
đề cập bao gồm trách nhiệm liên quan đến công tác bảo hành công trình xây dựng, thực tiễn, bất cập và kiến nghị Tuy nhiên, các bài nói trên không đi sâu phân tích các quy định cụ thể về bảo hành công trình mà chỉ đề cập đến nguyên tắc chung về trách nhiệm dân sự
- Đề cập đến các yếu tố tác động đến hợp đồng xây dựng: Lại Văn Lương,
Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Đặng Hoàng Mai (2016), “Quản lý thực hiện hợp đồng
xây dựng ở Việt Nam: Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng”, Tạp chí Khoa học
Công nghệ số 29, tháng 6/2016, trang 29-35: các Bài viết tập trung phân tích thực
trạng quản lý, thực hiện hợp đồng xây dựng, liệt kê, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động xây dựng nói chung, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò của công tác này trong hoạt động xây dựng
- Đề cập đến việc giải quyết các tranh chấp, bồi thường thiệt hại, các vấn
đề khác liên quan đến công tác bảo hành: các nội dung này thường dựa trên hợp
đồng thỏa thuận giữa nhà thầu và chủ đầu tư, hợp đồng giữa bên mua, bên bán công trình xây dựng Việc khái quát các nội dung liên quan đến giải quyết tranh chấp theo hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng là hết sức cần thiết Hiện tại có rất nhiều tài liệu tham khảo, sách giáo trình
về giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, điển hình như: Đỗ Văn
Đại (2017), Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức;
Đỗ Văn Đại (chủ biên) (2019), Giải quyết tranh chấp hợp đồng: những điều doanh
nhân cần biết, NXB Thanh Niên; Trương Hồng Quang (2018), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 và những tình huống thực tế, NXB Chính trị Quốc gia; Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận án, NXB Hồng Đức
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chỉ đề cập đến vấn đề bảo hành dưới góc độ khái quát, không đi sâu phân tích các quy định cụ thể có liên quan
và thực trạng áp dụng Đặc biệt, không có nhiều bài phân tích hay bài luận đi sâu
Trang 12phân tích các vấn đề về Bảo hành công trình hoặc các thực trạng liên quan khi áp dụng quy định pháp luật về Bảo hành công trình theo pháp luật xây dựng hiện hành
Chính vì thế, với đề tài “Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam”, tác giả nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện vấn đề về Bảo hành công trình, trong đó tập trung nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của Bảo hành công trình và vai trò của Bảo hành công trình xây dựng tại các dự án xây dựng dân dụng (nhà ở, chung cư, nhà cao tầng); quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động bảo hành kèm theo thực trạng áp dụng những quy định này trên thực tế tại các Dự án xây dựng dân dụng Thông quá đó, tác giả chỉ ra những bất cập, vướng mắc, những điểm còn hạn chế hoặc chưa có hướng dẫn chi tiết trong quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Với việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam”, tác giả có những mục tiêu sau đây:
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hành công trình xây dựng,
lý luận chung về pháp luật bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam
Hai là, phân tích thực trạng quy định pháp luật về bảo hành công trình xây
dựng và thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng trên thực tế
Ba là, từ những thực trạng được phân tích nói trên để rút ra kiến nghị, đề xuất
định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng
4 Đối tượng nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu là hệ thống lý thuyết liên quan đến Bảo hành công trình xây dựng; những quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng (chủ yếu phân tích với công trình dân dụng là nhà ở, chung cư, nhà cao tầng) và thực trạng áp dụng quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả nhấn mạnh trình bày các vấn đề
về Quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh về việc thực hiện công tác bảo hành công trình xây dựng (theo Luật Xây dựng 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan), thực trạng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng hiện nay theo các góc độ cụ thể sau:
Trang 13- Về không gian, tác giả nghiên cứu pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng có tham khảo một số định nghĩa của quốc tế về bảo hành công trình để phục vụ cho việc rút ra những nhận định, đánh giá của tác giả
- Về thời gian, tác giả chủ yếu nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành
về bảo hành công trình xây dựng tại Luật Xây dựng 2014 (được SĐBS bởi Luật số 62/2020/QH14 ngày 17/06/2020), Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Xây dựng và các văn bản khác có liên quan
6 Phương pháp nghiên cứu
Việc trình bày các nghiên cứu trước hết dựa trên hệ thống lý luận và thực tiễn, cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Ngoài ra, để đánh giá, thể hiện đầy đủ các quy định pháp luật liên quan đến Bảo hành công trình, cũng như đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp, tác giả sử dụng kết hợp linh hoạt một số phương pháp chủ yếu như sau:
Phương pháp phân tích, diễn giải: được sử dụng trong việc đánh giá, nghiên cứu các tài liệu đã có như văn bản pháp luật, tài liệu, sách Đồng thời, phương pháp này cũng sử dụng khi đánh giá các vấn đề, thực trạng quy định pháp luật, các khó khăn vướng mắc có liên quan Phương pháp này được tác giả sử dụng ở cả ba Chương của luận văn
Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này khi liệt kê một số quy định pháp luật giữa luật mới, luật cũ để chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt, tiến bộ; so sánh một số khác biệt về định nghĩa, khác biệt giữa bảo hành và bảo trì công trình Phương pháp này được tác giả sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 của luận văn
Phương pháp tổng hợp và phương pháp hệ thống: tác giả sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp nói trên trong từng nội dung phân tích cụ thể, từ đó trình bày các vấn đề đưa ra một cách trật tự, có sự liên kết, giải thích rõ ràng để làm rõ và đúc kết vấn đề đưa ra Phương pháp này tác giả sử dụng ở cả ba Chương của luận văn
Trang 14CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1 Lý luận chung về Bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Bảo hành công trình xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm Bảo hành công trình xây dựng
Công trình xây dựng nói chung là một sản phẩm được tạo nên bởi sức lao động của con người, các vật liệu và thiết bị khác gắn kết với nhau tạo thành một thể thống nhất theo thiết kế đã được chấp thuận hoặc phê duyệt bởi cơ quan, đơn vị có thẩm quyền
Dưới góc độ pháp lý, khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 (được SĐBS) có định nghĩa “Công trình xây dựng là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước”
Khái niệm công trình xây dựng được định nghĩa một cách đa dạng hơn theo Federation International des Ingenieurs-Conseils (“FIDIC”), ở phiên bản Điều kiện hợp đồng Thiết bị công trình và thiết kế xây dựng được thiết kế bởi nhà thầu, xuất bản năm 19991 hay còn gọi Fidic Yellow Book (1999), công trình được hiểu
là công trình vĩnh cửu và công trình tạm hoặc bất kỳ loại thích hợp nào trong đó2 Trong đó, Công trình vĩnh cửu là các công trình vĩnh cửu sẽ do nhà thầu thi công theo hợp đồng3, còn Công trình tạm là tất cả công trình tạm thời, thuộc bất kỳ loại nào (ngoài các thiết bị của nhà thầu) cần thiết phải có trên công trường để thi công
và hoàn thành công trình vĩnh cửu và sửa chữa bất kỳ sai sót nào.4 Như vậy, theo FIDIC, khái niệm công trình được mở rộng sang cả những công trình vĩnh cửu,
for building and Engineering Works designed by The Contractor, Fidic – Federation International des
Fidic Red Book (1999), tr 4
Contract, Fidic Red Book (1999), tr 4
required on Site for the execution an completion of the Permanent Works and the remedying of any defects, Fidic Red Book (1999), tr 4
