1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

79 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập
Tác giả Hồ Bảo
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thái Cường
Trường học Trường Đại Học Luật TP HCM
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó đặt ra nhu cầu tất yếu phải nghiên cứu, đề xuất mở rộng ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập theo hướng cho phép người học được sử dụng hợp

Trang 1

HỒ BẢO

NGOẠI LỆ CỦA QUYỀN TÁC GIẢ

ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM

NHẰM MỤC ĐÍCH HỌC TẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

NGOẠI LỆ CỦA QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM

NHẰM MỤC ĐÍCH HỌC TẬP

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Định hướng nghiên cứu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và thông tin nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác và đã được cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc cho phép công bố Các dữ liệu, luận điểm được trích dẫn đầy đủ, nếu không thuộc ý tưởng hoặc kết quả tổng hợp của chính bản thân tôi Những kết luận khoa học trong luận văn là mới và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Tác giả

Hồ Bảo

Trang 4

Chỉ thị 2001/29/EC của Nghị viện châu Âu

và Hội đồng Liên minh châu Âu về sự hài hòa của một số khía cạnh thuộc quyền tác giả và các quyền liên quan trong xã hội thông tin năm 2001

03 Công ước Berne Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886 sửa chữa lần

cuối tại Paris năm 1971

04 Công ước Rome

Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng năm 1961

06 Hiệp định TRIPS

Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm

1994

07 Hiệp ước WTC; WTC Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

về quyền tác giả năm 1996

08 Luật SHTT;

Luật SHTT Việt Nam

Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày

29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010; Luật số 42/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019; Luật số 07/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung

Trang 5

một số điều theo Luật số 36/2009/QH12 và Luật số 42/2019/QH14

09 Nghị định số

131/2013/NĐ-CP

Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan,

2009 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 về quyền tác giả, quyền liên quan

13 WTO Tổ chức Thương mại thế giới

14 WIPO Tổ chứcSở hữu trí tuệ thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

i) Lý do chọn đề tài 1

ii) Kết quả khảo sát lịch sử nghiên cứu đề tài 1

iii) Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

iv) Phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

v) Phương pháp nghiên cứu: 6

vi) Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận 6

CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGOẠI LỆ CỦA QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM NHẰM MỤC ĐÍCH HỌC TẬP 7

1.1 Những vấn đề cơ bản về ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập 7

1.1.1 Khái niệm ngoại lệ của quyền tác giả và các cách tiếp cận khái niệm học tập 7

1.1.2 Cơ sở của ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập 9

1.2 Ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập trong pháp luật quốc tế 18

1.2.1 Điều ước quốc tế về ngoại lệ quyền tác giả nhằm mục đích học tập 18

1.2.2 Pháp luật bản quyền một số nước về ngoại lệ quyền tác giả nhằm mục đích học tập 23

1.3 Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập 28

1.3.1 Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994 28

1.3.2 Bộ luật Dân sự năm 1995 29

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGOẠI LỆ CỦA QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM NHẰM MỤC ĐÍCH HỌC TẬP 32

2.1 Ghi nhận ngoại lệ của quyền tác giả trong Luật Sở hữu trí tuệ 32

2.2 Đề cập đến mục đích học tập trong Luật Sở hữu trí tuệ 33

Trang 7

2.3 Các trường hợp ngoại lệ quyền tác giả nhằm mục đích học tập cụ thể 33

2.3.1 Sao chép tác phẩm 33

2.3.2 Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa 44

2.3.3 Trích dẫn hợp lý tác phẩm 48

2.3.4 Nhập khẩu bản sao tác phẩm để sử dụng cá nhân 51

2.3.5 Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả nhằm mục đích học tập dành cho người khuyết tật 53

2.4 Các điều kiện khi sử dụng tác phẩm trong các trường hợp ngoại lệ 56

2.4.1 Tác phẩm được sử dụng phải là tác phẩm đã công bố 56

2.4.2 Thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm 57

2.4.3 Sử dụng tác phẩm đúng mục đích 58

2.4.4 Không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 59

2.4.5 Loại hình tác phẩm không áp dụng quy định về ngoại lệ quyền tác giả

61

2.5 Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật 61

2.5.1 Về thuật ngữ “ngoại lệ” không xâm phạm quyền tác giả 61

2.5.2 Về ngoại lệ sao chép tác phẩm 62

2.5.3 Về sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa 64

2.5.4 Về trích dẫn hợp lý tác phẩm 65

2.5.5 Về nhập khẩu bản sao tác phẩm để sử dụng cá nhân 65

2.5.6 Về các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả dành cho người khuyết tật 66

2.5.7 Về nghĩa vụ phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm 67

KẾT LUẬN 68

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

i) Lý do chọn đề tài

Bối cảnh hội nhập sâu rộng trên toàn cầu bắt buộc các quốc gia phải dành sự quan tâm đúng mức cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và quyền tác giả nói riêng Việc này nhằm khuyến khích các tác giả tiếp tục có những đóng góp trí tuệ và sức sáng tạo của mình cho đời sống tinh thần của xã hội Tuy nhiên, một trong những nội dung cốt lõi của SHTT đó là nguyên tắc “Cân bằng lợi ích”, vốn được thiết kế nhằm bảo vệ quyền tiếp cận và sử dụng tác phẩm của xã hội

và cộng đồng Trong môi trường giáo dục ở các quốc gia tiên tiến, đặc biệt là các tác phẩm phục vụ cho việc học tập, tiếp thu tri thức của người học, nguyên tắc “Cân bằng lợi ích” đã đặt ra nhiều ngoại lệ đối với quyền tác giả Nhờ đó, một mặt thỏa mãn được các quyền lợi cá nhân của tác giả, khuyến khích tác giả tiếp tục sáng tạo, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho người học được tiếp cận với các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, giúp cho nền giáo dục được phát triển lành mạnh, thông thoáng

Được xây dựng và ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới với nhiều nỗ lực gia nhập các tổ chức quốc tế và ký kết các hiệp định song phương, đa phương, Luật SHTT Việt Nam là kết tinh của sự kế thừa, học hỏi các nước có nền lập pháp tiên tiến, mang nhiều tư tưởng và giá trị tiến bộ của thế giới Trong đó, các quy định về ngoại lệ của quyền tác giả cũng được tiếp thu, tham khảo có chọn lọc và cập nhật phù hợp với hoàn cảnh đất nước Tuy vậy, mặc dù với lần sửa đổi mới nhất vào năm 2022, hiện nay pháp luật SHTT Việt Nam vẫn chưa dành sự quan tâm tương xứng cho quyền sử dụng hợp lý tác phẩm nhằm mục đích học tập dẫn đến nội hàm các quy định về sao chép tác phẩm nhằm mục đích học tập vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến rủi ro trong việc áp dụng và thi hành pháp luật trên thực tiễn Điều đó không những làm hạn chế quyền của người học trong việc tiếp cận với tri thức học thuật và sử dụng các tác phẩm vì mục đích học tập mà còn khiến cho việc bảo vệ quyền SHTT đối với các tác phẩm khoa học trong môi trường giáo dục gặp nhiều vướng mắc Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia đang phát triển, mức thu nhập bình quân của đa số người học so với chi phí tài liệu học tập luôn đặt ra rào cản nhất định cho việc phát triển vốn con người – một trong những chủ trương được ưu tiên hàng đầu trong tiến trình xây dựng quốc gia công nghiệp, hiện đại, văn minh

Điều đó đặt ra nhu cầu tất yếu phải nghiên cứu, đề xuất mở rộng ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập theo hướng cho phép người học được sử dụng hợp lý các tác phẩm phục vụ nhu cầu học tập trong khuôn khổ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu

Do đó, người viết chọn đề tài “Ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử

dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập” để thực hiện Luận văn của mình

ii) Kết quả khảo sát lịch sử nghiên cứu đề tài

Ngoại lệ của quyền tác giả nói chung và ngoại lệ của quyền tác giả trong việc

sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập từ lâu luôn được các nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu

Trang 9

Ở nước ngoài:

Có nhiều công trình nghiên cứu về ngoại lệ quyền tác giả nói chung và ngoại

lệ quyền tác giả trong lĩnh vực giáo dục nói riêng Có thể kể đến các công trình như:

“Copyright Exceptions in the United States For Educational Uses of Copyrighted Works” (Các trường hợp ngoại lệ về bản quyền ở Hoa Kỳ đối với việc

sử dụng tác phẩm có bản quyền cho mục đích giáo dục) của các tác giả June M Besek, Jane C Ginsburg, Philippa Loengard và Yafit Lev-Aretz (2013) thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban Cải cách Luật pháp Úc về bản quyền và nền kinh tế kỹ thuật số, bài nghiên cứu mô tả các ngoại lệ chính của quyền tác giả của Hoa Kỳ liên quan đến việc sử dụng giáo dục các tài liệu được bảo vệ bản quyền Khi bàn luận về học thuyết sử dụng hợp pháp của Hoa Kỳ, các tác giả đã liệt kê bốn yếu tố chủ yếu phải được quan tâm trong các trường hợp được coi là sử dụng hợp pháp các tác phẩm trong môi trường giáo dục, tuy vậy, các tác giả đã kết luận không có công thức (cố định) nào để xác định một trường hợp có phải là sử dụng hợp pháp hay không Cuối cùng, các tác giả đưa ra các khuyến nghị trong trường hợp luật bản quyền Úc áp dụng học thuyết và quy định của Hoa Kỳ về ngoại lệ quyền tác giả trong giáo dục

Lawrence Liang (2010) Exceptions and Limitations in Indian Copyright Law for Education: An Assessment The Law And Development Review, 3(2) (dịch: Các trường hợp ngoại lệ và hạn chế trong Luật Bản quyền của Ấn Độ dành cho giáo dục: Một đánh giá) Trong bài viết này, tác giả Lawrence Liang đã xem xét bản chất của các ngoại lệ trong luật bản quyền trong trường hợp sử dụng tác phẩm

có bản quyền với mục đích giáo dục Dựa trên các quy định về ngoại lệ quyền tác giả của Ấn Độ và quốc tế, tác giả trình bày lập luận về sự cần thiết của việc ngoại lệ quyền tác giả vì nhu cầu được tiếp cận thông tin học thuật của xã hội Đồng thời, tác phẩm còn đề cập đến vấn đề bản quyền sẽ khiến cho chi phí học liệu cao, điều này ảnh hưởng đến tiến trình phát triển nền giáo dục của các quốc gia đang phát triển

“Intellectual Property “from Below”: Copyright and Capability for Education” (Sở hữu trí tuệ “từ bên dưới”: Quyền tác giả và khả năng dành cho giáo dục) của tác giả Margaret Chon Trong bài báo, tác giả phê phán cách áp dụng thông dụng các quy tắc SHTT trên phạm vi toàn cầu hiện nay đa phần là "từ trên xuống", dựa trên lợi ích của các quốc gia có nhiều SHTT Tác giả đề xuất một cách tiếp cận SHTT "từ bên dưới", liên kết SHTT với sự công bằng trong phân phối quyền lợi Tác giả cho rằng cách tiếp cận này có thể tạo ra nhiều lợi ích cho việc xây dựng nền giáo dục ở các quốc gia thiếu khả năng tiếp cận đầy đủ với sách giáo khoa và các tài liệu giáo dục khác Ngoài ra, tác giả còn đặt ra sự cần thiết của một nguyên tắc "Bình đẳng thực chất" trong việc thiết lập và giải thích các quy chuẩn về SHTT trên toàn cầu, trọng tâm của nguyên tắc này là hướng đến quyền truy cập vào các tài liệu giáo dục của các quốc gia đang phát triển

“Justifications for Copyright Limitations & Exceptions” (Biện minh cho các ngoại lệ và ngoại lệ về bản quyền) của tác giả Pamela Samuelson đã thảo luận về mười luận điểm biện minh cho các giới hạn của quyền tác giả với trọng tâm chính là luật về sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ Trong đó, tại phần III.B, tác giả trình bày các điều

Trang 10

khoản cho phép sao chép các tác phẩm nhằm mục đích sử dụng cá nhân của luật các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản với nỗ lực chứng minh các ngoại lệ quyền tác giả nằm mục đích sử dụng cá nhân, trong đó có quyền sao chép tác phẩm nhằm các mục đích như nghiên cứu, học tập luôn tồn tại trong luật pháp các nước tiên tiến trên thế giới Công trình này này giúp người viết có thêm góc tiếp cận về đề tài dựa trên góc độ luật pháp các nước, đặc biệt là Hoa Kỳ

“Copyright Limitations and Exceptions in an E-Education Environment” của tác giả Maria Daphne Papadopoulou trình bày các giới hạn của quyền tác giả và phân tích liệu rằng nên thiết kế các giới hạn này như thế nào để áp dụng cho môi trường giáo dục kỹ thuật số (giáo dục điện tử), ngoài ra, tác giả còn điểm qua những vấn đề cơ bản của những ngoại lệ và ngoại lệ được thiết kế đặc biệt cho mục đích học tập như ngoại lệ trích dẫn và ngoại lệ có lợi cho thư viện Đồng thời, “bài kiểm tra ba bước” của giới hạn quyền tác giả sẽ được áp dụng để xem xét mục đích giáo dục có thể vượt qua được hay không Nội dung này giúp cho người viết có được góc nhìn về giới hạn quyền tác giả trong môi trường giáo dục điện tử, đồng thời, kết quả của phép thử ba bước đối với giới hạn quyền tác giả trong môi trường giáo dục điện

tử giúp tác giả củng cố cơ sở lập luận của mình

Aplin, T., & Bently, L (2020) Global Mandatory Fair Use The Nature and Scope of the Right to Quote Copyright Works New York: University of Cambridge ESOL Examinations (dịch: Sử dụng hợp lý bắt buộc trên toàn cầu: Bản chất và phạm vi của quyền trích dẫn tác phẩm có bản quyền) Mở đầu cuốn sách, Tanya Aplin và Lionel Bently phân tích toàn diện về lịch sử của các ngoại lệ trích dẫn trong luật bản quyền quốc tế và phê phán những nhận thức sai lầm về nội hàm của

“trích dẫn” Sau cùng, dựa trên sự phân tích Điều 10 của Công ước Berne quy định ngoại lệ trích dẫn, Tanya Aplin và Lionel Bently cho rằng quy định này được thiết

kế nhằm hướng đến việc tạo ra một ngoại lệ quyền tác giả cho phép công chúng sử dụng hợp pháp tác phẩm mang tính bắt buộc trên toàn cầu Cuốn sách này có nhiều đóng góp trong việc hình thành cơ chế đánh giá các tính hợp lý của các trích dẫn

Cơ chế này có thể được áp dụng bởi các cơ quan lập pháp và tòa án trong giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền tác giả

Aufderheide, P., & Jaszi, P Reclaiming Fair Use: How to Put Balance Back

in Copyright (2nd ed.) University of Chicago Press (dịch: Yêu cầu sử dụng hợp lý: Cách cân bằng bản quyền) Trong cuốn sách này, Aufderheide và Peter Jaszi biện minh cho quan điểm sử dụng hợp lý và trình bày chi tiết cách áp dụng quy định về

sử dụng hợp lý tác phẩm để tránh vi phạm bản quyền dành người dân bình thường Đồng thời, cuốn sách đề cập đến vấn đề mở rộng phạm vi của việc sử dụng hợp lý

