1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng một số vấn đề lý luận và thực tiễn

78 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả Ngô Thanh Xuân
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Văn Trí
Trường học Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 hiện hành có hiệu lực, có không ít công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá các quy định của công tác công khai, minh bạch tài sản, thu n

Trang 2

Tôi là Ngô Thanh Xuân, xin cam đoan rằng Khoá luận tốt nghiệp là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ

Nguyễn Văn Trí Khoá luận đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về

trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Sinh viên thực hiện

Ngô Thanh Xuân

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH TÀI SẢN, THU NHẬP TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng 5

1.1.1 Khái niệm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng 5

1.1.2 Đặc điểm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng 10

1.2 Cơ sở công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng 13

1.2.1 Cơ sở lý luận 13

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.2.3 Cơ sở pháp lý quốc tế 18

1.3 Vai trò công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng 20

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH TÀI SẢN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 25

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập 25

2.1.1 Chủ thể có nghĩa vụ công khai, minh bạch tài sản, thu nhập 25

2.1.2 Những tài sản, thu nhập là đối tượng kê khai 30

2.1.3 Phương thức, hình thức công khai, minh bạch tài sản, thu nhập 32

2.1.4 Kiểm tra, xác minh kê khai tài sản, thu nhập 35

2.1.5 Xử lý vi phạm trong việc kê khai tài sản, thu nhập 41

2.2 Thực tiễn việc thực hiện quy định về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập 51

2.2.1 Tình hình thực hiện việc kê khai, công khai, xác minh tài sản, thu nhập tại một số địa phương 52

2.2.2 Tình hình vi phạm quy định pháp luật về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập 56

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ CÔNG KHAI, MINH BẠCH TÀI SẢN TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 61

PHẦN KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tham nhũng là một “căn bệnh bẩm sinh” nguy hiểm gắn liền với quyền lực, là biểu hiện của sự tha hoá quyền lực nhà nước Nguồn gốc của căn bệnh “tham nhũng”

là lòng tham của con người Đấu tranh phòng, chống tham nhũng với những chủ thể mang quyền lực thực chất là đấu tranh chống lại thói hư tật xấu, chống lại bản tính tham lam của con người, ngăn chặn những hoàn cảnh để lòng tham không thể xảy trong khi thực thi quyền lực

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tham nhũng, công thức: C=M+D-A1 được

sử dụng khá phổ biến Trong đó, C (Corruption): tham nhũng; M (Monopoly): sự chuyên quyền, độc đoán; D (Discretion): sự tự ý hành động do thiếu kiểm soát; A (Accountability): trách nhiệm giải trình Qua công thức trên, về cơ bản, muốn phòng ngừa tham nhũng, ta cần phải giảm yếu tố D (Discretion) càng nhiều càng tốt Để ngăn cản sự tung hoành, tự do làm theo ý mình, thoải mái thao túng trong bí mật, tốt nhất chính là đưa những vấn đề dễ bị tham nhũng hoặc là kết quả của tham nhũng công khai ra ánh sáng – tạo tâm lý sợ bị bại lộ cho những chủ thể vi phạm để không dám tham nhũng Vạch xuất phát của tham nhũng chính là lòng tham, vạch đích của tham nhũng chính là lợi ích, là tiền bạc, là tài sản Vì vậy, một trong những vấn đề thiết yếu cần phải công khai, minh bạch là vấn đề liên quan đến tài sản, thu nhập của các chủ thể có nguy cơ tham nhũng

Vấn đề yêu cầu công khai, minh tài sản, thu nhập của các chủ thể có nguy cơ tham nhũng để phòng ngừa tham nhũng được đặt ra từ lâu và tồn tại gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hiệu quả của việc áp dụng chế định này không khả quan trên thực tế xuất phát từ nhiều lý do, đòi hỏi cần phải không ngừng đánh giá, nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện Pháp luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam ra đời

từ khi Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 được ban hành và chính thức được nâng lên thành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung thì hiện nay, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đang có hiệu lực Với nhiều lần sửa đổi, bổ sung, quy định về vấn đề “công khai, minh bạch tài sản nhằm phòng ngừa tham nhũng” có nhiều thay đổi nhất định, cho thấy tính quan trọng của chế định này trong công tác phòng, chống tham nhũng và các nhà làm luật luôn dành

sự quan tâm nhất định cho trong nội dung này Tính đến thời điểm nghiên cứu, Luật

1 Robert Klitgaard (1998), “International Cooperation Against Corruption”, Finance & Development, nguồn:

https://www.elibrary.imf.org/view/journals/022/0035/001/article-A002-en.xml?ArticleTabs=fulltext (truy cập ngày 01/05/2022)

Trang 5

Phòng, chống tham nhũng năm 20182 đã có hiệu lực 03 năm Với những thay đổi trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, nội dung của chế định này đã được

áp dụng trên thực tiễn và xuất hiện dần những hạn chế nhất định cần được nghiên cứu

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Công khai, minh bạch tài

sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

làm Khoá luận tốt nghiệp để nghiên cứu, làm rõ những vấn đề liên quan đến lý luận chung và thực tiễn áp dụng của vấn đề, từ đó đề xuất những phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật với hy vọng góp phần cho chế định này ngày càng có hiệu quả trên thực tế

2 Tình hình nghiên cứu

Với biện pháp phòng ngừa thông qua việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức, những chủ thể mang quyền lực công đã được đặt ra từ khi Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 ra đời Sau hơn 20 năm tồn tại, biện pháp kê khai tài sản dần dần phát triển và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay đổi các văn bản pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng Từ khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 hiện hành có hiệu lực, có không ít công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá các quy định của công tác công khai, minh bạch tài sản, thu nhập mà hiện hành đang tồn tại với thuật ngữ “kiểm soát tài sản, thu nhập” Dưới góc độ sách chuyên khảo, nội dung quy định của pháp luật về kiểm soát

tài sản, thu nhập hiện hành được phân tích rất đầy đủ qua tác phẩm “Tìm hiểu quy

định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam (Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định 130/2020/NĐ-CP/ ngày 30/10/2020 của Chính phủ)” của tác giả Đinh Văn Minh Cùng tác giả, còn có

tác phẩm “Một số vấn đề về tham nhũng và những nội dung cơ bản của Luật Phòng,

chống tham nhũng năm 2018” cũng có phân tích đôi nét về quy định của pháp luật

về kiểm soát tài sản, thu nhập Tuy nhiên, hai tác phẩm này chỉ mới dừng lại ở việc phân tích quy định của pháp luật hiện hành mà chưa đánh giá cũng như có phương hướng đề xuất khắc phục những hạn chế còn tồn tại của các quy định đó

Ngoài ra, vấn đề “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập”, hiện nay được thể hiện với cụm từ “kiểm soát tài sản, thu nhập” cũng được nhiều tác giả khác quan tâm nghiên cứu từ sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 có hiệu lực, được đăng

trên các tạp chí chuyên ngành luật Có thể kể đến các tác phẩm nổi bật như: “Pháp

luật về kiểm soát tài sản, thu thập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện

2 Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2018 và có hiệu lực

từ ngày 01 tháng 7 năm 2019

Trang 6

nay” của tác giả Lê Thị Hoa được đăng trên Tạp chí Thanh tra, năm 2021, số 08;

“Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát thu nhập, tài sản của người có chức

vụ, quyền hạn” của tác giả Phan Thị Lan Phương đăng tại Tạp chí Nghiên cứu Lập

pháp, 2019, Số 8 (384); “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản,

thu nhập” tác giả Hà Quang Thanh tại Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 2021, số 16

(440); “Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn”

của tác giả Nguyễn Hoài Thịnh trên Tạp chí Quản lý nhà nước, 2022, Số 314 Những tác phẩm này đều nghiên cứu tổng thể các quy định hiện hành của cơ chế “kiểm soát tài sản, thu nhập” Tuy nhiên, chúng chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu quy định của pháp luật, có đánh giá và đề xuất hạn chế những điểm còn hạn chế mà chưa nghiên cứu những vấn đề chung về lý luận của chế định này

Xuất phát từ những mặt hạn chế của những tác phẩm, Khoá luận hướng đến nghiên cứu tổng thể nội dung của chế định này từ những vấn đề chung về lý luận, phân tích các quy định pháp luật, đánh giá thực tiễn và đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu, Khoá luận tập trung tìm hiểu một số vấn đề lý luận liên quan đến công khai, minh bạch tài sản, thu nhập với mục đích phòng, chống tham nhũng như: khái niệm và đặc điểm của “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng”; cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nội dung nghiên cứu; vai trò của chế định và một số kinh nghiệm của quốc tế của vấn đề “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập với mục đích phòng, chống tham nhũng” Trên cơ sở đó, Khoá luận tiến hành nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và việc thực hiện quy định

về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng Từ những phân tích ở góc độ quy định pháp luật và đánh giá thực tiễn thực hiện, Khoá luận đưa

ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này Thông qua những kiến nghị này, tác giả hy vọng có thể đưa nội dung nghiên cứu vào thực tiễn, góp phần hỗ trợ công tác phòng, chống tham nhũng có chuyển biến tích cực

4 Phạm vi nghiên cứu

Vì tính chất rộng lớn của lĩnh vực đang nghiên cứu, khoá luận chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cốt lõi của nội dung “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng có liên quan chặt chẽ với việc hình thành quy định hiện hành Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, Khoá luận khai thác chủ yếu nội dung của pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện hành, mà cốt lõi là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập Dưới góc độ thực tiễn, Khoá luận khai thác các số liệu, thực tiễn thực hiện

Trang 7

quy định pháp luật về công tác công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của các địa phương điển hình để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu Từ đó, Khoá luận đưa ra những kiến nghị về mặt thực tiễn cũng như quy định pháp luật để nâng cao hiệu quả đối với công tác phòng, chống tham nhũng bằng phương thức công khai, minh bạch tài sản, thu nhập

5 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác để làm rõ vấn đề như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp liệt kê… và

xử lý số liệu thống kê để làm rõ vấn đề nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn thực hiện

6 Kết cấu của đề tài

Khoá luận “Công khai, minh bạch tài sản trong phòng, chống tham nhũng:

Những vấn đề lý luận và thực tiễn” có bố cục gồm: phần mở đầu, phần nội dung,

phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trong đó, phần nội dung là phần trọng tâm của khoá luận, gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

Chương 2: Thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch tài sản trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số kiến nghị góp phần bảo đảm hiệu quả công khai, minh bạch tài sản trong phòng, chống tham nhũng

Trang 8

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH TÀI SẢN, THU NHẬP TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

1.1.1 Khái niệm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

*Khái niệm tham nhũng

Tham nhũng là hành vi xã hội tiêu cực, nảy sinh khi xuất hiện nhà nước, có thể tồn tại ở bất kỳ quốc gia nào và gây ra những hệ lụy xấu trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho tới an ninh, quốc phòng, đối ngoại Tệ nạn tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, bất kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế nào Tham nhũng phát triển thường xuyên, hàng ngày, len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và phạm vi tác hại của nó không bó hẹp với một chủ thể nào nhất định

Thuật ngữ “tham nhũng” vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa

khác nhau Ở nghĩa rộng, theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, tham nhũng là lợi dụng

quyền hành để nhũng nhiễu dân hoặc để tham ô tài sản với giá trị lớn 3 Cách định nghĩa này chưa hoàn chỉnh, còn mơ hồ Theo cách hiểu này, ta lại đắn đo thêm: thế nào là nhũng nhiễu dân? Hoặc là, chỉ tham ô tài sản với giá trị lớn thì mới gọi là tham nhũng sao? Hoặc, với các hành vi khác cũng mang mục đích vụ lợi nhưng không nhũng nhiễu dân hay tham ô, như là sử dụng tài sản công trái phép; giả mạo trong công tác; không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ… thì có được xem là tham nhũng không?