Trang 15mang tính chất cố định, tức là công trình được xây dựng lên theo yêu cầu từ Chủ Đầu tư, và công trình cũng được hiểu bao hàm cả những công trình tạm hiện diện tại công trường để phục vụ cho việc xây dựng những công trình vĩnh cửu trong cả giai đoạn thi công và sửa chữa Tại phiên bản mới nhất Fidic Yellow Book (2017)5
của Điều kiện hợp đồng Thiết bị công trình và thiết kế xây dựng này cũng không
có sự khác biệt khi quy định về định nghĩa công trình so với ấn phẩm năm Fidic Yellow Book (1999)
Từ đó, theo tác giả, có thể hiểu đơn giản công trình xây dựng là một sản phẩm được xây dựng bởi bàn tay, khối óc của con người Xuất phát từ mục đích sử dụng và ý nghĩa thiết kế mà mỗi công trình xây dựng được tạo ra sẽ mang hình dáng, đặc điểm và tính chất khác nhau và mang một số công năng nhất định
Theo định nghĩa chung thì “Bảo hành” một sự đảm bảo bằng văn bản, được phát hành cho người mua bởi nhà sản xuất, cam kết sẽ sửa chữa hoặc thay thế sản phẩm nếu cần trong một khoảng thời gian nhất định Nói cách khác, đây là một cam kết chính thức của nhà sản xuất với khách hàng của họ (khách hàng mua sản phẩm), bảo đảm rằng, trong một khoảng thời gian được đưa ra, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm sẽ đáp ứng mong đợi của người tiêu dùng Một cách hiểu khác của Bridgit Masson6 trong What is a warranty in construction? thì Bảo hành nhằm mục đích
làm rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên, và thường sẽ giải thích những gì sẽ xảy
ra nếu có sự cố, tức là bảo hành sẽ quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các bên khi phát sinh một sự cố nhất định liên quan đến công trình, mà từ đó buộc các bên phải tuân thủ, thực hiện
Theo pháp luật Mỹ, Bảo hành công trình được hiểu là nhà thầu đảm bảo rằng: (i) công việc được thực hiện theo hợp đồng phải tuân theo các yêu cầu của hợp đồng
và không có bất kỳ khiếm khuyết nào về thiết bị, vật liệu hoặc thiết kế do nhà thầu hoặc bất kỳ nhà thầu phụ hoặc nhà cung cấp nào thực hiện ở bất kỳ cấp nào; (ii) Bảo hành này sẽ tiếp tục trong thời hạn 1 năm kể từ ngày nghiệm thu công việc cuối cùng Nếu Chính phủ sở hữu bất kỳ phần nào của công trình trước khi nghiệm thu lần cuối, bảo hành này sẽ tiếp tục trong thời hạn 1 năm kể từ ngày Chính phủ sở hữu7 Như vậy, pháp luật Mỹ cũng định nghĩa việc bảo hành là trách nhiệm của nhà thầu trong
truy cập ngày 30/3/2022
Trang 16thời hạn nhất định của giai đoạn bảo hành, thực hiện các công việc cần có để đảm bảo cho sự ổn định, bền vững, không có khiếm khuyết của sản phẩm đã được thiết kế hoặc tạo nên bởi nhà thầu
Fidic Red Book (1999) không định nghĩa khái niệm Bảo hành công trình riêng biệt mà khái quát khái niệm bảo hành công trình thông qua việc mô tả, liệt kê trách nhiệm của nhà thầu trong “Thời hạn thông báo sai sót” tức là trong giai đoạn bảo hành, theo đó, nhà thầu sẽ có trách nhiệm thực hiện sửa chữa các sai sót, hư hỏng đối với công trình, hạng mục công trình phát sinh trong thời hạn bảo hành đã cam kết xuất phát từ lỗi của nhà thầu8 Tương tự như vậy, trong bản mới nhất điều kiện hợp đồng tại Fidic Red Book (2017) cũng không có nhiều khác biệt khi định nghĩa về khái niệm bảo hành công trình so với phiên bản Fidic Red Book (1999)
Tại Việt Nam, Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa nghĩa vụ Bảo hành được hiểu là Bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán trong một thời hạn, gọi
là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định9 Điều này được hiểu là bên bán, bên cung cấp sản phẩm có trách nhiệm bảo đảm chất lượng, độ bền vững của sản phẩm trong một thời hạn nhất định, và nội dung cụ thể của việc bảo hành này có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định cụ thể đối với từng sản phẩm, hàng hóa nhất định Trách nhiệm bảo hành hàng hóa cũng được quy định tại Điều 49 Luật Thương mại 2005, theo đó:
Trường hợp hàng hoa mua bản có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó
Theo Đỗ Quang Thuần, Bảo hành công trình là sự yêu cầu bắt buộc theo luật pháp đối với nhà thầu xây dựng công trình trong một thời gian tối thiểu nhất định (gọi là thời hạn bảo hành) về chất lượng của sản phẩm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng10
Theo quy định pháp luật xây dựng hiện hành, Bảo hành công trình xây dựng
là sự cam kết của nhà thầu về trách nhiệm khắc phục, sửa chữa trong một thời gian nhất định các hư hỏng, khiếm khuyết có thể xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng công trình xây dựng11
học Luật Tp.HCM, tr.11
Trang 17Như vậy, không có nhiều khác biệt đáng kể trong khái niệm bảo hành công trình giữa pháp luật Việt Nam và các khái niệm được đưa ra của một số học giả cũng như tổ chức quốc tế, nhìn chung đều thể hiện Bảo hành công trình là hoạt động, trách nhiệm của nhà thầu trong việc đảm bảo sự ổn định, bền vững của công trình thông qua việc giám sát và thực hiện việc sửa chữa các hư hỏng, sai xót, khiếm khuyết phát sinh liên quan đến công trình xây dựng
Trên thực tế, khái niệm về Bảo hành công trình còn được mở rộng cụ thể hơn tại các văn bản điều kiện mẫu được xây dựng chung trong quá trình thực hiện công việc, nhằm chi tiết hóa việc bảo hành và công việc bảo hành phải thực hiện, có tính đến chi phí báo giá ban đầu12 Chẳng hạn như Mẫu Cam kết bảo hành tại Công ty
Cổ phần Đầu tư Xây dựng X13, ngoài việc bám sát quy định pháp luật về bảo hành liên quan đến loại dự án nhất định, thì định nghĩa bảo hành được liệt kê cụ thể dưới dạng các đầu mục ghi rõ trách nhiệm của nhà thầu, trong đó có cả phần loại trừ trách nhiệm của nhà thầu trong giai đoạn bảo hành như:
(a) Nhà thầu có trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:
(i) Hoàn thành các công việc còn tồn đọng nêu trong biên bản nghiệm thu Gói thầu, và
(ii) Thực hiện các công việc sửa chữa các sai sót hoặc hư hỏng do lỗi của nhà thầu gây ra trong quá trình thi công và được chủ đầu tư thông báo trong Thời gian bảo hành
(b) Phạm vi bảo hành không bao gồm:
(i) Các hư hại do phá hoại, hư hỏng do lỗi sử dụng hoặc hao mòn tự nhiên (ii) Các hư hại do nhà thầu khác hoặc bên thứ ba gây ra trong Thời gian bảo hành
(iii) Các hạng mục chủ đầu tư tự ý thay đổi, khác với các yêu cầu của chủ đầu
tư được quy định tại Hợp đồng thi công và các bản vẽ thi công đã được phê duyệt
Như vậy, khi được thể hiện trên các văn bản như hợp đồng hoặc một cam kết đi kèm hợp đồng, hoạt động bảo hành công trình được thể hiện một cách chi tiết và mở rộng hơn so với quy định pháp luật để giới hạn rõ được trách nhiệm
thevesta.vn/ban-cam-ket-bao-hanh-cong-trinh-xay-dung-1652780298/, truy cập ngày 02/04/2022
Trang 18giữa các bên, và các phát sinh hay tranh chấp thực tế về bảo hành cũng dựa trên những văn bản, hợp đồng này để giải quyết Phạm vi cam kết bảo hành của nhà thầu được thể hiện thông qua các quy định về quyền hạn và nghĩa vụ trong hợp đồng xây dựng được ký kết giữa nhà thầu và chủ đầu tư, đảm bảo phù hợp quy định pháp luật Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự14, Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự, quy định quyền hạn và nghĩa vụ của hai bên tham gia ký kết, tức bên giao thầu và bên nhận thầu Cho nên, bảo hành công trình một phần cũng được phản ánh thông qua việc liệt kê các quyền hạn và nghĩa vụ giữa các bên trong các văn bản giao kết
Từ các khái niệm và phân tích nói trên, tác giả rút ra định nghĩa về Bảo hành
công trình xây dựng như sau: Bảo hành công trình xây dựng được hiểu là sự bảo
đảm công trình được sử dụng một cách ổn định, hạn chế tối đa các sai sót trong quá trình vận hành, sử dụng thông qua việc tuân thủ cam kết của nhà thầu trong việc thực hiện trách nhiệm sửa chữa các sai sót, khiếm khuyết phát sinh, và trách nhiệm bảo hành được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định như cam kết
1.1.1.2 Đặc điểm của Bảo hành công trình xây dựng
Bảo hành công trình xây dựng là hoạt động luôn gắn liền với quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng Bảo hành công trình xây dựng mang đầy đủ đặc điểm của hoạt động bảo hành nói chung, và đồng thời cũng chứa đựng thêm một số đặc điểm riêng phù hợp với tính chất đặc thù của sản phẩm là
“công trình xây dựng”, cụ thể như sau:
Một là, Bảo hành công trình xây dựng là hoạt động phát sinh trong quan hệ