Liu, J (2012) Copyright Industries and the Impact of Creative Destruction (1st ed.) Routledge Cuốn sách xem xét mối quan hệ giữa việc gia hạn thời gian bảo hộ bản quyền (như một cách bảo vệ bản quyền lâu dài) và sự phát triển của ngành xuất bản sách ở Vương quốc Anh với tư cách là một ngành công nghiệp sáng tạo điển hình dựa vào bản quyền Đồng thời, tác giả cũng phân tích tác động của luật và chính sách bản quyền đối với ngành sách và minh họa mối tương tác năng động giữa việc mở rộng bản quyền và sự phát triển của các ngành công nghiệp sáng

Trang 11

tạo bên cạnh việc đánh giá quá trình phát triển lịch sử của việc mở rộng bản quyền của Vương quốc Anh và cũng xem xét bản quyền trong thời đại kỹ thuật số Cuốn sách có đóng góp trong việc việc đề xuất những thay đổi đối với chính sách bản quyền nhằm tác động đến nền kinh tế thông qua sự đổi mới trong các ngành công nghiệp

Balganesh, S., Wee Loon, N., & Sun, H (Eds.) (2021) The Cambridge Handbook of Copyright Limitations and Exceptions (Cambridge Law Handbooks) Cambridge: Cambridge University Press (dịch: Sổ tay Cambridge về Giới hạn và Ngoại lệ của bản quyền) Cuốn sách cung cấp các luận giải xoay quanh việc mặc dù luật bản quyền thường chủ yếu quy định độc quyền khai thác tác phẩm dành cho tác giả nhưng các trường hợp miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm bản quyền (ngoại lệ quyền tác giả) là một phần không thể thiếu trong luật bản quyền, nó giúp cân bằng lợi ích riêng cho tác giả (người sáng tạo) và rộng rãi công chúng Tác giả cung cấp một nghiên cứu có hệ thống, kỹ lưỡng về các giới hạn và ngoại lệ bản quyền được áp dụng tại các khu vực pháp lý chính, bao gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Trung Quốc Cuốn sách có đóng góp trong việc so sánh những điểm khác biệt và tương đồng tồn tại ở các khu vực pháp lý chính và đưa ra các đề xuất

về cách cải thiện việc thực thi các giới hạn bản quyền trong nước và trên toàn cầu

Okediji Ruth L (Ed.) (2017) Copyright Law in an Age of Limitations and Exceptions Cambridge: Cambridge University Press (dịch: Luật bản quyền trong thời đại của sự giới hạn và các ngoại lệ) Cuốn sách là tập hợp bài viết của các học giả về bản quyền và xem xét vai trò quan trọng của luật bản quyền trong việc hình thành mối tương tác xã hội, kinh tế và chính trị phức tạp Cuốn sách đề cập đến việc xác định các vấn đề mà luật bản quyền phải đối mặt ngày nay, bao gồm các biện minh cho các giới hạn và ngoại lệ của luật bản quyền thông qua việc lần lượt đề cập đến vai trò của tác giả, quyền của công chúng, sử dụng hợp lý và bài kiểm tra ba bước,… Cuốn sách này có đóng góp trong việc biện minh cho giới hạn và ngoại lệ bản quyền như một chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Ngoài ra còn một số sách, công trình, bài báo khoa học khác, Tựu chung lại, các tác phẩm ngoài nước mặc dù có đề cập đến ngoại lệ quyền tác giả trong lĩnh vực giáo dục, tuy nhiên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung chung về ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả hoặc ngoại lệ trong môi trường giáo dục với nhiều hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học mà không chuyên sâu vào mục đích học tập hoặc/và quyền sử dụng hợp lý của người học

Ở trong nước:

Cho đến nay, Việt Nam có nhiều công trình, bài báo khoa học liên quan đến ngoại lệ quyền tác giả trong trường hợp sử dụng vì mục đích học tập Có thể kể đến các công trình như:

“Quyền sao chép của người học: nhìn từ góc độ quyền sử dụng hợp lý” của các tác giả Lê Thị Yến, Nguyễn Thị Minh Hạnh, Vũ Văn Tuấn, Đỗ Thị Kim Hương dựa trên cơ sở lý thuyết về quyền tác giả, đặc biệt là quyền sử dụng hợp lý để đề xuất quyền sao chép đã đề cập nên được trao cho người học để mở rộng tiếp cận với tri thức khoa học, nâng cao hiệu quả đào tạo, từ đó thúc đẩy sáng tạo từ phía các

Trang 12

chủ thể này đối với kho tàng tri thức của xã hội Ngoài ra, bài báo còn đặt ra các biện pháp kiểm soát vẫn phải được để tránh tổn hại đến lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Luận án “Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet” của tác giả Võ Trung Hậu tại mục 3.3.1 có trình bày về thực trạng pháp luật về ngoại lệ quyền sao chép nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy trực tuyến và kiến nghị Theo

đó, tác giả cho rằng quyền sao chép và ngoại lệ của quyền sao chép trong môi trường Internet nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy trực tuyến sẽ đối diện nhiều vấn đề khác với môi trường vật chất hữu hình Do đó, tác giả nêu một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ, trong đó kiến nghị mở rộng khái niệm sao chép

và đề cập đến yếu tố phi thương mại cần phải được xem xét như là một trong những yếu tố để áp dụng các điều khoản về giới hạn quyền tác giả trong môi trường giáo dục

“Quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục” của tác giả Nguyễn Trọng Luận (2021) phân tích những quy định của Luật SHTT Việt Nam hiện hành liên quan đến quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục, đồng thời chỉ ra một số bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm từ Pháp, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác Tác giả đề xuất xem xét và ghi nhận việc cho phép sao chép một phần tác phẩm cho mục đích học tập của cá nhân với một tỷ lệ hợp lý Ngoài ta, tác giả cho rằng một “trích dẫn” được coi là “trích dẫn hợp lý” khi nó thỏa mãn các căn cứ sau: (i) Mục đích của việc trích dẫn: nhằm giới thiệu, bình luận, làm sáng tỏ vấn đề hoặc nhằm mục đích thông tin về tác phẩm; (ii) Khối lượng phần trích dẫn: khối lượng phần trích dẫn là không đáng kể trong tổng thể tác phẩm gốc; (iii) Yêu cầu của việc trích dẫn: Phần trích dẫn

từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; (iv) Việc trích dẫn tác phẩm của người khác phải kèm theo việc chú thích rõ ràng nguồn trích dẫn; (v) Nguồn trích dẫn phải là hợp pháp (tức tác phẩm được sử dụng để trích dẫn phải được công bố một cách hợp pháp và không vi phạm quyền tác giả)

“Ngoại lệ trong sao chép tác phẩm theo pháp luật Việt Nam” của các tác giả Bùi Thị Hằng Nga, Lê Thị Diễm đã làm rõ một số hạn chế, bất cập của các quy định

về ngoại lệ quyền tác giả trong sao chép tác phẩm theo pháp luật Việt Nam khiến cho khả năng được tiếp cận tri thức, tiếp cận những tác phẩm phục vụ cho nhu cầu

cá nhân, đặc biệt là học tập sẽ ngày hạn chế Đồng thời, tác giả gợi mở những điều chỉnh, bổ sung quy định về SHTT theo hướng mở rộng các trường hợp ngoại lệ trong sao chép tác phẩm cho mục đích cá nhân và phục vụ học tập như quy định của

đa số các quốc gia khác

Ngoài ra còn một số sách, công trình, bài báo khoa học khác, Cũng như các công trình nghiên cứu nước ngoài, mặc dù có sự phân tích sâu sắc và phù hợp với bối cảnh thực tế tại Việt Nam hơn, song các công trình trong nước vẫn chưa có sự

hệ thống, phân tích sâu sắc, đúc kết từ lý luận đến thực trạng pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

Trang 13

iii) Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Các vấn đề cơ bản về ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập thông qua việc phân tích cơ sở lý thuyết và quy định pháp luật quốc tế

Trình bày thực trạng quy định pháp luật SHTT Việt Nam về các trường hợp ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập Đồng thời phát hiện, trình bày một số bất cập trong các quy định về ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

iv) Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục tiêu và làm rõ trọng tâm, đối tượng nghiên cứu, Luận văn ngoại lệ về phạm vi nghiên cứu như sau:

Về nội dung: Trong phạm vi của Luận văn, người viết xác định trọng tâm nghiên cứu là ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

Về phạm vi lãnh thổ: Luận văn nghiên cứu dựa trên phân tích các điều ước quốc tế về quyền tác giả như Công ước Berne, Hiệp định TRIPS, Hiệp ước WTC,…, pháp luật về quyền tác giả tại Việt Nam và tập trung vào các tiêu chí sử dụng hợp lý và xử sự hợp lý trong pháp luật một số quốc gia khác

v) Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp chính sau:

Phương pháp so sánh pháp luật: Luận văn sử dụng phương pháp này để so sánh pháp luật của các quốc gia trong việc quy định về ngoại lệ quyền tác giả; so sánh và nghiên cứu tính phù hợp với các điều ước quốc tế của pháp luật Việt Nam Đồng thời, phương pháp này còn giúp người viết so sánh được vấn đề ngoại lệ quyền tác giả ở các thời kỳ phát triển khác nhau của Luật SHTT Việt Nam

Phương pháp phân tích và tổng hợp: Luận văn sử dụng hai phương pháp chủ yếu xuyên suốt đề tài là phân tích và tổng hợp Phương pháp phân tích để làm rõ bản chất, đặc điểm của các vấn đề lý luận về ngoại lệ quyền tác giả, thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về quyền tác giả và phát hiện những bất cập cùng với đề xuất những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Phương pháp tổng hợp được

sử dụng để khái quát hóa các vấn đề đã được phân tích

vi) Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận

Luận văn có các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận trong việc xác định cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam về ngoại lệ và thiên hướng cho phép sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập trong pháp luật về quyền tác giả từ trước đến nay, bên cạnh việc giải thích cách thức quyền tự do ngôn luận tại Hiến pháp biện minh cho ngoại lệ quyền tác giả nhằm mục đích học tập trong luật về quyền tác giả Đồng thời, Luận văn phân tích các yếu tố trong từng trường hợp ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập và chỉ ra các bất cập cùng với việc đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật

Trang 14

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGOẠI LỆ

CỦA QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM

NHẰM MỤC ĐÍCH HỌC TẬP 1.1 Những vấn đề cơ bản về ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

1.1.1 Khái niệm ngoại lệ của quyền tác giả và các cách tiếp cận khái niệm học tập

1.1.1.1 Về khái niệm ngoại lệ của quyền tác giả

Theo cách hiểu thông thường, “ngoại lệ” (exception) là những thứ “nằm ngoài cái chung”1 Ngoại lệ của quyền tác giả (exceptions to copyright) chỉ những trường hợp đặc thù mà ở đó, người khác được sử dụng tác phẩm mà không cần phải quan tâm đến ý chí của tác giả có đồng ý với việc sử dụng đó hay không Từ đây, những hành vi sử dụng tác phẩm có dựa trên việc tác giả không có kiểm soát các quyền của mình đối với tác phẩm sau khi Nhà nước sử dụng quyền lực công cộng đặc biệt của mình giải phóng công chúng khỏi độc quyền khai thác tác phẩm của tác giả được gọi là “ngoại lệ” của quyền tác giả Dưới một góc nhìn khác, việc sử dụng tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả vốn dĩ là trái phép, nhưng nó trở nên hợp pháp sau các đạo luật của nhà nước ban hành cho phép công chúng sử dụng tác phẩm trong một số trường hợp cụ thể đặc biệt, song song với việc bảo hộ quyền tác giả Và do đó, nó được xem như các ngoại lệ của quyền tác giả Dĩ nhiên, các ngoại

lệ này chỉ được tiến hành trong một số trường hợp nhất định và theo quy định pháp luật của chính quyền sở tại

Từ đó, có cơ sở cho rằng ngoại lệ của quyền tác giả là các quy định pháp luật cho phép công chúng sử dụng tác phẩm mà không cần sự cho phép của tác giả, chủ

sở hữu quyền tác giả Mặc dù cùng có chung cách hiểu này, song không phải pháp luật nước nào cũng sử dụng cụm từ “ngoại lệ” Thuật ngữ “ngoại lệ” tồn tại trong pháp luật Bỉ, Úc nhưng tại Đức và Tây Ban Nha, nó được dùng chung với thuật ngữ

“giới hạn” (limitation); trong khi Thụy Sĩ sử dụng thuật ngữ “hạn chế” (restriction) thì Vương quốc Anh gọi là “hành vi được phép” (authorized acts), Sự đa dạng này còn xảy ra ở nhiều các quốc gia khác Việt Nam có cách tiếp cận dung hợp giữa các khái niệm “ngoại lệ” và “giới hạn” (sẽ được phân tích chi tiết tại phần 1.3.1 dưới đây) thông qua việc xem “ngoại lệ” là một phần thuộc về “giới hạn” Trong nghiên cứu, các học giả Việt Nam xem các khái niệm “ngoại lệ”, “hạn chế” hay “giới hạn”

là tương đồng nhau, như Trần Văn Nam (2014) viết “các ngoại lệ của độc quyền hay còn gọi là các hạn chế của quyền tác giả”2

Tóm lại, ngoại lệ của quyền tác giả có nhiều cách biểu đạt về mặt ngôn từ, tùy theo văn hóa pháp lý của mỗi quốc gia nhưng về bản chất, nó vẫn đề cập đến hành vi sử dụng tác phẩm được thực hiện bởi những người không phải là tác giả hay

1 Hoàng Phê và các tác giả khác (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 683

2 Trần Văn Nam và các tác giả khác (2014), Quyền tác giả ở Việt Nam: Pháp luật và thực thi, NXB Tư pháp,

tr 70

Trang 15

chủ sở hữu quyền Trong các phần sau, người viết sử dụng duy nhất thuật ngữ ngoại

lệ nhưng không vì thế mà các quy định có sử dụng các thuật ngữ giống hoặc tương

tự về ngữ nghĩa (như đã liệt kê) bị bỏ qua

Một số tranh cãi xảy ra xung quanh việc liệu có nên dùng thuật ngữ “quyền của công chúng” thay cho “ngoại lệ” Ý kiến này được đề xuất bởi những người ủng

hộ việc mở rộng quyền của công chúng đối với việc sử dụng tác phẩm Họ nhấn mạnh việc sử dụng tác phẩm không cần sự đồng ý của tác giả một cách hợp pháp chính là “quyền của công chúng” (rights of the public) Tuy vậy, lập luận của Burrell R., & Coleman A (2005) cho rằng cần xét đến mục đích ban đầu của việc thiết lập các “ngoại lệ” là nhằm phát huy lợi ích chung của xã hội do đó, sẽ không đúng khi mô tả các quy định về các ngoại lệ quyền tác giả là “quyền của người dùng”3 Các tác giả như Nguyễn Thị Bích Ngọc và Nguyễn Thái Cường (2022) lập luận về nguyên tắc, quyền tác giả là độc quyền của tác giả và chỉ trong một số trường hợp nhất định, tính chất độc quyền của tác giả mới có ngoại lệ4 Người viết cho rằng cần giữ nguyên thuật ngữ “ngoại lệ”, bởi lẽ bản chất của việc sử dụng tác phẩm nằm ngoài ý chí của tác giả nhằm mục đích công lợi dựa trên sự cho phép của pháp luật ở mức độ tối thiểu và các điều kiện ràng buộc mang tính hạn chế Trong trường hợp này, tác giả lâm vào tình trạng không thể chống cự khi đứng trước lợi ích của số đông quần chúng trong xã hội Việc mở rộng các ngoại lệ này đồng nghĩa xâm phạm vào quyền và lợi ích chính đáng của tác giả phát sinh từ công sức lao động của mình, và chỉ được thực hiện trong một số trường hợp ngặt nghèo Đồng thời, các ngoại lệ cũng đến từ sự san sẻ quyền lợi của cá nhân tác giả cho cộng đồng (đáng được công nhận) Cho nên không thể xem các ngoại lệ như là quyền của công chúng để có thể thực hiện một cách đương nhiên