Theo một cách định nghĩa hẹp hơn, tham nhũng có thể hiểu là hành vi của người được nhà nước giao nhiệm vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nhiệm vụ của mình để thực hiện mục đích vụ lợi.4 Cách định nghĩa này gần hơn với cách hiểu

về tham nhũng theo pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, nó lại quá hẹp về mặt thực tiễn Với cách hiểu này, chỉ những ai mang nhiệm vụ, quyền hạn do Nhà nước giao phó thì mới là chủ thể của hành vi tham nhũng Nói cách khác, cách định nghĩa thể hiện tham nhũng chỉ là hiện tượng xảy ra trong khu vực công – khu vực mang quyền lực nhà nước, cơ quan công quyền Các cách định nghĩa trên đều chỉ giới hạn ở một khía cạnh của tham nhũng, tập trung vào khu vực công mà chưa đề cập gì đến tham nhũng ở khu vực tư Tuy nhiên,

3 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.835

4 Nguyễn Ngọc Long (2018), “Hậu quả của tham nhũng nhìn từ góc độ nhân quyền”, Luật sư Việt Nam, Số 5

(50), tr.02-03

Trang 9

thực tế cho thấy tham nhũng còn xảy ra ở những chủ thể tư, không mang quyền lực Nhà nước, xảy ra ở những doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, với các dạng hành vi như nhận hối lộ, tham ô tài sản, đưa hối lộ, môi giới hối lộ Với việc ghi nhận sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của tham nhũng, định nghĩa về tham nhũng cũng được đánh giá lại Hội đồng Châu Âu cùng Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế của Liên hợp

quốc đã đưa ra một định nghĩa rộng hơn về tham nhũng Theo đó, “tham nhũng gồm

các yếu tố cấu thành sau: Hành vi của những người được tin cậy giao phó nhiệm vụ công hoặc tư; Không tôn trọng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình; Nhằm đạt được các lợi ích không chính đáng” 5 Cách định nghĩa về tham nhũng ở đây đang thể hiện

phạm vi tác động rộng lớn của các hành vi bị xem là tham nhũng Tham nhũng không chỉ diễn ra khi những chủ thể của nó được giao phó nhiệm vụ, quyền hạn công mà ngay cả đây là những nhiệm vụ mang tính chất tư thì vẫn là hành vi tham nhũng Với các hành vi tham nhũng xảy ra khi các chủ thể tham nhũng mang trên mình công vụ: vẫn giống với quan niệm truyền thống về tham nhũng, các chủ thể tham nhũng đều được trao trọng trách, nhiệm vụ bằng những chức danh, vị trí trong cơ quan công quyền rõ ràng bằng những công cụ quản lý nhà nước Với các hành vi tham nhũng ở những chủ thể không mang quyền lực nhà nước, việc đảm đương nhiệm vụ, quyền hạn là dựa trên “lòng tin”, sự tin cậy giao phó Do cách hiểu như vậy, phạm vi của những thuật ngữ mang ý nghĩa là “người được giao nhiệm vụ, quyền hạn”, sẽ được

mở rộng hơn rất nhiều, chỉ cần là được tin tưởng giao phó, không nhất thiết phải được giao dựa trên sự quy định của pháp luật, từ các hoạt động công vụ chỉ có ở cơ quan công quyền như bổ nhiệm, bầu cử… đều được xem là chủ thể của hành vi tham nhũng

Từ lẽ đó, tham nhũng sẽ không còn bị hiểu bó hẹp chỉ xảy ra trong những khu vực mang quyền lực công như: cơ quan quản lý nhà nước, Toà án…

Từ những phân tích về thuật ngữ “tham nhũng” qua nhiều cách hiểu, tác giả đồng tình với cách xác định phạm vi tham nhũng không nên bị bó hẹp chỉ khi nhiệm

vụ, quyền hạn chỉ xuất phát từ bản chất công vụ; chỉ xảy ra ở những khu vực mang

có sự can thiệp của quyền lực nhà nước mà nên mở rộng phạm vi ảnh hưởng của hành

vi tham nhũng bao trùm cả các lĩnh vực công, tư, bán công, thực tiễn lợi dụng nhiệm

vụ được tin tưởng giao phó trong các quan hệ mang bản chất dân sự cũng như tham nhũng chính trị Bởi lẽ, không phải chỉ các chủ thể mang quyền lực nhà nước, được trao quyền hạn quản lý nhà nước (như cán bộ, công chức, viên chức, công an…) mới

có nguy cơ tham nhũng Các chủ thể khác ngoài xã hội, trong những quan hệ, giao dịch chỉ mang tính dân sự, trao đổi lợi ích dựa trên thoả thuận, công bằng, trao quyền

5 Nguyễn Quốc Sửu (2013), Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở Việt Nam – Lý luận và thực

tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.09

Trang 10

quyết định cho nhau dựa trên sự tin cậy vẫn có thừa khả năng thực hiện hành vi tham nhũng Xã hội ngày càng phát triển, thủ đoạn của những hành vi vi phạm pháp luật, làm sai lệch đi chuẩn mực xã hội ngày càng phát triển tinh vi, xảo huyệt hơn và hành

vi tham nhũng cũng không nằm ngoài quy luật ấy Thực tế chứng minh: tham nhũng không còn là hành vi chỉ mang nguồn gốc từ cơ quan công quyền, từ hoạt động công

vụ mà phạm vi tác động, ảnh hưởng và mục đích xâm hại của nó đã rộng ra xã hội của những hoạt động mang tính chất tư

*Khái niệm phòng, chống tham nhũng

Xét về mặt ngữ nghĩa, bản thân thuật ngữ “phòng, chống tham nhũng” đã bao hàm hai thuật ngữ riêng biệt bên trong, gồm “phòng tham nhũng” và “chống tham nhũng” “Phòng tham nhũng” tức đang đề cập đến những hoạt động mang tính phòng ngừa, ngăn chặn những tiền đề, động lực để tham nhũng có thể xảy ra Còn “chống tham nhũng” là đang nói đến những biện pháp nhằm phát hiện, xử lý những hành vi tham nhũng đã xảy ra Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, ý nghĩa của “phòng tham nhũng” và “chống tham nhũng” không thể tách rời nhau mà luôn gắn bó, tác động biện chứng với nhau Cụ thể, “phòng tham nhũng” thành công sẽ triệt tiêu tham nhũng ngay từ những mầm mống sơ khai, cơ bản nhất Khi tham nhũng đã không xảy ra thì

sẽ đương nhiên không cần phải “chống tham nhũng” Ngược lại, các hoạt động

“chống tham nhũng” bằng các công cụ chế tài đủ hiệu quả, đủ hiệu ứng răn đe thì các chủ thể có nguy cơ vi phạm sẽ không sa lầy vào, từ đó thúc đẩy hoạt động “phòng tham nhũng” Chính vì lẽ đó, thuật ngữ “phòng, chống tham nhũng” xuất hiện và được sử dụng để khẳng định hoạt động “phòng” và “chống” đối với hành vi tham nhũng không bao giờ được tách rời nhau

Tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật và cũng sẽ trở thành tội phạm nếu hội

tụ đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự Bản chất của công tác phòng, chống vi phạm pháp luật là hướng tới việc xoá bỏ, loại trừ các tiền đề, điều kiện cơ bản, nguyên nhân khách quan và chủ quan để ngăn chặn hành vi vi phạm xảy ra; đồng thời đẩy mạnh việc xử lý, chế tài để vừa nghiêm trị các chủ thể đã vi phạm,

vừa tạo hiệu ứng răn đe các chủ thể có nguy cơ vi phạm Chính vì lẽ đó, công tác

“phòng, chống tham nhũng” có thể được hiểu là tổng thể các biện pháp tác động vào những nguyên nhân, điều kiện, tiền đề, mầm mống phát sinh tham nhũng cả ở phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, tư tưởng… để phòng ngừa hành vi tham nhũng xảy ra; đồng thời đề ra những công cụ chế tài, những biện pháp răn đe đủ mạnh, có hiệu quả trên thực tế với những chủ thể đã vi phạm để khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng đã gây ra

*Khái niệm công khai, minh bạch

Trang 11

Dưới góc độ từ ngữ, ta có thể tách “công khai, minh bạch” làm hai nội dung, đó

là “công khai” và “minh bạch” Hiện nay, hai khái niệm “công khai” và “minh bạch” vẫn còn sự nhầm lẫn, lẫn lộn nhau do nhiều người vẫn chưa hiểu đúng về hai khái niệm này Nếu nghiên cứu kỹ hơn, ta nhận ra hai khái niệm này có sự khác nhau khá

rõ ràng Cụ thể: Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, “công khai” nghĩa là “không

giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết” 6 Nói đơn giản, công khai là tính chất

sẵn sàng chia sẻ thông tin Còn “minh bạch” lại được định nghĩa đơn giản hơn “Minh

bạch là rõ ràng, rành mạch.” 7 Ta có thể thấy, “minh bạch” là một khái niệm khá trừu tượng và rộng Minh bạch không chỉ đòi hỏi khả năng sẵn sàng chia sẻ thông tin như công khai mà còn là khả năng tiếp cận thông tin, sẵn sàng giải thích, trao đổi để làm

rõ vấn đề

Dưới góc độ lý thuyết về quản trị nhà nước, các khái niệm công khai và minh bạch ngày càng được sử dụng rộng rãi và có nội hàm mở rộng hơn, không còn đơn thuần chỉ là sự thể hiện về mặt thông tin Theo đó, “công khai” không chỉ là sự cởi

mở, dễ dàng tiếp cận về thông tin mà còn là sự “cởi mở” cho người dân được quyền tiếp cận các thông tin do Nhà nước cung cấp Cùng với “công khai”, nội hàm của

“minh bạch” cũng được mở rộng không kém “Minh bạch” vẫn mang ý nghĩa bao trùm tính chất dễ dàng tiếp cận thông tin của “công khai”, giờ đây còn thể hiện tính nhất quán, dễ hiểu, đáng tin cậy, không khuất tất, không tạo ra khó khăn và trở ngại trong quá trình cung cấp thông tin cho người dân Đặc biệt hơn, “minh bạch” được dùng trong khoa học pháp lý còn đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ với sự chịu trách nhiệm của người cung cấp thông tin Người cung cấp thông tin không chỉ phải sẵn sàng chia

sẻ thông tin mà còn phải tạo các điều kiện cho người tiếp cận thông tin quyền được tham gia trao đổi, bàn luận và chịu trách nhiệm giải trình một cách thẳng thắn, trung thực về các vấn đề xung quanh thông tin đã cung cấp

Thuật ngữ công khai và minh bạch tuy về nội hàm ngữ nghĩa vẫn có sự khác biệt nhưng luôn được sử dụng song hành, gắn bó mật thiết với nhau Tích hợp hài hoà

ý nghĩa của hai thuật ngữ này, “công khai, minh bạch” có thể được hiểu là việc cơ

quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm công bố, cung cấp thông tin chính thức về

tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; về các văn bản được ban hành; hoặc về các nội dung khác có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách một cách rõ ràng, ngay tình, trung thực

*Khái niệm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

6 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.189

7 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.569

Trang 12

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, nếu hiểu tách biệt “công khai” và

“minh bạch”, hai thuật ngữ này vẫn được sử dụng gắn bó nhau nhưng có sự tách bạch Với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, “công khai” là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định.8 Ta nhận thấy rằng, ở đây tính chất của “công khai” không bị giới hạn trong một hoạt động cụ thể nào Tính chất công khai được áp dụng cho các hoạt động liên quan đến văn bản; đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; hoặc về một nội dung nhất định trong một hoạt động cụ thể nào đó Còn “minh bạch” với ý nghĩa mang tính ràng buộc hai chiều của mình thì chỉ được sử dụng trong công tác làm sáng

tỏ về tài sản, thu nhập của các chủ thể được Luật định Theo đó, minh bạch tài sản, thu nhập là việc kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và khi cần thiết được xác minh, kết luận.9

Đi sâu vào vấn đề về việc phải làm sáng tỏ tài sản, thu nhập của những chủ thể

có nguy cơ tham nhũng mà nhà làm luật muốn quản lý, nội dung của “công khai” và

“minh bạch” cần được hiểu theo hướng tích hợp “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập” sẽ hợp lý hơn Bởi lẽ, phải khẳng định rằng việc sử dụng thuật ngữ “minh bạch tài sản, thu nhập” được theo pháp luật phòng, chống tham nhũng chỉ đang thể hiện một giai đoạn trong quá trình phát triển của chế định nói về công tác “làm sáng tỏ” tài sản, thu nhập của các chủ thể được pháp luật phòng, chống tham nhũng hướng tới Nội dung này có sự phát triển dần theo thời gian, từ chỗ chỉ đơn thuần là “công khai tài sản” rồi tiến dần lên “minh bạch tài sản, thu nhập”, và nay đang tồn tại với thuật ngữ khác hơn là “kiểm soát tài sản, thu nhập”

Nhận diện sự khác nhau của hai cụm từ “minh bạch” và “kiểm soát”, ta nhận thấy điểm mấu chốt khác biệt là nằm ở vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước Theo đó, cụm từ “minh bạch tài sản, thu nhập” mang hơi hướng về tính tự nguyện của chủ thể có nguy cơ tham nhũng khi tiến hành hoạt động công khai về tài sản, thu nhập và chỉ khi có yêu cầu, căn cứ thì mới phát sinh các hoạt động về xác minh, giải trình Còn việc sử dụng cụm từ “kiểm soát tài sản, thu nhập” đang thể hiện mạnh mẽ vai trò quản lý của Nhà nước đối với vấn đề về quản lý tài sản, thu nhập của các chủ thể có nguy cơ tham nhũng Ta có thể thấy, một trong những điểm thay đổi nổi bật của cơ chế “kiểm soát tài sản, thu nhập” so với “minh bạch tài sản, thu nhập” trước đây là việc tách bạch tương đối “cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập” khỏi “cơ quan

có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản” Với cơ chế minh bạch tài sản, thu nhập trước đây, cơ quan tiến hành việc kê khai, công khai bản kê khai, xác