hợp đồng xây dựng và tồn tại trong giai đoạn từ lúc công trình được nghiệm thu đưa vào sử dụng đến hết thời hạn bảo hành do hai bên thống nhất
Quá trình xây dựng để tạo ra một công trình phải trải qua nhiều bước và giai đoạn khác nhau Luật Xây dựng 2014 liệt kê hoạt động xây dựng bao gồm rất nhiều công đoạn, nhóm công việc, từ lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên
Trang 19quan đến xây dựng công trình Bảo hành công trình là được xem là một trong những giai đoạn quan trọng, là bước cuối cùng phải có của chuỗi quá trình thi công xây dựng công trình
Việc xác định thời gian bắt đầu bảo hành hiện nay đang căn cứ dựa trên thời điểm nghiệm thu bàn giao công trình, mà cụ thể là dựa trên biên bản nghiệm thu bàn giao giữa nhà thầu và chủ đầu tư Sau khi thi công công trình đáp ứng điều kiện được nghiệm thu theo quy định pháp luật, các chủ thể có liên quan sẽ ký xác nhận vào biên bản nghiệm thu bàn giao hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình nhằm chuyển bước thi công hoặc để đưa vào sử dụng Biên bản nghiệm thu bàn giao được ký giữa hai bên nhà thầu và chủ đầu tư được coi là một văn bản pháp lý ghi nhận thời điểm chuyển giao nghĩa vụ mới của nhà thầu thi công, khi đó nhà thầu
sẽ chuyển sang nghĩa vụ bảo hành công trình theo đúng các cam kết được ghi nhận theo hợp đồng và Biên bản nghiệm thu bàn giao, đồng thời, mốc ký biên bản nghiệm thu hiện nay cũng là mốc chủ đầu tư và nhà thầu lấy làm căn cứ xác định thời hạn bảo hành trên thực tế của các công trình xây dựng
Hai là, Bảo hành công trình xây dựng là hoạt động mang tính tất yếu, khách
quan Khi nói về tuổi thọ của công trình, PGS.TS Nguyễn Bá Kế cho rằng: Những
hao mòn hữu hình của nhà đều có nguồn gốc từ tác động của các yếu tố bên ngoài (tự nhiên, công nghệ) và yếu tố bên trong (chất lượng vật liệu và chất lượng thi công…) Sự hao mòn này được tích lũy theo thời gian, nếu không có biện pháp theo dõi và thực hiện sửa chữa hoặc gia cường định kì thì công trình có thể bị hư hỏng hoàn toàn Quá trình diễn biến ấy cũng tương tự như việc theo dõi và quản lí sức khỏe của con người trong ngành y học 15 ; Nếu công trình có sự cố thì chất lượng của nó càng bị đe dọa nếu không được sửa chữa hoặc khắc phục kịp thời và đúng đắn16 Trên thực tế, tuổi thọ, sự bền vững và chất lượng của một công trình không chỉ phụ thuộc vào việc công trình đó được xây dựng đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn hay không, mà một phần còn phụ thuộc vào công tác “hậu mãi” sau khi bàn giao đưa vào sử dụng, tức là công tác bảo hành, bảo trì Đồng thời, quá trình sử dụng sẽ làm phát sinh các hao mòn, các hư hỏng tác động ngoài ý muốn mà con người không thể lường trước được, do vậy, việc phát sinh công tác bảo hành công trình nói riêng và hoạt động bảo hành nói chung trên thực tế là một tất yếu khách quan
Trang 20Thứ ba, đối tượng được bảo hành của công tác bảo hành là hàng hóa, không
phải là dịch vụ Xuất phát từ tính chất tồn tại và hiện hữu của dịch vụ là loại sản phẩm mất đi ngay khi sử dụng hoặc cung ứng, những sai sót trong việc cung cấp dịch vụ không thể sửa chữa hay thu hồi mà chỉ có thể được thay thế bằng một dịch
vụ khác tương tự hoặc tốt hơn Khác với công tác bảo hành, sản phẩm được bảo hành trên thực tế phải là vật hiện hữu, như Điều 446 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trách nhiệm bảo hành đặt ra đối với vật mua bản Chỉ có vật mua bản, hàng hóa, linh kiện, phụ kiện, công trình xây dựng khi hư hỏng mới thể hiện rõ ràng các dấu hiệu bên ngoài (gãy, đứt, hư không sử dụng được) hoặc tiềm ẩn nguy cơ hư hỏng thông qua các dấu hiệu nhất định (nứt, nghiêng, sụt, hở…) mà Bên bán hoặc Bên cung ứng sản phẩm cần phải nắm bắt, xem xét, đánh giá mức độ và đưa ra những biện pháp sửa chữa hoặc thay thế phù hợp
Bốn là, bảo hành công trình là hoạt động có phạm vi loại trừ, giới hạn trách
nhiệm bảo hành của bên có trách nhiệm, tức của nhà thầu Quá trình sử dụng một sản phẩm bất kỳ luôn phát sinh một số sự cố, rủi ro hoặc hư hỏng nhất định Những sự cố này có thể phát sinh ngay khi vừa sử dụng hoặc cũng có thể phát sinh sau đó một khoảng thời gian nhất định Yếu tố hư hao nhanh hay chậm phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của từng sản phẩm và việc sử dụng của người dùng Nếu
hư hỏng xuất phát từ yếu tố khách quan, hoặc từ lỗi của Nhà sản xuất thì Nhà sản xuất hoặc bên bán sẽ có trách nhiệm phải sữa chữa, thay thế hoặc đền bù Tuy nhiên, nếu phát sinh hư hao do lỗi của người dùng không tuân thủ hướng dẫn hoặc
sử dụng không cẩn thận thì trường hợp này sẽ giới hạn trách nhiệm phải bảo hành bằng chi phí của mình cho Bên cung ứng hoặc Bên bán Điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi các Nhà sản xuất hoặc bên bán luôn gửi kèm những Bảng hoặc Quy tắc hướng dẫn về bảo hành sản phẩm trong các sản phẩm hàng hóa của họ, trong
đó quy định rõ những trường hợp từ chối trách nhiệm bảo hành đến người mua hoặc người dùng17
Riêng đối với sản phẩm đặc thù của ngành xây dựng như công trình xây dựng, ngoài việc bảo hành theo quy định pháp luật và hợp đồng đã ký, bao gồm các yêu cầu về bảo hành công trình và trách nhiệm của các chủ thể trong bảo hành công trình xây dựng18 nhà thầu có thể mở rộng phạm vi bảo hành của mình theo
http://thangmayapl.com/dich-vu-sua-chua/Dieu-kien-bao-hanh-thang-may.html, truy cập ngày 20/04/2022
Trang 21yêu cầu ban đầu mà chủ đầu tư đưa ra thông qua việc nâng giá trị bảo hành trong các báo giá ban đầu và xem xét đến năng lực của mình, hoặc phạm vi bảo hành đôi khi được mở rộng thêm bằng thỏa thuận của hai bên trong thời gian bảo hành cho các công việc bảo hành không thuộc trách nhiệm của nhà thầu nếu được chủ đầu
tư chi trả thêm phí để thuê nhà thầu thực hiện Trong một số trường hợp, phạm vi bảo hành có thể giới hạn ít hơn đối với đặc thù một số công trình dừng thi công nửa chừng hoặc nhà thầu chỉ thi công một phần hạng mục công trình mà không phải toàn bộ
Giới hạn của công tác bảo hành cũng được thể hiện qua việc nhà thầu thi công hay cung ứng thiết bị có nghĩa vụ thực hiện bảo hành, sửa các sai sót, khiếm
khuyết đối với công trình hoặc vật tư do mình xây dựng hoặc cung cấp, tuy nhiên,
trách nhiệm này chỉ được thực hiện trên các lỗi phát sinh từ nhà thầu Còn các
trường hợp hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh không phải do lỗi của nhà thầu gây ra hoặc do nguyên nhân bất khả kháng được quy định trong hợp đồng xây dựng thì nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị có quyền từ chối bảo hành Từ đó, có thể thấy, Luật Xây dựng 2014 đặt ra vấn đề xác định “lỗi” để làm căn cứ xác định và quy kết trách nhiệm cho các chủ thể liên quan đến hoạt động bảo hành, cụ thể trong trường hợp này, tác giả tập trung đề cập đến phạm vi giới hạn trách nhiệm của nhà thầu thi công Trách nhiệm của nhà thầu trong giai đoạn bảo hành không chỉ thể hiện thông qua việc thực hiện trách nhiệm sửa chữa sai sót, hư hỏng theo hợp đồng, mà còn dẫn chiếu đến cả trách nhiệm vật chất, bồi thường khi phát sinh thiệt hại trong giai đoạn bảo hành mà lỗi đến từ nhà thầu Để
cụ thể quy định này, điểm b khoản 3 Điều 146 Luật Xây dựng 2014 quy định “Bên
nhận thầu phải bồi thường thiệt hại cho bên giao thầu trong các trường hợp sau: b) Do nguyên nhân của bên nhận thầu dẫn tới gây thiệt hại cho người và tài sản trong thời hạn bảo hành” Ngoài ra, Hợp đồng xây dựng được coi là Hợp đồng
dân sự, nên theo quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm Bồi thường
thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra cũng liệt kê “Khi người thi
công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường” Mặc dù còn một số tranh luận về việc đưa tiêu chí “lỗi”
trong việc xác định trách nhiệm bồi thường về thiệt hại nhà cửa trong Bộ luật Dân
sự 201519, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Xây dựng 2014 đều thống nhất
công trình xây dựng khác gây ra”, Tap chí Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư Pháp, Số 8 (305), tr 14
Trang 22về việc sự dụng yếu tố “lỗi” như một căn cứ xác định và giới hạn trách nhiệm của nhà thầu khi phát sinh sự cố trong hoạt động thi công và bảo hành công trình