Với lần sửa đổi, bổ sung mới nhất vào năm 2022, Luật SHTT Việt Nam dành hai điều luật quy định về các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả (Điều 25) và các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả dành cho người khuyết tật (Điều 25a) Trong suốt nội dung Điều 25, Luật SHTT không đề cập đến “quyền”, tuy nhiên đến Điều 25a, luật này lại ghi nhận “quyền sao chép, biểu diễn, truyền đạt tác phẩm” của người khuyết tật và người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật Điều này khiến dẫn đến cách hiểu Luật SHTT Việt Nam một lần nữa lại dung hợp hai góc độ tiếp cận giữa “ngoại lệ” và “quyền của công chúng” đối với các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền (ngoại lệ quyền tác giả)

1.1.1.2 Về khái niệm học tập và các cách tiếp cận

Về mặt từ nguyên, “học” là “thu nhận kiến thức, rèn luyện kĩ năng do người khác truyền lại”5

và “học tập” là “học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng”6

quyền tác giả trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, 05 (153), tr 51

5 Hoàng Phê và các tác giả khác (2003), tlđd (1), tr 453

6 Hoàng Phê và các tác giả khác (2003), tlđd (1), tr 454

Trang 16

Rogers (1969) cho rằng học tập (learning) là quá trình đạt được sự hiểu biết, kiến thức, kỹ năng và sở thích mới7 Một số tài liệu và luật bản quyền các nước có thể đề cập trực tiếp đến “học tập” (study; learning) hoặc “nghiên cứu” (research) trong các quy định đặt ra ngoại lệ cho giáo dục nói chung và học tập, nghiên cứu nói riêng8

“Nghiên cứu” được mô tả là hoạt động “xem xét, tìm hiểu kĩ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay để rút ra những hiểu biết mới”9 Xét về mục đích, giữa học tập và nghiên cứu cùng có chung mục đích là tìm kiếm tri thức Về mặt pháp lý, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa rõ ràng nhằm phân biệt hai khái niệm này Tham khảo quyết định của Tòa án Liên bang Úc trong vụ De Garis kiện Neville Jeffress Pidler Pty Ltd để thấy rằng “học tập” được hiểu là “ứng dụng của trí óc vào việc tiếp thu kiến thức, bằng cách đọc, thăm dò hoặc suy ngẫm”

và “nghiên cứu” được hiểu là “tìm hiểu hoặc thăm dò một cách có thể thống về một chủ đề nhất định nhằm khám phá các hiện tượng hoặc nguyên tắc”10

Như vậy, hai khái niệm này có sự giao thoa nhất định với nhau về nội hàm, chưa có ranh giới phân biệt Cách hiểu rạch ròi giữa chúng tùy thuộc vào văn hóa pháp lý tại mỗi nơi và tùy từng trường hợp cụ thể Chẳng hạn trong khi Điều 31 (1) Luật Bản quyền Hàn Quốc và Điều 35 (1A) Luật Bản quyền Singapore dùng cụm từ

“nghiên cứu và học tập” (research and study) thì Điều 31 (1) (i) Luật Bản quyền Nhật Bản và các Điều 40, 103C Luật Bản quyền Úc nhắc đến “nghiên cứu hoặc học tập” (research or study) Điều này dẫn đến tình trạng pháp luật được áp dụng một

cách linh hoạt tùy theo cách hiểu và giải thích pháp luật của cơ quan nhà nước khi giải quyết tranh chấp Các quy định thiết lập ngoại lệ quyền tác giả cho hoạt động nghiên cứu có thể được áp dụng cho học tập (nếu luật bản quyền chỉ đề cập đến nghiên cứu) khi bản chất của hoạt động học tập cụ thể có thể mang tính chất của hành vi nghiên cứu

1.1.2 Cơ sở của ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

1.1.2.1 Nguyên tắc “cân bằng lợi ích” trong luật sở hữu trí tuệ và các lý thuyết nền tảng

Nguyên tắc “cân bằng lợi ích” (balance of interests) cho rằng các quyền tác giả không phải là điều tuyệt đối, nó đề cập đến sự cân bằng giữa quyền và lợi ích

mà tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả được thụ hưởng từ việc khai thác tác phẩm

và lợi ích rộng lớn hơn của cộng đồng xã hội (lợi ích công cộng) Theo Harrison (2018), sở hữu trí tuệ (còn được ông gọi với cái tên khác là “sở hữu các ý tưởng” (ownership of ideas) – một dạng quyền sở hữu) cần đáp ứng nhiều mục tiêu đa

9 Hoàng Phê và các tác giả khác (2003), tlđd (1), tr 680

10 De Garis, B.K v Neville Jeffress Pidler Pty Ltd, [1990] FCA 352; 37 FCR 99; 18 IPR 292

Trang 17

dạng: vừa bảo đảm phần thưởng công bằng cho người sáng tạo, vừa phổ biến các ý tưởng và sản phẩm mà xã hội có nhu cầu rất lớn ở mức rộng rãi nhất có thể11 Theo truyền thống luật SHTT, quyền tự do kinh tế đối với các sản phẩm trí tuệ (mà ở đây

là các tác phẩm dùng trong việc học tập) được hy sinh vì lợi ích lớn hơn của cộng đồng Quan điểm của Pound (1915) nhấn mạnh đến sự ưu tiên của lợi ích xã hội hơn là lợi ích cá nhân vì “lợi ích xã hội nhằm đảm bảo lợi ích cá nhân thì pháp luật phải bảo đảm cho lợi ích xã hội”12 Đồng tình với quan điểm này, Reynolds (2010) cho rằng quyền tự do kinh tế đối với các tác phẩm được hy sinh vì lợi ích lớn hơn của cộng đồng, thậm chí ngay cả lợi ích kinh tế của người dân cũng có thể bị hy sinh khi lợi ích của nhà nước bị đe dọa13 Tương tự, nhiều tác giả đồng ý rằng quyền tác giả cũng là một dạng độc quyền, do đó, nó có những mặt hạn chế của độc quyền14 Nhìn chung, các học giả đều cho rằng tác giả cần chia sẻ độc quyền khai thác tác phẩm của mình đến công chúng nhằm mục tiêu lợi ích công cộng mà ở đó, tác giả cũng là một thành viên và là người thụ hưởng các lợi ích chung đó Điều này được áp dụng đối với các tác giả và tác phẩm của họ được sử dụng nhằm mục đích học tập Tương tự, việc “cần thiết phải duy trì sự cân bằng giữa quyền của tác giả và lợi ích công cộng, đặc biệt là trong giáo dục, nghiên cứu và tiếp cận thông tin” được ghi tại Phần mở đầu của Hiệp ước Bản quyền của Tổ chức SHTT Thế giới (the WIPO Copyright Treaty) Có thể nói, nguyên tắc cân bằng lợi ích là cơ sở ban đầu hình thành các ngoại lệ của quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm dùng trong mục đích học tập nói riêng, nó có vai trò giải thích sự hợp lý của các hành vi khai thác do người khác thực hiện đối với tác phẩm mà không cần sự cho phép của tác giả, được đặt trên nền tảng một số lý thuyết trình bày dưới đây

Có nhiều lý thuyết ủng hộ nguyên tắc cân bằng lợi ích trong luật SHTT (mà quyền tác giả là bộ phận quan trọng), ở đây, người viết phân tích ba lý thuyết chủ yếu hiện đang nhận được nhiều sự ủng hộ và chiếm ưu thế, gồm: (1) Lý thuyết giá trị lao động (Labor Theory Of Value) được đặt nền móng bởi W Petty và J Locke, (2) Thuyết công lợi (Utilitarian Theory) của J Bentham và J S Mill và (3) Lý luận kinh tế và pháp luật (Law and Economic Argument) được phát triển bởi W M Landes và R A Posner15

Đầu tiên, Lý thuyết giá trị lao động của Locke (Lý thuyết Lockean) mô tả những gì do một người sản xuất bằng cách sử dụng sức lao động của mình thì phải

để người đó hưởng thụ thành quả Tuy nhiên, Locke phản đối hành vi sử dụng lãng phí tài sản Trong tác phẩm “Second Treatise of Government” [dịch: Khảo luận thứ hai về chính quyền] ông viết: “Nothing was made by God for Man to spoil or

11 Harrison, S (1992), “Ritual as intellectual property”, Man, 27(2), p 235–236

12 Pound, R (1915), “Interests of Personality”, Harvard Law Review, 28(4), p.344

13 Reynolds, R (2010), “The Police Logic of Balancing the Interests in Copyright Law”, The Journal of Law

and Social Justice, 5, p 3

14 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Lê Nết & Nguyễn Xuân

Quang, NXB Hồng Đức, tr 36-37

15 Một cách sắp xếp khác từ Fisher (2001) gồm: Thuyết vị lợi, lý thuyết giá trị lao động, thuyết nhân vị và lý

thuyết kế hoạch hóa xã hội Xem thêm: Fisher, W., “Theories of Intellectual Property”, New essays in the

legal political theory of property, Cambridge: Cambridge Univ Pr, 2001, p 173

Trang 18

destroy [dịch: Không có gì được Thượng đế tạo ra cho con người để rồi lại hư hỏng hay lãng phí vô ích.]”16 Định nghĩa về “lãng phí”, theo Lý thuyết Lockean, sẽ xảy

ra khi một đơn vị sản phẩm lao động không được sử dụng (Damstedt, 2003)17, đặc biệt là đối với các sản phẩm vô hình thì sự lãng phí là không giới hạn Theo Locke, chế tài của lãng phí hàng hóa là người sản xuất bị tước quyền sở hữu về phần sản phẩm bị lãng phí18 Ngoài ra, quan điểm của Locke cũng nhấn mạnh đến việc người lao động cần dùng một số lượng đủ cho mục đích sử dụng chung Đây chính là cơ

sở lý thuyết Lokean ủng hộ cho sự cân bằng lợi ích của luật SHTT, với trọng tâm là chủ sở hữu quyền SHTT độc quyền sử dụng sản phẩm trí tuệ sẽ khiến sản phẩm bị lãng phí và gây hại cho chính bản thân mình

Tiếp đến, thuyết vị lợi một mặt cho rằng cần phải bảo vệ quyền SHTT của người sáng tạo (tác giả), nếu không sẽ khiến cho sự sáng tạo trong xã hội không còn sức sống Tuy vậy, thuyết vị lợi quan tâm nhiều đến người thụ hưởng hơn người sản xuất và tương tự, nó quan tâm đến phần đông thành viên xã hội hơn là người sáng tạo, với quan điểm các sản phẩm trí tuệ (tác phẩm) sẽ được tối ưu hóa khi được sử dụng bởi cộng đồng trong một số trường hợp, dĩ nhiên là trong một chừng mực có thể Thuyết vị lợi cung cấp cho các nhà lập pháp nguyên tắc thực dụng (utilitarian guideline) có vai trò là tư tưởng chỉ đạo khi định xây dựng các quy định về quyền tài sản Nguyên tắc này buộc luật SHTT được thiết kế theo hướng tối đa hóa phúc lợi xã hội ròng (net social welfare) Những người ủng hộ thuyết vị lợi kêu gọi các nhà lập pháp chọn hệ thống các quy tắc tối đa hóa phúc lợi tổng hợp (Fisher, 2001)19

Các nhà ủng hộ Lý luận kinh tế và pháp luật bày tỏ sự lo lắng khi tài sản trí tuệ không được bảo hộ sẽ khiến nhu cầu của thị trường không được đáp ứng, vì người sáng tạo không còn động lực sáng tạo Tuy vậy, chính quyền cần xem xét cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan sẽ bị ảnh hưởng bởi sự độc quyền khai thác của người sáng tạo Posner, R A (2005) kỳ vọng rằng luật sẽ cho phép một người sao chép tác phẩm khi chưa được tác giả cho phép vì “lý do kinh tế chính đáng” (good economic reasons) Đồng thời, Posner cho rằng các thẩm phán có thể phán quyết rằng việc sao chép tác phẩm là hành vi hợp pháp nếu người sao chép đã nỗ lực liên hệ và thương lượng với chủ sở hữu bản quyền nhưng không thành công20 Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lý luận này cũng lo ngại việc sao chép không giới hạn có thể sớm làm cạn kiệt giá trị xã hội của tác giả và tác phẩm (Landes và Posner, 2003)21 Có thể thấy, cân bằng giữa lợi ích cá nhân của tác giả và lợi ích cộng đồng luôn là thách thức to lớn đối với các nhà làm luật và các thẩm phán

16 Locke, J (1824), Two Treatises of Government, London: Printed for C and J Rivington, p 148

17 Damstedt, B G (2003), “Limiting Locke: A Natural Law Justification for the Fair Use Doctrine”, The Yale

21 Landes, W., & Posner, R (2003), The Economic Structure of Intellectual Property Law, The Belknap Press

of Harvard University Press, p 225

Trang 19

Ngoài những lý thuyết trên đây, có nhiều lý thuyết khác biện minh cho các ngoại lệ của quyền tác giả đối với tác phẩm, chẳng hạn như thuyết nhân vị (personhood theory) và lý thuyết về lợi ích xã hội (social benefit theory) Lý thuyết nhân vị được đưa ra bởi I Kant và G Hegel, các ông cho rằng khi sử dụng sức lao động để tạo nên sản phẩm trí tuệ, người lao động cũng đồng thời chuyển hóa một phần nhân cách của mình vào trong sản phẩm trí tuệ Nói cách khác, sản phẩm trí tuệ hàm chứa nhân cách của người tạo ra nó Vì vậy, tác giả có quyền kiểm soát tuyệt đối, bất khả xâm phạm đối với tác phẩm của họ cùng với các quyền khác, bao gồm quyền phổ biến tác phẩm (right of dissemination) Điều này dẫn đến kết luận ngoài việc được tạo ra, các tác phẩm sáng tạo phải được đọc hoặc chia sẻ với cộng đồng, từ đó sẽ hỗ trợ cho quyền phổ biến (Yoo, 2018)22 Lý thuyết về lợi ích xã hội

e ngại rằng sự độc quyền sử dụng tài sản trí tuệ của tác giả sẽ là bất lợi cho xã hội

và theo Mtima (2009), “xã hội sẽ không có nhiều sự đổi mới sáng tạo như kỳ vọng”23 Cũng theo Mtima, mục đích cuối cùng của việc xác định các ngoại lệ và giới hạn của quyền tác giả là để đảm bảo lợi ích công cộng bởi vì nó cho phép các tác phẩm nghệ thuật được hòa nhập vào xã hội (the assimilation of artistic works into society), và đó là mục tiêu cuối cùng của luật bản quyền24

Đây là các cơ sở để các luật bản quyền cho phép công chúng được tiếp cận

và sử dụng tác phẩm một cách tự do mà không cần sự đồng ý của tác giả hoặc chủ

sở hữu quyền tác giả, còn được gọi là ngoại lệ của quyền tác giả, dĩ nhiên là với một mức độ nhất định và trong một phạm vi nhất định Tuy nhiên, như đã trình bày, cả hai việc trao cho tác giả độc quyền kiểm soát tác phẩm hay cho phép công chúng tiếp cận tác phẩm đều là hai đầu của thái cực Bởi lẽ, sự độc quyền của tác giả là phần thưởng chính đáng cho công sức sáng tạo, từ đó khuyến khích các thành viên

xã hội tiếp tục nỗ lực lao động trí óc để sản sinh ra các tài sản trí tuệ làm giàu cho

xã hội Tuy nhiên, tổng phúc lợi xã hội sẽ bị hạn chế nếu công chúng không được phép sử dụng tác phẩm khi chưa được sự đồng ý của tác giả Ở chiều ngược lại, việc