8 Khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012)

9 Khoản 3 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012)

Trang 13

minh tài sản, thu nhập đều do cùng một cơ quan có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tiến hành Còn cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập hiện nay đã tách biệt, giao nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể hơn cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập bên cạnh các hoạt động tiến hành tổ chức kê khai ban đầu vẫn do cơ quan có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai thực hiện

Đến thời điểm nghiên cứu, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ

chức, đơn vị Theo đó, kiểm soát tài sản, thu nhập là hoạt động do Cơ quan kiểm soát

tài sản, thu nhập thực hiện theo quy định của pháp luật để biết rõ tài sản, thu nhập, biến động về tài sản, thu nhập, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm của người

có nghĩa vụ kê khai nhằm phòng ngừa tham nhũng, phục vụ công tác cán bộ, kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng 10 Trong đó, kiểm soát tài sản, thu nhập sẽ bao gồm các hoạt động cụ thể như: kê khai tài sản, thu nhập; công khai bản kê khai tài sản, thu nhập; xác minh tài sản, thu nhập; giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm; xử lý vi phạm quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập

Tóm lại, dù về mặt thuật ngữ có sự thay đổi liên tục theo tư duy pháp lý trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, từ chỉ đơn thuần là “kê khai tài sản” rồi nâng lên

“minh bạch tài sản, thu nhập”, đến hiện nay đã trở thành “kiểm soát tài sản, thu nhập” cũng không làm thay đổi bản chất, mục đích và ý nghĩa của biện pháp phòng, chống

tham nhũng này Theo đó, “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng,

chống tham nhũng” có thể được hiểu là tổng thể các biện pháp, cách thức được Nhà nước sử dụng để thu thập, quản lý số lượng, nguồn gốc của các loại tài sản, thu nhập

và giám sát sự biến động về tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn nhằm phòng, chống tham nhũng

1.1.2 Đặc điểm công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng” ở phần trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm về hoạt động này như sau:

Thứ nhất, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập là một trong các biện pháp

phòng ngừa tham nhũng

Phòng ngừa tham nhũng tức là đang nói đến những hoạt động nhằm phát hiện, ngăn chặn những yếu tố về động cơ, tiền đề, ngăn chặn hành vi tham nhũng xảy ra từ

10 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức

vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Trang 14

những mầm mống sơ khai ban đầu Về bản chất, hoạt động công khai, minh bạch tài sản, thu nhập đang đánh vào lòng tham cố hữu luôn tồn tại bên trong mỗi con người Lòng tham chính là động cơ, động lực để phát sinh ra hành vi tham nhũng Mục đích

mà tham nhũng muốn hướng tới suy cho cùng là lợi ích Lợi ích ở đây có thể hiểu theo nhiều dạng: có thể là lợi ích cá nhân hay lợi ích của nhóm, tập thể cá biệt; có thể

là lợi ích vật chất hay lợi ích tinh thần Công khai, minh bạch tài sản, thu nhập là một hoạt động đặc biệt, nó đưa tài sản, thu nhập – kết quả của quá trình tích luỹ “lợi ích” sau khi thực hiện hành vi tham nhũng cho mọi chủ thể trong xã hội được biết, giám sát và phản biện Chính vì tài sản, thu nhập không còn được giữ bí mật, các chủ thể

đã tham nhũng sẽ run sợ mà e ngại tiếp tục; những người chỉ mới hình thành suy nghĩ

sẽ tham nhũng sẽ “chùn chân”, không dám tham nhũng Đó chính là biểu hiện của phòng ngừa tham nhũng

Phòng ngừa tham nhũng được thể hiện qua việc xử lý các hành vi vi phạm về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập Theo đó, bên cạnh các hình thức xử lý mang tính nặng nề, đầy sức răn đe bằng các chế tài hình sự, thông thường, với các chủ thể

vi phạm ở mức độ về kê khai (như kê khai thiếu trung thực, kê khai mà không giải trình hợp lý…) mà chưa có cơ sở xác định có tham nhũng thì chế tài cho họ chủ yếu

là xử lý kỷ luật Mục đích chủ yếu của xử lý kỷ luật về cơ bản là hướng đến tạo điều kiện cho người vi phạm chấn chỉnh lại thái độ, nhận thức của mình để họ có thể rút kinh nghiệm cho bản thân Trên tinh thần đó, nếu một người đã từng vi phạm về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập và bị xử lý kỷ luật, ít nhiều trong tư duy của họ, sau khi đã được cho cơ hội chấn chỉnh, cũng hình thành tâm lý ăn năn và nghiêm chỉnh chấp hành hơn Chính vì vậy, tác dụng phòng ngừa cũng phần nào thể hiện ở góc độ này

Thứ hai, tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là công cụ được sử

dụng để phòng, chống tham nhũng

Tham nhũng là một căn bệnh muôn đời rất dễ gặp phải của những chủ thể được trao gửi trọng trách thực thi một loại nhiệm vụ nào đó, mang trên mình chức vụ, quyền hạn nhất định Căn bệnh này có “tâm bệnh” chính là “sự tham lam” Như vừa

đề cập ở trên, về cơ bản, “sự tham lam” chính là mong muốn có được những khoản lợi ích mà vốn chúng không thuộc về mình Và kết quả của một quá trình để “lòng tham dẫn dắt lý trí” sẽ hợp thành khối tài sản, thu nhập mà người đó sở hữu

Khác với các biện pháp phòng ngừa tham nhũng khác đều tập trung “ngăn cản” các chủ thể có nguy cơ tham nhũng tiến gần hơn đến tham nhũng, hoạt động “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập” chọn “tài sản, thu nhập” – thứ căn nguyên mà chủ thể có nguy cơ tham nhũng muốn đạt được làm chính công cụ để ngăn cản họ tham

Trang 15

nhũng Với việc đưa những vấn đề về tài sản, thu nhập, biến động về tài sản, thu nhập

ra công khai cho nhiều chủ thể khác được tiếp cận, theo dõi và giám sát, hoạt động này đang muốn làm cho “thứ mà họ muốn đạt được” trở thành “vũ khí” gây tổn thương cho họ

Thứ ba, việc hình thành một cơ quan chuyên trách thực hiện mang tính chất

quyết định hiệu quả của biện pháp

Nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tham nhũng khác, tác giả nhận thấy rằng gần như các biện pháp không đặt quá nặng vai trò thành lập một cơ quan chuyên trách

để đảm bảo thực hiện một cách thống nhất nội dung quy định Với các biện pháp khác, trách nhiệm thực thi có thể trao cho các cơ quan có trách nhiệm quản lý các chủ thể có nguy cơ tham nhũng – tức là nói, các biện pháp này có thể được trao quyền cho rải rác các chủ thể để áp dụng một cách linh hoạt

Tuy nhiên, hoạt động “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập” lại hoàn toàn khác Chính vì đối tượng mà hoạt động này hướng đến là “tài sản, thu nhập”, đây là một vấn đề rất “nhạy cảm”, dễ bị luồng lách, trốn tránh mà vi phạm, việc hình thành một cơ quan chuyên trách để giám sát, thực hiện quy định một cách công bằng, nghiêm minh, khách quan là một yêu cầu tất yếu Nội dung này nếu quy định theo hướng giao cho cơ quan quản lý chủ thể có nguy cơ vi phạm thực hiện thì “khả năng” bao che, hỗ trợ nhau trốn tránh trách nhiệm là vô cùng lớn Do vậy, muốn đảm bảo hoạt động này không bị biến thành một quy định mang tính hình thức, việc thực hiện

bị biến thành một “thủ tục vô nghĩa” thì cần phải có một cơ quan đầu mối tổ chức thực hiện một cách thống nhất

Thứ tư, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập là một công tác phòng, chống

tham nhũng mang tính định kỳ và đòi hỏi đảm bảo có sự phối hợp tốt giữa nhiều công đoạn

Tham nhũng không phải là một “thói xấu” chỉ làm một lần là có thể thoả mãn

và từ bỏ ngay sau đó Thậm chí khi đã bị trừng phạt nhưng chưa đủ sức răn đe với người vi phạm thì nguy cơ tái phạm vẫn vô cùng lớn Với tư cách là một biện pháp phòng ngừa tham nhũng, công khai, minh bạch tài sản phải được quy định thực hiện mang tính định kỳ, phải được tư duy theo hướng đây là “tiếng chuông báo thức” để cảnh tỉnh, nhắc nhở người có nguy cơ tham nhũng định kỳ phải nhìn nhận lại chính mình mà không vi phạm

Mặt khác, cùng những phân tích về thuật ngữ ở trên, thậm chí khi chỉ xét về tên gọi “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập” cũng có thể nhận ra biện pháp này bao hàm việc thực hiện ở 2 mức độ, cả “công khai” và “minh bạch” Công khai là cung cấp thông tin một cách rõ ràng Ở phương diện này, biện pháp chỉ bao gồm hoạt động

Trang 16

kê khai và công khai bản kê khai cho nhiều người cùng biết tới Sang đến mức độ cao hơn, tức là Minh bạch Minh bạch thì cần phải có tính chết hai chiều, vừa công khai vừa phải chịu trách nhiệm về những thông tin mà mình cung cấp Muốn làm được điều đó, nhất là khi hoạt động này lựa chọn đối tượng hướng đến là “tài sản, thu nhập” – một vấn đề rất “nhạy cảm”, nội dung này được phân chia thành nhiều hoạt động nhỏ bên trong và các hoạt động này phải được nỗ lực thực hiện bài bản, chỉn chu từng khâu thì hiệu quả thực thi mới đảm bảo được

1.2 Cơ sở công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

1.2.1 Cơ sở lý luận

Quan niệm cho rằng: “Việc lợi dụng quyền lực công để tư lợi là sai trái và gây phương hại đến hiệu quả quản lý nhà nước” không phải là một quan niệm mới Ta có thể nhận thấy tham nhũng là một “căn bệnh” xuất hiện từ khá sớm trong xã hội loài người Từ khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành các tập đoàn quyền lực thì căn bệnh tham nhũng này đã manh nha hình thành Đây là căn bệnh đặc thù mà các nhà cầm quyền vô cùng dễ mắc phải

Nhìn lại lịch sử Việt Nam ta, suốt chiều dài hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, cha ông ta đã sớm nhận diện ra căn bệnh vô cùng nguy hiểm mang tên “tham nhũng” Trong các triều đại phong kiến của Việt Nam, mặc dù còn bị hạn chế bởi tư tưởng phong kiến trong quản lý và điều hành xã hội, nhưng các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây đều có ý thức chủ động phòng, chống tệ nạn tham nhũng, trong đó “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, tăng cường các biện pháp phòng ngừa song hành với các chế tài khắc khe khi vi phạm được coi là một biện pháp khá hiệu quả Đề cập đến công tác phòng ngừa tham nhũng trong các triều đại phong kiến Việt Nam, sự nổi bật của Luật Hồi tỵ là điều không thể bỏ qua Luật Hồi tỵ ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ đời Hồng Đức (1460 – 1497), học tập những quy định có tính tương tự từ Trung Hoa vốn đã có từ triều đại nhà Tùy Luật Hồi tỵ có thể hiểu sơ lược

là “luật về sự tránh né”, trong đó “hồi” nghĩa là trở về, “tỵ” là tránh đi Dưới triều

Nguyễn, Nguyễn Sĩ Giác đã lý giải thuật ngữ “hồi tỵ” khá đơn giản rằng, “trong một

nha môn hay một hạt, cha con anh em hay thân thích khác không được làm cùng một việc, nếu chánh phủ không biết mà bổ, thì các đương sự phải khai ra, để đổi một người đi nơi khác Nhất là các khoa thi các viên chức được sự chân khảo quan, nếu

có anh em, con cháu dự kỳ thi đó, phải khai thực mà xin hồi tỵ, chứ không được nhận

Trang 17

làm khảo quan”.11 Nói một cách đơn giản, Luật Hồi tỵ được thiết lập để ngăn chặn tình trạng những người thân thích với nhau làm việc trong cùng một cơ quan, tổ chức Luật Hồi tỵ không trực tiếp quy định vấn đề cần công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của quan lại phong kiến Tuy nhiên, Luật Hồi tỵ đang tạo ra một hành lang quy tắc để ngăn chặn tình trạng “xung đột lợi ích” giữa công quyền và lợi ích cá nhân Xung đột lợi ích có thể hiểu đơn giản là một tình huống mà khi đó lợi ích của người

có chức vụ, quyền hạn hoặc lợi ích của người thân thích với họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ Sự cố kết chặt chẽ của một

cá nhân với người thân trong gia đình, họ hàng hay sự vị nể của thầy trò với nhau sẽ hình thành hiện tượng kéo bè kéo cánh, nâng đỡ, bao che cho nhau, cục bộ, lợi ích nhóm làm hạn chế tinh thần vì cộng đồng, lợi ích của gia đình sẽ bị đẩy lên trên lợi ích của nhân dân Việc cá nhân một viên quan lại giàu có bất thường bao giờ cũng dễ dàng xác định được hơn là việc một “đại gia đình quan lại” cùng giàu có bất thường