Mở rộng so sánh cùng với công tác bảo trì, việc bảo trì công trình được xây dựng ngay từ lúc công trình chuẩn bị nghiệm thu bàn giao Các quy trình hướng dẫn vận hành và quy trình bảo trì công trình là một trong những tài liệu bắt buộc mà chủ đầu tư phải có khi nghiệm thu bàn giao công trình Đối với Bảo trì công trình: Công trình, hạng mục công trình xây dựng khi đưa vào khai thác, sử dụng phải được bảo trì theo kế hoạch bảo trì và quy trình bảo trì được phê duyệt Nội dung bảo trì bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các công việc sau: kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng, bảo dưỡng và sửa chữa công trình; bổ sung, thay thế hạng mục, thiết bị công trình để việc khai thác sử dụng công trình đảm bảo an toàn nhưng không bao gồm các hoạt động làm thay đổi công năng, quy mô công trình20 Công tác bảo trì thường không có giới hạn mà chỉ chủ yếu quan tâm vào yếu tố chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện công tác này là ai
Năm là, Bảo hành công trình là hoạt động mang tính chất bắt buộc Xuất
phát từ đặc thù sản phẩm của hoạt động thi công xây dựng là việc tạo ra những công trình gắn với hoạt động của con người, nhất là các công trình dân dụng (nhà
ở, khách sạn, trung tâm thương mại…), do vậy, việc đạt yêu cầu về chất lượng, ổn định, an toàn của các công trình này là một trong những yêu cầu quan trọng để được nghiệm thu đưa vào sử dụng Trong quá trình sử dụng đó, các sự cố liên quan đến công trình nếu không được phát hiện và sửa chữa kịp thời sẽ làm tăng nguy cơ phát sinh những rủi ro về an toàn, tính mạng của người dùng cũng như giảm tuổi thọ của một công trình Chính vì thế, hoạt động bảo hành với cách là một trong những quá trình của hoạt động xây dựng được coi là công tác mang tính chất bắt buộc phải thực thi của nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị, vật
tư đối với chủ đầu tư; đảm bảo trách nhiệm về sản phẩm nhà ở của chủ đầu tư, bên bán cung ứng cho khách hàng Xét về mặt pháp lý, điểm p khoản 1 Điều 141 Luật Xây dựng 2014 (SĐBS) quy định bảo hành là một trong những nội dung của Hợp đồng xây dựng, và điều này tiếp tục được dẫn chiếu quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng
Trang 23
Một trong những điểm mới của Nghị định số 06/2021/NĐ-CP khi quy định bảo hành công trình nhà ở riêng lẻ so với Nghị định số 46/2015/NĐ-CP đó là quy định rõ ràng hơn tính bắt buộc bảo hành nhà ở riêng lẻ Theo đó, trước đây tại Điều 7 của Nghị định số 46/2015/NĐ-CP chỉ khuyến khích các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ áp dụng các quy định của Nghị định này để quản lý chất lượng xây dựng nhà ở riêng lẻ, trong đó có hoạt động bảo hành công trình, nếu các bên không có thỏa thuận về bảo hành thì không áp dụng bảo hành Điều này được thể hiện rõ qua phán quyết của Tòa án nhân dân Tỉnh Sơn La tại Bản án số 23/2021/DS-PT ngày 09/09/202121, theo đó, Tòa án nhân dân Tỉnh Sơn La tại Bản án Sơ thẩm và Phúc thẩm đều bác yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo hành của Nguyên đơn với Bị đơn trong vụ án này căn cứ vào việc giữa hai bên không có thỏa thuận về bảo hành Tòa án đã trích dẫn các căn
cứ theo Điều 7 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, khoản 2 Điều 46 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP để đưa ra phán quyết kể trên Tuy nhiên, liên quan đến bảo hành đối với nhà ở riêng lẻ, Điều 9 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP đã quy định chi tiết các hướng dẫn về tuân thủ thiết kế cũng như hồ sơ giám sát, tổ chức thi công loại nhà ở này, không còn dưới dạng khuyến khích mà mang tính ràng buộc các chủ thể tham gia xây dựng nhà ở riêng lẻ tuân thủ quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP Nội dung về quản lý nhà ở riêng lẻ tiếp tục được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 10/2011/TT-BXD
Việc quy định bảo hành công trình là trách nhiệm bắt buộc phải có giúp kiểm soát được trách nhiệm thi công xây dựng của các nhà thầu hiện nay, giảm thiểu được các phát sinh về chất lượng công trình trong giai đoạn đưa vào sử dụng, đồng thời cũng đảm bảo cam kết về việc cung cấp sản phẩm an toàn, chất lượng, đạt tiêu chuẩn theo quy định hợp đồng đã ký giữa các bên, trong bối cảnh thực tế chất lượng các công trình hiện nay chưa đưa vào sử dụng22 hoặc mới đưa vào sử dụng đã xuống cấp nghiêm trọng23 Ngoài ra, pháp luật xây dựng cho phép xử lý vi phạm đối với việc không thực hiện nghĩa vụ bảo hành của nhà thầu thông qua chế tài phạt tiền đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm bảo hành, đồng thời yêu cầu buộc thực
https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta761339t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 25/04/2022
https://kinhtedothi.vn/cong-trinh-trieu-do-o-hau-giang-chua-su-dung-da-xuong-cap.html, truy cập 02/04/2022
https://cafef.vn/chung-cu-moi-xay-da-kem-chat-luong-2020121113504467.chn, truy cập ngày 02/04/2022
Trang 24hiện trách nhiệm bảo hành theo quy định với hành vi quy định theo Quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng 24
Sáu là, chủ thể chịu trách nhiệm bảo hành công trình là nhà thầu thi công,
nhà thầu cung ứng thiết bị Xuất phát từ khái niệm của hoạt động bảo hành nói chung và bảo hành công trình xây dựng nói riêng, thì bên bán, bên cung ứng hay bên tạo ra một sản phẩm nhất định thường là chủ thể phải chịu trách nhiệm thực hiện bảo hành cho sản phẩm của mình, và điều này không ngoại lệ với công trình
xây dựng
Bởi lẽ, với tư cách là chủ thể thực hiện thi công, giám sát công trình từ lúc khởi công cho đến khi nghiệm thu bàn giao dự án cho chủ đầu tư Sau khi hoàn thiện công trình và bàn giao cho chủ đầu tư, nhà thầu có trách nhiệm đảm bảo công trình được bàn giao có thể được vận hành trên thực tế theo đúng công năng, mục đích ban đầu mà chủ đầu tư mong muốn, và để đảm bảo được điều này, việc thực hiện khắc phục, sửa chữa cho những sai sót, hư hỏng phát sinh trên thực tế khi công trình được đưa vào vận hành và đảm bảo cho công trình được sử dụng an toàn trên thực tế theo đúng cam kết của nhà thầu là yêu cầu bắt buộc, thể hiện trách nhiệm của chủ thể đã tạo ra công trình Nhà thầu là chủ thể nắm rõ nhất về các đặc tính kỹ thuật của công trình, có kỹ năng và nhân lực có chuyên môn để xử lý các phát sinh,
hư hỏng từ công trình mà nhà thầu tạo ra Tương tự vậy, nhà thầu cung ứng vật tư, thiết bị cũng phải chịu trách nhiệm bảo hành với những vật tư, thiết bị được cung ứng sử dụng tại công trình đó
Điều 125 Luật Xây dựng 2014 có nêu rõ việc nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu cung ứng thiết bị thực hiện bảo hành phần công việc do mình thực hiện sau khi nhận được thông báo yêu cầu bảo hành của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình Điều này có thể hiểu rằng, luật quy định nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị là chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc đảm bảo thực hiện công tác bảo hành công trình theo cam kết đã đề ra và quy định pháp luật
Khác với hoạt động bảo hành công trình, Bảo trì công trình lại là trách nhiệm của Chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình nếu có đủ năng lực hoặc thuê
tổ chức có đủ năng lực thực hiện Trường hợp chưa xác định được chủ sở hữu, nhất là với những công trình chưa bàn giao được cho chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử
Trang 25dụng công trình thì người đang quản lý, sử dụng có trách nhiệm bảo trì nhà ở đó25 Trường hợp công trình có nhiều chủ sở hữu thì ngoài việc chịu trách nhiệm bảo trì phần công trình thuộc sở hữu riêng của mình, các chủ sở hữu có trách nhiệm bảo trì
cả phần công trình thuộc sở hữu chung theo quy định của pháp luật có liên quan
Có một vấn đề đặt ra rằng, liệu nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng vừa phải chịu trách nhiệm, vừa phải trực tiếp thực hiện việc bảo hành; hay là phải chịu trách nhiệm đối với việc bảo hành, nhưng có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện công tác bảo hành hay không?