đề ra các ngoại lệ của quyền tác giả có thể giúp tổng phúc lợi xã hội được bảo đảm, bản thân giá trị tác phẩm được bảo tồn và phát triển ở mức cao nhất có thể, và bản thân tác giả cũng được thụ hưởng một phần lợi ích nhất định khi chia sẻ tác phẩm của mình cho xã hội Tuy vậy, nó ẩn chứa rủi ro tác phẩm bị chiếm đoạt hoặc các ngoại lệ bị lạm dụng khiến xã hội mất dần động cơ sáng tạo Cotter (2008) đã chỉ ra việc cho phép công chúng tiếp cận tác phẩm hứa hẹn mang lại lợi ích xã hội đáng kể nhưng cũng gặp phải vấn đề về khả năng chiếm đoạt25, đặc biệt là đối với các tác phẩm học thuật trong môi trường đại học – nơi mà việc sử dụng tác phẩm được diễn

ra thường xuyên

22 Yoo, Christopher S (2018), “Self-Actualization and the Need to Create as a Limit on Copyright”, Public

Law Research Paper, 18-42, p 7

23 Lateef Mtima (2009), “Copyright Social Utility and Social Justice Interdependence: A Paradigm for

Intellectual Property Empowerment and Digital Entrepreneurship”, West Virginia Law Review, 112, p 7

24 Lateef Mtima (2009), tlđd (13), tr 7

25 Cotter, T (2008), “Fair Use and Copyright Overenforcement”, SSRN Electronic Journal, 93, p.1289

Trang 20

Trình bày trên đây cho thấy nguyên tắc cân bằng lợi ích trong luật SHTT, với các cơ sở lý thuyết như đã phân tích, là một trong các cơ sở giúp hình thành nên các ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

1.1.2.2 Quyền tự do ngôn luận

Ngày nay, quyền tự do ngôn luận (freedom of expression) là điều kiện bắt buộc đối với bất kỳ xã hội dân chủ nào Khảo sát các quy định về quyền tự do ngôn luận trong luật quốc tế sau đây dẫn đến kết luận: Quyền tự do ngôn luận không chỉ được hiểu là quyền tự do biểu đạt ý kiến mà còn là quyền tiếp cận, thu nhận thông tin và do đó, nó xảy ra sự va chạm nhất định với độc quyền khai thác tác phẩm của tác giả Từ đó, giúp hình thành và hoàn thiện các ngoại lệ quyền tác giả nói chung

và các ngoại lệ quyền tác giả nhằm mục đích học tập nói riêng

Trên phạm vi toàn cầu: Được ghi nhận tại Điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc, quyền tự do ngôn luận được phát biểu là quyền

tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm của mọi người Đồng thời, quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 vốn không đề cập đến các nghĩa vụ và trách nhiệm khi sử dụng quyền tự do ngôn luận cho nên, theo Tuyên ngôn này, những hành vi như: quan niệm, phát biểu, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin được diễn ra trong sự tự do không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ nào trong khi mỗi hành vi giữa chúng đều chứa đựng khả năng xâm nhập vào độc quyền

sử dụng tác phẩm của tác giả

Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm

1966 quy định “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến…”, không dừng lại ở đó, ICCPR giới hạn các quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt được quy định trong pháp luật và là cần thiết nhằm “tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác” và “bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội” Như vậy, theo ICCPR, các quyền thuộc quyền tự do ngôn luận cần phải được đặt trong khuôn khổ của những nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý nhằm các mục tiêu đảm bảo quyền của người khác, duy trì sự an toàn, đạo đức, ổn định và trật tự xã hội Từ đây, các ngoại lệ của quyền tác giả (dựa trên các quyền thuộc quyền tự do ngôn luận) nên được xây dựng theo hướng có khuôn khổ hợp lý, cân bằng giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân của tác giả

Ở cấp độ khu vực: Tại Châu Âu, Công ước châu Âu về Nhân quyền (CPHRFF) năm 1950 quy định về quyền tự do ngôn luận (tại Điều 10) gồm “quyền

tự do đưa ra ý kiến, nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng mà không bị can thiệp bởi cơ quan công quyền và bất kể biên giới Tuy nhiên, các quyền này đi kèm với nghĩa vụ “có thể phải tuân theo các thủ tục, điều kiện, hạn chế hoặc hình phạt theo quy định của pháp luật và cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích của an ninh quốc gia, trật tự an toàn công cộng, để ngăn ngừa bạo loạn hoặc tội phạm, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, để bảo vệ danh tiếng hoặc quyền của người khác, để ngăn chặn việc tiết lộ bí mật, hoặc để duy trì quyền hạn và sự công bằng của tòa

Trang 21

án” Tương tự CPHRFF, Hiến chương các Quyền cơ bản của Liên minh Châu Âu (CFR) năm 2000 quy định “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận Quyền này sẽ bao gồm quyền tự do đưa ra ý kiến và nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng mà không bị can thiệp bởi cơ quan công quyền và bất kể biên giới” (Điều 11)

Thực tiễn xét xử tại các tòa án Châu Âu, chẳng hạn phán quyết của Tòa án trong vụ án Handyside kiện Vương quốc Anh (1976) đã nhận định tự do ngôn luận

là một trong những nền tảng thiết yếu của một xã hội dân chủ, là một trong những điều kiện cơ bản cho sự tiến bộ của xã hội và cho sự phát triển của mọi người Ngược lại, Tòa án cũng nhận định bất kỳ ai thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình đều đảm nhận “nghĩa vụ và trách nhiệm”26 Riêng lĩnh vực quyền tác giả, trong vụ án Müller và những người khác kiện Thụy Sĩ (1988), Tòa án đã xác định quyền tự do ngôn luận bao gồm cả quyền tự do biểu đạt nghệ thuật27 – một quyền liên quan đến quyền tác giả đối với các tác phẩm có thể được trình diễn, điều tương

tự được tìm thấy trong cụm từ “dưới hình thức nghệ thuật” tại Điều 19.2 ICCPR Quyền tự do ngôn luận còn thể hiện ở quyền tìm kiếm và nhận thông tin, phán quyết của Tòa án đối với vụ Magyar Helsinki Bizottsag kiện Hungary (2016) cho chúng ta biết điều đó Trong vụ án này, Tòa án đã lập luận rằng việc tiếp cận thông tin là một yếu tố thiết yếu trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và là một phần của việc thu thập thông tin hợp pháp vì lợi ích công cộng với mục đích truyền tải thông tin

đó đến công chúng28

Tại Châu Phi, Điều 9 Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc năm 1986 quy định “Mọi cá nhân đều có quyền nhận thông tin” và “Mọi cá nhân có quyền bày tỏ và phổ biến ý kiến của mình trong khuôn khổ pháp luật” Tuyên bố về các Nguyên tắc về Tự do Ngôn luận ở Châu Phi năm 2002 ghi nhận

“Quyền tự do ngôn luận và thông tin, bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng là quyền cơ bản, bất khả xâm phạm của con người và là một thành phần không thể thiếu của nền dân chủ” Dễ dàng nhận thấy các quy định cho phép “nhận thông tin”, “truyền đạt thông tin và ý tưởng” thuộc quyền tự do ngôn luận tại Châu Phi có sự liên quan nhất định đối với các quyền tác giả theo hướng hạn chế và buộc tác giả phải chia sẻ quyền cho công chúng thực hiện tự do ngôn luận

Tại Châu Mỹ, Công ước châu Mỹ về Nhân quyền (Hiệp ước San José) năm

1969 ghi nhận “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng và biểu đạt Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng…” Lập luận của Tòa án Nhân quyền liên Mỹ trong vụ Claude Reyes et al kiện Chile (2006) tái khẳng định “quyền tự do tư tưởng và ngôn luận bao gồm việc bảo vệ quyền tiếp cận thông tin”29

Riêng tại Hoa Kỳ, học thuyết “sử dụng hợp lý” (fair use) trong luật SHTT (sẽ được phân tích sâu hơn tại phần 1.1.1.2.c dưới đây) thúc đẩy quyền tự do ngôn luận bằng cách cho phép sử dụng trái phép (unlicensed use) các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả ở một số trường hợp nhất định và trong khuôn khổ luật

26 Handyside v United Kingdom, App No 5493/72, [1976] ECHR

27 Müller and ors v Switzerland, Case No 25/1986/123/174, App No 10737/84 (A/133), [1988] ECHR

28 Magyar Helsinki Bizottsag v Hungary, App No 18030/11, (2016) ECHR

29 Claude Reyes et al v Chile, IACHR Series C no 151, IHRL 1535, (2006) IACtHR

Trang 22

định Đây cũng được xem là một trong những giải pháp nhằm cân bằng lợi ích của chủ sở hữu quyền tác giả với lợi ích công cộng trong việc phân phối và sử dụng rộng rãi các tác phẩm Tu chính án I (năm 1791) của Hoa Kỳ quy định Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm ngăn cấm tự do ngôn luận Từ đó, người ta cho rằng có sự va chạm nhất định giữa quyền tác giả và quyền tự do ngôn luận, vì

Tu chính án I bảo vệ quyền diễn đạt trong khi luật bản quyền giới hạn quyền diễn đạt đối với tác phẩm của người khác Ngoài ra, nếu Tu chính án thứ I ngăn cấm Chính phủ hạn chế quyền tự do ngôn luận thì luật bản quyền lại chính là một rào cản quyền tự do ngôn luận bằng cách cấm mọi người sử dụng nội dung tác phẩm trong khi bày tỏ ngôn luận Ranh giới cân bằng giữa quyền tự do ngôn luận và quyền tác giả (hoặc giữa luật bản quyền và Tu chính án I) tại Hoa Kỳ được Netanel (2001) chỉ ra nằm ở sự phân biệt “ý tưởng” và “hình thức thể hiện” tác phẩm Theo

đó, quyền tự do ngôn luận (theo Tu chính án I) được thỏa mãn khi mọi người vẫn được tự do phát biểu về bất kỳ ý tưởng nào họ muốn miễn là họ không sao chép hình thức thể hiện của một tác giả trước đây30 Trên cơ sở Tu chính án I, đối với mục đích học tập, Luật Bản quyền năm 1976 cho phép sử dụng hợp pháp các tác phẩm cho các mục đích như bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (bao hàm

cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập (Điều 107) Patterson và những người khác (2009) chỉ ra luật bản quyền cho phép mọi người có quyền truy cập vào tài liệu học tập, cả những tài liệu đang được bảo hộ, bằng cách giải phóng họ khỏi độc quyền sử dụng của tác giả31

Còn tại Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) là nền tảng Hiến định cho Luật SHTT năm 2005 ghi nhận quyền tự do ngôn luận và việc công dân “có quyền được thông tin” của công dân tại Điều 69 Hiến pháp này Đến Hiến pháp hiện tại (được ban hành năm 2013) là nền tảng Hiến định cho các đạo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT (qua các năm 2019, 2022) tiếp tục thể hiện sự tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận tại Điều 25, ngoài quyền tự

do ngôn luận, Hiến pháp năm 2013 còn sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về

“quyền tiếp cận thông tin” của công dân trên cơ sở nội dung “có quyền được thông tin” tại Điều 69 Hiến pháp trước đây Như vậy, thông qua việc “có quyền được thông tin” (thể hiện vị thế bị động của công dân) được chính thức nâng lên thành

“quyền tiếp cận thông tin” (thể hiện sự chủ động của công dân), Hiến pháp năm

2013 khẳng định lập trường của Việt Nam là ngày càng tôn trọng, nâng cao quyền

tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của công dân Đây là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng để Luật SHTT năm 2005 và những luật sửa đổi, bổ sung Luật này xây dựng các ngoại lệ của quyền tác giả nói chung và các ngoại lệ có thể sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập nói riêng

Như vậy, quyền tự do ngôn luận, mà biểu hiện của nó là quyền tự do diễn đạt

và quyền tiếp nhận, thu thập thông tin, và ngoại lệ của quyền tác giả có mối liên hệ

30 Netanel, N W (2001), “Locating Copyright within the First Amendment Skein” Stanford Law Review,

54(1), p 13

31 Patterson, L Ray and Birch, Jr., Stanley F and Joyce, Craig (2009), “A Unified Theory of Copyright”, 46

Houston Law Review, U of Houston Law Center, 2020-A-25, p 308

Trang 23

tương hỗ với nhau; với mục đích chung là phổ biến các tư tưởng, nội dung văn hóa – nghệ thuật, tri thức,… đến công chúng Quyền tự do ngôn luận là một trong các

cơ sở giúp hình thành nên các ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

1.1.2.3 Tầm quan trọng của học tập

Các chính sách về học tập luôn là ưu tiên hàng đầu ở bất kỳ xã hội nào Ngay

cả khi các Luật Bản quyền đều cố gắng bảo hộ quyền tác giả theo các cấp độ khác nhau thì các ngoại lệ của quyền tác giả nhằm giúp cho việc phổ biến và tạo điều kiện cho việc học luôn được duy trì Điều này xuất phát từ tầm quan trọng của học tập Tại Châu Á, từ năm 500 trước Công nguyên (TCN), trong bối cảnh chiến tranh thường xuyên xảy ra và nạn thất học trong quần chúng trở nên phổ biến, Khổng Tử

đã có những phát biểu về tầm quan trọng của việc học và được chép lại trong “Luận Ngữ”, ông cho rằng các cá nhân trong xã hội (đặc biệt là nam giới) cần phải học để trở thành quân tử với đủ các đức hạnh cần thiết để giúp vua cai trị đất nước với tinh thần “học nhi bất yếm” (học mãi không chán) Từ đó, Khổng Tử đề xuất các nhà nước phải có trách nhiệm tạo điều kiện thúc đẩy việc học của người dân32 Còn tại phương Tây, triết gia Platon cũng có những ý kiến tương tự Trong tác phẩm “Cộng hòa” (The Republic), Platon lập luận rằng trách nhiệm đối với việc học của công dân thuộc về nhà nước và người lãnh đạo (Hinchliffe, 2007)33 Đối với một quốc gia

có truyền thống hiếu học như Việt Nam, từ xa xưa, Thân Nhân Trung (1418 – 1499)

đã có câu nói nổi tiếng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và khuyến khích người dân tích cực học để đóng góp cho đất nước hưng thịnh, dân tộc trường tồn

Ngày nay, người ta xem học tập là một trong những quyền cơ bản của con người và trên bình diện quốc gia, giáo dục (trong đó học tập) được xem là một trong những chính sách quan trọng nhằm phát triển đất nước Điều 26 (1) của Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 khẳng định rằng “Mọi người có quyền được hưởng giáo dục” Tại Việt Nam, quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá VII) về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Thực hiện cam kết quốc tế về quyền học tập và thể chế hóa chủ trương của Đảng, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39) và riêng đối với tầng lớp thanh niên thì “được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập” (Điều 37)