Ở góc độ gián tiếp, Luật Hồi tỵ cũng đang đặt ra vấn đề tài sản, thu nhập của quan lại

có minh bạch được hay không, có nguy cơ tham nhũng hay không chính là dựa vào việc quan lại đó có tách bạch được ra khỏi lợi ích tập thể với những người thân thích hay không

Trên con đường hoá độ đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, về nền tảng tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:

“Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” 12 và nguyên tắc này vẫn được giữ nguyên đến ngày nay Trong công tác hình thành và phát triển của cơ chế phòng, chống tham nhũng nói chung và công khai, minh bạch tài sản, thu nhập nói riêng của pháp luật Việt Nam cũng không nằm ngoài nguyên tắc đó

Đầu tiên, phải nhận định rằng, lợi ích kinh tế là động lực cơ bản, là mục tiêu hoạt động của con người và là nguồn gốc của sự phát triển của xã hội, và đó cũng chính là mục tiêu của các hành vi của những kẻ cầm quyền “tha hoá” mà chúng ta gọi

là “tham nhũng” Mác từng nói, “cội nguồn của sự phát triển xã hội không nằm trong quá trình nhận thức mà ở trong các quan hệ vật chất, tức là trong các lợi ích kinh tế của con người”.13 Xã hội càng phát triển, nhu cầu về lợi ích của con người ngày càng phức tạp hơn Thuở khó khăn, con người chỉ mong “đủ cơm ăn, đủ áo mặc” Ngày

11 Nguyễn Minh Tuấn, Trần Tuấn Kiệt (2020), “Luật Hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong

Phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, Nghiên cứu Lập pháp, số 15(415), tr.09

12 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vii/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vii-cua-dang-17

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-13 Đinh Văn Minh (2019), Một số vấn đề về tham nhũng và những nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống

tham nhũng 2018, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.11

Trang 18

nay, khi cuộc sống đã sung túc hơn, nhu cầu cũng tăng lên theo sự phát triển của xã hội Giờ đây, không còn là “đủ ăn, đủ mặc” nữa mà đã nâng lên thành “cơm phải ngon, áo phải đẹp” Như C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “con người cũng có ý thức Song đó không phải là một ý thức bẩm sinh sinh ra đã là ý thức “thuần tuý”… Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại.”14 Không nằm ngoài quy luật, tính chất và mức độ gây thiệt hại của tham nhũng cũng sẽ “phát triển” theo mức độ phát triển của xã hội Xã hội càng hiện đại, kinh tế càng phát triển thì công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng càng phải được chú trọng đẩy mạnh “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nguyên tắc này chưa từng sai Một khi “ý thức chẳng qua là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong nó”15 thì việc phòng ngừa tham nhũng càng phải đánh mạnh vào yếu tố vật chất bên ngoài, từ đó cải biến vào ý thức của những chủ thể có nguy cơ vi phạm

Dưới phương diện tư tưởng Hồ Chí Minh, trong tác phẩm Đạo đức cách mạng, Bác từng nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa

vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội.”16 Mà muốn tiêu diệt một cách tận gốc thì bên cạnh công tác diệt trừ còn phải kết hợp với công tác phòng ngừa Phải “vừa phòng bệnh, vừa chữa bệnh” thì các “căn bệnh phái sinh” của chủ nghĩa cá nhân mới thu hẹp được phạm vi lan rộng

Bản chất của tham nhũng suy cho cùng là vì lòng tham mà chủ thể mang quyền lực lợi dụng quyền lực đó để mưu lợi cá nhân Trách nhiệm mà Nhà nước phân phó cho mỗi công chức, cán bộ là phải sử dụng công quyền để phục vụ cho lợi ích công đúng nghĩa, tức là lợi ích của người dân - những chủ thể đích thực đã trao quyền lực cho Nhà nước Thế mà, khi được trao quyền lực càng lớn, họ ấy lại lợi dụng nó mà gây phương hại đến lợi ích của người dân, của xã hội chỉ vì tư lợi cho bản thân mình Quyền lực càng lớn, lòng tham càng lớn, giá trị vật chất trao đổi được càng lớn, thiệt hại mà xã hội, nhân dân gánh chịu càng lớn Bởi vậy, kiểm soát tham nhũng phải đồng thời kiểm soát lòng tham của các chủ thể mang quyền lực

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để kiểm soát được nguy cơ nảy sinh lòng tham của các chủ thể này? Đứng trên góc độ đạo đức, tâm lý để nhận xét, nếu một chủ thể ở

14 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.34

15 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.23, tr.35

16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.611

Trang 19

một mình, không có ai giám sát, theo dõi, đánh giá thì họ sẽ tự do làm theo bản năng – để lòng tham tự do tung hoành Bởi vậy, muốn kiểm soát lòng tham này một cách hiểu quả triệt để thì phải có một cơ chế giám sát, quản lý, bắt họ phải luôn công khai trước công chúng, xã hội Bên cạnh phải công khai hoạt động công vụ, cơ chế công khai về tài sản, thu nhập cũng là một khía cạnh không thể bỏ qua Rõ ràng, công chức, cán bộ nhà nước cũng như các chủ thể khác trong xã hội đều có quyền lao động để làm giàu Tuy nhiên, vì các chủ thể mang quyền lực công có nguy cơ sử dụng thứ quyền lực này để sai phạm nên phạm vi làm kinh tế của họ có bị giới hạn hơn một chút so với các chủ thể khác trong xã hội Kiểm soát tài sản, thu nhập hay đưa vấn đề tài sản, thu nhập ra công khai, minh bạch về bản chất chính là quản lý sự tích tụ tài sản, thu nhập của các chủ thể này có hợp lý hay không Trên thực tế, đồng lương của các quan chức nhà nước chỉ đủ để đảm bảo cho họ có mức sống khá giả, đầy đủ hơn

so với mặt bằng chung của xã hội Nhưng nếu chỉ với mức lương thông thường mà

họ giàu có, có “của ăn, của để” khiến ai cũng phải “ngước nhìn” thì đó là điều bất hợp lý và cần phải có cơ chế làm sáng tỏ

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Tham nhũng là hành vi xã hội tiêu cực, có thể tồn tại ở bất kỳ quốc gia nào và gây ra những hệ lụy xấu trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho tới an ninh, quốc phòng, đối ngoại… Ở Việt Nam, tham nhũng được xem là quốc nạn bởi hàng loạt các đại án tham nhũng lên tới ngàn tỷ đồng lần lượt được phanh phui

và đưa ra ánh sáng

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế17, Chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index - CPI) năm 2021 của Việt Nam là 39/100 điểm18, xếp hạng 87 trên tổng số 180 nước thành viên tham gia xếp hạng CPI là chỉ số toàn cầu hàng đầu về tham nhũng trong khu vực công, cung cấp một cái nhìn tổng thể hàng năm về mức

độ tham nhũng tương đối ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ.19 Chỉ số CPI xếp hạng

180 quốc gia và vùng lãnh thổ theo mức độ nhận thức của họ về tham nhũng trong khu vực công trên thang điểm từ 0 (tham nhũng cao) đến 100 (rất minh bạch) Điểm

số trên phần nào thể hiện tình trạng tham nhũng ở Việt Nam vẫn còn diễn biến phức tạp, nằm ở mức trung bình thấp so với các nước tham gia xếp hạng mang thành tích

17 Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International, viết tắt là TI) là một phong trào toàn cầu của xã hội dân sự hoạt động trong lĩnh vực chống tham nhũng Tổ chức này được luật sư Peter Eigen, một cựu giám đốc ngân hàng thế giới cho Đông Phi, và những người cùng ý tưởng thành lập Trụ sở của TI đặt ở thủ đô Berlin, Đức Ngoài Đức, TI còn có chi nhánh tại hơn 100 quốc gia khác Ở Việt Nam, cơ quan đầu mối quốc gia của TI là tổ chức Hướng tới Minh bạch (Towards Transparency, gọi tắt là TT)

18 Xem chi tiết về Chỉ số CPI của Việt Nam tại: https://www.transparency.org/en/cpi/2021/index/vnm

19 Hoài Phương (2021), Những điểm nổi bật của Chỉ số Cảm nhận tham nhũng 2020, Trang Thông tin điện tử

tổng hợp Ban Nội chính Trung ương, nguồn: chi-so-cam-nhan-tham-nhung-2020-309148/ (truy cập ngày 13/04/2022)

Trang 20

https://noichinh.vn/tin-quoc-te/202102/nhung-diem-noi-bat-cua-cao như Đan Mạch, Phần Lan, New Zealand, Na Uy, Singapo… Năm 2020, Việt Nam đạt 36/100 điểm, xếp vị trí 104/180 Cho thấy rằng Việt Nam đã tăng 3 điểm vào năm

2021 so với năm 2020 Việc Việt Nam tăng điểm trên bảng xếp hạng CPI cho thấy tổng quan tình trạng tham nhũng của nước ta có chuyển biến theo hướng tích cực hơn Tuy nhiên, chỉ số CPI “chỉ để tham khảo là chính” bởi nó không phản ánh một cách chính xác, sâu sắc được tình hình tham nhũng tại Việt Nam

Điểm qua vài số liệu theo Báo cáo phòng, chống tham nhũng 2021 của Chính phủ, ta sẽ thấy rõ hơn tình hình tham nhũng tại Việt Nam vẫn còn phức tạp và khôn lường thế nào

Qua thanh tra, đã chấn chỉnh quản lý, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực; phát hiện vi phạm về kinh tế 61.846 tỷ đồng, 7.200 ha đất; kiến nghị thu hồi 16.775 tỷ đồng và 3.497

ha đất; chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 245 vụ, 182 đối tượng (tăng 58% số vụ)… Riêng Thanh tra Chính phủ ban hành 14 kết luận thanh tra, phát hiện vi phạm về kinh tế 4.967 tỷ đồng, 2.960 ha đất; kiến nghị thu hồi

về ngân sách nhà nước 1.773 tỷ đồng, 573 ha đất… Các cơ quan điều tra trong công an nhân dân đã thụ lý điều tra 582 vụ án, 1.262 bị can phạm tội về tham nhũng; trong đó khởi tố mới 310 vụ, 665 bị can (tăng 20 vụ,

49 bị can so với kỳ báo cáo năm trước) Đã kết luận điều tra và đề nghị truy tố 305 vụ, 804 bị can; tạm đình chỉ điều tra 37 vụ, 58 bị can… 20

Trong phạm vi hẹp hơn, qua nhiều năm lĩnh vực phòng, chống tham nhũng được luật hoá, nội dung về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập được quy định cụ thể, thực tiễn xuất hiện nhiều vấn đề còn nan giải Phải khẳng định trong công tác công khai, minh bạch tài sản, thu nhập thì từ khâu kê khai tài sản, thu nhập đã phát sinh vấn đề Các thông tin, số liệu kê khai còn mang tính một chiều, phần lớn là dựa vào

ý thức tự giác của người kê khai Trong hàng ngàn bản kê khai tuân thủ đúng quy định về thủ tục, hình thức, chỉ phát hiện số lượng rất ít bản kê khai sai về tính chính xác nội dung Không thể không hoài nghi tính trung thực của các bản kê khai còn lại, bởi nhìn nhận từ các vụ án, trường hợp cán bộ, đảng viên, thậm chí là quan chức cấp cao của Đảng, nhà nước bị xử lý về tham nhũng đều có dấu hiệu vi phạm về tính trung thực trong khâu kê khai tài sản, thu nhập

Có không ít trường hợp, khi một vụ án tham nhũng bị đưa ra ánh sáng, dư luận lại xôn xao về khối tài sản hàng chục, hàng trăm tỷ đồng của người vi phạm Câu hỏi

20 Hà Văn (2022), Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng trong khối cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền

địa phương, Báo điện tử Chính phủ, nguồn:

https://baochinhphu.vn/day-manh-phong-chong-tham-nhung-trong-khoi-co-quan-thuoc-chinh-phu-va-chinh-quyen-dia-phuong-102220113090746359.htm (truy cập ngày 03/05/2022)