Luật Xây dựng 2014 định nghĩa hợp đồng xây dựng được xem là hợp đồng dân sự, các bên trong quan hệ dân sự được gắn liền bởi quyền và nghĩa vụ quy định theo hợp đồng Theo quy định về uỷ quyền tại Điều 562, Điều 565 trong Bộ luật Dân sự 2015 thì những người được ủy quyền cũng có thể trở thành các bên trong quan hệ bảo hành hàng hóa mà đặc biệt là bảo hành công trình xây dựng Pháp luật
về bảo hành hàng hóa nói chung cũng không loại trừ việc những người đại diện có thể tham gia quan hệ này Cụ thể, theo quy định tại khoản 7 Điều 21 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chịu trách nhiệm về việc bảo hành hàng hoá, linh kiện, phụ kiện cho người tiêu dùng cả trong trường hợp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc bảo hành
Pháp luật Xây dựng hiện tại chỉ quy định trách nhiệm bảo hành từ nhà thầu, tuy nhiên không có quy định cấm nhà thầu ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện công việc bảo hành trên thực tế, ngoại trừ trường hợp các bên thỏa thuận trực tiếp trong các hợp đồng xây dựng về việc không cho phép nhà thầu ủy quyền lại cho Bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ bảo hành Việc ủy quyền lại cho Bên thứ ba thay mình thực hiện công tác bảo hành về cơ bản cũng không làm giảm hay loại trừ đi trách nhiệm của nhà thầu trong việc là chủ thể chính chịu trách nhiệm bảo hành công trình26 Đồng thời, việc ủy quyền trong quan hệ bảo hành không thuộc các trường hợp không được phép ủy quyền theo quy định pháp luật hiện hành Do vậy, các bên trong quan hệ bảo hành hàng hóa nói chung và bảo hành công trình xây dựng nói riêng, có thể được hiểu rộng hơn là Bên yêu cầu bảo hành (tức là “chủ đầu tư”) và Bên có trách nhiệm bảo hành (tức là “nhà thầu thi công” hoặc “nhà thầu cung ứng thiết bị”) hoặc người đại diện của họ, hay có thể hiểu là người được ủy quyền từ nhà thầu
Trang 26
Vì vậy, mặc dù quy định về trách nhiệm bảo hành công trình với các chủ thể nói trên, nhưng Luật Xây dựng 2014 không quy định bắt buộc các chủ thể này phải tự thực hiện hay được phép thuê bên thứ ba thực hiện Do vậy, việc triển khai hoạt bảo hành trên thực tế khi phát sinh các lỗi, sai sót hay hư hỏng công trình trên thực tế có thể được thực hiện bởi chính nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị hoặc có thể được thực hiện bởi một bên thứ ba khác do nhà thầu thuê lại để thực hiện
Bên thứ ba ở trong hoạt động xây dựng thường phần nhiều là đề cập tới các
“nhà thầu phụ” Điều này thường xảy ra đối với các dự án quy mô lớn với nhiều hạng mục khác nhau, khi đó có tổng thầu được phép ký hợp đồng với nhiều nhà thầu khác (còn được gọi là “nhà thầu phụ” hoặc “nhà thầu phụ chỉ định”27) để thực thi công tác thi công, khi phát sinh hư hỏng, dựa theo phân loại về lỗi và phạm vi trách nhiệm trên hợp đồng đã ký, tổng thầu và nhà thầu chính thường là bên chịu trách nhiệm trực tiếp với chủ đầu tư về công tác bảo hành, nhưng việc thực hiện bảo hành trên thực tế lại
do các nhà thầu phụ của tổng thầu hoặc nhà thầu chính thực hiện bảo hành đối với phần công tác mà họ được ký hợp đồng và thực hiện trước đó
Hiện nay, khái niệm “nhà thầu phụ” được đề cập tới trong Luật Đấu thầu
2013, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, Thông tư số 01/2015/TT-BKHĐT Ngoài ra, khái niệm nhà thầu phụ, quyền và nghĩa vụ của nhà thầu phụ được quy định khá phổ biến và rõ ràng trong mẫu điều kiện hợp đồng của FIDIC28, theo đó bằng cách ký kết hợp đồng với các nhà thầu phụ, nhà thầu chính có thể phân chia lại một khối lượng công việc nhất định khi được chủ đầu tư chấp thuận Tuy nhiên, tổng thầu và nhà thầu chính vẫn phải chịu trách nhiệm chính về chất lượng công việc của nhà thầu phụ thực hiện Đồng thời đó, khi bước vào giai đoạn bảo hành, mặc dù thực tế cam kết nghĩa vụ bảo hành được đặt ra cho các nhà thầu chính hoặc tổng thầu, nhưng thực tế thực hiện bảo hành có thể là do các nhà thầu phụ thực hiện thông qua cam kết bảo hành riêng được ký trước đó với nhà thầu chính
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 29 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP thì trường hợp hư
hỏng, khiếm khuyết phát sinh do lỗi của nhà thầu mà nhà thầu không thực hiện bảo hành thì chủ đầu tư có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện bảo hành Chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm thực hiện đúng quy định về vận hành, bảo trì công trình xây dựng trong
https://cnccounsel.com/an-pham/nha-thau-phu-chi-dinh-nsc, truy cập ngày 15/04/2022
Trang 27quá trình khai thác, sử dụng công trình, như vậy, có thể thấy rằng, ngay cả khi phát
sinh nghĩa vụ bảo hành, công tác bảo hành trên thực tế không chỉ được thực hiện thông qua việc nhà thầu trực tiếp thực hiện hoặc thuê đơn vị khác thực hiện, mà còn được thực hiện gián tiếp thông qua đơn vị khác được chủ đầu tư chỉ định, thông qua việc thu hồi lại chi phí của nhà thầu hoặc khấu trừ trực tiếp từ các đảm bảo bảo hành
Thêm vào đó, chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình cũng là chủ thể tham gia vào hoạt động bảo hành công trình Tuy nhiên, việc tham gia của các chủ thể này chủ yếu ở việc kiểm tra, phát hiện hư hỏng, sai sót để thông báo cho chủ đầu tư để yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị thực hiện bảo hành, hoặc nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa của những nhà thầu29
Bảy là, thời hạn bảo hành công trình là có giới hạn Thời hạn bảo hành của
một công trình nhất định thường được xác định thông qua loại, cấp công trình cụ thể
và quy định của Nhà sản xuất đối với hợp đồng cung cấp thiết bị Theo đó thời hạn bảo hành sẽ không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công; Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công; Thời hạn bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo hai mức nói trên Thời hạn bảo hành đối với các thiết bị công trình, thiết bị công nghệ được xác định theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng xây dựng nhưng không ngắn hơn thời gian bảo hành theo quy định của nhà sản xuất và được tính kể từ khi nghiệm thu hoàn thành công tác lắp đặt, vận hành thiết bị30
Đối với bảo trì công trình xây dựng, pháp luật hiện nay không quy định thời hạn với hoạt động bảo trì, mà chỉ yêu cầu các chủ thể có trách nhiệm phải thực hiện bảo trì theo kế hoạch bảo trì đã được trình duyệt31 Tuy nhiên, pháp luật xây dựng lại quy định công việc sửa chữa công trình thuộc hoạt động bảo trì công trình phải được bảo hành không ít hơn 6 tháng đối với công trình từ cấp II trở xuống và không
ít hơn 12 tháng đối với công trình từ cấp I trở lên
Như vậy, pháp luật hiện nay đang quy định giới hạn tối thiểu đối với thời hạn bảo hành công trình và bắt buộc các chủ thể tuân thủ hoặc không được thỏa thuận
https://moc.gov.vn/tl/tin-tuc/66493/bao-tri-toa-nha-chung-cu-duy-tri-su-an-toan-cua-cong-trinh.aspx, truy cập ngày 20/04/2022
Trang 28thấp hơn, đặc biệt là những công trình có vốn nhà nước hoặc những công trình cấp
I, cấp đặc biệt
Do đó, phạm vi về bảo hành và thời gian bảo hành đối với những loại công trình này được được phân định và giới hạn khác nhau dựa trên những đặc thù đó Đồng thời, giới hạn tối thiểu về thời hạn bảo hành có liên quan trực tiếp đến quy mô đầu tư, chi phí của công trình đó, thời hạn bảo hành thường kéo dài đối với những công trình có quy mô lớn, phức tạp, thuộc phân cấp công trình lớn hoặc trọng điểm, đòi hỏi các nhà thầu phải đảm bảo chất lượng và xử lý các sự cố trong thời gian sử dụng lâu hơn là những công trình có quy mô và vốn đầu tư nhỏ, tính chất thi công
và kết cấu không quá phức tạp
1.1.1.3 Vai trò của công tác Bảo hành công trình xây dựng
Quá trình đưa công trình vào sử dụng luôn tiềm ẩn phát sinh sự cố, hư hỏng xuất phát từ việc sử dụng của con người hoặc là do ảnh hưởng từ những sự cố, khiếm khuyết mà trong quá trình thi công không phát sinh hoặc bộ lộ ra Chính vì vậy, bảo hành công trình xây dựng có vai trò quan trọng trong việc:
Một là, giúp kiểm soát, sửa chữa sai sót, khiếm khuyết, hoặc hạn chế tối đa
các sai sót, khiếm khuyết xảy ra trong quá trình vận hành, sử dụng
Hai là, thực hiện bảo hành công trình là thể hiện trách nhiệm của nhà thầu thi
công trong việc thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp đồng giữa các chủ thể, tuân thủ quy định pháp luật, đảm bảo và duy trì lâu dài nhất chất lượng sản phẩm công trình mà nhà thầu thi công xây dựng
Ba là, đảm bảo cho việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn đã đưa vào đầu tư xây
dựng thông qua việc hạn chế các trường hợp phát sinh sự cố, kiểm soát được việc tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn ban đầu về kỹ thuật, nguyên vật liệu của nhà thầu trong quá trình thi công để hạn chế việc phải phát sinh thêm ngân sách, chi phí
trong hoạt động bảo hành, nhất là đối với các trường hợp phải xây lại hoặc thay thế
hoàn toàn một phần, hạng mục công trình nào đó
1.1.2 Các yếu tố tác động đến hoạt động Bảo hành công trình xây dựng
Trong thực tế, bất cứ hoạt động nào diễn ra cũng đều bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau, hoạt động bảo hành công trình cũng không phải là ngoại lệ Có nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động bảo hành, trong đó phải kể tới một số yếu tố tác động chủ yếu sau:
Trang 291.1.2.1 Yếu tố chủ thể
Khoản 17 Điều 3 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP nêu rõ Bảo hành công trình