Từ đây, có thể thấy quan niệm về sự cần thiết của học tập và trách nhiệm của chính quyền trong việc tạo mọi điều kiện cần thiết để nâng cao trình độ học tập của người dân được hình thành và phát triển trở nên phổ quát xuyên suốt trong lịch sử văn minh của con người Do đó, mặc dù được xây dựng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích vật chất và tinh thần xứng đáng của các tác giả phát sinh từ thành quả lao động trí óc được kết tinh tại tác phẩm Song, mục đích của luật bản quyền (copyright law) cũng như các nguyên tắc định hình nó (như nguyên tắc về “cân bằng lợi ích”) vẫn

32 Xem thêm: Lý Minh Tuấn (2010), Tứ thư bình giải, NXB Tôn giáo

33 Xem thêm: Hinchliffe, G (2006), “Plato and the love of learning”, Ethics and Education, 1(2), 117–131

Trang 24

khiến cho luật bản quyền phải dành sự quan tâm nhất định đến các hoạt động giáo dục và lợi ích của các nhà giáo dục, tổ chức giáo dục và người học Copinger và những người khác (2005) gọi giáo dục là “một trong những ví dụ rõ ràng nhất về mối quan tâm mạnh mẽ của công chúng trong việc hạn chế sự bảo hộ quyền tác giả”

34 Bởi lẽ, thành quả mang lại từ việc học tập và trau dồi kiến thức sẽ giúp cho tổng thể xã hội đạt được nhiều lợi ích và ngày càng văn minh

Dưới góc độ lịch sử, Luật Bản quyền đầu tiên là Đạo luật Anne năm 1709 (Copyright Act 1709 Anne c.19, Statute of Anne) Đạo luật này có đầu đề là “Một Đạo luật Khuyến khích Học tập” (An Act for the Encouragement of Learning) và nó bao gồm các điều khoản tăng cường lợi ích công cộng khi đặt ra thời hạn bảo hộ cho tác phẩm (khi hết thời hạn bảo hộ, tác phẩm thuộc về công chúng) Đặc biệt là trong lĩnh vực học tập, Đạo luật Anne có các điều khoản yêu cầu các bản sao của sách đã xuất bản phải được gửi vào thư viện trường đại học để đảm bảo rằng công chúng có quyền truy cập vào các tác phẩm có bản quyền Deazley (2008) nhận xét Đạo luật Anne có mục tiêu xã hội rộng lớn vì sự tiến bộ của giáo dục35 Hiện nay, các điều ước quốc tế và luật quốc nội về bản quyền các nước đều có xu hướng công nhận tầm quan trọng của học tập và được xây dựng nhằm tăng cường khả năng của công dân được tiếp cận, sử dụng đa dạng các tài liệu học tập (sẽ được phân tích cụ thể ở phần 1.1.1) Điều này cho thấy nhận thức về tầm quan trọng của học tập là một trong những cơ sở của các ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

Trong thực tiễn học tập, việc thực hiện ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập có thể diễn ra dưới nhiều dạng thức

và ở bất kỳ bậc học hay cấp độ đào tạo nào Một số hình thức phổ biến là sao chép một phần hoặc toàn bộ tác phẩm phục vụ cho việc thực hiện các bài tập (thường là dưới dạng bài luận) hoặc một kỳ thi; đọc, trích dẫn, biểu diễn tác phẩm văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản,…); trình bày hoặc phát một bài hát để người học rèn luyện kỹ năng nghe (ngoại ngữ, cảm âm,…) hoặc minh họa cho các lý thuyết thanh nhạc,…; phát toàn bộ hoặc một đoạn phim (phim tài liệu, phóng sự,…) phục

vụ cho việc tiếp thu kiến thức thực tế hoặc nhằm khơi gợi vấn đề cho người học giải quyết; sử dụng một phần hay toàn bộ tác phẩm trong đề thi,… Tại cấp bậc Đại học, việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập được diễn ra thường xuyên và dễ thấy nhất dưới hình thức sao chép và trích dẫn tác phẩm (sách chuyên khảo, giáo trình, luận văn,…) với một tần suất lớn Một hình thức sử dụng tác phẩm đặc thù là

sử dụng nhằm mục đích giải trí trong môi trường học tập (như biểu diễn một vở hài kịch dựa trên tác phẩm kịch trong sự kiện mang tính chất giải trí do trường học tổ chức) liệu có nên được xem là một trong những hình thức thực hiện ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập Tác giả cho rằng vẫn nên xem đây là một hình thức thực hiện ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập, bởi lẽ thông qua các hoạt động này,

34 Copinger, W., Skone James, Garnett, K., Harbottle, G., Davies, G and Skone James, E (2005), Copinger

and Skone James on copyright, Sweet & Maxwell, p 515

35 Deazley, R (2008), Rethinking copyright, Cheltenham: Edward elgar Pub, p 13

Trang 25

kiến thức được truyền tải đến người học và đó cũng chính là lý do trên hết của việc

sử dụng này, còn yếu tố giải trí vốn dĩ phát sinh do nội dung tác phẩm mang lại và đôi khi đây chính là chủ điểm tri thức mà tác phẩm truyền tải Tóm lại, có rất nhiều hình thức áp dụng quy định về ngoại lệ của quyền tác giả nhằm sử dụng một tác phẩm nhằm mục đích học tập nhưng dù là hình thức nào cũng phải đáp ứng các quy định trong phạm vi được luật về quyền tác giả cho phép trong từng giai đoạn ở mỗi khu vực khác nhau

1.2 Ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập trong pháp luật quốc tế

1.2.1 Điều ước quốc tế về ngoại lệ quyền tác giả nhằm mục đích học tập

Tất cả các điều ước quốc tế đặt ra một số loại ngoại lệ về quyền tác giả đối với mục đích giáo dục nói chung Một số điều ước đề cập trực tiếp đến việc học tập, một số khác mặc dù không trình bày rõ ràng phạm vi áp dụng các ngoại lệ bao gồm việc học nhưng thông qua việc đề cập đến các từ ngữ “giảng dạy” hay chung chung hơn là “giáo dục” cũng góp phần tăng cường cơ sở pháp lý cho việc tiếp cận, sử dụng các tác phẩm nhằm mục đích học tập được thực hiện dễ dàng hơn

a) Công ước Berne năm 1886

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886 (Công ước Berne) là công ước quan trọng hàng đầu trong các điều ước về bản quyền trên phạm vi quốc tế Trải qua các lần sửa đổi tại Berlin (1908), Roma (1928), Brussels (1948), Stockholm (1967) và Paris (1971), hiện có 177 quốc gia tham gia Công ước Berne và Việt Nam là một trong số đó (tham gia năm 2004 nhưng tuyên bố bảo lưu các quy định tại Điều 33(1) của Công ước Berne và áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển) Để tham gia Công ước Berne, các quốc gia phải sửa đổi luật quốc gia của mình để phù hợp với các yêu cầu của Công ước

Ngay tại phiên bản đầu tiên (năm 1886), Công ước Berne công nhận tầm quan trọng của học tập với quy định “Liên quan đến quyền tự do trích xuất các phần

từ tác phẩm văn học nghệ thuật để sử dụng trong các ấn phẩm nhằm mục đích giáo dục, khoa học, học tập được thực hiện theo luật các nước thành viên hoặc thỏa thuận giữa các nước đó mà không bị điều chỉnh bởi Công ước này.” (Điều 8) Tuy vậy, đây chưa được xem là ngoại lệ của quyền tác giả mà chỉ là quyền trích dẫn (quotation right) tác phẩm (các ấn phẩm khoa học) được giới hạn trong lĩnh vực khoa giáo

Đến phiên bản hiện tại, Điều 10 (2)Công ước Berne bao gồm một số điều khoản liên quan đến các trường hợp sử dụng tự do tác phẩm, cũng là các ngoại lệ của quyền tác giả Cụ thể:

“2 Luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp và những hiệp định đặc biệt đã

có sẵn hay sẽ ký kết giữa các quốc gia này có thẩm quyền cho phép sử dụng có mục đích, những tác phẩm văn học hay nghệ thuật bằng cách minh họa các xuất bản phẩm, chương trình phát sóng, ghi âm hoặc ghi hình để giảng dạy, miễn sao việc sử dụng đó phù hợp với thông lệ đúng đắn.”

Trang 26

Từ đây, Công ước Berne cho phép các quốc gia thành viên thông qua luật quốc nội hoặc các điều ước song phương/đa phương quy định về việc sử dụng tự do các tác phẩm nhằm minh họa cho hoạt động giảng dạy (teaching) với điều kiện không sử dụng quá mục đích và phù hợp với “thông lệ đúng đắn” (fair practice) Liên hệ với hai tiêu chí dành cho quyền sao chép quy định tại Điều 9 (2) Công ước Berne, có thể được xác định “thông lệ đúng đắn” tại Điều 10 (2) Công ước Berne bằng ba tiêu chí, gồm: (1) sử dụng cho mục đích giảng dạy, (2) không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm và (3) không gây tổn hại bất hợp lý đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả Ba tiêu chí này có trong “bài kiểm tra ba bước” (three-step test) được tìm thấy tại Điều 9 (2) Công ước Berne

Cần lưu ý rằng ngoại lệ đối với quyền tác giả tại Điều 10 (2) là một quy định tùy nghi mang tính chất linh hoạt và cởi mở chứ không phải bắt buộc rập khuôn đối với các nước thành viên Vì vậy, một buổi biểu diễn trước công chúng của chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy cũng được cho phép tương tự chương trình phát sóng (Masouyé và Wallace, 1978)36 Đồng tình với quan điểm này, Xalabarder (2007) đưa ra lập luận về cụm từ “sử dụng” trong Điều 10 (2) Công ước không bị giới hạn trong quyền sao chép mà còn có thể thực hiện quyền truyền đạt (và cung cấp cho công chúng)

Việc Điều 10 (2) Công ước không đề cập đến mục đích sử dụng cho “giáo dục” hay “học tập” (xa hơn là mục đích “văn hóa”) cũng được Xalabarder giải thích bằng cách cho rằng việc này không mang lại lợi ích nào Bởi lẽ các cơ sở giáo dục

có thể phải nỗ lực tìm kiếm một giấy phép sử dụng từ tác giả, các vấn đề về việc chậm phản hồi và chi phí bồi thường cho tác giả sẽ khiến cho chất lượng giáo dục bị ảnh hưởng Tuy vậy, Xalabarder cũng nhiều lần khẳng định giáo dục xứng đáng đóng vai trò là giới hạn đối với độc quyền của tác giả, ông khuyên các nhà lập pháp nên xem xét lại Điều 10 (2) Công ước37 Một cách diễn giải khác có thể tìm thấy tại Chỉ thị (EU) 2019 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 17/04/2019 về bản quyền và các quyền liên quan trong thị trường số duy nhất và các Chỉ thị sửa đổi bổ sung 96/9/EC và 2001/29/EC, theo đó: học tập là một trong những hoạt động hỗ trợ, làm giàu hoặc bổ sung cho việc giảng dạy, và do đó, học tập cũng được áp dụng các ngoại lệ của quyền tác giả như giảng dạy

Nghị định thư năm 1967:

Năm 1964, Nhóm nghiên cứu Thụy Điển/BIRPI đề xuất một số điều khoản

bổ sung cho Công ước Berne nhằm trao cho các nước đang phát triển quyền bảo lưu đối với các quy định của Công ước và được thông qua năm 1967, gọi là Nghị định thư Công ước Berne về các nước đang phát triển (the Berne Convention Protocol Regarding Developing Countries) Điều 1 (e) Nghị định thư năm 1967 quy định các trường hợp ngoại lệ rộng rãi đối với việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong

36 Masouyé, C and Wallace, W (1978), Guide to the Berne Convention for the Protection of Literary Works

(Paris Act, 1971), World Intellectual Property Organization, p.60.

37 Xalabarder, R., “On-line teaching and copyright: Any hopes for an EU harmonized playground?”,

Copyright Law: A Handbook of Contemporary Research, Edward Elgar Publishing, 2007, p 376 – 378

Trang 27

mọi lĩnh vực giáo dục theo hướng: Các nước đang phát triển được phép bảo lưu quyền dành riêng cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong mọi lĩnh vực giáo dục, có quyền hạn chế việc bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật với điều kiện luật quốc nội phải có quy định về bồi thường cho tác giả một khoản tiền phù hợp với mức lương tiêu chuẩn tại mỗi quốc gia Với lần sửa đổi năm 1971, Công ước Berne đã xóa bỏ Nghị định thư năm 1967 và thay thế bằng Phụ lục “Những điều khoản dành cho các nước đang phát triển” (Special Provisionsfor Developing Countries) bao gồm quy định tại Điều II giới hạn quyền dịch thuật (right of translation) và Điều III giới hạn quyền sao chép (right of reproduction) bằng một quy chế cấp giấy phép không độc quyền (non-exclusive license) Mọi giấy phép và các bản sao tác phẩm chỉ được sử dụng vì mục đích giảng dạy, học tập hoặc nghiên cứu (Điều II (5) và Điều IV (4.c.ii) Phụ lục)

b) Hiệp định TRIPS năm 1994

Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights - TRIPS) là một trong số các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thông qua tại vòng đàm phán Uruguay, trong khuôn khổ các cuộc tiếp xúc xung quanh việc vận động thông qua Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 Năm 2007, Hiệp định TRIPS có hiệu lực đối với Việt Nam khi Việt Nam gia nhập WTO Trong lĩnh vực SHTT, là hiệp định đầu tiên đặt ra các điều khoản áp dụng các thủ tục thực thi quyền SHTT, Hiệp định TRIPS yêu cầu các quốc gia thành viên phải xây dựng các quy định trong luật quốc gia của mình để tạo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm các loại quyền SHTT được đề cập trong Hiệp định này còn yêu cầu các quốc gia phải có tòa án và các cơ quan nhà nước khác để thực thi luật SHTT

Trong mối liên hệ với Công ước Berne, Hiệp định TRIPS tỏ ra tôn trọng và công nhận các điều khoản của Công ước Berne Không những vậy, dựa trên cơ sở tại Điều 9 (2) Công ước Berne, Điều 13 Hiệp định TRIPS còn phát triển “bài kiểm tra ba bước” theo hướng riêng:

“Hạn chế và ngoại lệ

Các thành viên sẽ quy định các giới hạn và ngoại lệ đối với các độc quyền trong trường hợp đặc biệt nhất định, miễn là không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường một tác phẩm và không phương hại bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền”

Quy định trên đây không khác nhiều so với Điều 9 (2) Công ước Berne, tuy vậy, nếu Điều 9 (2) Công ước Berne chỉ hướng đến các giới hạn và ngoại lệ quyền sao chép thì Điều 13 Hiệp định TRIPS cho phép các quốc gia thành viên của nó đặt

ra các ngoại lệ đối với bất kỳ quyền nào của tác giả Bên cạnh đó, đối với “bài kiểm tra ba bước”, Hiệp định TRIPS buộc các thành viên phải tuân theo các điều kiện

“trong trường hợp đặc biệt nhất định”, “không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường một tác phẩm” và “không phương hại bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền”, rõ ràng là khác biệt so với một quy định linh hoạt và tùy nghi như Điều 9 (2) Công ước Berne Cuối cùng, việc đề cập đến lợi ích của “chủ sở hữu

Trang 28

quyền” theo Điều 13 Hiệp định TRIPS cũng là một điểm khác đáng chú ý so với Điều 9 (2) Công ước Berne