Trang 21

mà ai cũng thắc mắc là tại sao một công chức, cán bộ mà lại có thể sở hữu khối tài sản “khổng lồ” như vậy? Điển hình như trường hợp của ông Chu Ngọc Anh - cựu Chủ tịch TP Hà Nội Trong thời gian bị bắt tạm giam về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, dư luận ngỡ ngàng về

“căn biệt thự “khủng” của gia đình ông này nằm trong Khu đô thị Vinhomes Gardenia (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) Giới buôn bán bất động sản ước tính giá trị căn biệt thự hiện nay vào khoảng 80-100 tỷ đồng Đã có nhiều ý kiến thắc mắc: Ông Chu Ngọc Anh có kê khai căn biệt thự “khủng” trong bản kê khai tài sản của mình, công khai tại cơ quan công tác?” 21 Để hạn chế tình trạng “rúng động dư luận” khi một vụ án tham nhũng nghiêm trọng bị phanh phui, gây thất thoát của Nhà nước hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng, ngay từ khâu kiểm tra sơ bộ, các quy định về kê khai, công khai bản kê khai cần được nghiên cứu thật chặt chẽ, hạn chế kẽ hở, các chế tài xử lý

vi phạm khi kê khai thiếu trung thực phải đủ mạnh để tạo tâm lý e sợ, không dám vi phạm cho các chủ thể

1.2.3 Cơ sở pháp lý quốc tế

Tham nhũng không phải là vấn đề của riêng một quốc gia nào hay một khu vực nào Đây là vấn đề mang tính toàn cầu Không một quốc gia nào là không có tham nhũng, xã hội càng phát triển thì hành vi tham nhũng càng tinh vi Tài sản, thu nhập không cần công khai, không cần xác minh, kiểm soát, đây là động lực để các chủ thể mang nhiệm vụ, quyền hạn tha hồ lợi dụng để làm giàu bất chính Ở phạm vi điều ước quốc tế, nội dung về công khai, minh bạch tài sản có thể điểm qua vài văn bản nổi bật sau:

- Công ước chống tham nhũng liên Mỹ22 được các nước thành viên của Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ23 thông qua vào năm 1996 và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1997

là công ước quốc tế đầu tiên đề cập tới vấn đề kiểm soát tài sản, thu nhập của người

có chức vụ, quyền hạn Cụ thể tại Điều III khoản 4 của Công ước có đề cập đến việc

yêu cầu các quốc gia thành viên xem xét các biện pháp nhằm “thiết lập, duy trì và

củng cố các hệ thống báo cáo về tài sản, thu nhập và trách nhiệm của những người giữ các chức vụ nhất định theo quy định của pháp luật và khi phù hợp, công khai các thông tin kê khai đó.” 24

21 Thế Kha (2022), Ai được xem bản kê khai tài sản của ông Chu Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Long?,

https://dantri.com.vn/xa-hoi/ai-duoc-xem-ban-ke-khai-tai-san-cua-ong-chu-ngoc-anh-nguyen-thanh-long-202 20609104924618.htm (ngày truy cập: 10/05/2022)

22 Công ước chống tham nhũng liên Mỹ tiếng Anh là Inter-American Convention Against Corruption, viết tắt

Trang 22

- Công ước của Liên minh Châu Phi về Phòng chống tham nhũng (AUCC) được thông qua vào năm 2003 cũng đề ra những quy định nhằm bảo đảm việc tiếp cận

thông tin, minh bạch về thu nhập, tài sản Cụ thể, tại Điều 7 Công ước quy định: Để

phòng, chống tham nhũng và những vi phạm liên quan trong bộ máy nhà nước, các quốc gia thành viên cam kết: 1 Yêu cầu toàn bộ hay một số đối tượng công chức cụ thể phải thực hiện kê khai tài sản tại thời điểm nhậm chức, trong và sau thời gian công tác; 2 Thành lập ban nội bộ hay cơ quan tương ứng với trách nhiệm xây dựng

bộ quy tắc ứng xử và giám sát việc triển khai bộ quy tắc, đồng thời tuyên truyền, tập huấn công chức về các vấn đề đạo đức; 3 Xây dựng các biện pháp kỷ luật và quy trình thẩm tra đối với tham nhũng và các vi phạm liên quan theo hướng áp dụng công nghệ mới và nâng cao hiệu quả của những tổ chức, cá nhân có trách nhiệm về vấn

đề này.” 25

Điều ước quốc tế được xem là quan trọng nhất hiện nay về chống tham nhũng

là Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống tham nhũng26 cũng nhấn mạnh vai trò của công tác kiểm soát tài sản trong phòng ngừa tham nhũng Theo đó, tại khoản 5 Điều

8 Công ước quy định: “Khi thích hợp và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp

luật nước mình, mỗi quốc gia thành viên nỗ lực thiết lập các biện pháp và cơ chế yêu cầu công chức báo cáo cơ quan có thẩm quyền về các vấn đề có liên quan trong đó

có những hoạt động công việc, các khoản đầu tư bên ngoài hay tài sản hoặc quà tặng giá trị lớn, những thứ mà có thể gây xung đột lợi ích khi họ thực hiện công vụ” Sau

đó, tại khoản 5 Điều 52 Công ước cũng nhấn mạnh thêm: “Mỗi quốc gia thành viên

sẽ xem xét việc thiết lập, căn cứ vào pháp luật quốc gia, hệ thống công khai tài chính hiệu quả đối với nhóm công chức nhất định, và quy định chế tài thích hợp đối với việc không chấp hành.”

Về mặt thời gian, đối chiếu với các văn bản pháp lý quốc tế này về vấn đề công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng, có thể thấy pháp luật của Việt Nam có nhận thức về vai trò của nội dung này không trễ hơn so với ý tưởng của thế giới Nếu Công ước chống tham nhũng liên Mỹ được thông qua vào năm 1996 thì Pháp lệnh chống tham nhũng của Việt Nam được ban hành năm 1998 cũng đã có quy định về vấn đề này Với việc nhiều Công ước quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng nói chung có sự ưu ái dành cho nội dung này, có thể thấy

25 Xem toàn văn Công ước tại: _african_union_convention_on_preventing_and_combating_corruption_e.pdf

https://au.int/sites/default/files/treaties/36382-treaty-0028_-26 Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption; viết tắt: UNCAC) Công ước đã được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 31/10/2003 Ngày 14/12/2005, Công ước có hiệu lực thi hành Ngày 18/9/2009, Công ước này có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam

Trang 23

được tầm quan trọng, sự cần thiết nghiên cứu, phát triển nội dung này cả trong quy định của pháp luật và thực thi trên thực tế

1.3 Vai trò công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng

Phòng, chống nạn tham nhũng là một yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển vững mạnh Nhà nước Tham nhũng nếu nhìn một cách giản lược nhất, đó

là hành vi của các chủ thể lợi dụng nhiệm vụ được giao được giao để tư lợi cá nhân Nếu được nghiên cứu và áp dụng một cách chặt chẽ, nghiêm minh, công cụ này sẽ có vai trò, vị trí rất to lớn trong công cuộc phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, chế định công khai, minh bạch tài sản, thu nhập sẽ giúp cơ quan, tổ

chức, đơn vị có thẩm quyền biết được tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch tài sản, thu nhập của người đó, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong xã hội

Có một bất cập đang tồn tại và gây ra nhiều tranh cãi ở vấn đề này, đó là: việc công khai tài sản, thu nhập của các chủ thể có nghĩa vụ kê khai đang xâm phạm nghiêm trọng quyền bí mật thông tin về tài sản của người đó Phần lớn, ít ai thích phải đem tài sản, thu nhập cá nhân của bản thân công khai cho nhiều người biết, trừ

những kẻ ba hoa Và tư duy đó không phải mới đây mà đã có từ lâu đời Tuy nhiên,

“theo thời gian, người ta hiểu rằng của cải không phải từ trên trời rơi xuống, mà do

xã hội tạo ra từ lao động có tổ chức của con người; vậy thì không có lý do gì xã hội lại không có quyền biết nó đang ở đâu, trong tay ai.”27 Thậm chí, ngày nay, việc tổng

số tài sản của những người giàu có được đem ra xếp hạng công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng không còn là điều xa lạ Bởi vậy, theo tác giả, thông tin

về tài sản, thu nhập không nhất thiết được xem là thông tin mật, bất khả xâm phạm

Ở phương diện phòng, chống tham nhũng, các chủ thể thuộc diện phải công khai, minh bạch tài sản có điểm chung là họ đều mang quyền lực, nhiệm vụ nhất định và khả năng rất lớn là họ sẽ lợi dụng chúng để tư lợi cá nhân Dù thực hiện hành vi tham nhũng dưới hình thức nào, suy cho cùng hậu quả của tham nhũng đều là xâm hại trực tiếp tới tài sản của Nhà nước, tập thể và công dân Bởi vậy, việc công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của các chủ thể này đóng vai trò là một công cụ để đảm bảo họ không xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong xã hội

Thứ hai, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập sẽ giúp phát hiện và ngăn chặn

các hành vi làm giàu bất chính, hành vi xung đột lợi ích trong quản lý nhà nước

* Đối với hành vi xung đột lợi ích trong quản lý nhà nước:

27 Phan Trung Hiền (chủ biên) (2020), Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

gia sự thật, Hà Nội, tr.72

Trang 24

Xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ được định nghĩa là tình huống phát sinh khi việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức bị tác động tiêu cực hoặc sẽ bị tác động tiêu cực bởi lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức đó.28 Theo đó, hiểu một cách khái quát, bản chất của xung đột lợi ích là sự mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân của cá nhân cán bộ, công chức, viên chức (người mang công vụ nói chung) và lợi ích của Nhà nước, của xã hội Điều 29 Nghị định 59/2019/NĐ-CP ngày 01/07/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng xác định người có chức vụ, quyền hạn được xác định là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp được liệt kê Công khai, minh bạch tài sản, thu nhập sẽ giúp thu thập thông tin về các nguồn thu nhập, tư cách thành viên, quyền sở hữu vốn, những lợi ích tài chính khác của chủ thể kê khai trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác Thông qua đó, có thể theo dõi và phát hiện những trường hợp đang xảy ra xung đột lợi ích

mà tiềm tàng nguy cơ tham nhũng hoặc đang tham nhũng dựa trên các trường hợp xung đột lợi ích

* Đối với hành vi làm giàu bất chính:

Việc đặt ra yêu cầu phải công khai, minh bạch tài sản và tăng cường trách nhiệm giải trình sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc phát hiện các hành vi làm giàu bất chính Việc công khai, minh bạch tài sản, thu nhập sẽ là nguồn thu thập thông tin, tạo điều kiện giám sát và phát hiện những tài sản, thu nhập bất thường không bắt nguồn từ lương hay các nguồn thu nhập hợp pháp khác Việc giám sát được thực hiện bằng cách đặt ra câu hỏi đối với sự thay đổi lớn trong tài sản, thu nhập của chủ thể có nghĩa

vụ kê khai mà không giải trình, chứng minh được bằng thu nhập hợp pháp Những sai lệch được phát hiện này sẽ là cơ sở để tiến hành áp dụng các hoạt động xác minh,

áp dụng các chế tài vi phạm Từ đó, tình trạng làm giàu bất chính thông qua tham nhũng cũng góp phần được đẩy lùi

Ở góc độ tích cực hơn, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập cũng góp phần hình thành và phát triển tư tưởng làm giàu chân chính bên cạnh hoàn thành các nhiệm

vụ, chức trách được giao Nghiên cứu pháp luật hiện hành, từ pháp luật về chủ thể kinh doanh cho đến pháp luật về phòng, chống tham nhũng đều không “cấm cửa” các chủ thể mang quyền lực công được phép làm kinh tế, chỉ là giới hạn lại ở mức độ vừa phải, tránh tình trạng lạm dụng mà gây xung đột lợi ích Theo đó, nếu chế định công

28 Trần Thị Thu Hà (2021), Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ để phòng ngừa tham nhũng ở

Việt Nam, Trang thông tin điện tử Trường Cán bộ thanh tra, nguồn:

https://truongcanbothanhtra.gov.vn/kiem-soat-xung-dot-loi-ich-trong-hoat-dong-cong-vu-de-phong-ngua-tham-nhung-o-viet-nam/ (truy cập ngày 25/05/2022)

Trang 25

khai, minh bạch tài sản, thu nhập đủ sức răn đe, thay vì tham nhũng làm giàu bất chính để rồi gánh nhiều hậu quả tiêu cực, các chủ thể mang nhiệm vụ, quyền hạn đang được đề cập tới này có thể làm giàu bằng chính tài năng kinh tế của mình trong phạm vi pháp luật cho phép song song với việc hoàn thành chức trách, công vụ được giao