xây dựng là sự cam kết của nhà thầu về trách nhiệm khắc phục, sửa chữa trong một thời gian nhất định các hư hỏng, khiếm khuyết có thể xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng công trình xây dựng Và khoản 1 Điều 29 Nghị định số 06/2021/NĐ-
CP cũng quy định: Trong thời gian bảo hành công trình xây dựng, khi phát hiện hư
hỏng, khiếm khuyết của công trình thì chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc người quản lý,
sử dụng công trình thông báo cho chủ đầu tư để yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị thực hiện bảo hành
Như vậy, khi công trình xây dựng được vào sử dụng mà phát sinh lỗi, khiếm khuyết thì nhà thầu thi công, chủ đầu tư chính là những chủ thể trực tiếp chịu trách nhiệm triển khai và thực thi bảo hành công trình Tuy nhiên, luật cho phép các bên dựa theo “lỗi” để xác định trách nhiệm bảo hành và chi phí thực hiện bảo hành Theo đó, nhà thầu có quyền từ chối bảo hành đối với những trường hợp lỗi hoặc hư hỏng phát sinh không do lỗi của nhà thầu do nguyên nhân bất khả kháng được quy định trong hợp đồng xây dựng 32
Trên thực tế, việc xác định lỗi làm cho các bên mất rất nhiều thời gian, mỗi bên đều bảo vệ quyền lợi của bên mình để hạn chế tối đa việc bỏ thêm chi phí và trách nhiệm Hầu hết các công tác bảo hành đều được tiến hành hoặc bắt đầu khi công trình đã được chủ đầu tư và nhà thầu nghiệm thu hoàn và chuyển bước bảo hành Công trình được nghiệm thu tức là xác định công trình được hoàn thành đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ… theo hợp đồng và pháp luật, đủ điều kiện để đưa vào sử dụng Do vậy, khi phát sinh các sai sót và khiếm khuyết khi vận hành công trình, nhất là trong giai đoạn bảo hành, nhà thầu và chủ đầu tư thường phát sinh các tranh chấp khi phân định định “lỗi” để quy trách nhiệm thực hiện và thanh toán chi phí bảo hành
Ngoài ra, đặc thù với những công trình được thực hiện bởi nhiều nhà thầu, phần thi công của mỗi nhà thầu xen kẽ nhau, nên một khi có lỗi phát sinh, các nhà thầu thường đổ lỗi cho nhau, hoặc nếu bản vẽ hoàn công hoặc biên bản nghiệm thu toàn công trình do các nhà thầu và chủ đầu tư ký kết không ghi nhận cụ thể phần hoặc phạm vi thi công của từng nhà thầu, thì thường rất mất thời gian trong việc xác định lỗi, mức độ lỗi cũng như phân chia trách nhiệm công việc bảo hành
Trang 30
Do đó, chất lượng hoạt động bảo hành cũng bị ảnh hưởng, phụ thuộc vào vấn
đề xác định, thỏa thuận trách nhiệm, tiến độ, chi phí sữa chữa giữa các bên có liên quan Hơn thế, một công trình chất lượng không những đảm bảo yêu cầu về mặt kỹ thuật, chất lượng vật tư…mà còn bởi “chất lượng của nhà thầu thi công”, tức là về năng lực, khả năng thi công, uy tín của nhà thầu Khâu lựa chọn nhà thầu trong giai đoạn đấu thầu hết sức quan trọng, sẽ quyết định đến chất lượng thi công, chất lượng bảo hành công trình sau này và cả văn hóa ứng xử của các nhà thầu khi có phát sinh lỗi, rủi ro trên thực tế33
Bên cạnh đó, chất lượng công tác bảo hành cũng bị chi phối bởi vấn đề giám sát, trách nhiệm và quản lý công trình sau khi đưa vào sử dụng từ người quản lý hoặc chủ đầu tư 34 Có nhiều trường hợp chủ đầu tư không quản lý tốt, không thông báo kịp thời đến nhà thầu, không đẩy nhanh tốc độ giám sát cũng như đốc thúc nhà thầu thực hiện nghĩa vụ bảo hành cũng, hoặc các yếu tố về kinh tế, lợi nhuận cũng góp phần là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công trình cũng như của việc bảo hành công trình35 Như vậy, có thể thấy các chủ thể liên quan đến quan hệ hợp đồng xây dựng và bảo hành công trình là một trong những nhân tố quan trọng chi phối đến hoạt động bảo hành trên thực tế thông qua những ứng xử và hành vi thực hiện của các chủ thể này
1.1.2.2 Yếu tố sự phát triển của khoa học, kỹ thuật
Khoa học, kỹ thuật được coi là một trong những yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng, góp phần phản ánh được sự phát triển của từng giai đoạn khác nhau trong đời sống xã hội Mà cơ sở hạ tầng vừa có các yếu tố vật chất vừa phi vật chất làm nền tảng cho sự phát triển của toàn xã hội
Trong bài phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội nghị phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: ''Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân
tu-dau-post103327.html, truy cập ngày 10/03/2021
an-a13541.html, truy cập ngày 10/3/2021
hết?”, https://baoxaydung.com.vn/tuyen-duong-bot-nghin-ty-bi-xuong-cap-hong-lai-sua-sua-lai-hong-khi-bao -hanh-sap-het-214165.html, truy cập ngày 11/03/2021
Trang 31dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi'' Ngày nay, khoa học, kỹ thuật trên thế giới có những bước phát triển không ngừng nghỉ, tác động và làm thay đổi đến mọi mặt của các lĩnh vực của đời sống xã hội Khoa học chân chính phải bắt nguồn từ thực tiễn và tác động tích cực trở lại đối với thực tiễn để mang lại những giá trị hữu ích, giúp cho con người cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình
Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học, kỹ thuật, Đại hội
IX khẳng định: cùng với giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ sẽ tiếp thêm sức mạnh, chắp cánh cho đất nước ta trên con đường phát triển, vươn lên ''sánh vai với các cường quốc năm châu'' như ước nguyện của Người.36
Khoa học kỹ thuật càng phát triển, càng tiến bộ thì sẽ giúp nâng cao được chất lượng, tuổi thọ của công trình, giảm thiểu các hư hỏng, khiếm khuyết trong cả quá trình thiết kế, thi công và đưa công trình vào vận hành trên thực tế Chẳng hạn, như BIM (Building Information Modeling) là một quy trình tiên tiến được ứng dụng trong ngành xây dựng dựa trên các mô hình 3D kỹ thuật số được sử dụng xuyên suốt vòng đời của một dự án thiết kế, hạ tầng và xây dựng Bất cứ giai đoạn nào của quá trình thi công đều có thể áp dụng công nghệ BIM để nâng cao chất lượng công việc và kiểm soát chính xác các bước thiết kế, thi công trên thực tế
Chính vì thế, trên thế giới, các quốc gia tiên tiến đều sớm áp dụng BIM Tại châu Âu, hầu hết các nước đã yêu cầu ứng dụng BIM trong khu vực đầu tư xây dựng vốn ngân sách Tại châu Á, Singapore là quốc gia thành công nhất trong việc ứng dụng BIM khi chính phủ vào cuộc rất mạnh mẽ Ở Việt Nam, chính phủ cũng ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai áp dụng BIM trong xây dựng Trong đó, Đề
án áp dụng BIM vào hoạt động xây dựng và quản lý vận hành công trình được Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng ký Quyết định số 2500/QĐ-TTg ngày 22/12/2016
Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ban hành ngày đã nêu rõ: Khuyến khích áp
dụng mô hình thông tin công trình (sau đây gọi tắt là “BIM”), giải pháp công nghệ
số trong hoạt động xây dựng và quản lý vận hành công trình Người quyết định đầu
Minh”, xa-hoi-trong-tu-tuong-ho-chi-minh, truy cập ngày 30/07/2021
Trang 32https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/print/2372/vai-tro-cua-khoa-hoc-ky-thuat-doi-voi-su-phat-trien-tư quyết định việc áp dụng BIM, giải pháp công nghệ số khi quyết định dự án đầu https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/print/2372/vai-tro-cua-khoa-hoc-ky-thuat-doi-voi-su-phat-trien-tư xây dựng37 Đồng thời, Bộ Xây dựng cũng ban hành thông tư, hướng dẫn cụ thể để
áp dụng rộng rãi BIM trong hoạt động xây dựng và quản lý vận hành công trình
Hiện nay, đã có nhiều dự án tại Việt Nam áp dụng công nghệ BIM một cách hiệu quả như công trình Park Hill 6, Vietinbank Tower, cảng Cửa Lò, cầu Thủ Thiêm 2 Quá trình ứng dụng BIM đã giúp giảm bớt 40% các yêu cầu thay đổi; sai lệch của quyết toán với dự toán chỉ là +/- 3%; giảm 80% thời gian lập dự toán; giảm 7% tiến độ; tiết kiệm được từ 5 - 20% tổng chi phí đầu tư ban đầu và có thể giúp tiết kiệm lên đến 30% tổng chi phí vận hành bảo trì trong giai đoạn sử dụng38
Như vậy có thể thấy rằng, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong quá trình thi công đã và đang hạn chế tối đa các sai sót phát sinh hoặc suy giảm chất lượng công trình trong quá trình sử dụng và bảo hành, làm gia tăng tuổi thọ và tính bền vững của công trình
Ngoài ra, việc xây dựng công trình hoặc tạo ra một sản phẩm bất kỳ của xã hội đều phải tuân thủ theo quy chuẩn, tiêu chuẩn đặc thù của những ngành nghề đó Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật càng cao, càng được xây dựng một cách chặt chẽ càng giúp các chủ thể tiết kiệm thời gian đánh giá chất lượng công trình, xác định đúng thời hạn, tuổi thọ công trình Bởi lẽ việc xác định các yếu tố về mặt chất lượng đòi hỏi phải có khoảng thời gian nhất định để đánh giá chính xác, nên chỉ khi các yếu tố về khoa học kỹ thuật phát triển mới có thể rút ngắn thời gian xác định, kiểm chứng, đồng thời đưa ra được các giải pháp tối ưu nhất tùy theo đặc thù của từng sản phẩm công trình; đồng thời các nội dung liên quan đến công tác bảo hành cũng
bị chi phối, ảnh hưởng ít nhiều bởi các yếu tố này trong các thỏa thuận hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu
1.1.2.3 Yếu tố Pháp luật
Pháp luật hình thành bằng ba con đường chủ yếu: Tập quán pháp; Án lệ pháp; Văn bản Quy phạm pháp luật Cho dù là tồn tại dưới hình thức nào, pháp luật nói chung đều có mối quan hệ mật thiết với mỗi thể chế, nhà nước nhất định, là một trong những công cụ quan trọng để định hướng hành vi và thiết lập trật tự trong xã
Nam”, https://moc.gov.vn/tl/tintuc/66276/sukethopgiuabimvabmsgiaiphaptoiuuchocongnghequan ly-van-hanh-nha-cao-tang-o-viet-nam.aspx, truy cập ngày 20/07/2021