Sự mở rộng này của này Hiệp định TRIPS rất hữu ích đối với giáo dục, học tập và truyền bá tri thức Trong thời đại công nghệ số, vấn nạn xâm phạm bản quyền khiến hình thành các công nghệ mã hóa chống sao chép làm giảm khả năng tiếp cận tác phẩm học thuật đối với các nước đang phát triển chưa đủ cơ sở hạ tầng

về công nghệ Lúc này, các quy định quốc tế về ngoại lệ quyền tác giả trở thành cơ

sở quan trọng để các nước áp dụng các ngoại lệ đối với quyền tác giả nhằm các mục đích phi thương mại, mà học tập là một trong số đó Trước nhận định này, một số ý kiến phản đối cho rằng sự bảo hộ quyền tác giả sẽ giúp các nước tăng cường sức mạnh kinh tế vì nó kích thích sáng tạo đổi mới trong xã hội Tuy vậy, dường như không có bằng chứng thuyết phục để chứng minh việc bảo hộ quyền SHTT một cách mạnh mẽ sẽ khiến tăng trưởng kinh tế (Michalopoulos, 2003)38

c) Hiệp ước Bản quyền WIPO năm 1996

Hiệp ước Bản quyền của Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO Copyright Treaty – WCT) được các quốc gia thành viên của Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO) thông qua vào năm 1996 Nó được xem như một bản cập nhật của Công ước Berne Việt Nam

ký văn kiện gia nhập WCT ngày 17/11/2021 và theo đó, đã trở thành thành viên thứ

111 của Hiệp ước này

Song song với Điều 9 (2) Công ước Berne, Điều 10 (1) WTC lặp lại một lần nữa “bài kiểm tra ba bước” khi thiết lập quyền xây dựng các ngoại lệ quyền tác giả dành cho quốc gia thành viên Các quốc gia thành viên có thể quy định trong pháp luật quốc gia những hạn chế và ngoại lệ đối với các quyền dành cho tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật theo Hiệp ước này trong những trường hợp đặc biệt cụ thể, không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không làm phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả

d) Chỉ thị 2001/29/EC của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu năm 2001

Hiện nay, không còn nghi ngờ gì đối với sức ảnh hưởng của Liên minh châu

Âu (European Union - EU) đối với các nước thành viên của nó Mức độ gắn kết cao của các thành viên trong thực thể chính trị này khiến cho nó có một hệ thống pháp luật tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên Các thành viên có nghĩa vụ

“hài hòa hóa” luật quốc nội với các chỉ thị của Liên minh, trong đó có Chỉ thị 2001/29/EC của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu ban hành ngày 22/5/2001 về sự hài hòa của một số khía cạnh thuộc quyền tác giả và các quyền liên quan trong xã hội thông tin (Chỉ thị Infosoc)

Phần mở đầu Chỉ thị Infosoc khẳng định mục tiêu của Chỉ thị này là “tìm cách thúc đẩy học tập và văn hóa bằng cách bảo vệ các tác phẩm trong khi vẫn cho phép các ngoại lệ hoặc giới hạn vì lợi ích công cộng cho mục đích giáo dục và giảng dạy” Từ đó, nó đặt ra nhiều yêu cầu thay đổi trong luật bản quyền của các nước EU, đặc biệt là ngoại lệ của quyền tác giả nhằm mục đích học tập, giáo dục và

38 Michalopoulos, C (2003), Special and differential treatment of developing countries in TRIPS, Geneva:

Quaker United Nations Office, p.8

Trang 29

các mục đích phi thương mại khác Tuy nhiên, đa phần các yêu cầu này đều dưới dạng tùy nghi

Điều 5 (3) (n) Chỉ thị Infosoc quy định các quốc gia thành viên có thể quy định các ngoại lệ hoặc giới hạn đối với các quyền quy định tại Điều 2 (quyền sao chép) và Điều 3 (quyền thông báo tới công chúng) trong trường hợp sử dụng thông tin liên lạc hoặc cung cấp (tác phẩm) cho mục đích nghiên cứu hoặc học tập

Tương tự Công ước Berne, Hiệp định TRIPS hay WCT, các điều kiện “chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt nhất định”, “không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm” và “không phương hại bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền” được nhắc lại tại Chỉ thị Infosoc Điểm khác biệt

là Chỉ thị Infosoc cho phép các quốc gia mở rộng các ngoại lệ đối với quyền phân phối (distribution right)

e) Công ước Rome năm 1961

Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (International Convention for the Protection of Performers, Producers of Phonograms and Broadcasting Organizations - Rome Convention) được ký kết tại Rome ngày 26/10/1961 Việt Nam gia nhập Công ước này từ ngày 01/3/2007 Trong đó, các giới hạn và ngoại lệ liên quan đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng được quy định ngắn gọn trong Điều 15 Công ước Cụ thể:

“Bất kỳ một nước thành viên nào đều có thể quy định trong luật pháp của nước mình các ngoại lệ đối với sự bảo hộ quy định trong Công ước này đối với:

a) Sử dụng cá nhân;

b) Sử dụng các trích dẫn ngắn nhằm mục đích đưa tin thời sự;

c) Ghi âm tạm thời do một tổ chức phát sóng thực hiện bằng các phương tiện riêng phục vụ buổi phát sóng của chính họ;

d) Sử dụng chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và giảng dạy.”

Đối với việc học tập, nghiên cứu, các nước thành viên Công ước Rome có thể đặt ra các ngoại lệ khi “sử dụng cá nhân” và “chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và giảng dạy” Giống như Điều 10 (2) Công ước Berne, Điều 15 (1) (d) Công ước Rome cho phép các thành viên đặt ra ngoại lệ trong khuôn khổ phải đúng mục đích Mục đích của các ngoại lệ tại Điều 15 (1) (d) Công ước Rome là “nghiên cứu và giảng dạy” Có thể thấy phạm vi áp dụng Điều 15 (1) (d) Công ước Rome rộng hơn

so với điều khoản tương tự tại Công ước Berne khi đề cập đến “nghiên cứu khoa học” Điều 15 (1) (d) Công ước Rome cũng không đặt ra các điều kiện nào liên quan đến “không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm” hay “không gây tổn hại bất hợp lý đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả” như tại Công ước Berne

Trình bày trên đây tập trung vào các điều ước quốc tế về quyền tác giả với các quy định điều chỉnh các hoạt động học tập hoặc liên quan mật thiết (có sự giao thoa về nội hàm) đến học tập (như giảng dạy và nghiên cứu khoa học) Thông qua

so sánh, đối chiếu giữa các điều ước quốc tế có thể thấy sự chú ý của các quốc gia đối với ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích

Trang 30

học tập Mặc dù ở cấp độ vĩ mô, song các điều ước quốc tế thường chỉ được quy định dưới dạng tùy nghi, ít khi mang tính cưỡng chế trên thực tế Do đó, cần nghiên cứu luật thực định của các quốc gia đối với ngoại lệ quyền tác giả, đặc biệt là trong trường hợp sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

1.2.2 Pháp luật bản quyền một số nước về ngoại lệ quyền tác giả nhằm mục đích học tập

Trên thế giới có rất nhiều quốc gia ban hành các đạo luật về quyền tác giả có ghi nhận các ngoại lệ của quyền tác giả, bao gồm ngoại lệ nhằm mục đích học tập Song, do giới hạn luận văn nên nội dung này chỉ trình bày pháp luật một số nước tiêu biểu, có lịch sử lập pháp lâu đời về quyền tác giả và ngoại lệ quyền tác giả (Trung Quốc, Vương quốc Anh), có học thuyết pháp lý về ngoại lệ của quyền tác giả độc lập và đặc biệt (Hoa Kỳ) hoặc đạt thành tựu, hiệu quả cao trong khi thi hành luật về quyền tác giả (Úc, Nhật Bản) mà Việt Nam có thể tham khảo, học hỏi và tiếp thu có chọn lọc nhằm hoàn thiện pháp luật của quốc gia

a) Vương quốc Anh

Luật bản quyền của Vương quốc Anh là một phần của Luật Bản quyền, Kiểu dáng và Bằng sáng chế năm 1988 (The Copyright, Designs and Patents Act 1988 – CDPA) xác định một số trường hợp ngoại lệ của quyền tác giả nhằm mục đích giáo dục, nghiên cứu và học tập, dưới dạng các hành vi được phép (permitted acts) Không áp dụng học thuyết “sử dụng hợp lý” như tại Hoa Kỳ (vốn để thúc đẩy quyền tự do ngôn luận), tại Vương quốc Anh, người ta áp dụng học thuyết “xử sự hợp lý” (fair dealing) để xác định liệu việc sử dụng tác phẩm là hợp pháp hay vi phạm bản quyền Chưa có một định nghĩa chính thức nào về “xử sự hợp lý” theo hệ thống pháp luật Anh, tuy vậy, khái niệm này được hiểu là việc sử dụng một số tác phẩm nghệ thuật không cần sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền, miễn là việc sử dụng mang tính “hợp lý”

Quy trình để xác định sự “hợp lý” bao gồm hai bước: (1) Xác định mục đích

sử dụng và (2) Tác phẩm được sử dụng một cách hợp lý Đầu tiên, trong từng trường hợp áp dụng ngoại lệ quyền tác giả, mục đích sử dụng tác phẩm phải là một mục đích cụ thể, như: phê bình một tác phẩm, trích dẫn, báo cáo, bảo quản tác phẩm hay học tập và nghiên cứu phi thương mại,… Tiếp theo, việc sử dụng phải được coi

là hợp lý, luật pháp Anh không xác định thế nào là hợp lý, thay vào đó, các tòa án Anh đã đưa ra các tiêu chí để quyết định trường hợp nào được xem là xử sự hợp lý,

cụ thể như: Thứ nhất, việc sử dụng phải phù hợp với các mục đích hợp lý được xác định tại bước xác định trước; Thứ hai, các tòa án quan tâm đến chất lượng và số lượng của tác phẩm nghệ thuật được sử dụng liệu có vượt quá mục đích hợp lý; Thứ

ba, người ta xét đến tình trạng công bố của tác phẩm, một tác phẩm chưa từng được

công bố thì việc sử dụng tác phẩm đó dường như không đảm bảo tính hợp lý Đối với tác phẩm chưa công bố nhưng bị đánh cắp, chiếm đoạt thông qua phương thức

truy cập trái phép thì việc sử dụng nó rõ ràng là không hợp lý; Thứ tư, việc sử dụng

tác phẩm nếu “cản trở hoạt động khai thác bình thường của tác phẩm” hoặc “gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của tác giả” thì có khả năng rất lớn bị coi là không hợp lý, đồng thời, nếu việc sử dụng khiến cho bản chất của tác phẩm bị biến đổi

Trang 31

chẳng hạn như xuyên tạc một tác phẩm, thì cũng có thể bị coi là không hợp lý; Thứ

năm, nếu việc sử dụng tác phẩm xuất phát từ một động cơ tìm kiếm lợi nhuận cho

một pháp nhân thương mại thì ít có khả năng việc sử dụng này được coi là hợp lý tuy vậy, việc sử dụng trên có thể được xem là hợp lý nếu nó được tiến hành bởi một

tổ chức từ thiện, tổ chức nhân đạo,… Ngoài ra, còn nhiều tiêu chí khác để xác định tính hợp lý trong từng trường hợp nhất định

Đối với các ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập, luật pháp Anh có các điều khoản quy định riêng trong ba trường hợp

cụ thể sau đây:

(1) Nghiên cứu phi thương mại và học tập cá nhân

Điều 29 CDPA có tiêu đề “nghiên cứu và học tập cá nhân” (research and private study) quy định về quyền sao chép tất cả các loại tác phẩm cho nghiên cứu với mục đích phi thương mại (non-commercial) và học tập cá nhân Có nghĩa là người học được phép sao chép một phần hoặc toàn bộ tác phẩm phục vụ cho công việc học tập của mình, không được sao chép nhiều bản hoặc sao chép tác phẩm cho người khác Thông thường, việc sao chép này được tiến hành dưới dạng sao chép một chương từ cuốn sách, một bài báo từ một tập hợp các kỷ yếu hội nghị hay một bài thơ từ một tuyển tập các bài thơ,…

(2) Khai thác văn bản và dữ liệu cho nghiên cứu phi thương mại

Điều 29A CDPA cho phép sao chép tác phẩm để phân tích văn bản và dữ liệu bằng các kỹ thuật vi tính, kỹ thuật tự động nhằm xác định kiểu mẫu, xu hướng hay các thông tin khác Tuy nhiên, người sử dụng phải được cấp quyền truy cập hợp pháp, chẳng hạn như được tổ chức cấp phép Bất kỳ phân tích nào cũng chỉ được tiến hành nhằm mục đích nghiên cứu phi thương mại

(3) Phê bình, đánh giá và trích dẫn tác phẩm

Điều 30 CDPA có các ngoại lệ quyền tác giả dành cho hai mục đích sử dụng riêng biệt: Thứ nhất, đối với mục đích phê bình hoặc đánh giá, nó cho phép và nhấn mạnh việc sử dụng các đoạn trích của tác phẩm phải nhằm mục đích phê bình hoặc đánh giá tác phẩm Thứ hai, đối với mục đích trích dẫn, nó cho phép sử dụng tác trích dẫn một tác phẩm cho các mục đích khác ngoài phê bình hoặc đánh giá tác phẩm, tuy nhiên, giới hạn của một trích dẫn là không dài hơn mức cần thiết Cả hai trường hợp này đều cho phép sử dụng các trích đoạn có giới hạn của bất kỳ loại tác phẩm nào miễn là tác phẩm đã được công bố

b) Thịnh vượng chung Úc

Luật Bản quyền Úc năm 1968 (Copyright Act 1968) có tên gọi chính thức là

“Đạo luật liên quan đến bản quyền và bảo vệ các buổi biểu diễn và các mục đích khác” (An Act relating to copyright and the protection of certain performances, and for other purposes) sửa đổi gần đây nhất vào năm 2021, được ban hành với mục đích “trao cho tác giả phần thưởng xứng đáng vì lợi ích mang lại cho cộng đồng và

để khuyến khích tạo ra những tác phẩm sáng tạo Mặt khác, vì bản quyền có tính chất độc quyền, nên luật pháp, trong chừng mực có thể, đảm bảo bản quyền không

Trang 32

bị lạm dụng và việc học tập, nghiên cứu và giáo dục không bị cản trở quá mức”39

như tại Báo cáo luật bản quyền của Ủy ban Tái bản (1976)

Điều này cho thấy Úc luôn lưu tâm đến ảnh hưởng của luật bản quyền đối với lợi ích công cộng, vì quốc gia này trước đây là nước nhập khẩu các tác phẩm có bản quyền trước khi vươn lên trở thành nhà sản xuất các tác phẩm có bản quyền như hiện nay (Wahid & Abdul Ghani Azmi, 2020)40 Trong lĩnh vực giáo dục, học tập, Điều 28 (1) Luật Bản quyền Úc quy định về biểu diễn và truyền đạt các tác phẩm trong quá trình giảng dạy, giáo dục nêu rõ việc sử dụng miễn phí các tác phẩm nhằm mục đích giáo dục, giảng dạy và học tập Nó cho phép trình diễn hoặc biểu diễn một tác phẩm văn học, kịch hoặc âm nhạc không mục đích lợi nhuận Những buổi biểu diễn đó không được coi là buổi biểu diễn công cộng kể cả khi được diễn

ra trong lớp học hay có khán giả nếu khán giả chỉ giới hạn ở những giáo viên hoặc

là nhân viên cơ sở giáo dục Ngoại lệ này cũng áp dụng đối với các bản ghi âm và phim điện ảnh với mục đích giáo dục, như quy định tại Điều 28 (4) Luật Bản quyền