Thứ ba, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập góp phần hỗ trợ phát hiện các

hành vi rửa tiền, đặc biệt là nguồn tài sản, thu nhập xuất phát từ tham nhũng

Một khi đã có hành vi tham nhũng trên thực tế, chắc chắn tài sản, thu nhập có được từ hành vi tham nhũng sẽ bị xem là bất chính và có khả năng bị tịch thu nếu không có biện pháp tẩu tán nhanh Bởi vậy, các chủ thể tham nhũng đương nhiên sẽ tìm mọi cách để hợp pháp hoá những tài sản, thu nhập đó, đưa chúng từ bất hợp pháp thành hợp pháp, hay nói cách khác, họ sẽ “rửa sạch đồng tiền tham nhũng” Rửa tiền được định nghĩa là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có29 Theo đó, việc phải công khai, minh bạch nguồn tài sản, thu nhập đồng thời cũng sẽ kiểm soát luôn các dấu hiệu bất thường trong sự biến động tài sản của chủ thể kê khai Khi phát hiện các dấu hiệu có nghi vấn trong quá trình tích tụ tài sản, thu nhập của chủ thể kê khai, các hoạt động xác minh, điều tra về sau

sẽ đồng thời là hoạt động phanh phui hành vi rửa tiền, cụ thể đây là nguồn thu nhập, tài sản có được từ tham nhũng Nếu kịp thời phát hiện và giải quyết triệt để bằng các biện pháp tịch thu tài sản sẽ góp phần khắc phục một phần hoặc toàn bộ thiệt hại mà hành vi tham nhũng đã gây ra cho các các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

Thứ tư, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập sẽ tạo điều kiện ngăn chặn sự

suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên,

từ đó thanh lọc bộ máy nhà nước, xây dựng môi trường làm việc trong sạch, vững mạnh

Không phải tự nhiên mà công tác công khai, minh bạch tài sản được xác định là một vũ khí “sắc bén” trong phòng, chống tham nhũng Muốn công khai, minh bạch, trước tiên là phải tiến hành công đoạn kê khai tài sản, thu nhập Đây là khâu mở đầu rất quan trọng và đồng thời là “phép thử độ trong sạch” đối với các chủ thể có nghĩa

vụ kê khai Dưới áp lực phải kê khai trung thực, rõ ràng, đầy đủ, chính xác nội dung

kê khai, ngòi bút của các chủ thể kê khai từng chữ đều thể hiện kết quả của sự đấu tranh nội tâm không hề đơn giản Sẽ không có gì quá khó khăn đối với những chủ thể hoàn toàn trong sạch, không có nhiều biến động về tài sản, thu nhập trong thời gian cần kê khai, họ chỉ đơn thuần là cầm bút để liệt kê Nhưng đối với những “bàn tay đã

29 Khoản 1 Điều 4 Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012

Trang 26

bám bẩn”, áp lực đang đối diện là gấp nhiều lần Từng loại, số lượng tài sản được kê khai, biến động tài sản bao nhiêu, thu nhập từ các nguồn nào… tất cả đều đối diện với áp lực là sẽ phải giải trình như thế nào, có đủ thuyết phục hay không Với áp lực

đó, các chủ thể kê khai không thể làm tuỳ tiện, làm cho có lệ, mà phải làm trên tinh thần đầy đủ, chính xác, trung thực ngay từ những nét bút ban đầu, để không đối mặt những rắc rối về sau

Việc phải kê khai tài sản, thu nhập không phải là chuyện làm một lần rồi thôi Đây là công tác định kỳ, thường xuyên, liên tục đối với những chủ thể phải kê khai Khi chế định công khai, minh bạch tài sản đủ chặt chẽ, chế tài đủ sức răn đe sẽ là động lực để các chủ thể kê khai thường xuyên nhắc nhở bản thân rèn luyện lối sống trong sạch, không tha hoá, tham nhũng Tư tưởng, lối sống, thói quen không thể được hình thành chỉ trong một sớm một chiều mà cần thời gian dài tôi luyện, hun đúc Nhưng muốn tôi luyện, rèn giũa lâu dài thì cần một động lực rất lớn và đôi khi cần vài lời nhắc nhở, động viên tiếp tục cố gắng Việc phải đối diện với việc kê khai tài sản như là những tiếng chuông báo thức có tính định kỳ, nhắc nhở các chủ thể phải luôn sống và làm việc minh bạch, cụ thể ở đây là phải minh bạch về tài sản, thu nhập,

để không “bút sa gà chết”, đối diện với những hậu quả nặng nề về sau Một vài cá nhân trong sạch không thể hiện một tập thể cũng trong sạch mà cần tất cả thành viên trong tập thể cùng đồng lòng nỗ lực, cùng “gạn đục khơi trong” Đó là tiền đề, động lực để dần thanh lọc hoá bộ máy nhà nước, loại đi những nhân tố kém chất lượng ngay từ những công tác đơn giản, sơ khai nhất Từ đó kiến tạo và duy trì môi trường công vụ văn minh, trong sạch và vững mạnh

Thứ năm, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập sẽ giúp nâng cao lòng tin của

công chúng vào sự trong sạch của hệ thống chính trị

Có một sự thật cần khẳng định: “không ai bắt cán bộ phải nghèo, không ai cấm cán bộ phải giàu” Việc công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của chủ thể kê khai không phải hướng đến mục tiêu bắt chẹt những đối tượng có nhiều tài sản, thu nhập Điều mà chế định quan tâm là sự giàu có của họ có thể lý giải được hay không; tài sản, thu nhập của họ có chân chính hay không Có rất nhiều tấm gương cán bộ, công chức tài giỏi, vừa hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, vừa tăng gia sản xuất, nâng cao thu nhập, giàu có từ chính sức lao động của chính mình Đó là những tấm gương sáng, tốt đẹp, được nhiều người ca ngợi và noi theo Không ai lại chê trách hay soi mói những tấm gương đấy cả Cái mà dư luận lên án chính là sự gian dối, không trung thực của những chủ thể phải kê khai tài sản nhằm che giấu những khối tài sản, thu nhập không minh bạch Việc công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của các chủ thể kê khai sẽ đặt tình hình tài chính của các chủ thể này dưới sự giám sát

Trang 27

của các chủ thể có thẩm quyền, của nhân dân Công tác thực thi chế định càng tốt sẽ

càng khơi dậy và xây dựng trong nhân dân lòng tin rằng vấn đề “mang việc công

nhưng thu lợi tư” sẽ được giám sát, xử lý một cách nghiêm minh Từ đó, góp phần

củng cố lòng tin của nhân dân vào sự trong sạch của toàn hệ thống chính trị

Tóm lại, trong Chương “Một số vấn đề lý luận về công khai, minh bạch tài sản,

thu nhập trong phòng chống tham nhũng”, tác giả đã tập trung phân tích ba nội dung

cơ bản liên quan đến những vấn đề về lý luận chung:

Một là, khái niệm và đặc điểm của “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong

phòng, chống tham nhũng”;

Hai là, cơ sở cho việc ra đời quy định về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập

ở 3 góc độ là: cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và có liên hệ cơ sở pháp lý quốc tế;

Ba là, vai trò của chế định công khai, minh bạch tài sản, thu nhập đối với công

tác phòng, chống tham nhũng Chương 1 giúp người đọc có cái nhìn bao quát về vấn

đề “công khai, minh bạch tài sản, thu nhập trong phòng, chống tham nhũng”

Nhìn chung, có thể thấy biện pháp phòng, chống tham nhũng này có vai trò

không nhỏ và luôn nhận được sự quan tâm nhất định của các nhà làm luật trong lĩnh

vực phòng, chống tham nhũng Những nội dung của Chương này sẽ tạo nên cơ sở lý

luận vững chắc giúp tác giả nghiên cứu những quy định của pháp luật ở Chương II

và đưa ra hướng hoàn thiện những bất cập của pháp luật ở Chương III

Trang 28

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH TÀI SẢN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập

2.1.1 Chủ thể có nghĩa vụ công khai, minh bạch tài sản, thu nhập

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, các nhóm chủ thể sau đây có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập:

− Cán bộ, công chức Nhóm chủ thể đầu tiên được Luật Phòng, chống tham

nhũng quy định rất ngắn gọn, chỉ có “cán bộ” và “công chức” Tuy nhiên, sự ngắn

gọn này lại cho thấy số lượng người thuộc nhóm đối tượng này là vô cùng lớn

Về mặt khái niệm: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.30 Cán bộ được đề cập ở quy định này bao gồm cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.31 Còn đối với cấp xã, cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.32

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức

vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong

cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công

an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.33 Còn đối với cấp xã, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp

vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.34

30 Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

31 Khoản 1 Điều 21 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

32 Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

33 Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

34 Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

Trang 29

Sau khi đối chiếu với quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, ta có thể thấy, với cách quy định chủ thể có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập ở nhóm đầu tiên như thế này sẽ dẫn đến phạm vi, số lượng chủ thể phải kê khai vô cùng lớn Theo Báo cáo của Bộ Nội vụ, chưa tính đến số lượng cán bộ và số lượng cán bộ, công chức cấp

xã thì biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước năm 2021

đã là 247.344 biên chế.35 Hiện nay, chưa có số liệu tách bạch chi tiết, nhưng nếu tham khảo qua số lượng cán bộ, công chức cấp xã và số người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố theo Báo cáo trên của Bộ Nội vụ thì số lượng cũng lên đến 1.031.851 người Từ đó, ta có thể hình dung sơ lược số lượng bản kê khai ở nhóm đối tượng này sẽ nhiều thế nào

Quy định cán bộ, công chức nói chung là chủ thể phải kê khai tài sản, thu nhập

là một điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 so với Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 trước đây Theo tác giả, việc mở rộng hơn chủ thể phải kê khai tài sản, thu nhập là thích hợp Vẫn biết rằng: việc quy định đại trà như thế này sẽ dẫn đến tình trạng số lượng bản kê khai trong nhóm chủ thể “cán bộ, công chức” là rất lớn Tuy nhiên, nếu điểm qua vài số liệu dưới góc độ “tham nhũng vặt” – một loại hình tham nhũng không hiếm thấy trong các hoạt động hành chính, dịch vụ công thì

sẽ thấy việc buộc toàn bộ công chức, cán bộ phải kê khai tài sản, thu nhập không phải

vô cớ

Theo kết quả khảo sát SIPAS 2020, ở 63 tỉnh, vẫn còn tình trạng người dân bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu trong quá trình cung ứng dịch vụ công, với tỉ lệ ghi nhận 1,23% Tình trạng người dân, tổ chức

bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu xảy ra ở 57/63 tỉnh, thành phố Con

số đáng lưu ý trong báo cáo SIPAS 2020 là có 0,59% người dân, tổ chức được khảo sát cho biết phải trả tiền ngoài phí/lệ phí, tức tiền “bôi trơn” khi thực hiện dịch vụ công, tăng 0,12% Có 48/63 tỉnh để xảy ra tình trạng người dân phải trả phí “bôi trơn” khi thực hiện dịch vụ công, tăng 2 tỉnh

so với năm 2019 36

Theo kết quả khảo sát SIPAS 2021, dưới tác động của đại dịch COVID-19, Việt Nam ghi nhận được: Có 0,45% người dân, tổ chức phản ánh bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu, 0,14% phản ánh phải nộp thêm tiền ngoài phí/lệ phí trong quá trình giao dịch dịch vụ công Có 46/63 tỉnh,

35 Theo Báo cáo số 135/BC-BNV ngày 11/01/2021 của Bộ Nội vụ tổng kết công tác giai đoạn 2016 - 2020 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2021 ngành Nội vụ

36 Trung Anh (2021), Chống “tham nhũng vặt”: Không “lót tay”, không “phong bì”, Báo điện tử Đảng Cộng

sản Việt Nam, nguồn: phong-bi-584330.html (truy cập ngày: 08/06/2022)

Trang 30

https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/chong-tham-nhung-vat-khong-lot-tay-khong-thành phố có người dân, tổ chức phản ánh bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu và 22/63 tỉnh, thành phố có phản ánh phải trả thêm tiền ngoài phí/lệ phí 37

Theo Tổ chức minh bạch quốc tế, “tham nhũng vặt” là hành vi “lạm dụng quyền

lực được giao của các cán bộ, công chức cấp thấp và cấp trung trong tương tác hàng ngày với người dân, thường khi người dân có nhu cầu tiếp cận với hàng hoá hoặc dịch vụ cơ bản như bệnh viện, trường học, cảnh sát và các cơ quan khác” 38 Định

nghĩa trên thể hiện rõ ràng bản chất khác biệt của “tham nhũng vặt” so với các hành

vi tham nhũng lớn mà hầu như chỉ có các quan chức cấp cao mới có cơ hội tham nhũng Trong công tác công khai, minh bạch tài sản, thu nhập theo pháp luật hiện hành, sự tồn tại của hình thức “tham nhũng vặt” sẽ là một “mối lo ngại” không thể bỏ qua, tạo kẽ hở để các chủ thể phải kê khai tài sản, thu nhập không có chức danh quản

lý có cơ hội trốn tránh quy định về kê khai bổ sung, xác minh kê khai tài sản, thu nhập mà ở phần sau tác giả sẽ phân tích kỹ hơn

− Sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên

nghiệp Về mặt khái niệm, ta có thể hiểu về nhóm chủ thể này như sau:

+ Sĩ quan Công an nhân dân là những người phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, thường có các chức vụ cơ bản, ở cấp lãnh đạo như: Bộ trưởng Bộ Công an; Cục trưởng, Tư lệnh; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trưởng phòng; Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Trung đoàn trưởng; Đội trưởng; Trưởng Công an

xã, phường, thị trấn; Tiểu đoàn trưởng; Đại đội trưởng; Trung đội trưởng; Tiểu đội trưởng.39

+ Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sau đây gọi chung là sĩ quan) là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, được Nhà nước phong quân hàm cấp Úy, cấp Tá, cấp Tướng.40

+ Quân nhân chuyên nghiệp là công dân Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ trong Quân đội nhân dân, được tuyển chọn, tuyển dụng theo chức danh và được phong quân hàm quân nhân chuyên nghiệp.41

37 Công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2021, Cổng thông tin điện tử Uỷ ban dân tộc, nguồn:

2021.htm (truy cập ngày: 08/06/2022)

http://ubdt.gov.vn/tin-tuc/tin-hoat-dong/cai-cach-hanh-chinh/cong-bo-chi-so-cai-cach-hanh-chinh-nam-38 Vũ Công Giao (2020), Tham nhũng vặt và Phòng, chống tham nhũng vặt, Nghiên cứu lập pháp, số 14(414),

tr.07

39 Khoản 1 Điều 24 Luật Công an nhân dân 2018

40 Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2008, 2014, 2020)

41 Khoản 1 Điều 2 Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng 2015

Trang 31

Xét về việc được ghi nhận với hình thức là quy định của Luật Phòng chống tham nhũng, nhóm chủ thể thuộc lực lượng vũ trang nhân dân này được xem là một điểm được bổ sung mới hoàn toàn của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 so với nội dung của Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 Dù vậy, về thực tế, nhóm chủ thể thuộc lực lượng vũ trang nhân dân này đã được ghi nhận tại Thông tư số 08/2013/TT-TTCP để hướng dẫn cho Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 Thực tiễn cho thấy trong lực lượng vũ trang nhân dân xảy ra không ít tình trạng tham nhũng, thậm chí

đã có những án về tham nhũng xảy ra, có thể kể đến các vụ án của cựu Thượng tá Đinh Ngọc Hệ (còn gọi là Út Trọc); vụ án của Nguyên thượng tá, Phó phòng thuộc Tổng cục Tình báo Bộ Công an Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “Nhôm”)… gây nhiều xôn xao trong dư luận Việc Luật Phòng, chống tham nhũng - văn bản pháp luật chuyên ngành cao nhất trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng đến nay mới ghi nhận những cán bộ, quan chức thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thuộc “tầm ngắm”

để phòng ngừa tham nhũng ngay từ những bước đầu là khá trễ

Điểm khác biệt lớn nhất trong cách quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng với nhóm chủ thể này so với nhóm “cán bộ, công chức” ở trên đó là việc giới hạn hẹp lại phạm vi đối tượng cần kê khai tài sản, thu nhập Theo đó, điểm chung rõ ràng nhất đối với các chủ thể ở nhóm này là đều nằm ở cấp lãnh đạo, quản lý Cách quy định như thế này cho thấy Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 đang đi theo hướng: các quan chức có vị trí lãnh đạo sẽ có nhiều cơ hội và động lực để tham nhũng hơn nên cần phải tập trung vào những chủ thể này hơn Việc quy định mang tính giới hạn như thế này của Luật Phòng, chống tham nhũng là hợp lý Bởi lẽ: Các chủ thể là hạ sĩ quan thông thường không có chức vụ, quyền hạn quan trọng, có thời gian phục vụ và thăng cấp bậc hàm ngắn… thể hiện họ ít có nguy cơ tham nhũng Đặc biệt, lực lượng

vũ trang nhân dân có số lượng rất đông đảo, không thể bắt buộc rộng khắp tất cả họ phải tiến hành kê khai Nếu quy định quá đại trà với nhóm chủ thể này sẽ gây nên tình trạng “mất định hướng”, lan man trong việc xác định đối tượng “trọng tâm” của quy định

− Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại

đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Nhóm chủ thể thứ ba có nghĩa vụ phải kê khai tài sản, thu nhập gồm có:

+ Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập Ở đây, Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức hiện hành

đã được sửa đổi theo hướng người giữ chức vụ trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị

Trang 32

- xã hội không còn là công chức Theo đó, những chủ thể này từ đây gọi chung là viên chức Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.42

+ Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Tuỳ vào từng lĩnh vực, mỗi doanh nghiệp sẽ có cơ cấu tổ chức phòng ban khác nhau, chức danh Phó trưởng phòng

và tương đương trở lên khác nhau Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định.43

+ Người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Vốn là một chủ thể vô hình, việc Nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp đều phải thực hiện thông qua người đại diện Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là người do

cơ quan đại diện chủ sở hữu cử làm đại diện một phần hoặc toàn bộ phần vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp để thực hiện toàn bộ hoặc một số quyền, trách nhiệm

và nghĩa vụ của cổ đông nhà nước hoặc thành viên góp vốn tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.44 Trường hợp người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đồng thời kiêm nhiệm nhiều chức danh, chức vụ khác nhau không phải là điều không có khả năng xảy ra Tuy nhiên, việc đảm nhiệm nhiều chức danh, chức vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng phải trên nguyên tắc “không được gây nên tình trạng xung đột lợi ích”45 Việc kê khai tài sản, thu nhập đối với nhóm chủ thể này có động cơ rõ ràng nhất là phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng xung đột lợi ích ngay từ những bước đầu từ khi chủ thể đảm nhiệm vị trí công tác

− Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc yêu cầu các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải thuộc diện công khai, minh bạch tài sản, thu nhập sẽ “tạo điều kiện để người dân được thông tin, đưa

ra các quyết định có cơ sở khi bầu phiếu và tạo áp lực lên những đại biểu được dân bầu về việc giải quyết những vấn đề liên quan đến những thông tin đó”46 Công khai, minh bạch tài sản, thu nhập ở góc độ này không chỉ phần nào góp phần thể hiện vai

42 Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

43 Khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020

44 Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 159/2020/NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

45 Khoản 4 Điều 4 Nghị định 159/2020/NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện

phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp quy định: “Trường hợp người quản lý doanh nghiệp do Nhà nước nắm

giữ 100% vốn điều lệ, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp kiêm nhiệm nhiều chức danh, chức vụ khác nhau phải bảo đảm không được xung đột lợi ích.”

46 Ngân hàng Thế giới và Văn phòng Liên hợp quốc về Ma tuý và tội phạm (2012), Việc công – Lợi ích tư –

Bảo đảm trách nhiệm giải trình thông qua công khai thu nhập, tài sản, tr.19

Trang 33

trò làm chủ của nhân dân trong việc tỉnh táo chọn những người có sự “trong sạch” về tài sản, thu nhập bằng những lá phiếu của họ, mà còn thể hiện Nhà nước đang nỗ lực chứng minh sự trong sạch bằng việc công khai tài sản, thu nhập của các đại biểu dân

cử - đây là những thông tin thể hiện quá trình tích góp tài sản hợp lý của họ, cho thấy

họ là những con người đáng tin tưởng, đáng để gửi gắm nguyện vọng của mình trong công cuộc xây dựng đất nước

2.1.2 Những tài sản, thu nhập là đối tượng kê khai

Việc quy định phải kê khai rõ ràng, minh bạch tài sản mang ý nghĩa phòng ngừa tham nhũng là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm Phải kê khai những loại tài sản nào, những khoản thu nhập ra sao cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, tránh bỏ sót, tạo kẽ hở để những chủ thể tham nhũng lợi dụng vi phạm Theo quy định hiện hành, các loại tài sản, thu nhập sau đây phải được công khai, minh bạch:

- Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với

đất, nhà ở, công trình xây dựng Đối chiếu với quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật

Phòng, chống tham nhũng 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) và Thông tư số 08/2013/TT-TTCP, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 đã bổ sung thêm “tài sản gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng” vào các loại tài sản cần kê khai Việc

bổ sung này là rất đúng đắn và cấp thiết Có thể thấy Luật Phòng, chống tham nhũng

2005 chỉ xem trọng quyền sử dụng đối với hai loại bất động sản là đất và nhà ở”; Thông tư 08/2013/TT-TTCP thì có bổ sung thêm các “công trình xây dựng khác” Tuy nhiên, thực tế thì bất động sản bao gồm rất nhiều loại khác mà chúng không chỉ đơn thuần là đất đai, nhà ở và công trình xây dựng mà còn có sự xuất hiện của những tài sản không thể dịch chuyển mang bản chất của “bất động sản” Việc bổ sung này tương thích với quy định về tài sản theo Bộ luật dân sự 201547 Sự thiếu sót của Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 đã gây ra kẽ hở to lớn để các chủ thể kê khai lẩn trốn việc kê khai đối với các loại bất động sản khác mà không phải nhà ở, đất đai hay công trình xây dựng

- Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác mà mỗi tài sản có

giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên Quy định về nhóm tài sản này có sự thay đổi một

chút ở cụm từ “động sản khác” tại Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 thay vì “loại tài sản khác” theo Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 Sự thay đổi này không phải giới hạn lại phạm vi của các loại tài sản cần kê khai, mà chỉ là tương thích với việc

47 Theo Khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự 2015: “Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.”

Trang 34

quy định rõ ràng hơn về các loại bất động sản vừa phân tích ở trên Xem xét hai quy định này, ta có thể hình dung rõ ràng: tài sản là bất động sản hay động sản thì sẽ được

áp dụng theo hai khoản riêng Còn với cách quy định như trước kia, có một số trường hợp, xuất hiện sự đắn đo liệu rằng một bất động sản là tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng chưa được quy định tại nhóm “bất động sản” thì có khi nào phải kê khai ứng với cụm từ “tài sản khác” ở nhóm này không Cách quy định mang tính minh thị rõ ràng điều khoản nào dành cho “bất động sản”, điều khoản nào dùng cho “động sản” như thế này là rất phù hợp

- Tài sản, tài khoản ở nước ngoài Việc quy định phải công khai, minh bạch cả

tài sản, tài khoản ở nước ngoài của các chủ thể kê khai không phải là một quy định mới của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 mà đã được quy định từ Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 Việc ghi nhận loại tài sản cần phải kê khai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng, chống hành vi tẩu tán tài sản tham nhũng của chủ thể

kê khai Bởi lẽ, để tránh việc phải kê khai nhiều loại tài sản có giá trị lớn, chủ thể kê khai có thể gian dối bằng cách đưa chúng ra nước ngoài thông qua trung gian như người thân, bạn bè ở nước ngoài… Ngoài ra, đối với tham nhũng, tình trạng “rửa tiền” từ các khoản thu nhập bất chính do tham nhũng mà có là một “nhu cầu” đối với các chủ thể tham nhũng Họ có thể thông qua các ngân hàng, các tổ chức tín dụng hợp pháp hoặc thậm chí là bất hợp pháp nước ngoài để “rửa tiền”, hợp pháp hoá tài sản tham nhũng Vì vậy, nếu chỉ giới hạn phạm vi kê khai tài sản trong nước là một bất lợi vô cùng lớn

Theo đó, Nghị định 130/2020/NĐ-CP quy định rõ đối với tài sản ở nước ngoài thì người kê khai phải kê khai tất cả loại tài sản nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, tương

tự mục 1 đến mục 7 của Phần II tại Mẫu bản kê khai và nêu rõ tài sản đang ở nước nào Đối các tài khoản ở nước ngoài, phải kê khai cả các tài khoản mở tại ngân hàng

ở nước ngoài và các tài khoản khác mở ở nước ngoài không phải là tài khoản ngân hàng nhưng có thể thực hiện các giao dịch bằng tiền, tài sản (ví dụ như tài khoản mở

ở các công ty chứng khoán nước ngoài, sàn giao dịch vàng nước ngoài, ví điện tử ở nước ngoài )

- Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 quy

định thu nhập phải kê khai là loại “thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật” Sự thay đổi này mang tính mở rộng phạm vi phải kê khai về các loại thu nhập rất rộng so với quy định trước đó Ghi chú số 32 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị

định 130/2020/NĐ-CP giải thích rõ: người kê khai phải ghi tổng thu nhập giữa 02

lần kê khai vào cột “giá trị tài sản, thu nhập” và ghi rõ từng khoản thu nhập có được trong kỳ kê khai Với quy định như vậy, cho thấy người kê khai không chỉ phải kê