Trang 33-hội Do vậy, yếu tố pháp luật tác động đến hoạt động bảo hành thường thể hiện thông qua một số yếu tố sau:
Một là, sự tồn tại các quy định pháp luật về bảo hành có tác dụng định hướng
hành vi và cách xử sự của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật xây dựng
Các quy định pháp luật tham gia vào hoạt động điều chỉnh, định hướng hành vi của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Tuy nhiên, một hành vi chỉ được coi là
vi phạm pháp luật khi nó xuất phát từ lỗi của chủ thể đó
Do đó, khi xuất hiện quan hệ hợp đồng thi công xây dựng giữa hai bên, sự tuân thủ quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho hợp đồng được thực thi một cách tối đa, hiệu quả và đảm bảo không có tranh chấp phát sinh Tuy nhiên, thực tế cho thấy quá trình thực hiện hợp đồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp mà hợp đồng không thể mô tả hết, hoặc do sự yếu kém trong công tác xây dựng hợp đồng dẫn đến yếu thế, bất lợi cho một bên chủ thể, từ đó dẫn đến tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh khi triển khai trực tiếp Khi
đó, những quy phạm pháp luật có liên quan sẽ trở thành cán cân, trọng tài chung để các bên trước hết dựa vào đó đưa ra các lý lẽ, lập trường để tự phân xử và đàm phán
giải quyết tranh chấp
Hai là, quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động xây dựng và bảo hành
công trình xât dựng được ban hành một cách rõ ràng cụ thể đến đâu thì việc giám sát và điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong hoạt động bảo hành sẽ càng dễ dàng
và thuận tiện Ngược lại, quy định pháp luật ban hành không được điều chỉnh, lỗi thời, không rõ ràng hoặc nếu có lại xung đột lẫn nhau39 có thể khiến cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động bảo hành, xây dựng gặp nhiều vướng mắc, bối rối trong cách lựa chọn, tuân thủ, tranh chấp không có hướng giải quyết Việc cập nhật và thay đổi của các quy định pháp luật theo từng giai đoạn, từng hoàn cảnh là một điều kiện tiên quyết, góp phần điều chỉnh, giải quyết kịp thời các vướng mắc trên thực tế, giúp cơ quan nhà nước quản lý tốt các vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động xây
dựng và bảo hành công trình
Do vậy, các yếu tố pháp luật có ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ và ngay lập tức đến hoạt động bảo hành trên thực tế Sự thay đổi, biến động của những yếu tố này sẽ làm cho hoạt động bảo hành bị thay đổi hoặc phụ thuộc trên thực tế
cứu Lập pháp, số 24 (400), tháng 12, tr.36-40
Trang 341.1.2.4 Các yếu tố khác
Một là, Yếu tố địa lý, điều kiện tự nhiên: Theo PGS.TS Nguyễn Bá Kế, Hao mòn (tổn thất) hữu hình là do ở ba yếu tố gây ra: (i) tác động của các yếu tố tự nhiên; (ii) Ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ hoặc chức năng; (iii) xuất hiện từ những sai lầm trong thiết kế và thi công40 Đặc thù yếu tố khí hậu tự nhiên ở một số vùng miền nước ta (như mưa, xâm nhập mặn, thủy triều…) sẽ khiến sự suy giảm chất lượng công trình ngày càng diễn ra nhanh chóng Không có một sản phẩm nào đưa vào sử dụng mà không có sự hao mòn theo thời gian Việc không tránh khỏi các tác động từ thời tiết, từ quá trình sử dụng chính là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng ban đầu của công trình, đòi hỏi công tác đánh giá địa chất ban đầu trước khi trình thiết kế, thi công, lựa chọn phương án kỹ thuật phù hợp cũng như dự báo, dự phòng phướng bảo hành, bảo trì từ chủ đầu tư, nhà thầu là điều hết sức cần thiết và quan trọng
Hai là, nguồn chi phí bảo hành cũng tác động một phần đến hoạt động bảo
hành công trình Với những công trình có khoản tiền giữ lại để bảo hành lớn thì công tác bảo hành công trình thường sẽ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn Tuy nhiên, với các Dự án có nguồn tiền bảo hành thấp hoặc các Dự án thuộc vốn khác (không phải vốn nhà nước hoặc vốn đầu tư công), các bên được thỏa thuận về tỷ lệ tiền giữ lại để bảo hành, hoặc thậm chí chủ đầu tư quyết toán 100% hợp đồng mà không đòi hỏi giữ lại chi phí bảo hành, dẫn đến việc khi phát sinh lỗi hoặc khiếm khuyết trong thời gian đưa công trình vào sử dụng thì công tác bảo hành không được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời
Ba là, thời gian bảo hành công trình dài hoặc ngắn cũng ảnh hưởng đến hoạt
động bảo hành Hiện nay, thời hạn bảo hành kết cấu công trình gắn liền với phân cấp công trình và loại công trình, thời gian bảo hành đối với thiết bị lắp đặt lại phụ thuộc vào quy định nhà sản xuất và tính từ khi lắp đặt Do vậy, phát sinh một số trường hợp công trình nghiệm thu đưa vào sử dụng cũng là lúc hết thời hạn bảo hành thang máy, hoặc thang máy chưa đưa vào sử dụng đã phát sinh hư hỏng do ảnh hưởng của việc nghiệm thu lắp đặt sớm41 Việc quy định mốc tính bảo hành cũng như thời hạn bảo hành khác nhau đối với một số bộ phận công trình gây vướng mắc trên thực tế, cũng phần nào làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo hành công trình của nhà thầu, chủ đầu tư
https://kiemsat.vn/thang-may-chung-cu-noi-lo-chua-co-hoi-ket-48888.html, truy cập ngày 12/03/2021
Trang 351.2 Lý luận chung về Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng
1.2.1 Khái quát lịch sử phát triển của Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng
Giống như các ngành nghề khác trong xã hội, sự phát triển của Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng thuộc một phần và gắn liền với lịch sử phát triển của
cả Ngành xây dựng Việt Nam Ngày 2/9/1945, nước ta có Bản Tuyên Ngôn độc lập đầu tiên Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn sau tuyên ngôn độc lập đến ngày 19/12/1945 – Ngày Toàn Quốc kháng chiến, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 243 sắc lệnh, 172 Nghị định, 46 Thông tư, và 12 văn bản khác42
Ngày 19/11/1946, Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội Khóa I thông qua Giai đoạn từ cuối 1954 đến trước khi ban hành Hiến pháp năm 1959, nước ta ban hành 8 Đạo luật, 30 Sắc lệnh, 70 Nghị định, 36 Nghị quyết, 60 Quyết định, 920 Thông tư, 97 Chỉ thị và 74 văn bản có tính hợp quy khác43
Tại Điều 1 Điều lệ quản lý xây dựng Cơ bản của Nghị định của Chính phủ
số 232-CP ngày 6/6/1981 ban hành nêu rõ “Công tác quản lý xây dựng cơ bản
phải thể hiện đúng đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và chính sách phát triển kinh tế, văn hoá của Đảng và Nhà nước, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn vốn đầu tư, khai thác tốt tài nguyên của đất nước, tận dụng tiềm lực lao động, đất đai và mọi tiềm lực sản xuất khác để xây dựng thành công cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Chủ trương đầu tư và kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản phải bảo đảm nhịp độ phát triển nền kinh tế một cách cân đối, nhịp nhàng, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong từng giai đoạn, đạt được hiệu quả kinh tế, tăng sản phẩm xã hội, tăng thu nhập quốc dân và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội”
Ngày 29/4/1958, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã ra Nghị quyết tách Bộ Thủy lợi - Kiến trúc để thành lập 2 bộ: Bộ Thủy lợi và Bộ Kiến trúc Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng) thực hiện chức năng giúp Chính phủ quản lý về kiến trúc, quy hoạch xây dựng, kiến thiết cơ bản, nhà đất và sản xuất vật liệu xây dựng
http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=d78928d8-4a81-414f-914c-57a1fa900e24&groupId=13025, truy cập ngày 14/3/2021
tiễn, NXB Công An Nhân dân, tr.90
Trang 36Pháp luật về Bảo hành công trình bắt đầu xuất hiện trong Thông tư số 139-TTg ngày 28/6/1960 của Thủ tướng về việc ban hành thể lệ tạm thời về giao nhận hợp đồng thi công xây dựng cơ bản giữa đơn vị kiến thiết giao thầu công trình và cơ quan xây lắp nhận thầu44 Tiếp đó, tại Điều 35 – Chế độ bảo hành của Bản Điều lệ về quản
lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị định số 232-CP ngày 6 tháng 6 năm
1981 đã nêu rõ yêu cầu về vấn đề bảo hành công trình: “Từ nay, tất cả tổ chức nhận
thầu khảo sát, thiết kế cung ứng thiết bị, vật tư, xây lắp đều phải thực hiện chế độ bảo hành đối với công trình xây dựng theo thời hạn và nội dung do nhà nước quy định”
Để mở rộng kinh tế với nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở khai thác
có hiệu quả tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước, ngày 29/12/1987 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời Điều 3 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có nêu rõ Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào nhiều lĩnh vực, trong đó có Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng Thời kỳ đầu đổi mới đất nước (1986 - 1990), hình thức đấu thầu đã được áp dụng trong xây lắp với công trình quan trọng đã hoàn thành như: tổ máy số 3-4 của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, 4 tổ máy của thủy điện Trị An, 2 tổ máy của thủy điện Hòa Bình, 3 tổ máy của thủy điện Đrây Linh, Nhà máy Kính Đáp Cầu…