Úc

Điều 40 và Điều 103C Luật Bản quyền Úc quy định về các trường hợp xử sự hợp lý cho mục đích nghiên cứu hoặc học tập Theo đó, Điều 40 quy định rằng các hành vi xử sự hợp lý đối với một tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hoặc nghệ thuật, hoặc bản chuyển thể của các loại hình tác phẩm đó cho mục đích nghiên cứu hoặc học tập sẽ không cấu thành vi phạm bản quyền Điều 103C quy định rằng việc xử lý công bằng đối với một tác phẩm nghe nhìn (audio-visual item)41 sẽ không cấu thành hành vi vi phạm bản quyền nếu nó được thực hiện với mục đích nghiên cứu hoặc học tập Các Điều 51, 51A, 110A và 110B Luật Bản quyền Úc cho phép sao chép

và truyền đạt các tác phẩm chưa được xuất bản nhằm mục đích nghiên cứu

Ngoài ra, đoạn tóm tắt của Phần IVA Luật Bản quyền Úc có tiêu đề “Sử dụng không vi phạm bản quyền” có nội dung quy định việc sử dụng nhất định của các cơ sở giáo dục đối với tác phẩm được bảo hộ không vi phạm bản quyền Dẫn theo sau đó là hàng loạt các điều khoản quy định loại trừ trách nhiệm pháp lý về bản quyền đối với cơ sở giáo dục (tại Đoạn 4)

c) Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Như đã trình bày, Hoa Kỳ sử dụng học thuyết “sử dụng hợp pháp” làm cơ sở cho các quy định về ngoại lệ quyền tác giả trong luật bản quyền của mình Học thuyết này cho phép sử dụng các tài liệu có bản quyền cho các mục đích như phê bình, báo cáo tin tức, giảng dạy, học tập và nghiên cứu mà không cần xin phép hoặc trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả Việc xác định xem việc sử dụng tác phẩm

có nằm trong phạm vi sử dụng hợp lý hay không phụ thuộc vào bốn yếu tố được

39 Australian Government Publishing Service, (1976), Report of the Copyright Law Committee on

Reprographic Reproduction, p 9

40 Wahid, R., & Abdul Ghani Azmi, I (2020), “Comparative Study on Copyright Exception for Teaching

Purposes: Australia, Malaysia and the United Kingdom”, Journal Of International Studies, 8(1), p 40

41 “Tác phẩm nghe nhìn” tại điều khoản này bao gồm bản ghi âm, phim điện ảnh (cinematograph film) hoặc chương trình phát thanh hoặc chương trình truyền hình

Trang 33

quy định trong Điều 107 Luật Bản quyền Hoa Kỳ năm 1976 (Copyright Act of 1976), gồm:

(1) Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, bao gồm việc sử dụng đó có tính chất thương mại không hay là chỉ nhằm mục đích giáo dục phi lợi nhuận;

(2) Bản chất của tác phẩm được bảo hộ;

(3) Số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm được bảo hộ như là một tổng thể; và

(4) Vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ

Theo yếu tố thứ nhất, nếu sử dụng tác phẩm nhằm mục đích giáo dục phi lợi nhuận, chẳng hạn như việc người học sử dụng tác phẩm để phê bình hoặc bình luận học thuật, sao chép một bản để sử dụng trực tiếp trong lớp học được xem là sử dụng hợp lý

Đối với yếu tố thứ hai, trường hợp người học sử dụng một tác phẩm đã xuất bản có nhiều khả năng được coi là hợp pháp hơn là sử dụng một tác phẩm chưa được xuất bản Đoạn cuối cùng của Điều 107 ghi nhận một tác phẩm chưa công bố

về bản chất không ngăn cản việc tìm kiếm để sử dụng hợp lý nếu việc tìm kiếm này được thực hiện dựa trên việc xem xét tất cả bốn yếu tố Bên cạnh đó, nếu sử dụng tác phẩm dựa trên thực tế hoặc tác phẩm phi hư cấu sẽ được coi sử dụng hợp lý, trong khi việc sử dụng tác phẩm có tính sáng tạo, giả tưởng và hư cấu cao sẽ dễ dẫn đến việc sử dụng bị coi là không hợp lý

Yếu tố thứ ba đặt ra yêu cầu cần xem xét đến số lượng, tỷ lệ phần trăm và tính quan trọng trong khi sử dụng tác phẩm Cụ thể, việc sao chép một lượng nhỏ ở mức tối thiểu (sao chép vài trang của một tài liệu hàng trăm trang) hoặc một tỷ lệ phần trăm nhỏ (thí dụ như dưới 5%) sẽ dễ dàng được coi là sử dụng hợp lý nếu các phần được sao chép không phải là điểm quan trọng chính yếu của tác phẩm

Ba yếu tố trên đây ít nhiều có ảnh hưởng đến yếu tố thứ thư, nói cách khác, việc xác định tính hợp lý trong yếu tố thứ tư bị chi phối bởi việc xác định tính hợp

lý trong các yếu tố xếp trước nó Việc làm rõ “ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ” trả lời câu hỏi liệu việc sử dụng tác phẩm có gây thiệt hại hay ảnh hưởng xấu đến thị trường tiềm năng (potential market) của tác phẩm đó không Theo đó, người ta sẽ xem xét tác động của việc sử dụng tác phẩm đến doanh thu tiềm năng của tác phẩm, nếu việc sử dụng tác phẩm làm suy yếu đáng kể khả năng tìm kiếm doanh thu cũng đồng nghĩa với việc làm giảm khả năng được xem là hợp lý của việc sử dụng tác phẩm

Bốn yếu tố trên đây được dùng để xác định tính hợp lý của việc sử dụng tác phẩm theo nguyên tắc không có một yếu tố nào mang tính quyết định, tất cả bốn yếu tố phải được xem xét để xác định xem việc sử dụng một tác phẩm có phải là sử dụng hợp lý hay không Kể cả khi việc sử dụng hợp lý nhằm mục đích học tập phi thương mại thì cũng không đủ để kết luận việc sử dụng này là hợp lý vì mục đích sử dụng chỉ là một trong các yếu tố để xem xét Có thể minh họa cho việc này bằng

Trang 34

phán quyết của tòa án đối với vụ Campbell kiện Acuff-Rose Music, Inc42, theo đó, tòa án sơ thẩm đã lập luận bị đơn có hành vi sử dụng tác phẩm để tạo ra phiên bản bắt chước (parody) của tác phẩm gốc nhưng xét thấy phiên bản bắt chước của bị đơn có sự khác biệt đối với bản gốc và được sử dụng không quá mức cần thiết Từ

đó, tòa án sơ thẩm kết luận rất khó có khả năng hành vi của bị đơn trong việc sử dụng tác phẩm có thể ảnh hưởng xấu đến thị trường của tác phẩm Tuy nhiên, tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bản chất của hành vi sử dụng vốn dĩ mang tính chất thương mại nên nó không được coi là sử dụng hợp lý Đồng thời, tòa cấp phúc thẩm còn nhận định phiên bản bắt chước đã sử dụng phần trọng tâm của tác phẩm gốc và khiến ảnh hưởng xấu đến thị trường và doanh thu của tác phẩm gốc Do đó, tòa cấp phúc thẩm đảo ngược phán quyết của tòa cấp sơ thẩm Sau đó, vụ việc được chuyển đến tòa án tối cao xem xét Tòa án tối cao nhận định rằng việc sử dụng nhằm mục đích thương mại vẫn có thể bảo đảm yếu tố thứ nhất theo nguyên nghĩa của điều luật (Điều 107 Luật Bản quyền Hoa Kỳ) Tòa án tối cao nhận thấy rằng, trong bất

kỳ trường hợp nào, bản chất thương mại của tác phẩm chỉ là một yếu tố trong tổng thể bốn yếu tố luật định cần phải xem xét Tiếp đến, đồng ý với tòa cấp sơ thẩm về

sự biến đổi đáng kể của nội dung phiên bản bắt chước của tác phẩm, tòa án tối cao cho rằng hai tác phẩm phục vụ các thị trường khác nhau nên không thể có sự ảnh hưởng tiêu cực nào đối với thị trường của tác phẩm gốc đến từ phiên bản bắt chước Cuối cùng, đối với yếu tố thứ ba, đứng trước cáo buộc phiên bản bắt chước đã sử dụng phần trọng tâm43 của tác phẩm gốc, tòa án tối cao phán quyết hai tác phẩm có

sự khác biệt rõ rệt với nhau

d) Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Lịch sử hàng ngàn năm của Trung Quốc cho thấy ngay từ thời Tống (960 – 1279), Trung Quốc đã nhận thức về quyền tác giả (Yiping Yang, 1993)44 Luật Bản quyền Trung Quốc năm 1991 với lần sửa đổi mới nhất vào năm 2020 có mục đích cân bằng hài hoà giữa quyền lợi cá nhân tác giả và lợi ích rộng lớn hơn của toàn xã hội, bên cạnh các mục đích khác Điều 22 (1) Luật Bản quyền Trung Quốc quy định một tác phẩm đã có thể được sử dụng mà không cần có sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền và người sử dụng không phải trả thù lao cho chủ sở hữu bản quyền nhằm mục đích học tập và nghiên cứu cá nhân (với yêu cầu phải nêu rõ họ tên của tác giả hoặc tên tác phẩm) Điều 22 (2) Luật Bản quyền Trung Quốc cho phép trích dẫn hợp lý tác phẩm đã công bố của người khác trong tác phẩm của mình để giới thiệu, bình luận về một tác phẩm hoặc giải thích một vấn đề Luật Bản quyền Trung Quốc đặt ra các tiêu chí “không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng bình thường tác phẩm” và “không được làm tổn hại một cách bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp

42 Campbell v Acuff-Rose Music, Inc., 510 U.S 569 (1994)

43 Là phần “cơ bản và quan trọng của tác phẩm” Xem thêm: Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, “Dấu

hiệu xác định hành vi sao chép tác phẩm”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Thực thi các cam kết pháp lý

của Việt Nam trong các Hiệp định FTAs và vấn đề bảo vệ quyền sao chép trong bối cảnh hội nhập”, NXB

Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2016, tr.163

44 Yang, Y (1993), “The 1990 Copyright Law of the People's Republic of China”, UCLA Pacific Basin Law

Journal, 11(2), p 262

Trang 35

pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả” đối với hành vi sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập cá nhân Điều 21 Quy định về việc thực hiện Luật Bản quyền Trung Quốc năm 2002 cũng lặp lại các ràng buộc đối với việc khai thác tác phẩm đã xuất bản mà không cần xin phép và không phải trả thù lao thì “không được làm ảnh hưởng đến hoạt động khai thác bình thường của tác phẩm”, cũng như “không phương hại đến quyền lợi hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”

e) Nhật Bản

Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tại Nhật Bản được thiết lập từ rất sớm, sau những dấu hiệu đầu tiên của một Luật Bản quyền được hình thành trong thời kỳ chính quyền Tokugawa (Đầu thế kỷ XVII – giữa thế kỷ XIX) Nhật Bản còn là quốc gia châu Á đầu tiên tham gia Công ước Berne vào năm 1899 Do đó, Luật bản quyền Nhật Bản năm 1899 được đồng bộ với hầu hết các quy định quốc tế, trải qua lần sửa đổi quan trọng vào năm 1971, lần sửa đổi gần đây nhất là vào năm 2018 khi Nhật ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế EU-Nhật Bản

Tại Điều 1 Luật Bản quyền Nhật Bản đã trình bày khái lược về mục đích ban hành luật này, theo đó, mục đích của Luật Bản quyền Nhật Bản bao gồm việc “đảm bảo bảo vệ quyền của tác giả và những người khác trong khi chú ý đến việc khai thác hợp lý các sản phẩm văn hóa này, và qua đó để góp phần phát triển văn hóa”

Điều 32 (1) Luật Bản quyền Nhật Bản loại trừ trách nhiệm đối với việc khai thác một tác phẩm đã xuất bản, miễn là phù hợp với thông lệ đúng đắn và với một phạm vi trích dẫn phù hợp với mục đích, chẳng hạn như phê bình hoặc nghiên cứu Khi trích dẫn như vậy, Điều 48 (1) luật này quy định rằng cần phải ghi rõ nguồn của tác phẩm theo cách thức và mức độ hợp lý

Về ngoại lệ của quyền tác giả đối với các ấn phẩm học thuật trong trường học, Điều 33 (1) Luật Bản quyền Nhật Bản cho phép sao chép sách giáo khoa dùng

để giáo dục trẻ em, học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường phổ thông cơ sở, trung học phổ thông hoặc các trường tương tự khác Điều 33 (4) mở rộng ngoại lệ này đối với sách giáo khoa dành cho các khóa học tương ứng giáo dục trung học và sách giáo khoa dành cho giáo viên Tuy nhiên, người sao chép phải thông báo cho tác giả và phải trả cho tác giả một khoản tiền

Đối với chương trình phát sóng các chương trình giáo dục học đường, Điều

34 Luật Bản quyền Nhật Bản cho phép phát sóng, phát sóng hoặc truyền dẫn đến công chúng Điều 38 (1) Luật Bản quyền Nhật Bản quy định rằng việc biểu diễn, biểu diễn hoặc tường thuật công khai một tác phẩm đã được công bố mà không có lợi nhuận thì được coi là hợp pháp và không thu phí tham dự đối với khán giả hoặc người xem, tuy nhiên, với điều kiện là những người biểu diễn không nhận được thù lao cho buổi biểu diễn

Tương ứng với mỗi ngoại lệ, các Điều 30-2, 30-3, 30-4, 35, 36 Luật Bản quyền Nhật Bản nhiều lần nhắc lại điều kiện gây phương hại bất hợp lý đến lợi ích của chủ sở hữu bản quyền hoặc hoàn cảnh khai thác tác phẩm

1.3 Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập

1.3.1 Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994

Trang 36

Lịch sử phát triển pháp luật dân sự tại Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám cho thấy các quy định về quyền tác giả lần đầu tiên xuất hiện tại Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 02/12/1994 được ban hành theo Lệnh của Chủ tịch nước số 38L/CTN ngày 10/12/1994 và có hiệu lực cùng ngày ban hành Mặc dù xuất hiện khá muộn so với các nước trên thế giới và sau gần 50 năm lập quốc, nhưng Pháp lệnh này đã thể hiện cơ bản đầy đủ những quy định thiết yếu của một văn bản bản quy phạm pháp luật về quyền tác giả, trong

đó bao gồm các ngoại lệ của quyền tác giả Về các ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập, Điều 16 Pháp lệnh này không đề cập đến “ngoại lệ”, tuy vậy, nó cho phép các cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã công bố, phổ biến không phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, không phải trả thù lao cho họ trong mười trường hợp sau đây:

(1) Sao lại tác phẩm để sử dụng riêng;

(2) Trích dẫn tác phẩm để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình;

(3) Trích dẫn tác phẩm để viết báo, để dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

(4) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy, kiểm tra kiến thức trong nhà trường; (5) Sao lại tác phẩm để lưu trữ, dùng trong thư viện;

(6) Dịch, phổ biến tác phẩm từ tiếng Việt sang tiếng các dân tộc thiểu số; (7) Biểu diễn các tác phẩm sân khấu, bài hát, bản nhạc trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động ở nơi công cộng;

(8) Ghi âm, ghi hình trực tiếp các buổi biểu diễn với tính chất đưa tin thời

sự hoặc để giảng dạy;

(9) Chụp ảnh, truyền hình nhằm giới thiệu hình ảnh tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng trưng bày ở nơi công cộng;