Trang 35

khai các khoản thu nhập phải chịu thuế theo pháp luật về thuế thu nhập cá nhân mà còn phải kê khai những khoản thu nhập khác không phải chịu thuế Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân có loại trừ rất nhiều loại thu nhập không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, trong đó liên quan gần nhất đến các chủ thể phải kê khai tài sản, thu nhập có thể kể đến:

Các khoản nhận được ngoài tiền lương, tiền công do tham gia ý kiến, thẩm định, thẩm tra các văn bản pháp luật, Nghị quyết, các báo cáo chính trị; tham gia các đoàn kiểm tra giám sát; tiếp cử tri, tiếp công dân; trang phục và các công việc khác có liên quan đến phục vụ trực tiếp hoạt động của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội; Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; Văn phòng Thành ủy, Tỉnh ủy và các Ban của Thành ủy, Tỉnh ủy 48

Hay, các khoản thu nhập cá nhân nhận được từ các Hội, tổ chức tài

trợ không phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân nếu cá nhân nhận tài trợ là thành viên của Hội, của tổ chức; kinh phí tài trợ được sử dụng từ nguồn kinh phí Nhà nước hoặc được quản lý theo quy định của Nhà nước; việc sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật, công trình nghiên cứu khoa học thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà nước hay theo chương trình hoạt động phù hợp với Điều lệ của Hội, tổ chức đó 49

Việc xác định các loại thu nhập nào có thể phát sinh, các loại thu nhập nào nên chịu thuế hay không cần chịu thuế là một vấn đề sẽ thay đổi không ngừng theo tốc độ phát triển của xã hội Việc pháp luật quy định theo hướng liệt kê chi tiết sẽ dễ bỏ sót tình huống có thể xảy ra trong tương lai, tạo kẽ hở cho quy định của pháp luật Luật Phòng, chống tham nhũng quy định bao quát như vậy là hợp lý

2.1.3 Phương thức, hình thức công khai, minh bạch tài sản, thu nhập

Bên cạnh việc phải quy định những nội dung cần kê khai đủ để đảm bảo các chủ thể không thể che giấu tình trạng tham nhũng, ta cũng cần xem xét, cân đối năng lực của các cơ quan thực hiện việc tiếp nhận, xác minh, phát hiện tham nhũng của Nhà nước song song với việc phải cân nhắc những phương thức kê khai để tránh chủ thể

48 Điểm g.3 Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 8 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập

cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập

cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng

10 năm 2013

49 Điểm g.8 Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 8 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập

cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập

cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng

10 năm 2013

Trang 36

kê khai lẩn trốn, không tuân thủ Theo đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 của Việt Nam quy định có 04 phương thức kê khai, gồm: kê khai lần đầu, kê khai hàng năm, kê khai bổ sung, kê khai phục vụ công tác cán bộ

− Kê khai lần đầu: Phương thức này được áp dụng trong hai trường hợp:

Một là, những người đang giữ các vị trí công tác là cán bộ, công chức, sĩ quan

Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp” tại thời điểm Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bắt đầu có hiệu lực thi hành

Hai là, những người lần đầu được tiếp nhận, tuyển dụng, bố trí theo quy định

pháp luật liên quan vào những vị trí công tác kể trên

− Kê khai hàng năm: Trong thời gian Luật Phòng, chống tham nhũng 2005

đang có hiệu lực, việc kê khai cũng được tiến hành hàng năm cho toàn bộ các chủ thể

có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập như một hoạt động định kỳ của ngành nghề Còn với quy định hiện hành, việc kê khai hàng năm không còn mang tính đại trà như trước đây, đối tượng kê khai hàng năm được quy định giới hạn hơn, gồm 2 nhóm:

Một là, những người giữ chức vụ từ Giám đốc Sở và tương đương trở lên Các

chức danh tương đương với Giám đốc Sở được quy định theo phương thức liệt kê chi tiết tại Bảng danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương trong hệ thống chính trị do Bộ Chính trị ban hành kèm theo Kết luận số 35-KL/TW

Hai là, những người không thuộc quy định ở nhóm trên làm công tác tổ chức

cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác Theo đó, Nghị định 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định các chức danh sau sẽ thuộc diện phải kê khai hàng năm:

+ Các ngạch công chức và chức danh sau đây: Chấp hành viên; Điều tra viên;

Kế toán viên; Kiểm lâm viên; Kiểm sát viên; Kiểm soát viên ngân hàng; Kiểm soát viên thị trường; Kiểm toán viên; Kiểm tra viên của Đảng; Kiểm tra viên hải quan; Kiểm tra viên thuế; Thanh tra viên; Thẩm phán

+ Những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác trong 105 lĩnh vực được xác định là “khá nhạy cảm”, có nguy

cơ tham nhũng cao được liệt kê cụ thể tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này, như thủ quỹ, kế toán, quản lý thị trường, đăng kiểm các loại phương tiện giao thông, cấp giấy phép hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng…

+ Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trang 37

− Kê khai phục vụ công tác cán bộ: phương thức áp dụng cho hai nhóm đối

tượng: gồm: những người có nghĩa vụ kê khai đã được liệt kê ở phương thức kê khai lần đầu khi dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác; những người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

− Kê khai bổ sung: phương thức này được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê

khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên

*Với mong muốn tăng cường vai trò giám sát của xã hội đối các chủ thể công khai, minh bạch tài sản, thu nhập, nhằm mở rộng thêm khả năng phát hiện các hành

vi tham nhũng, sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, pháp luật phòng, chống tham nhũng

đã ghi nhận tầm quan trọng của hoạt động công khai bản kê khai tài sản, thu nhập Công khai bản kê khai tài sản, thu nhập là hoạt động song hành với việc nghiên cứu

về phương thức kê khai tài sản, thu nhập Bởi lẽ, dù là phương thức kê khai nào đi chăng nữa thì bản kê khai cũng phải được công khai theo quy định

Quy định về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập theo hướng phân loại hình thức thực hiện theo từng nhóm chủ thể Nguyên tắc chung, bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai đều phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc.50 Đây là hình thức công khai bắt buộc với mọi chủ thể kê khai Với hình thức công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị được chia thành loại nhỏ là: niêm yết tại trụ sở cơ quan, tổ chức, đơn vị và công bố tại cuộc họp

Bên cạnh hình thức công khai áp dụng chung cho tất cả chủ thể kê khai nói trên, đối với người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, bản kê khai của họ phải được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm Tại cuộc họp này, họ phải công khai cả bản kê khai lần đầu, bản kê khai phục vụ việc

bổ nhiệm và bản kê khai hàng năm hoặc bản kê khai bổ sung liền trước đó.51

Đối với người dự kiến bầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bản kê khai của họ được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm khi tiến hành bổ nhiệm hoặc tại cuộc họp của Hội đồng thành viên khi tiến hành bầu các chức vụ lãnh đạo, quản lý Họ cũng phải công khai bản kê khai lần đầu, bản kê khai phục vụ việc bổ nhiệm và bản kê khai hàng năm hoặc bản

kê khai bổ sung liền trước đó

Đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về bầu cử Hiện nay, pháp luật về bầu cử không có quy định cụ thể, chi

50 Khoản 1 Điều 39 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018

51 Khoản 1 Điều 12 Nghị định 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Trang 38

tiết về hình thức, thủ tục công khai bản kê khai tài sản, thu nhập mà tuỳ vào điều kiện

cụ thể của cuộc bầu cử mà các cơ quan chuyên trách về bầu cử sẽ hướng dẫn chi tiết việc công bố bản kê khai tài sản của ứng cử viên

Đối với người dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, bản kê khai tài sản, thu nhập phải được công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trước khi bầu, phê chuẩn Thời điểm, hình thức công khai được thực hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Về thực tế, việc công khai bản kê khai của nhóm chủ thể này cũng tuỳ nghi theo từng điều kiện cụ thể, tương tự như với nhóm đối tượng là người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở trên

2.1.4 Kiểm tra, xác minh kê khai tài sản, thu nhập

Trước khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực, việc xác minh các bản kê khai tài sản, thu nhập gặp rất nhiều khó khăn do chưa có cơ quan mang tính chuyên trách đảm nhận hoạt động này Trước đây, khi có căn cứ cần tiến hành xác minh, rất nhiều cơ quan phải vào cuộc và phối hợp với nhau; đặc biệt là không

có cơ quan đầu mối, chỉ đạo một cách thống nhất, vì thế việc thực hiện chưa mang lại hiệu quả cao Hiện nay, với việc hình thành một hệ thống các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập, công tác kiểm tra, xác minh tài sản, thu nhập quy về một hệ thống cơ quan đầu mối thực hiện, các thủ tục phối hợp trước đây được tinh giản hơn, có nhiều thuận lợi hơn

*Cơ quan kiểm tra, xác minh kê khai tài sản, thu nhập

Trước khi Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 có hiệu lực, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong toàn bộ công tác công khai, minh bạch tài sản, thu nhập là “cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản” Điểm thay đổi nổi bật về công tác công khai, minh bạch tài sản, thu nhập tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 so với trước đây đó là việc thành lập một hệ thống cơ quan mang tính “bán chuyên trách”, chịu trách nhiệm chính trong quản lý, kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập, đưa công tác công khai, minh bạch tài sản, thu nhập về các đầu mối rõ ràng Tại Điều 30 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, hệ thống cơ quan này được đặt tên là Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập

Bên cạnh quy định tại Điều 30 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, xuất phát

từ tính chất đặc biệt trong bộ máy quản lý nhà nước Việt Nam, trường hợp trong các

cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có nhiều cán bộ giữ các chức vụ đồng thời thuộc diện quản lý của Đảng không phải hiếm gặp Vì lẽ đó, Khoản 2 Điều 1 Nghị định 130/2020/NĐ-CP có

quy định: “một số biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng về kiểm soát

Trang 39

tài sản, thu nhập phù hợp với phân cấp quản lý cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam

sẽ được quy định tại Quy chế phối hợp giữa các Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo quy định tại Điều 30 của Luật Phòng, chống tham nhũng” Đến thời điểm nghiên

cứu, Quy chế phối hợp giữa các Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập đã được ban hành theo Quyết định số 56/QĐ-TW ngày 08 tháng 02 năm 2022 của Bộ Chính trị Theo Quy chế này, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập được quy định như sau:

− Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm soát tài sản, thu nhập của những người thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý Hiện nay, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 35-KL/TW ngày 05/5/2022 về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở Theo đó, các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được quy định tại Nhóm II của Bảng danh mục với khá nhiều chức danh

− Các ban, cơ quan của Đảng ở Trung ương, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương kiểm soát tài sản, thu nhập với người

có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền quản lý của mình (trừ các trường hợp thuộc diện kiểm soát của Ủy ban Kiểm tra Trung ương)

− Thanh tra Chính phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của những người có nghĩa

vụ kê khai tài sản, thu nhập sau:

+ Người có phụ cấp chức vụ từ 0,952 trở lên công tác tại các bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, đơn vị, tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (trừ các trường hợp thuộc diện kiểm soát của

Ủy ban Kiểm tra Trung ương)

+ Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ hoạt động

+ Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trưởng ban kiểm soát, kế toán trưởng doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều

lệ do Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trực tiếp làm đại diện chủ sở hữu

+ Người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập công tác tại Thanh tra Chính phủ

52 Xem Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2012 2013, 2016)

Ngày đăng: 21/06/2023, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Quy định số 58-QĐ/TW ngày 08/2/2022 của Bộ Chính trị về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng
20. Nghị định 117/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/9/2018 về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.II. VĂN BẢN CỦA ĐẢNG VÀ CÁC BÁO CÁO Văn bản của Đảng Khác
21. Quy định số 85-QĐ/TW ngày 23/05/2017 của Bộ Chính trị quy định về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý Khác
23. Kết luận số 35-KL/TW ngày 05/5/2022 về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.Các Báo cáo Khác
24. Báo cáo số 135/BC-BNV ngày 11/01/2021 của Bộ Nội vụ tổng kết công tác giai đoạn 2016 - 2020 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2021 ngành Nội vụ Khác
25. Báo cáo số 4137/BC-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An ngày 20/12/2021 về Tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng năm 2021 Khác
26. Báo cáo số 402/BC-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ngày 23/09/2021 về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng 9 tháng đầu năm 2021 Khác
27. Báo cáo số 270/BC-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ngày 22/06/2022 về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng Quý II và Báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2022 Khác
28. Báo cáo số 128/BC-UBND ngày 19/7/2021 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà về công tác phòng, chống tham nhũng 6 tháng đầu năm 2021 và phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2021 Khác
29. Báo cáo số 89/BC-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 27/05/2022 về kết quả thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng 06 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2022 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Khác
30. Báo cáo số 203/BC-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ngày 27/09/2021 về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng 09 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp 3 tháng cuối năm 2021 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w