Tiếp theo sau là sự ra đời của hàng loạt các văn bản chuyên ngành về xây dựng được ban hành, sửa đổi, bổ sung qua các năm như: Quyết định số 13-UBXH của Ủy Ban xây dựng cơ bản Nhà nước ngày 17/1/1986 quy định trách nhiệm bảo hành của các tổ chức nhận thầu xây lắp; Quyết định số 102/BXD-GĐ của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng ngày 15/6/1992 về việc ban hành Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng cũng có quy định trách nhiệm bảo hành ở tất cả các khâu (khảo sát, thiết kế, xây lắp) theo quy định nhà nước đối với tất cả công trình không kể sở hữu, nguồn vốn quy mô45; Quyết định số 498/BXD-GĐ ngày 18 tháng 9 năm 1996; Quyết định số 499/BXD-GĐ ngày 18 tháng 9 năm 1996 về quy chế bảo hành xây lắp công trình và xác định trách nhiệm về chất lượng công trình của doanh nghiệp xây dựng trước Chủ Đầu tư và pháp luật; Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999; Quyết định số 35/1999/QĐ-BXD ngày 12 tháng 11 năm 1999 về việc ban hành Quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng (thay thế Quyết định số 498/BXD-GĐ và Quyết định số 499/BXD-GĐ ban hành ngày 18 tháng 9
ban hành Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng
Trang 37năm 1996); Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD ban hành ngày 02 tháng 8 năm 2000 ban hành Quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng; Quyết định số 18/2003/QĐ-BXD ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2003 ban hành Quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng
Luật Xây dựng 2003 ban hành quy định các nôi dung liên quan đến công tác bảo hành Kèm theo đó, Nghi định 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính Phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã dành riêng một chương để quy định các vấn đề liên quan đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng và Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày
18 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
số 209/2004/NĐ-CP ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về quản
lý chất lượng công trình xây dựng
Sau 10 năm kể từ Luật Xây dựng 2003, Luật Xây dựng số 2014 ra đời (thay thế Luật Xây dựng 2003 và điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12) bao gồm 10 chương, 168 điều với nhiều thay đổi nổi bật về thuật ngữ, quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng được phân cấp, quy định mới bổ sung thêm về bảo hiểm bảo hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, có một số điều khoản cụ thể quy định về cách thức, yêu cầu và nội dung công tác bảo hành (sau đây là “Nghị định số 46/2015/NĐ-CP“)46
Gần đây nhất, Luật số 62/2020/QH14 ký ngày ngày 17 tháng 06 năm 2020 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng không có nhiều điều khoản sửa đổi liên quan đến hoạt động bảo hành Tuy nhiên, nội dung và công tác bảo hành có một số khác biệt được quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ký ngày
26 tháng 1 năm 2021 về việc Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, thay thế Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Nội dung Nghị định số 06/2021/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể một số vấn đề liên quan về việc chủ đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu tham gia xây dựng công trình về quyền và trách nhiệm của các bên trong bảo hành công trình xây dựng; thời hạn bảo hành công trình xây dựng, thiết bị
Trang 38công trình, thiết bị công nghệ hay quy định về thời hạn bảo hành đối với hạng mục công trình, công trình xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp được tính kể từ khi được chủ đầu tư nghiệm thu theo quy định
Tại Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011, ngành Xây dựng có được Chiến lược phát triển nhà ở với định hướng khác nhau, cụ thể: "Giải quyết vấn đề nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân”; “Các chỉ tiêu phát triển nhà ở, trong đó có chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho từng nhóm đối tượng phải được xác định cụ thể trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hàng năm và từng giai đoạn để tổ chức triển khai; đồng thời là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền giám sát, đánh giá kết quả thực hiện”47
Trước Luật Xây dựng 2014, các quy định về bảo hành được quy định rải rác dưới dạng những điều khoản ngắn gọn cho đến khi đến Luật Xây dựng 2003, các quy định về bảo hành, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được quy định một cách minh thị hơn kèm theo quy định về chế tài xử lý khi phạm Hiện nay, Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng được quy định chủ yếu tại:
(1) Luật Xây dựng 2014;
(2) Luật số 62/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xây dựng;
(3) Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ký ngày 26 tháng 1 năm 2021 về việc Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng;
(4) Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2021 thay thế Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng; Nghị định số 42/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày
18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng để quy định các vấn đề liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng;
(5) Các Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định có liên quan nói trên
https://baoxaydung.com.vn/nganh-xay-dung-hanh-trinh-60-nam-phat-trien-229218.html, truy cập ngày 29/07/2021
Trang 391.2.2 Nguồn Pháp luật điều chỉnh hoạt động Bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam
Bất kỳ hoạt động nào diễn ra trên thực tế đều được vận hành trong một khuôn khổ, chỉnh thể thống nhất, mà trong đó, pháp luật với vai trò là một trong những yếu
tố thuộc kiến trúc thượng tầng tham gia, tác động trực tiếp điều chỉnh, chi phối các quan hệ, hoạt động trong xã hội Chính vì thế, hoạt động bảo hành công trình xây dựng cũng chịu sự chi phối bởi các hệ thống pháp luật sau đây:
1.2.2.1 Pháp luật Quốc gia
Hoạt động bảo hành công trình được điều chỉnh bởi pháp luật của từng Quốc gia, nơi mà công trình đó tồn tại Mỗi Quốc gia, khu vực có quy định khác nhau về vấn đề bảo hành cho từng loại công trình xây dựng Với tính chất là công cụ kiểm soát, pháp luật về bảo hành công trình xây dựng sẽ tham gia điều chỉnh tất cả các mối quan hệ phát sinh liên quan đến hoạt động xây dựng nói chung và bảo hành công trình nói riêng; Áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam48 như quan hệ giữa các bên trong hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua bán nhà ở, công trình; quy định những về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng, bao gồm
cả những chế tài xử lý trong trường hợp vi phạm các quy định pháp luật của các chủ thể có liên quan
Những quan hệ pháp luật phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam đều tuân thủ nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật Quốc gia Cụ thể, Điều 2 Luật Xây dựng 2014 quy định về đối tượng áp dụng: “Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam”
Pháp luật về hoạt động bảo hành công trình xây dựng chứa đựng các quy định pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật do Cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận theo đúng thủ tục luật định, điều chỉnh các quan hệ phát sinh liên quan đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng Các Quy định này không quy định gói gọn trong một Chương cụ thể của một văn bản pháp luật nào mà nằm rải rác trong quy định của Luật Xây dựng 2014 (được SĐBS), các
Trang 40văn bản pháp luật riêng về hoạt động bảo hành công trình xây dựng nói riêng Cụ thể như sau:
(i) Luật Xây dựng là quy định pháp lý cao nhất về các hoạt động liên quan đến xây dựng công trình và bảo hành công trình, điều chỉnh phạm vi hoạt đồng, quyền hạn các chủ thể tham gia, trách nhiệm, giải quyết tranh chấp
(ii) Nghị định của chính phủ về hoạt động xây dựng quy định, hướng dẫn chi tiết các nội dung liên quan về hợp đồng xây dựng, bảo hành và bảo trì công trình, giám sát, nghiệm thu hoàn thành công trình, hoàn thành bảo hành công trình
(iii) Thông tư và các văn bản hướng dẫn, yêu cầu có liên quan hướng dẫn liên quan đến xác định phạm vi bảo hành, thời hạn bảo hành, trách nhiệm của các chủ thể, phạm vi bảo hành và bảo lãnh bảo hành…
Ngoài những quy định pháp luật chuyên ngành về hoạt động xây dựng, thì hoạt động bảo hành còn chịu sự chi phối và điều chỉnh của một số Luật khác có liên quan khi các chủ thể tham gia trong hoạt động bảo hành phát sinh những trường hợp nằm trong phạm vi điều chỉnh hoặc có liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Luật đó Điển hình như, hợp đồng xây dựng giữa hai chủ thể được điều chỉnh bởi
Bộ luật Dân sự, khi phát sinh tranh chấp và được các bên đưa ra cơ quan giải quyết tranh chấp, thì ngoài Bộ luật Dân sự, Luật Xây dựng, các bên phải tuân thủ Bộ luật
Tố tụng từ cơ quan nhà nước, trong trường hợp các vụ việc có tính chất nghiêm trọng thì có thể bị truy tố theo Bộ luật Hình sự
1.2.2.2 Điều ước Quốc tế
Như đã nói ở trên, các quy định pháp luật xuất hiện nhằm mục đích định hướng hành vi và điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động bảo hành nhằm hạn chế tranh chấp, rủi ro phát sinh Các quy phạm pháp luật này không chỉ hướng tới điều chỉnh mối quan hệ, quy định quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước mà còn cả với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam
Hiện nay, việc hoàn thiện và áp dụng các Điều ước Quốc tế là được coi là một trong những nỗ lực to lớn của các quốc gia trong việc thống nhất hoá nội dung của các nước nhằm làm đơn giản hóa và việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp
quốc tế Ở Việt Nam, khoản 2 Điều 665 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường
hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có