(10) Chuyển các tác phẩm sang chữ nổi cho người mù

Việc các nhà làm luật sử dụng các cụm từ “để sử dụng riêng”, “dùng”, “cho người mù”,… khiến phạm vi sử dụng có thể bao gồm mục đích học tập Đồng thời, các hoạt động giáo dục thường thấy trong nhà trường có tác động đến việc giáo dục, học tập như “sử dụng riêng”, “kiểm tra kiến thức”, “sinh hoạt văn hóa”, “giảng dạy”,… cũng có thể tiếp cận dưới góc độ sử dụng cho việc học tập Tuy vậy, việc thiếu vắng sự đề cập đến hoạt động “nghiên cứu” hay “học tập” khiến cho pháp lệnh này tỏ ra chưa đồng bộ với Công ước Berne và các điều ước quốc tế phổ biến khác Mặt khác, Pháp lệnh này không có các văn bản giải thích chi tiết và hướng dẫn thi hành cũng gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tiễn Không lâu sau đó, văn bản này được thay thế bởi BLDS năm 1995

1.3.2 Bộ luật Dân sự năm 1995

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 thông qua ngày 28/10/1995, có hiệu lực ngày 01/7/1996 là kết quả của nỗ lực pháp điển hóa toàn bộ các văn bản pháp luật

về các vấn đề dân sự đã tồn tại trước đó, bao gồm cả các quy định về SHTT Các vấn đề về quyền tác giả được ghi nhận tại Chương I thuộc Phần thứ Sáu của Bộ luật này Các ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích

Trang 37

học tập được tìm thấy tại Điều 761 Bộ luật này với tiêu đề điều luật là “Các hình thức sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao”, cũng như phiên bản lập pháp trước, BLDS năm 1995 tiếp tục không ghi nhận “ngoại lệ” mà thay vào đó, là các hình thức sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao Trước khi đi vào những trường hợp cụ thể, điều luật này dẫn chiếu đến nội dung Điều 760 quy định về “giới hạn quyền tác giả” (limitation of copyright) Theo Điều 760, BLDS cho phép cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác

đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm Quy định tại Điều 760 đặt ra khá nhiều tiêu chí cho việc sử dụng tác phẩm, gồm: (1) tác phẩm không bị cấm sao chụp, (2) việc sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh, (3) không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, và (4) không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm Các tiêu chí này đi kèm với điều kiện “tác phẩm đã được công bố, phổ biến” và “phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm” So với “bài kiểm tra ba bước” tại Công ước Berne và bốn yếu tố xác định “sử dụng hợp lý” theo luật về bản quyền tại Hoa Kỳ thì Điều 760 BLDS năm 1995 xác định các tiêu chí để sử dụng tác phẩm khá khắt khe

Như đã trình bày trên, việc BLDS năm 1995 sử dụng cụm từ “giới hạn” để

đề cập đến các tiêu chí cho các ngoại lệ quyền tác giả vốn dĩ tùy theo văn hóa pháp

lý của mỗi quốc gia, không phải là vấn đề quan trọng gây tranh cãi, có thể bắt gặp cách quy định như vậy hoặc những các cách định danh điều luật khác ở nhiều quốc gia khác Đồng thời, so với Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994, tại BLDS năm 1995, lần đầu tiên các nhà lập pháp thể hiện nhận thức về một đường ranh

“giới hạn” của quyền tác giả đã là một điểm tiến bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam Tuy vậy, việc sử dụng chính xác cụm từ “ngoại lệ” sẽ giúp luật quốc gia được tiệm cận với các điều ước và học thuyết pháp lý quốc tế

Tiểu kết: Trong Chương I, người viết đã trình bày và phân tích các khía cạnh

của khái niệm ngoại lệ quyền tác giả, trình bày bản chất cũng như những ý kiến xung quanh việc xác định bản chất ngoại lộ quyền tác giả; nếu các góc nhìn đối với hành vi học tập và nêu sự giao thoa nội hàm giữa học tập và nghiên cứu

Tiếp đến, người viết trình bày các cơ sở của ngoại lệ quyền tác giả, liên hệ đến ngoại lệ đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập Nội dung tập trung vào nguyên tắc cân bằng lợi ích trong luật SHTT (cùng các học thuyết làm cơ

sở của nguyên tắc này), quyền tự do ngôn luận và tầm quan trọng của việc học tập đối với sự phát triển của xã hội Phần này đi sâu phân tích những lập luận biện minh cho ngoại lệ quyền tác giả, từ đó cho thấy các ngoại lệ của quyền tác giả nói chung

và ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập nói riêng là nhu cầu hiện hữu trước mắt, các nghiên cứu về nó là cần thiết cho xã hội Sau đó, người viết lần lượt trình bày ngoại lệ ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử

Trang 38

dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập trong các điều ước đa phương quốc tế để thấy tính toàn cầu của các ngoại lệ này

Tuy vậy, các điều ước đa phương thường quy định mang tính tùy nghi, linh hoạt cho nên việc tham khảo pháp luật thực định của một số quốc gia tiêu biểu là cần thiết Do đó, người viết trình bày pháp luật hiện hành của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Vương quốc Anh,… để có cái nhìn cụ thể về luật bản quyền được thi hành ở các nước trong hiện tại Cuối cùng, quay trở lại pháp luật Việt Nam, nhằm làm tiền đề cho Chương 2, người viết đã giới thiệu sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam về ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập thông qua một số quy định liên quan các ngoại lệ của quyền tác giả nói chung và ngoại lệ quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập trong Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994 và BLDS năm 1995 Một số điểm tiến bộ qua từng giai đoạn lập pháp được tác giả chỉ ra và phân tích

Trang 39

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGOẠI LỆ

CỦA QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM

NHẰM MỤC ĐÍCH HỌC TẬP

Đạo luật hiện tại của Việt Nam điều chỉnh các quan hệ xã hội về SHTT nói chung và quyền tác giả nói riêng là Luật SHTT năm 2005 (ban hành ngày 29/11/2005, có hiệu lực ngày 18/02/2006) Bối cảnh xây dựng và ban hành Luật SHTT năm 2005 gắn liền với chuỗi sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào năm

2006 Do đó, về cơ bản, nó đáp ứng được các yêu cầu của WTO về luật trong lĩnh vực SHTT và khá đồng bộ với các hiệp định giữa các nước thành viên WTO như Hiệp định TRIPS Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2019 và lần sửa đổi gần đây nhất là năm 2022, Luật SHTT Việt Nam dần hoàn thiện mình trong nỗ lực tiệm cận với chuẩn pháp lý quốc tế, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đường lối hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện Đối với các ngoại lệ quyền tác giả trong việc sử dụng tác phẩm nói chung và nhằm mục đích học tập nói riêng, Điều 25 Luật SHTT năm 2005 và các phiên bản của nó sau các lần sửa đổi quan trọng vào năm 2019, 2022 đã cho thấy những bước tiến đáng

kể, như được phân tích sau đây

2.1 Ghi nhận ngoại lệ của quyền tác giả trong Luật Sở hữu trí tuệ

Trước năm 2022, các quy định pháp luật về quyền tác giả tại Việt Nam từ năm 1994 đều không ghi nhận hành vi “sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” chính là “ngoại lệ” của quyền tác giả Nếu như tại Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994, các trường hợp sử dụng tác phẩm chỉ được mô tả bằng các nội dung của điều luật, không được đặt tên thì tại BLDS năm 1995, các ngoại lệ này mới được gọi bằng cái tên “Các hình thức sử dụng tác phẩm” thể hiện cách tiếp cận các ngoại lệ dưới dạng “hình thức” Đến Luật SHTT năm 2005, các hình thức sử dụng tác phẩm được sửa đổi thành các “trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố”, tên gọi này được giữ nguyên cho đến năm 2022 được đổi thành “các trường hợp ngoại lệ” không xâm phạm quyền tác giả Ngoài ra,

kể từ năm 1994 đến trước năm 2022, tất cả các quy phạm pháp luật về quyền tác giả đều không xuất hiện cụm từ “ngoại lệ” Đến lần sửa đổi năm 2002, cụm từ “ngoại lệ” xuất hiện đến ba lần trong toàn văn luật mà không dựa trên tiền lệ lập pháp của quốc gia thể hiện tinh thần mạnh dạn thay đổi dựa trên sự tiếp thu, học hỏi có chọn lọc thành tựu lập pháp của các nước, khiến cho Luật SHTT tiến thêm một bước đồng bộ với các đạo luật khác trên thế giới

Ngoài ra, việc sắp xếp các điều luật tương ứng với các chương mục trong Luật SHTT thể hiện góc nhìn dung hợp của các nhà lập pháp Việt Nam giữa ngoại

lệ và giới hạn của quyền tác giả Theo đó, BLDS năm 1995 đề cập đến nội hàm và các tiêu chí xác định ngoại lệ quyền tác giả trong điều luật có tiêu đề là “Giới hạn quyền tác giả” Đến Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi các năm 2009, 2019), các điều khoản về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được xếp vào Mục 1 có tiêu đề là “Nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền tác giả” thuộc Chương II của luật này Có

Ngày đăng: 21/06/2023, 21:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
36. Nguyễn Thái Cường (2022), “Phương pháp định tính và định lượng trong việc xác định tỷ lệ phần trăm tác phẩm được phép sao chép theo pháp luật của CHLB Đức và Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 08 (456), tr. 58-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp định tính và định lượng trong việc xác định tỷ lệ phần trăm tác phẩm được phép sao chép theo pháp luật của CHLB Đức và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thái Cường
Năm: 2022
37. Nguyễn Thái Cường, Đặng Phước Thông (2022), “Quyền sử dụng tự do tác phẩm qua hành vi sao chép và trích dẫn tác phẩm trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, 02 (150), tr.61-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sử dụng tự do tác phẩm qua hành vi sao chép và trích dẫn tác phẩm trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thái Cường, Đặng Phước Thông
Năm: 2022
39. Nguyễn Trọng Luận (2021), “Quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục”, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, 46, tr. 14-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục
Tác giả: Nguyễn Trọng Luận
Năm: 2021
45. Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, “Dấu hiệu xác định hành vi sao chép tác phẩm”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Thực thi các Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu hiệu xác định hành vi sao chép tác phẩm
46. Ambrose A. Azeta, Nicholas A. Omoregbe, Jonathan Oluranti, Olabode A. Bello (2015), “An Intranet portal for a learning institution”, Proceedings of ICERI2015 Conference Seville, IATED Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Intranet portal for a learning institution”, "Proceedings of ICERI2015 Conference Seville
Tác giả: Ambrose A. Azeta, Nicholas A. Omoregbe, Jonathan Oluranti, Olabode A. Bello
Năm: 2015
50. Cotter, T (2008), “Fair Use and Copyright Overenforcement”, SSRN Electronic Journal, 93, p. 1271-1318 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fair Use and Copyright Overenforcement”, "SSRN Electronic Journal
Tác giả: Cotter, T
Năm: 2008
51. Damstedt, B. G. (2003), “Limiting Locke: A Natural Law Justification for the Fair Use Doctrine”, The Yale Law Journal, 112(5), p. 1179-1221 52. Deazley, R (2008), Rethinking copyright, Cheltenham: Edward elgarPub Sách, tạp chí
Tiêu đề: Limiting Locke: A Natural Law Justification for the Fair Use Doctrine”, "The Yale Law Journal
Tác giả: Damstedt, B. G. (2003), “Limiting Locke: A Natural Law Justification for the Fair Use Doctrine”, The Yale Law Journal, 112(5), p. 1179-1221 52. Deazley, R
Năm: 2008
53. Fisher, W., “Theories of Intellectual Property”, New essays in the legal political theory of property, Cambridge: Cambridge Univ. Pr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theories of Intellectual Property”, "New essays in the legal political theory of property
54. Hinchliffe, G (2006), “Plato and the love of learning”, Ethics and Education, 1(2), 117–131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plato and the love of learning
Tác giả: Hinchliffe, G
Năm: 2006
56. Karapapa, S. (2013), “A Copyright Exception for Private Copying in the United Kingdom”, SSRN Electronic Journal, 35(3), p. 129-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Copyright Exception for Private Copying in the United Kingdom”, "SSRN Electronic Journal
Tác giả: Karapapa, S
Năm: 2013
57. Koutras, N. (2022), “A Scientific Analysis of the Three-Step Test: Through the Lenses of International and Australian Laws”, Publishing Research Quarterly, 38(3), p. 503–518 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Scientific Analysis of the Three-Step Test: Through the Lenses of International and Australian Laws”, "Publishing Research Quarterly
Tác giả: Koutras, N
Năm: 2022
59. Lateef Mtima (2009), “Copyright Social Utility and Social Justice Interdependence: A Paradigm for Intellectual Property Empowerment and Digital Entrepreneurship”, West Virginia Law Review, 112, p. 97-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Copyright Social Utility and Social Justice Interdependence: A Paradigm for Intellectual Property Empowerment and Digital Entrepreneurship”, "West Virginia Law Review
Tác giả: Lateef Mtima
Năm: 2009
63. Netanel, N. W (2001), “Locating Copyright within the First Amendment Skein”, Stanford Law Review, 54(1), p. 1-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Locating Copyright within the First Amendment Skein”, "Stanford Law Review
Tác giả: Netanel, N. W
Năm: 2001
64. Patterson, L. Ray and Birch, Jr., Stanley F. and Joyce, Craig (2009), “A Unified Theory of Copyright”, 46 Houston Law Review, U of Houston Law Center, 2020-A-25, p. 215-399 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Unified Theory of Copyright”, "46 Houston Law Review
Tác giả: Patterson, L. Ray and Birch, Jr., Stanley F. and Joyce, Craig
Năm: 2009
65. Posner, R. (2005), “Intellectual Property: The Law and Economics Approach”, Journal Of Economic Perspectives, 19(2), p. 57-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intellectual Property: The Law and Economics Approach”, "Journal Of Economic Perspectives
Tác giả: Posner, R
Năm: 2005
66. Pound, R. (1915), “Interests of Personality”, Harvard Law Review, 28(4), p. 343-365 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interests of Personality”, "Harvard Law Review
Tác giả: Pound, R
Năm: 1915
67. Reynolds, R (2010), “The Police Logic of Balancing the Interests in Copyright Law”, The Journal of Law and Social Justice, 5, p. 1-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Police Logic of Balancing the Interests in Copyright Law”, "The Journal of Law and Social Justice
Tác giả: Reynolds, R
Năm: 2010
68. Wahid, R., & Abdul Ghani Azmi, I. (2020), “Comparative Study on Copyright Exception for Teaching Purposes: Australia, Malaysia and the United Kingdom”, Journal Of International Studies, 8(1), p. 31-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative Study on Copyright Exception for Teaching Purposes: Australia, Malaysia and the United Kingdom”, "Journal Of International Studies
Tác giả: Wahid, R., & Abdul Ghani Azmi, I
Năm: 2020
70. Xalabarder, R., “On-line teaching and copyright: Any hopes for an EU harmonized playground?”, Copyright Law: A Handbook of Contemporary Research, Edward Elgar Publishing, 2007, p. 373-401 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On-line teaching and copyright: Any hopes for an EU harmonized playground?”, "Copyright Law: A Handbook of Contemporary Research
71. Yang, Y. (1993), “The 1990 Copyright Law of the People's Republic of China”, UCLA Pacific Basin Law Journal, 11(2), p. 260-284 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 1990 Copyright Law of the People's Republic of China”, "UCLA Pacific Basin Law Journal
Tác giả: Yang, Y
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w